720 Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực ở Công ty đóng tàu Hạ Long
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài: Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực
ở Công ty đóng tàu Hạ Long.
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS PHAN KIM CHIẾN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS PHAN KIM CHIẾN
Quảng Ninh - tháng10/2007 BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3TT Từ viết tắt Diễn giải
1 CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
2 XHCN Xã hội chủ nghĩa
3 NNL Nguồn nhân lực
4 GTVT Giao thông vận tải
5 CB-CNV Cán bộ - công nhân viên
5 XD-CB Xây dựng cơ bản
6 LĐ Lao động
7 KCS Kiểm tra chất lượng
8 ATLĐ An toàn lao động
9 CNVC-LĐ Công nhân viên chức lao động
10 VINASHIN Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ
Trang 4I CÁC KHÁI NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO
1.Khái niệm nguồn nhân lực: 7
2 Các khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 8
3 Một số quan điểm cơ bản về công tác đào tạo và phát triển đội
ngũ NNL trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước 8
4 Yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo và phát triển đội ngũ NNL 9
5 Tầm quan trọng của công tác đào tạo nguồn nhân lực 10
II ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 12
1 Đặc điểm về đào tạo nguồn nhân lực nói chung 12
2 Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực trong qua trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước 13
3 Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn - kỹ thuật 14
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CỦA
CÔNG TY ĐÓNG TÀU HẠ LONG
4 Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý 21
5 Khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 24
a Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty 24
b Công tác quản trị doanh nghiệp 26
c Định hướng phát triển của Công ty 28
II THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CỦA
2 Thực trạng nguồn nhân lực 35
3 Thực trạng công tác đào tạo và tuyển dụng nguồn nhân lực 37
4 Một số tồn tại trong công tác đào tạo và phát triển NNL ở Công
Trang 5CHƯƠNG III:
CẤC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO
I MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO
TẠO
43
1 Một số giải pháp về cơ cấu NNL 43
2 Một số giải pháp về đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ
1 Một số kiến nghị với nhà nước 46
2 Một số kiến nghị đối với Công ty và tập đoàn 49
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và thực hiện CNH-HĐH ở ViệtNam là bước chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và quản lýkinh tế Yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH cũng đã đặt ra nhiệm vụ to lớn đốivới công tác nguồn nhân lực, trong đó có công tác đào tạo và phát triển nguồnnhân lực, khi nói tới vấn đề nguồn nhân lực đã có nhiều ý kiến thống nhấtrằng con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng phục vụ của mọi hoạt độngkinh tế xã hội và cũng là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội
Thực tế cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh trongthời kỳ gần đây là những quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên nhưnggiàu về tiềm năng “chất xám”, các nước thành công trong việc đầu tư và khaithác nguồn tài nguyên quý giá đó phải kể đến đó là Hàn quốc, Nhật bản Những công trình nghiên cứu mới nhất đã đi tới kết luận, con người lànguồn vốn lớn nhất, quý nhất của xã hội
Một nhà kinh tế học phương tây đã có nhận định: tài sản lớn nhất củacông ty hiện nay, không phải là các lâu đài công xưởng mà chính là những cáinằm trong vỏ não của các nhân viên
Như vậy, rõ ràng con người đặc biệt là tri thức của họ đã trở thành nguồnlực quan trọng nhất của sự nghiệp phát triển
Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, thực hiện CNH-HĐH và
mở cửa nền kinh tế thì điều kiện tiên quyết là phải có đội ngũ nguồn nhân lực cótrình độ cao, có bản lĩnh vững vàng trước những thời cơ, thách thức trong quátrình phát triển
Qua các kỳ đại hội, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chiến lược của công tácnguồn nhân lực nhằm xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực có bản lĩnh chính trị, cótrình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận của công đào tạonguồn nhân lực, đảm bảo thành công của sự nghiệp đổi mới
Trang 7Từ nhận thức trên và qua thực tế công tác tại Công ty đóng tàu Hạ Long
em nhận thấy rằng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nói chung và
ở Công ty đóng tàu Hạ Long nói riêng là rất thiết thực và là điều kiện tiênquyết để bắt kịp với nền kinh tế đang hội nhập trong giai đoạn hiện nay
Do đó, trong chuyên đề thực tập này em xin mạnh dạn đề cập đến vấn đề
“Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực ở Công ty đóng tàu Hạ Long”
nhằm mục đích nhìn nhận vào thực trạng của công tác đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực ở các doanh nghiệp nói chung và cụ thể là ở Công ty đóng tàu
Hạ Long để từ đó đúc kết và đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh, nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nói chung và ởCông ty đóng tàu Hạ Long nói riêng
Vì khả năng và trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế nên chuyên đề thựctập tốt nghiệp của em không thể không có thiếu sót Em rất mong nhận được
sự tư vấn, đóng góp ý kiến và hướng đẫn của các thầy cô để chuyên đề thựctập tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Trang 8CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
I CÁC KHÁI NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC:
1.Khái niệm nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quyđịnh của pháp luật có khả năng tham gia lao động Theo quan điểm kinh tế thìnguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt về số lượng và chất lượng
Về số lượng, đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động và thờigian làm việc có thể huy động của họ Việc quy định cụ thể về độ tuổi laođộng của mỗi nước bao gồm cả độ tuổi hết tuổi lao động là rất khác nhau tuỳthuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước ở từng giai đoạn cụ thể
Ở Việt nam trước đây độ tuổi lao động được quy định từ 16 đến 60 tuổiđối với nam và 16 đến 55 tuổi đối với nữ Hiện nay độ tuổi lao động được quyđịnh lại là 15 đến 55 tuổi đối với nam và 15 đến 50 tuổi đối với nữ
Về chất lượng nguồn nhân lực đó là phản ánh trình độ kỹ thuật, chuyênmôn nghiệp vụ và sức khoẻ của người lao động
Đứng trên quan điểm của các nhà kinh tế lao động thì họ định nghĩaNNL là nguồn lực về con người và nó được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnhkhác nhau Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xãhội bao gồm toàn bộ các dân cư có cơ thể phát triển bình thường không bịkhuyết tật hoặc dị tật bẩm sinh
Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội
là khả năng lao động của xã hôi được hiểu theo nghĩa hẹp hơn bao gồm nhómdân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, theo cách hiểu này NNLtương đương với nguồn lao động
Theo một số quan điểm khác thì NNL còn có thể hiểu là tổng hợp những
cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thểcác yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động
Trang 9Nhận xét: Chúng ta đều thấy rằng dù đứng trên bất kỳ quan điểm nào,cách xác định quy mô nguồn nhân lực như thế nào đi chăng nữa thì tất cảnhững cách tiếp cận đó đều thống nhất ở một điểm là nói đên NNL là nói đênkhả năng lao động của con người đối với xã hội.
Mục đích của việc tìm hiểu nguồn nhân lực cho phép chúng ta nghiêncứu được mối quan hệ giữa chúng và các phạm trù khác một cách chặt chẽhơn
2 Các khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đào tạo và phát triển là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượngnguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thểđứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh Do đó trong các tổ chức,công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần phải được thực hiện mộtcách có tổ chức và có kế hoạch
Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt
động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơnchức năng, nhiệm vụ của mình Đó là quá trình học tập làm cho người laođộng lắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập đểnâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ laođộng có hiệu quả hơn
Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc
trươc mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựatrên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức
Hoạch định (hay còn được gọi là công tác giáo dục): được hiểu là các
hoạt động giáo dục, định hướng để định hướng cho con người nhận thức đượcmột nghề nghiệp hoặc lựa chọn một nghề nghiệp thích hợp trong tương lai
3 Một số quan điểm cơ bản về công tác đào tạo và phát triển đội ngũ NNL trong những năm đổi mới:
Vấn đề xây dựng đội ngũ NNL trong những năm tới là vấn đề hết sứcphức tạp và khó khăn Từ trước đến nay đã có nhiều quan điểm được đưa ranhằm mục đích xây dựng đội ngũ NNL trong những năm đổi mới được hữuhiệu trong đó những quan điểm sau đây được coi là hiệu quả hơn cả:
Trang 10- Phải luôn nắm vững quan điểm và nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩaMác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác quy hoạch, đào tạo vàphát triên NNL.
- Cần chăm lo đến tính đồng bộ của đội ngũ NNL, phải hết sức coi trọng
và tập trung xây dựng tốt đội ngũ NNL có trình độ và kỹ năng lao động
- Cần có quan điểm, phương pháp đánh giá, sử dụng NNL một cáchkhoa học và khách quan, công tâm
- Đánh giá đúng trình độ đội ngũ NNL trong các tổ chức và bố trí sửdụng đúng NNL là vấn đề khó khăn phức tạp và quan trọng nhất Khi đánhgiá phải có quan điểm đúng và phải theo tiêu chuẩn quy định, căn cứ vào kếtquả và hiệu quả hoạt động của NNL, xét đến một cách đầy đủ, hoàn cảnh vàđiều kiện hoạt động lao động sản xuất kinh doanh của đội ngũ NNL
- Cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ bằng việc thể chế hoáthành các quy chế, quy định, quy trình và chỉ đạo thực hiện một cách chặt chẽviệc xây dựng, quy hoạch, đào tạo và phát triển NNL
- Trong công tác hoạch định, đào tạo và phát triển NNL phải kết hợpchặt chẽ giữa trước mắt và lâu dài, kế thừa và phát triển nhằm đảm bảo kế tục
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, công tác hoạch định, đào tạo và pháttriển đội ngũ NNL chuyên nghiệp trong đó có đội ngũ NNL có trình độ kỹ thuật
có đủ phẩm chất và năng lực, nắm bắt được khoa học công nghệ hiện đại và vậndụng thích ứng vào điều kiện cụ thể ở mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ chức là mộttrong những khâu có ý nghĩa quyết định
ở nước ta hiện nay, công tác hoạch định, đào tạo và phát triển NNL đangđứng trước những mâu thuẫn gay gắt:
Trang 11Thứ nhất: Yêu cầu từng quy mô với việc bảo đảm chất lượng và hiệu quả đào tạo.Thứ hai: đào tạo NNL có chất lượng cao với sự hạn hẹp về tài chính và độingũ giáo viên có trình độ cao.
Thứ ba: sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu ngành giáo dục và thị hiếu tậptrung vào một số ít ngành nghề của người học
Chính từ thực tế như vậy cho nên trong những năm gần đây, nhu cầu đàotạo NNL có trình độ ở nước ta tăng lên rất nhanh, nhiều trường đại học và caođẳng kinh tế đã mở rộng quy mô đào tạo
Sự tăng nhanh về quy mô đào tạo ở các trường kỹ thuật đã góp phần từngbước khắc phục sự thiếu hụt về số lượng đội ngũ NNL có trình độ kỹ thuật và kỹnăng lao động tuy nhiên điều này lại đang làm xuất hiện mâu thuẫn trong việcbảo đảm chất lượng đào tạo do hạn chế về tài chính và năng lực nội sinh của các
cơ quan đào tạo và trưởng thành từ trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo môhình kế hoạch hoá tập trung
Trong quá trình đổi mới, một bộ phận khá lớn NNL đã được đào tạo và đàotạo lại, bồi dưỡng kiến thức về kỹ năng lao động Tuy nhiên trước yêu cầu tiếptục đổi mới và hội nhập trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ NNL xét về số lượng,chất lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với thời kỳ hội nhập kinh tế
Trong xã hội nguyên thuỷ, khi mà nền sản xuất xã hội loài người mớihình thành thì con người là trung tâm của mọi quá trình sản xuất, đó là mộtđiều hiển nhiên ngay cả khi cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất bùng nổ,máy móc đã được đưa vào sản xuất nhưng vai trò của con người vẫn đượckhẳng định một cách chắc chắn Rồi tiếp đó là cuộc cách mạng thứ hai, thứ ba
nổ ra, khoa học kỹ thuật đã phát triển một cách nhanh tróng, máy móc côngnghệ đã thay thế con người trong nhiều công đoạn từ đơn gian đến phức tạp,sản lượng đầu ra đã không ngừng được tăng lên, năng suất lao động xã hộiđược cải thiện một cách không ngờ vv Nói tóm lại, thành tựu mà kho họccông nghệ là vô cùng to lớn, Từ đây xuất hiện, nảy sinh quan điểm cho rằnglực lượng sản xuất mạnh mẽ, tổ chức sản xuất sẽ nhanh chóng được hoànthiện Và theo quan điểm của các nhà kinh tế học thành viên hiệp hội công
Trang 12nghiêp Hoa Kỳ đã nhận định rằng: “Chìa khoá của sự thành công là sự tựđộng hoá trong sản xuất” Với thời kỳ này, ở các nước phát triển đặc biệt làHoa Kỳ, triết lý kinh doanh coi công nghệ là trung tậm, ý niệm trông cậy vàocông nghệ đã được truyền bá rộng rãi Trong khi đó nhân công được coi làmột yếu tố làm hao phí sản xuất.
Trên thực tế ở nhiều nước công nghiệp, điều này được thể hiện vẫnthông qua việc định hướng và đổi mới trang thiết bị và sản phẩm mà vẫn giữnguyên cách tổ chức lao động truyền thống
Một thời gian sau, những người ủng hộ quan điểm này đã thất bại cayđắng, biểu hiện cụ thể là những tổ hợp sản xuất được tự động hoá ở trình độcao đã tỏ ra kém hiệu quả so với các xí nghiệp chỉ đơn thuần cơ giới hoá Cáccông xưởng của tương lai này đã rơi vào tình trạng giảm năng suất lao động,lãng phí nhân lực
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, khi mà cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật bước sang một giai đoạn mới đã có những thay đổi liên tục trong sảnxuất liên quan tới việc áp dụng kỹ thuật tin học, các công nghệ thông tin vàcác phần mềm tự động hoá Những thay đổi đó đã làm nảy sinh mâu thuẫngiữa một bên là thực hiện sản xuất một bên là cách phân công lao động hiệnđại, làm nảy sinh trực tiếp vấn đề phải xem xét lại toàn bộ hệ thống đào tạonhân công sẽ thay đổi của các thang giá trị về con người cũng buộc phải hìnhthành một cơ chế lao động mới Và mối quan hệ chặt chẽ giữa các khía cạnhcông nghệ, xã hội và kinh tế của sản xuất đã được thừa nhận, từ đó trong triết
lý kinh doanh đã có bước ngoặt từ quan điểm coi công nghệ làm trung tâmsức mạnh sang coi con người làm trung tâm, ưu tiên con người ở khía cạnh trithức, trình độ chuyên môn và kỹ năng lao động
Một lần nữa con người lại được đặt vào đúng vị trí của nó trong quátrình sản xuất Với quan điểm như vậy, hiện nay các nước phát triển đã thayđổi cách tổ chức lao động, xây dựng mô hình sử dụng NNL tri thức làm mũinhọn trong chiến lược cạnh trạnh của mình
Xét về bối cảnh ở nước ta là một nước công nông nghiệp đang pháttriển, trình độ công nghệ còn hạn chế, do đó với nền sản suất của nước ta từ
Trang 13trước đến nay con người vẫn đang phải sử dụng công nghệ ở mức trung bình.
Do đó, vai trò của nguồn nhân lực vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trongcông cuộc đổi mới và phát triển của các doanh nghiệp
II ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC.
1
Đ ặc đ iểm về đ à o tạo nguồn nh â n lực n ó i chung.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001-2010 của Đảng đã khẳngđịnh: “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyếtđịnh sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH, cần tạo chuyển biến
cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Đào tạo lớp người lao động có kiếnthức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạycảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng độingũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khọc, nhà văn hoá, nhà kinhdoanh, nhà quản lý” Các chính sách của Đảng và nhà nước ta coi giáo dục vàđào tạo là quốc sách, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bềnvững xã hội Đào tạo đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng
xã hội , là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh
Trong nền kinh tế không ngừng phát triển, việc phân bố lại cơ cấu nhânlực dưới tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ là đòi hỏi khách quancho sự phát triển đào tạo cả về số lượng và chất lượng Những đòi hỏi kháchquan ấy quyết định xu thế, đường lối, chính sách phát triển nghề nghiệp; mụctiêu, nội dung và phương phát đào tạo
Như vây có thể khẳng định rằng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực làquá trình thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực con người trí thức, phát triển các
kỹ năng và các phẩm chất lao động mới, thúc đẩy sáng tạo thành tựu khoa học– công nghệ mới, đảm bảo cho sự vận động tích cực các ngành nghề, lĩnh vực
và toàn bộ xã hội Quá trình đào tạo làm biến đổi nguồn nhân lực cả về sốlượng, chất lượng và cơ cấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng conngười; phát triển toàn bộ và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển
cả về năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nângcao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình
Trang 14độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn, đápứng ngày càng tốt hơn nhu câu nhân lực cho CNH, HĐH đất nước.
- Thứ hai: Đào tạo nguồn nhân lực là bộ phận cấu thành cực kỳ quan trọngcủa phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng chiến lược phát triển kinh tế xã hội,đáp ứng quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước Đào tạo nguồn nhânlực thường xuyên có vai trò quan trọng đáp ứng nhu cầu cập nhật tri thứckhoa học – công nghệ hiện đại cho người lao động, đáp ứng nhu cầu của thịtrường lao động, nhu cầu nhân lực của các khu vực, ngành, lĩnh vực của nềnkinh tế
- Thứ ba: Việc đào tạo nguồn nhân lực có vai trò cực kỳ quan trọng trongchuẩn bị nhân lực cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực như:
+ Đào tạo nhân lực cho ngành công nghệ cao và ngành kinh tế mũi nhọn.+ Đào tạo nhân lực cho các khu công nghệ cao, khu công nghiệp tập trung,khu chế xuất, khu kinh tế mở vv…
+ Đào tạo nhân lực cho các ngành dịch vụ chất lượng cao như giáo dục, đàotạo, tài chính, ngân hàng, y tế, bảo hiểm kiểm toán vv…
+ Đào tạo nhân lực cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
+ Đào tạo nhân lực cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
+ Đào tạo nguồn nhân lực cho xuất khẩu lao động
Trang 15- Thứ tư: Đào tạo nguồn nhân lực phải đảm bảo công bằng xã hội, tạo cơ hộicho tất cả mọi người tham gia đào tạo, đảm bảo con em của những gia đình cócông với nước, người nghèo, vùng sâu, vùng xa được tiếp cận hệ thống đàotạo.
- Thứ năm: Đào tạo nguồn nhân lực phải đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá vàtri thức hoá kinh tế Qua trình toàn cầu hoá, tri thức hoá kinh tế đặt ra vấn đềbức xúc đối với hệ thống đào tạo Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều có
sự chạy đua gay gắt về phát triển nguồn nhân lực để nâng cao hàm lượng trithức và hàm lượng khoa học-công nghệ trong từng sản phẩm, từng ngành vànền kinh tế Nguồn nhân lực được coi là nguồn vốn quan trọng bậc nhất đốivới các quá trình phát triển kinh tế xã hội Sự thành công của phát triển kinh
tế xã hội được quyết định bởi sự phát triển của “vốn nhân lực” Do đó, hệthống và các chính sách đào tạo của nước ta phải không ngừng bổ sung, hoànthiện để bắt nhịp được xu hướng chính sách, thể chế đào tạo của thế giới,nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao hơn, thúc đẩy sựcạnh tranh hiệu quả của nền kinh tế và đáp ứng cạnh tranh về nguồn nhân lựctrên thị trường lao động quốc tế
3
Đ ặc đ iểm đ à o tạo nguồn nh â n lực chuy ê n m ô n - kỹ thuật
Đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật là hoạt động cung cấpnhững kiến thức, kỹ năng và rèn luyện những phẩm chất mới cho người laođộng, sự kết hợp và tương tác cảu các yếu tố này tạo lên năng lực chuyênmôn-kỹ thuật của người lao động để họ đảm nhận được các công việc nhấtđịnh
Đào tạo lao động chuyên môn kỹ thuật ở các nước trên thế giới cũngnhư ở nước ta được thực hiện thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo nghềnghiệp của quốc gia, bao gồm hệ thống các trường đào tạo công nhân kỹthuật, trường đào tạo trung học chuyên nghiệp và trường đào tạo cao đẳng, đạihọc Các nội dung đào tạo được thực hiện trong các trường là:
- Đào tạo kiến thức nghề nghiệp
- Đào tạo kỹ năng nghề nghiệp
- Giáo dục các phẩm chất, thái độ nghề nghiệp
Trang 16á c loại h ì nh đ à o tạo th ô ng th ư ờng đư ợc chia ra:
- Đào tạo mới: Được áp dụng đối với những người chưa có nghề
- Đào tạo lại: Đào tạo những người đã có nghề, song vì lý do nào đó nghềcủa họ không còn phù hợp nữa
- Đào tạo nâng cao: Nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệmlàm việc để người lao động có thể đảm nhận được công việc phức tạp hơn
và làm việc có năng suất cao hơn
- Đào tạo liên thông: Nhằm chuyển đổi giữa lao động kỹ thuật thực hành vàlao động chuyên môn mang tính hàn lâm và ngược lại
Các ph ươ ng pháp đ ào tạo thông th ư ờng bao gồm:
- Đào tạo trong công việc gồm có: đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc, đàotạo theo kiểu học nghề, đào tạo theo kiểu kèm cặp và chỉ bảo và đào tạotheo hình thực luân chuyển và thuyên chuyển công việc
- Đào tạo ngoài công việc gồm các hình thức: tổ chức các lớp cạnh doanhnghiệp; cử đi học ở các trường chính quy; hội nghị hoặc hội thảo chuyênđề; đào tạo theo phương thức từ xa vv
Mỗi một lạo hình và phương pháp đào tạo đều có những ưu điểm và ngượcđiểm của nó do vậy các tổ chức và doanh nghiệp nên căn cứ vào tình hìnhthực tế của mình để đưa ra các giải pháp cho phù hợp và đạt hiệu quả caonhất
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
Ở CÔNG TY ĐÓNG TÀU HẠ LONG
I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ĐÓNG TÀU HẠ LONG
1 Thông tin chung về Công ty đóng tàu Hạ Long
Trang 17Tên công ty: Công ty đóng tầu Hạ Long (trước là Công ty đóng tàu Hạ
Long)
Hình thức pháp lý: Doanh nghiệp nhà nước - khối kinh tế trung ương
Tên giao dịch quốc tế: Ha Long Ship Building Company Limited
Ngành nghề kinh doanh chính:
- Đóng mới và sửa chữa phương tiện vận tải thuỷ
- Bốc xếp hàng hoá và kinh doanh dịch vụ cầu tàu, kho bãi, phá dỡ tàu cũ,phục hồi máy móc, thiết bị
- Xây lắp các công trình công nghiệp, GTVT và dân dụng
- Chế tạo, lắp đặt các loại thiết bị nâng hạ (các loại cần cẩu)
- Sản xuất khí công nghiệp…
Địa chỉ: Phường Giếng Đáy –T.P Hạ Long- T Quảng Ninh, Việt Nam
Tài khoản:
- Việt nam đồng: 102010000226804 – Ngân hàng công thương Bãi Thành Phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh
Cháy Ngoại tệ: 10202000002489 –Ngân hàng công thương Quảng Ninh
Điện thoại:(84-033) 846556 - Fax: (84-033) 846044
Cơ quan chủ quản: Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (trước là Tổng
công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam) Địa chỉ Tập đoàn: 109 Quán
Thánh- Quận Ba Đình- Thành Phố Hà Nội, Việt Nam.
2 Qua trình hình thành và phát triển
- Quá trình hình thành
Công ty đóng tàu Hạ Long (trước là Công ty đóng tàu Hạ Long) là mộtdoanh nghiệp nhà nước thuộc tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ việt nam(Nay là Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam) Công ty được thành lậptheo quyết định số 4390/QĐ-TC ngày 15-11-1976 của bộ giao thông vận tảivới nhiệm vụ chính là đóng mới và sửa chữa các loại tàu sông, tàu biển có
Trang 18trọng tải từ trên 1.000 tấn đến 30.000 tấn Ngoài nhiệm vụ chính là đóng mới
và sửa chữa tàu thuỷ, Công ty còn chế tạo một số trang thiết bị cơ khí phục vụcho nghành cơ khí đóng tàu và một số nghành kinh tế khác
Theo quyết định thành lập số 4390/QĐ-TC của Bộ trưởng Bộ GiaoThông Vận Tải ngày 15/11/1976 Công ty đóng tàu Hạ Long ra đời Đến nay,các giai đoạn phát triển của Công ty có thể tóm lược qua mốc thời gian quantrọng sau:
- Ngày 15/11/1976: Ban chuẩn bị sản xuất Hạ Long tổ chức bàn giao đợtmột công trình thứ ba để tiến hành khởi công sản xuất vừa xây dựng
- Từ năm 1976-1980: Công ty đóng tàu Hạ Long đi vào hoàn thiện xây lắpđợt một, vừa sản xuất bước đầu sửa chữa và đóng mới các phương tiện vậntải bé, vừa từng bước chuẩn bị sửa chữa tàu lớn, đóng tàu mẫu
- Những năm tháng đầu đi vào sản xuất có khó khăn về mọi mặt nhưng toànthể Công ty đã vượt qua và đạt được kết quả đáng phấn khởi
- Từ năm 1981-1985: Được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Giao Thông VậnTải, Cục cơ khí và được sự hướng dẫn của các chuyên gia Ba Lan, Công ty
đã tổ chức lễ đấu đà đóng tàu mẫu Việt Ba 01 trọng tải 1100 tấn
- Từ năm 1986 đến nay: Sự chuyển đổi cơ chế quản lý hành chính quan liêubao cấp sang cơ chế quản lí kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng XHCN Biến đổi ấy không chỉ tác động mạnh mẽ đếntoàn bộ đời sống xã hội nói chung mà còn tác động đến hoạt động sản xuấtcủa Công ty
Tuy có nhiều khó khăn, thử thách nhưng Công ty đóng tàu Hạ Long đãtrải qua thử thách đó đi vào nền kinh tế thị trường, có nhiều mặt trưởng thành.Đến thời điểm này, năm 2007 Công ty đã tiếp nhận nhiều hợp đồng mớinhững con tàu có trọng tải lớn
- Quá trình phát triển
Quá trình phát triển của Công ty có thể được chia thành 3 giai đoạn
+ Giai đoạn 1976-1986
Trang 19Giai đoạn này Công ty hoạt động theo cơ chế: Kế hoạch hoá tập trungbao cấp, Công ty sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước giao Sảnphẩm, vật tư, cung ứng, giá cả đều do nhà nước quy định Sản phẩm doanhnghiệp sản xuất chủ yếu là phương tiện tàu thuỷ có trọng tải trên dưới 5000tấn Bắt đầu tìm kiếm đến thị trường Châu Âu, Châu á với hàng loạt sảnphẩm như: Tàu Việt Ba 01, 02, 04 xuất sang Ba Lan Ngoài ra Công ty cònkhai thác tốt được thị trường trong nước từ Miền Trung trở ra với các loại sảnphẩm như: Sà lan 250 tấn và các loại tàu phục vụ vận tải trên biển và hàngloạt tàu chiến cho Bộ quốc phòng.
+ Giai đoạn 1986 - 1995 :
Thực hiện nghị quyết Đại hội VI của Đảng, doanh nghiệp chuyển đổi từ
cơ chế sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh sang cơ chế hạch toán kinhdoanh độc lập tự cân đối Đã phát huy được năng lực sáng tạo của cán bộCNV Tạo ra nhiều mặt hàng sản xuất phụ Tăng thêm khoản đóng góp chongân sách nhà nước, cải thiện được đời sống của cán bộ CNV khá hơn so vớithời bao cấp trước đó
Mặc dù là buổi đầu tiếp cận với cơ chế thị trường nhưng doanh nghiệp
đã nhanh chóng chiếm lĩnh đưọc phần thị trường mới tương đối lớn và ổnđịnh như: Hợp đồng đóng mới tàu 3.000 tấn xuất cho Campuchia
+ Giai đoạn 1995 đến nay :
Đây là giai đoạn doanh nghiệp chịu sự cạnh tranh gay gắt của cơ chếkinh tế thị trường Trước tình hình đó nhà nước kịp thời có những chính sáchbảo trợ và ngành cơ khí đóng tàu đã vạch ra những định hướng phát triển chongành, giúp cho Ban Giám đốc Công ty tìm ra hướng đi phù hợp đưa Công tythoát khỏi khủng hoảng, tìm lại được vị trí trên thị trường với phương châmtiếp tục đổi mới, hoàn thiện các quy chế hoạt động sản xuất kinh doanh Bảotoàn và phát huy hiệu quả của vốn do nhà nước cấp Từng bước hoàn thiệncông nghệ, nâng cao chất lượng đóng mới và sửa chữa tàu, cho cán bộ côngnhân đi đào tạo trình độ nghiệp vụ và tay nghề tại các nước như Ba Lan, NhậtHàn Quốc Mở rộng liên doanh, liên kết trong và ngoài nước để khai thác khả
Trang 20năng sẵn có và thực hiện hạch toán kinh doanh tự trang trải trong doanhnghiệp.
Kết quả là doanh nghiệp đã tìm kiếm được thị trường mới vào các năm
1998 - 2003, doanh nghiệp ký được hợp đồng đóng mới tàu 3500 tấn choCông ty dầu khí Việt Nam, ụ nổi 8500 tấn cho Công ty tàu biển Sài GònTàu 12000 tấn, Tầu 6300T và đặc biệt là hợp đống đóng mới một loạt tàu cótrọng tải 53.000 tấn xuất khẩu cho Anh quốc- Có thể nói giai đoạn này là giaiđoạn phát triển nhanh và mạnh của Công ty trên mọi lĩnh vực hoạt động ,sảnxuất-kinh doanh
- Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
+ Chức năng
Cũng như các doanh nghiệp khác thuộc các thành phần kinh tế khácnhau, Công ty đóng tàu Hạ Long được Nhà nước giao cho chức năng tổ chứcsản xuất kinh doanh hiệu quả, nghiên cứu, phát triển ngành công nghiệpđóng tàu, giải quyết và tạo công ăn việc làm cho người lao động
+ Nhiệm vụ
- Đóng mới và sửa chữa các phương tiện vận tải thuỷ
- Gia công kết cấu thép
- Kinh doanh cảng, bốc dỡ hàng hoá, khai thác kho ngoại quan
- Sản xuất ôxy, đất đèn
3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của Công ty đóng tàu Hạ Long.
- Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của Công ty:
Trang 21Qua sơ đồ trên ta thấy: Đứng đầu Công ty là tổng Giám Đốc do Chủ tịchhội đồng quản trị của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam bổ nhiệm vàbãi nhiệm Tổng giám đốc điều hành và quản lý Công ty theo chế độ một thủtrưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Tập đoàn về mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh của Công ty.
Giúp việc cho Tổng Giám đốc có các phó tổng Giám đốc do Ban giámđốc lựa chọn và đề nghị Chủ tịch hội đồng quản trị của Tâp đoàn Công nghiệptàu thủy Việt Nam bổ nhiệm và bãi nhiệm Mỗi Phó tổng Giám đốc được
Trang 22phân công phụ trách một số công việc và chịu trách nhiệm trước tổng Giámđốc về lĩnh vực công tác được phân công.
Có thể nói bộ máy của Công ty được tổ chức một cách khoa học và hợp
lý Các phòng ban, các đơn vị trực thuộc Công ty là các trưởng phòng, Quảnđốc các phân xưởng trực tiếp chỉ đạo hoạt động của mình và chịu trách nhiệmtrước ban giám đốc về lĩnh vực điều hành quản lý của mình
4 Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý
+ Tổng Giám đốc: Chịu trách nhiệm chung về toàn bộ hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty trước Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt nam vànhà nước Có nhiệm vụ quản lý và điều hành, bảo toàn và làm tăng nguồn vốncủa doanh nghiệp, bảo đảm duy trì và cải thiện đời sống vật chất, tinh thầncho đội ngũ cán bộ CVN Tổng Giám đốc trực tiếp điều hành phòng Tổ chứccán bộ – Lao động và phòng Tài chính kế toán
+ Phó tổng giám đốc Vật tư – kinh doanh: Trực tiếp phụ trách khâu cung ứngvật tư, thiết bị, nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất kinh doanh, công tácnội chính và phụ trách toàn bộ Công ty khi tổng Giám đốc đi vắng
+ Phó tổng Giám đốc Đầu tư-XDCB: Phụ trách đầu tư xây dựng cơ bản cónhiệm vụ xây dựng kế hoạch đầu tư và quản lý cơ sở hạ tầng, kế hoạch đổimới công nghệ trang thiết bị máy móc phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanhtrong từng giai đoạn
+ Phó tổng giám đốc kỹ thuật: Chịu trách nhiệm trực tiếp về kĩ thuật của cácsản phẩm sản xuất, đảm bảo tiến độ hoàn thành các bản vẽ, hồ sơ kỹ thuật chotàu
+ Phó tổng giám đốc sản xuất: Trực tiếp điều hành tiến độ thi công của cácsản phẩm phải đảm bảo về số lượng, chất lượng sản phẩm theo kế hoạch
Các phòng ban chức năng:
+ Phòng Tài chính kế toán: Tham mưu cho tổng giám đốc quản lý về mặt tàichính Quản lý và hạch toán nội bộ trong Công ty Cân đối và huy độngnguồn vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 23+ Phòng Tổ chức cán bộ - Lao động: Có nhiệm vụ tham mưu cho tổng giámđốc về công tác tổ chức và quản lý lao động Thực hiện chế độ tiền lương,tiền thưởng và các chế độ chính sách Xây dựng, điều chỉnh và quản lý địnhmức lao động, đơn giá tiền lương cho phù hợp với chế độ hiện hành, đồngthời có đội ngũ ytế luôn chăm lo sức khoẻ cho người lao động.
+ Phòng Đầu tư - XDCB: Tham mưu cho tổng giám đốc kế hoạch đầu tư xâydựng cơ bản, mở rộng sản xuất, quản lý hệ thống công nghệ trang thiết bị máymóc
+ Phòng Kinh doanh - Đối ngoại: Tham mưu lập kế hoạch sản xuất kinhdoanh và dự toán giá thành, lập báo cao trình tổng Giám đốc
+ Phòng Vật tư: Tham mưu và lập kế hoạch mua sắm vật tư, trang thiết bịmáy móc phục vụ sản xuất Tổ chức mua sắm và cấp phát vật tư cho các đơn
vị sản xuất
+ Phòng Điều hành sản xuất: Có nhiệm vụ tham mưu cho tổng Giám đốc vềquá trình tổ chức thực hiện sản xuất Tổ chức điều hành các phòng ban phânxưởng thành dây chuyền sản xuất có hiệu quả và an toàn nhất Giám sát, đônđốc sản xuất đảm bảo tiến độ hoàn thành sản phẩm trong quá trình thực hiện.+ Phòng Kỹ thuật: Chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác kỹ thuật trước BanGiám đốc Có nhiệm vụ lập hạng mục, bản vẽ thiết kế kỹ thuật, các quy trìnhcông nghệ, dự trù vật tư và theo dõi giám sát về mặt kỹ thuật trong quá trìnhthi công sản xuất Tham mưu cho phòng Tổ chức cán bộ – LĐ về công tácđịnh mức lao động
+ Phòng KCS: Tham mưu cho tổng Giám đốc về công tác xây dựng phương
án, tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm Có nhiệm vụ giám sát, nghiệmthu các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định
+ Phòng Hành chính - Tổng hợp: Tham mưu cho tổng Giám đốc về công tácsắp xếp nơi làm việc cho cán bộ CNV, chăm lo đời sống sinh hoạt cho cán bộCNV và là nơi đón tiếp các cơ quan, đoàn khách đến liên hệ công tác
+ Phòng Đời sống: Kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ, bố trí và sắp xếp nơi ăn,nghỉ cho các đoàn khách đến công tác tại Công ty Phục vụ ăn ca cho CB-CNV làm ca và thêm giờ
Trang 24+ Phòng Bảo vệ: Có nhiệm vụ bảo vệ an toàn tài sản, máy móc, trang thiết bị
và hàng hoá của Công ty và khách hàng Đảm bảo về an ninh trật tự trong nội
bộ doanh nghiệp và khu vực Công ty đặt trụ sở Theo dõi và thực hiện chế độnghĩa vụ quân sự của Công ty đối với nhà nước
+ Phòng AT-LĐ: Tham mưu cho Giám đốc về công tác an toàn lao động,kiểm tra tình hình thực hiện ATLĐ trong hiện trường và khu vực Công ty
Ngoài các phòng ban chức năng, một bộ phận quan trọng của Công tychính là các phân xưởng sản xuất: Phân xưởng Vỏ I, Vỏ II, Trang bị, Máy tàu,Điện tàu, ống tàu, Cơ khí, Mộc - Xây dựng, Trang trí, Khí công nghiệp, Triền
đà, Kết cấu thép, Làm sạch & Sơn tổng đoạn, Ban Cơ điện
Các phân xưởng sản xuất này được tổ chức và chịu sự điều hành sảnxuất của các quản đốc và phó quản đốc Mỗi phân xưởng có nhiệm vụ giacông lắp ráp một bộ phận, một công đoạn từ trang thiết bị cho đến việc trangtrí hoàn tất một con tàu Theo bản vẽ thiết kế kỹ thuật dưới sự điều hành giámsát của Ban Giám đốc và các phòng ban chức năng liên quan Người quản đốcphân xưởng chịu trách nhiệm trước tổng Giám đốc về tiến độ thi công, chấtlượng và số lượng sản phẩm được giao cho Hầu hết các cán bộ phòng ban,phân xưởng đều có trình độ đại học và cao đẳng Có thâm niên nghề nghiệpđảm bảo được trình độ chuyên môn nghiệp vụ về công tác quản lý kinh tế, kỹthuật công nghệ và con người
a Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty.
Trang 25xưởng (người phụ trách chung) kết hợp cùng với phó quản đốc, đốc công sẽchuẩn bị các điều kiện sản xuất và thực hiện tiếp nhận:
- Bản vẽ thi công, hạng mục kỹ thuật từ phòng kỹ thuật
- Kế hoạch và tiến độ thi công từ phòng Điều hành sản xuất, nhận vật tư
từ phòng vật tư Nghiên cứu, triển khai thi công các hạng mục theo yêu cầusản xuất của Công ty Có trách nhiệm báo KCS và đăng kiểm kiểm tranghiệm thu và chuyển bước công nghệ cho từng sản phẩm theo từng bướccông nghệ
Phân xưởng khoán công việc cho từng tổ sản xuất Cuối tháng căn cứvào khối lượng công việc làm căn cứ nghiệm thu đánh giá công việc về sốlượng, chất lượng hoàn thành để làm cơ sở thanh toán lương cho từng tổ sảnxuất theo đơn giá trong định mức quy định của từng sản phẩm Với các côngviệc làm khoán như vậy, đòi hỏi các đội sản suất phải tự quản lý tất cả mọimặt, tích cực nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Các ngành nghề sản xuất kinh doanh
Như trên đã trình bày, Công ty đóng tàu Hạ Long là đơn vi sảnxuất kinh doanh Các ngành nghề Công ty đảm nhiệm là: sửa chữa, đóngmới các phương tiện vận tải thuỷ, sản xuất ôxy, đất đèn , khai thác kho ngoạiquan, gia công kết cấu thép…
Trong đó, ngành nghề chủ yếu là đóng mới, chiếm khoảng 70%tổng doanh thu của Công ty Các sản phẩm sửa chữa chiếm 20% tổng doanhthu, các ngành nghề khác chiếm 10% tổng doanh thu
- Tình hình sản xuất
Việc sản xuất của Công ty phụ thuộc vào đơn đặt hàng của kháchhàng Chính vì điều này Công ty đã có những sách lược kinh doanh chochính mình Thu hút khách hàng bằng việc có thể đóng mới những con tàu
có trọng tải lớn, hiện đại, tính năng hoạt động khác nhau, không ngừng nângcao chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian hoàn thành sản phẩm…Quátrình sản xuất của Công ty được diễn ra liên tục, Công ty đã có chỗ đứngnhất định trên thị trường, đã có rất nhiều đơn đặt hàng không chỉ ở trongnước mà cả ở nước ngoài
Trang 26- Các chiến lược phát triển
- Chiến lược maketing: Đây là một chiến lược hết sức quan trọng, nhất là đối
với đầu ra Nhằm giữ vững thị phần thị trường và nhóm khách hàng mục tiêucủa doanh nghiệp
- Chiến lược về nhân sự: Coi trọng và liên tục thực hiện tuyển chọn và đào
tạo đội ngũ cán bộ quản trị, đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ học vấn,chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cao
- Chiến lược về kỹ thuật công nghệ: Công ty tiếp tục đầu tư xâydựng, đổi
mới và bổ sung về công nghệ, trang thiết bị, máy móc nhằm đáp ứng yêu cầusản phẩm phải có chất lượng ngày càng cao
b Công tác quản trị doanh nghiệp.
- Công tác hoạch định.
Như bao doanh nghiệp khác để tồn tại và phát triển bền lâu thì mỗidoanh nghiệp cần hoạch định những chiến lược cho riêng mình để nắm lấynhững cơ hội và cách đi hoặc giảm bớt những ảnh hưởng của đe doạ do môitrường bền ngoài tạo ra Công tác hoạch định của Công ty đóng tàu Hạ Longcũng không nằm ngoài mục đích đó
Hàng năm Công ty tổ chức Đại Hội công nhân viên chức trong toànCông ty, tổng kết đánh giá các hoạt động sản xuất, kinh doanh Việc tìm ranhững điểm mạnh và điểm yếu bên trong Công ty cũng được Đại Hội chỉ ra.Công tác quản trị, Marketing, tài chính kế toán, sản phẩm và sản xuất, côngtác nghiên cứu phát triển, hệ thống thông tin các hoạt động kinh doanh củaCông ty là những lĩnh vực quan tâm chính của công tác hoạch định chiếnlược qua Đại Hội công nhân viên chức, lấy đó làm cơ sở để hoạch định xâydựng, đề ra phương hướng hoạt động trong những năm tới
Đối với công tác hoạch định chiến lược Công ty đã xây dựng chomình những mục tiêu dài hạn, nó có ý nghĩa lớn đối với sự thành công củaCông ty, bởi vì chúng sẽ chỉ ra phương hướng, bổ trợ cho việc đánh giá, chỉ
ra những ưu tiên cần thiết Công ty đóng tàu Hạ Long là một Công ty có quy
mô lớn cho nên những mục tiêu phải được lập cho toàn Công ty và cho từng
bộ phận
Trang 27Bên cạnh đó Công ty đã có những chiến lược sản xuất kinh doanh.Nhờ đó mà các mục tiêu có thể đạt được Công ty đã áp dụng các chiến lượcnhư: mở rộng về mặt địa lý, phát triển sản phẩm, xâm nhập thị trường và đạtđược những thành công nhất định.
Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng lực lượng nhân sự làm công tácnày còn quá mỏng, phương pháp tổ chức lấy dữ liệu cơ sở còn sơ sài nêncông tác hoạch định còn mang tính chất chung chung, chưa đi vào cụ thể
Tại Công ty, cơ bản đã xây dựng được một bộ máy tổ chức hợp lý, theo
mô hình chức năng có phối hợp trực tuyến Cấu trúc này đã tạo điều kiệnphát huy năng lực của từng nhà quản trị tại Công ty Và cũng chính nhờ cấutrúc này lãnh đạo Công ty có thể quản lý toàn Công ty có sự giúp sức củacác phòng chức năng Các phòng chức năng có trách nhiệm, nghiên cứu, tìmtòi và đề xuất những biện pháp tối ưu để giải quyết những công việc thuộclĩnh vực mình phụ trách Các phân xưởng sản xuất được sự hướng dẫn củacác phòng chức năng hoàn thành nhiệm vụ của mình
Việc áp dụng mô hình tổ chức bộ máy trực tuyến - chức năng kể phùhợp với nhiệm vụ sản xuất của Công ty vừa bảo đảm tính tập trung, thốngnhất cho mục tiêu vừa đảm bảo hiệu quả và năng xuất lao động quản lý cao
do có sự chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý Tuy nhiên nó lại tạo ra sựchồng chéo trong hoạt động quản lý vì một cấp quản lý bên dưới vẫn phảichịu sự quản lý của nhiều đầu mối bên trên
- Công tác lãnh đạo, điều hành
Như đã trình bày ở trên, tổ chức của Công ty theo cấu trúc trực tuyến
là chủ đạo, một lãnh đạo nên lãnh đạo có đủ thẩm quyền để điều hành, giải