1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài

61 913 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 909,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu về chế biến, kinh doanh thủy hải sản, thực phẩm của Việt Nam, Công ty chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre đang ngày đêm vừa phải đối phó với các đối t

Trang 1

TP HCM, n m 2012

Trang 2

Bốn năm trên giảng đường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh là một khoảng thời gian không quá dài nhưng mang lại cho em một lượng kiến thức đáng kể, nâng cao sự hiểu biết về lĩnh vực nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung Lý thuyết, thực hành cùng với kinh nghiệm thực tế khi thực tập tại Công ty Cầu Tre là tất cả những gì em thu nhặt được trong khoảng thời gian này nhằm khẳng định bản thân, chủ động nhập cuộc vào nền kinh tế, thật sự hội nhập, thật sự mở cửa như hiện nay

Cho đến nay, chuyên đề thực tập của em đã được hoàn thành nhờ vào sự giúp đỡ Giáo huấn của các thầy cô ở trường và sự giúp đỡ tận tình từ phía Công ty Cầu Tre

Em xin trân trọng gửi lời cám ơn tới các quý thầy cô, đặc biệt cảm ơn cô Nguyễn Thị Song An đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy em trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề

Và em trân trọng biết ơn Ban giám đốc công ty, anh Nguyễn Khắc Hanh cùng các anh chị đang công tác tại công ty đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong thời gian thực tập

Sinh viên

Phạm Thúy Vy

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012

Ký tên

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012

Ký tên

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1: Cơ sở lý luận về Marketing 1

1.1 Môi trường Marketing quốc tế: 1

1.1.1 Môi trường kinh tế - tài chính: 1

1.1.2 Môi trường văn hóa: 3

1.1.3 Môi trường chính trị và pháp luật: 4

1.1.4 Môi trường cạnh tranh: 5

1.1.5 Môi trường công nghệ: 5

1.2 Chiến lược marketing-mix: 6

Chương 2: Giới thiệu về công ty CBHXK Cầu Tre và tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian gần đây 8

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty: 8

2.1.1 Giới thiệu chung: 8

2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển: 9

2.2 Ngành nghề, kinh doanh: 19

2.3 Bộ máy tổ chức quản lý của doanh nghiệp: 21

2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật: 22

2.4.1 Tình hình tài sản cố định đang dùng: 22

2.4.2 Tình hình đất đai: 23

2.5 Tình hình hoạt động sản xuất – tiêu thụ: 25

Trang 6

2.5.3 Nhóm hàng trà và nông sản: 29

2.6 Tình hình hoạt động kinh doanh: 32

2.6.1 Cơ cấu hàng xuất khẩu: 32

2.6.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu: 34

2.7 Vài nét về tình hình tài chính của công ty Cầu tre: 37

2.8 Đánh giá chung về doanh nghiệp: 37

2.8.1 Thuận lợi: 37

2.8.2 Khó khăn, hạn chế: 38

2.9 Định hướng: 39

Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động Marketing của công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài 40

3.1 Phân tích hoạt động nghiên cứu và xâm nhập thị trường nước ngoài của công ty Cầu Tre: 40

3.1.1 Thực trạng hoạt động Marketing của Cầu Tre: 40

3.1.2 Tình hình xuất khẩu của Cầu Tre trong thời gian qua: 40

3.2 Phân tích chiến lược Marketing mix của công ty đối với thị trường nước ngoài: 42

3.2.1 Chiến lược giá: 42

3.2.2 Chiến lược sản phẩm: 43

3.2.3 Chiến lược phân phối: 43

3.2.4 Chiến lược xúc tiến: 43

3.3 Đánh giá chung: 44

Chương 4: Xây dựng chiến lược Marketing của công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài 45

Trang 7

4.2.1 Xây dựng bộ phận Marketing: 45 4.2.2 Chiến lược Marketing mix: 46

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Gia nhập WTO tạo ra nhiều cơ hội mới cho nền kinh tế Việt Nam Tuy cơ hội là có thực nhưng không phải cứ vào WTO là có thể phát triển ngay Vấn đề là làm sao phải biến cơ hội thành lực lượng mà điều đó phục thuộc rất nhiều vào chính chúng

ta

Đối với xuất khẩu hàng hóa, thực hiện các cam kết WTO sẽ đặt các nhà sản xuất Việt Nam trước những đòi hỏi phải có những điều chỉnh, thích nghi nếu muốn tận dụng cơ hội một cách thành công nhất Nhìn lại hơn hai năm gia nhập WTO, hoạt động xuất khẩu Việt Nam đã có những khởi sắc nhưng rõ ràng vẫn chưa có những đột biến như kỳ vọng Chúng ta có cơ hội nhưng chúng ta chưa có sự chuẩn bị thật tốt để biến cơ hội thành lợi ích như mong muốn

Trong phân tích về tác động gia nhập WTO thì lợi ích đầu tiên và rõ nhất thường được nhắc đến là Việt Nam sẽ nhanh chóng thu hút đầu tư và đẩy mạnh xuất khẩu Việt Nam có điều kiện để xuất khẩu vào thị trường 149 nước thành viên theo mức thuế được cắt giảm Hàng hóa Việt Nam được đối xử bình đằng và không bị phân biệt Đây là cơ sở để Việt nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng lợi thế, khai thác thêm thị trường Điều này hết sức có ý nghĩa vì xuất khẩu hiện chiếm tới 60% GDP của cả nước

Gia nhập WTO, môi trường kinh doanh Việt Nam sẽ dần cải thiện theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo ra niềm tin và sức hút cho các nhà đầu tư nước ngoài Việc ngày càng có nhiều nhà sản xuất hàng đầu thế giới đến Việt Nam đầu

tư cơ sở sản xuất sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới cho Việt Nam, tăng khả năng xuất

Trang 9

giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào dây chuyền phân công sản xuất trên thế giới,

cơ hội xuất khẩu mở ra và Doanh nghiệp Việt Nam sẽ gắn chặt hơn với Doanh nghiệp và thị trường thế giới

Đặc biệt, gia nhập WTO, Việt Nam có địa vị bình đẳng với các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu nhằm thiết lập một trật tự kinh tế công bằng trong việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho đất nước và Doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa lớn, giúp Doanh nghiệp tránh và giải quyết thuận lợi các cuộc tranh chấp thương mại theo nguyên tắc WTO, không còn bị thiệt thòi như trước đây

Tuy nhiên, gia nhập WTO, gia nhập một cuộc chơi trên sân chung sẽ đặt Việt Nam trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn trên cả ba cấp độ là quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Đây là một thách thức rất lớn nếu nhìn vào những yếu kém nội tại và những bất cập về năng lực của nền kinh tế Việt Nam Thậm chí dưới tác động thực hiện cam kết WTO chúng ta phải chấp nhận việc phá sản một số doanh nghiệp, nguy cơ bị hàng hóa nước ngoài đè bẹp ngay trên thị trường nội địa là có thể xảy ra

Điều này đặt toàn bộ nền kinh tế Việt Nam từ chính quyền cho tới doanh nghiệp trước yêu cầu nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh trên nhiều góc độ Đồng thời phải có những chính sách điều chỉnh, phân bổ nguồn lực và chiến lược phát triển một cách hợp lý nhất, tạo ra một hướng đi thích hợp nhất Cam kết của Việt Nam là sẽ thực hiện các cam kết WTO ngay sau khi gia nhập và nhiều chuyên gia

Trang 10

thức, nắm lấy cơ hội

Là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu về chế biến, kinh doanh thủy hải sản, thực phẩm của Việt Nam, Công ty chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre đang ngày đêm vừa phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh ở thị trường trong nước, vừa phải đương đầu chịu áp lực ở thị trường ngoài nước Để đứng vững được trên cả hai thị trường này, Cầu Tre luôn phát huy hết tiềm năng nội lực của mình, theo sát thị trường và không ngừng đổi mới trong kinh doanh và sản xuất Bên cạnh đó, với tập thể cán bộ công nhân viên, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề đã thúc đẩy cho sự vươn lên vượt qua khó khăn ban đầu để đi vào sản xuất với phương châm “ sản xuất, chế biến những sản phẩm đảm bảo chất lượng”

Từ những nhận định trên, em xin chọn đề tài:”Xây dựng chiến lược Marketing xuất khẩu mặt hàng thủy hải sản chế biến của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài.” Hy vọng rằng đề tài này sẽ góp phần giúp Công ty Cầu Tre giải quyết được những vấn đề của mình trên thị trường giàu tiềm năng này

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING

1.1 Môi trường Marketing quốc tế:

Trước tiên, khi nghiên cứu về một quốc gia để hoạch định chiến lược thâm nhập, các công ty quốc tế cần tìm hiểu thông tin đại cương về quốc gia đó Đó là các thông tin về diện tích, dân số (tổng số, cấu thành dân cư, mật độ dân số), ngôn ngữ, điều kiện địa lý và khí hậu, các vùng và các trung tâm công nghiệp thương mại quan trọng Bởi vì đó là những yếu tố ảnh hưởng đến chương trình marketing của công ty khi thâm nhập thị trường ở nước ngoài

Môi trường Marketing quốc tế gồm môi trường kinh tế - tài chính, môi trường văn hóa xã hội, môi trường chính trị pháp luật, môi trường cạnh tranh và môi trường công nghệ

1.1.1 Môi trường kinh tế - tài chính:

Khi nghiên cứu môi trường kinh tế tài chính, các công ty quốc tế quan tâm đến những yếu tố sau:

- Dân số:

Mối quan tâm đầu tiên của các công ty quốc tế khi xem xét một quốc gia nước ngoài đó là quy mô thị trường Vì thế quy mô thị trường bắt đầu bằng cách xem xét dân số Khoảng ¼ quốc gia trên thế giới có dân số 10 triệu, một thị trường tiềm

Trang 12

- Thu nhập:

Các nhà marketing quốc tế về hàng tiêu dùng đặc biệt quan tâm đến mức thu nhập bình quân đầu người vì đó là chỉ tiêu phản ánh nhu cầu và hành vi mua sắm

của khách hàng

- Tình hình sản xuất và sản lượng của quốc gia đó về từng mặt hàng cụ thể:

Khi nghiên cứu để thâm nhập vào một quốc gia nào, các công ty quốc tế cần phải nghiên cứu tình hình sản xuất của quốc gia đó về từng mặt hàng cụ thể có liên quan đến sản phẩm kinh doanh của công ty Chính điều này sẽ ảnh hưởng đến việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu sản phẩm, xu hướng xuất nhập khẩu của quốc gia

- Tỷ giá hối đoái và sự biến động của nó, tình hình lạm phát

- Cơ sở hạ tầng:

Bao gồm các phương tiện thông tin, năng lượng và giao thông vận tải ở một quốc gia Nghiên cứu marketing và hoạt động xúc tiến hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng thông tin của một quốc gia Phương tiện truyền thông đại chúng là hệ thống các dịch vụ, điện thoại, truyền thanh và truyền hình, internet… sự sẵn có của các phương tiện này thay đổi từ quốc gia này tới quốc gia khác

Hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông vận tải, khả năng bốc dỡ hàng hóa tại các sân bay, bến cảng, hệ thống điện nước, năng lượng cung cấp cho kinh doanh, hệ thống kho bãi, hệ thống bán buôn, bán lẻ… Tất cả đều là những yếu tố rất quan trọng trong việc ra quyết định có nên lựa chọn thị trường quốc gia đó hay không của một công ty quốc tế

Trang 13

- Mức độ đô thị hóa:

Mức độ đo thị hóa cũng là một nội dung cần được quan tâm Các nhà marketing quốc tế thực hiện nhiệm vụ ở những nơi có mức đô thị hóa cao sẽ dễ dàng hơn so với những nơi có mức đô thị hóa thấp

1.1.2 Môi trường văn hóa:

Các yếu tố thuộc môi trường văn hóa là ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo, giá trị, thái độ,giáo dục, quan niệm về gia đình và xã hội

Văn hóa ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của khách hàng Vì vậy các chiến lược sản phẩm, quảng cáo, phân phối… phải xem xét yếu tố van hóa của quốc gia mà công ty thâm nhập

- Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp trong một nền văn hóa Sự khác biệt về ngôn ngữ có ảnh hưởng đối với nhiều quyết định thông tin trong marketing

- Tôn giáo, giá trị và thái độ:

Tôn giáo là động cơ của hành vi và là cơ sở cho hầu hết các giá trị và thái độ của khách hàng Nhà marketing quốc tế cần một số kiến thức về truyền thống tôn giáo của quốc gia để hiểu được hành vi tiêu dùng ở đó

Trang 14

cảm văn hóa để nhận ra những khác biệt và sử dụng chúng trong việc khai thác nguồn nhân lực

1.1.3 Môi trường chính trị và pháp luật:

- Chính trị:

Các nhà marketing quốc tế cần xem xét những ảnh hưởng chính trị của quốc gia sở tại đối với công ty trên thị trường nước ngoài Một điều cần quan tâm đó là sự ổn định chính trị của quốc gia Sự bất ổn và thay đổi nhanh chóng về chính trị sẽ tạo nên một môi trường rủi ro cho việc kinh doanh Một điều đáng quan tâm khác đó là công ty quốc tế thì thường được nhận dạng bởi xuất xứ quốc gia của mình Điều này có thể tốt hoặc xấu tùy thuộc vào mối quan hệ giữa chính quyền trong nước và nước ngoài

Thực sự hàng tiêu dùng thì nhạy cảm về chính trị hơn là hàng công nghiệp, còn thành phẩm thì nhạy cảm hơn so với nguyên vật liệu và các thành phần cấu thành nên sản phẩm

- Pháp luật:

Những nội dung chính khi nghiên cứu môi trường pháp luật là:

- Mức độ kiểm soát của chính phủ về xuất nhập khẩu và các mặt có liên quan

- Các điều ước mà quốc gia đó đã ký kết

- Hàng rào thuế quan

- Hệ thống luật pháp chi phối trực tiếp trong kinh doanh: Luật chống bán phá giá, luật chi phối trong quảng cáo, khuyến mại, luật chi phối trong bao gói sản phẩm Qui chế của chính phủ đối với các văn phòng đại diện và chi nhánh của công ty ở

Trang 15

nước ngoài, các thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, qui định về lương thực, thực phẩm, y tế, an toàn kiểm dịch cần phải được bảo đảm khi nhập khẩu

1.1.4 Môi trường cạnh tranh:

Các công ty khi thâm nhập thị trường quốc gia nào đó cần nghiên cứu:

- Hình thức cạnh tranh sản phẩm có thể diễn ta tại nước sở tại

- Phân tích lực lượng cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh chính, mục tiêu của họ, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, đe dọa của đối thủ cạnh tranh

- Chiến lược kinh doanh của đối thủ cạnh tranh

Trên cơ sở nghiên cứu môi trường cạnh tranh, các công ty sẽ hoạch định chiến lược marketing, chiến lược cạnh tranh một cách phù hợp Trong lĩnh vực marketing, chiến lược cạnh tranh có thể là chiến lược của người dẫn đầu, chiến lược của người thách đố, chiến lược của người theo đuổi, chiến lược của người điều khuyết thị trường

1.1.5 Môi trường công nghệ:

Nghiên cứu môi trường công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với công ty quốc tế Việc áp dụng công nghệ mới giúp các công ty quốc tế tạo ra sản phẩm mới và làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường Người ta thấy rằng giữa chi phí nghiên cứu, phát triển và khả năng sinh lời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các công ty quốc tế đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển cao thì khả năng sinh lời cũng sẽ cao hơn

Trang 16

Tuy nhiên, những sự thay đổi về công nghệ không phải lúc nào cũng nhận được sự ủng hộ của người tiêu dùng Vì vậy, người làm marketing phải nắm được những thay đổi của môi trường công nghệ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của con người, nhưng cũng phải cảnh giác đối với thái độ chống đối từ người tiêu dùng

1.2 Chiến lược marketing-mix:

Marketing-mix là sự tập hợp các phương tiện (công cụ) marketing có thể kiểm soát được mà doanh nghiệp phối hợp sử dụng để tạo nên sự đáp ứng cần thiết trong thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu marketing của mình

Có nhiều công cụ khác nhau được sử dụng trong marketing-mix, nhưng theo J.McCarthi, có thể nóm gộp thành 4 yếu tố gọi là 4P: sản phẩm (product), giá cả (price), phân phối (place) và cổ động (promotion) Các doanh nghiệp thực hiện marketing-mix bằng cách phối hợp 4 yếu tố đó để tác động làm thay đổi sức cấu thị trường về sản phẩm của mình theo hướng có lợi cho kinh doanh

- Sản phẩm: Là sự kết hợp “vật phẩm và dịch vụ” mà doanh nghiệp cống

hiến cho thị trường mục tiêu gồm có: phẩm chất, đặc điểm, phong cách, nhãn hiệu, bao bì, quy cách (kích cỡ), dịch vụ, bảo hành…

- Giá cả: Là số tiền mà khách hàng phải bỏ ra để có được sản phẩm.Giá cả

phải tương xứng với giá trị được cảm nhận ở vật phẩm cống hiến, bằng không người mua sẽ tìm mua của nhà sản xuất khác Giá cả bao gồm: giá quy định, giá chiết khấu, giá bù lỗ, giá theo thời hạn thanh toán, giá kèm theo điều kiện tín dụng…

- Phân phối: Bao gồm những hoạt động khác nhau của doanh nghiệp nhằm

đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng mà doanh nghiệp muốn hướng đến, như xác

Trang 17

định kênh phân phối ,lựa chọn các trung gian, mức độ bao phủ thị trường, bố trí lực lượng bán theo các khu vực thị trường, kiểm kê, vận chuyển, dự trữ

- Xúc tiến: Là những hoạt động thông đạt những giá trị của sản phẩm và

thuyết phục khách hàng mục tiêu của sản phẩm ấy Cổ động bao gồm các hoạt động quảng cáo, bán trực tiếp,khuyến mại, quan hệ công chúng

Việc thiết kế marketing-mix có liên quan đến hai quyết định thuộc về ngân sách Thứ nhất, doanh nghiệp phải quyết định tổng số chi tiêu dành cho các nỗ lực marketing (quyết định về chi phí marketing) Thứ hai, doanh nghiệp phải xác định mức chi tổng ngân sách cho các phương tiện thuộc marketing-mix (quyết định về chi phí marketing-mix)

Thứ tự và cấu trúc của marketing-mix được triển khai tùy thuộc vào phương án chiến lược marketing đã được xác định

Marketing-mix có thể được triển khai thống nhất hoặc khác biệt theo từng đoạn thị trường mục tiêu đã chọn Ngoài ra, những quyết định về marketing-mix chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quyết định định vị thị trường của doanh nghiệp

Cấu trúc của marketing-mix, sự hỗ trợ và liên kết của các thành phần trong marketing-mix phải thể hiện rõ ràng để tránh gây khó khăn trong quá trình thực hiện Chẳng hạn, một chiến dịch quảng cáo mạnh mẽ phải được sự hỗ trợ của việc phân phối rộng rãi, nếu không khách hàng khó có thể đáp ứng lại chương trình quảng cáo đó

Trang 18

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CBHXK CẦU TRE VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY

TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:

2.1.1 Giới thiệu chung:

Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre (Tiền thân là Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre) được xây dựng từ năm 1982, trên diện tích gần 80.000m2, trong đó hơn 30.000m2 là các xưởng sản xuất với nhiều trang thiết bị hiện đại Sản phẩm của Công ty rất đa dạng và phong phú, chế biến từ các nguyên liệu thủy hải sản và nông sản được tiêu thụ trên toàn quốc thông qua các hệ thống siêu thị và đại lý phân phối Ngoài ra sản phẩm của Cầu Tre được xuất đi qua nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Đức, Ý, Thụy

Sĩ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Mỹ, Canada,…Công ty đang áp dụng chương trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP, áp dụng ISO 9001:2000 được công nhận bởi tổ chức TUV cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Với kinh nghiệm gần 30 năm sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu, Cầu Tre chúng tôi có thể sản xuất ra những sản phẩm thích hợp với thị hiếu của từng thị trường, cũng như những yêu cầu của khách hàng Trong những năm qua Công ty đã từng bước khẳng định vị trí của mình trên thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu, chất lượng sản phẩm là vấn đề hàng đầu được Công ty hết sức coi trọng

Trang 19

2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển:

Trong hơn hai thập kỷ qua, Công ty đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, bên cạnh nhiều thuận lợi cũng gặp không ít khó khăn nhưng một đặc điểm khá nhất quán là dù ở bất cứ hoàn cảnh nào Công ty cũng đều thể hiện được tính tự lực, khả năng sáng tạo và cố gắng vượt khó của mình với tinh thần đoàn kết cao của một tập thể luôn gắn bó với nhau và gắn bó với sự nghiệp chung của Công ty Nhờ vậy Cầu Tre đã vượt qua nhiều khó khăn trong trong quãng đường dài phát triển

a) Sơ lược về công ty Direximco, tiền thân của Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre:

a.1 Nói đến Cầu Tre không thể không nhắc đến Direximco Công Ty Direximco

ra đời trong bối cảnh của những năm 1979 - 1980, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thành phố lâm vào tình trạng bán đình đốn do thiếu nguyên liệu, thiếu phụ tùng thay thế, công nhân thiếu việc làm và Nhà nước phải giải quyết những hậu quả tất yếu của một đất nước vừa thoát ra khỏi chiến tranh kéo dài hàng chục năm lại đang phải đương đầu với một cuộc chiến mới ở cả hai phía: biên giới Bắc và Tây Nam

Sau khi có Nghị quyết 06 của Trung Ương và Nghị quyết 26 của Bộ Chính Trị, trước đòi hỏi bức xúc của tình hình chung, cuối tháng 04 năm 1980, Thành Uỷ và Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố chủ trương cho thành lập Ban Xuất Nhập Khẩu thuộc Liên Hiệp Xã TTCN Thành phố Qua một năm làm thử nghiệm với một số thương

Trang 20

hiệu quả kinh doanh tốt, Thành phố ra Quyết định số 104/QĐ-UB ngày 30.05.1981 cho phép thành lập Công Ty Sài gòn Direximco, cùng lúc với 3 Công ty xuất nhập khẩu khác (Cholimex, Ramico, Ficonimex) trên địa bàn Thành phố

a.2 Trong tình hình ngân sách Thành phố còn rất eo hẹp, theo tinh thần chỉ đạo

của Thành Uỷ và UBND Thành phố, Direximco hoạt động tự lực cánh sinh với phương châm ''hai được” (được phép huy động vốn trong dân và vốn nước ngoài; được phép đề xuất chính sách cụ thể, được xét duyệt ngay) và ''hai không'' (không lấy vốn ngân sách Nhà nước; không vay quỹ ngoại tệ xuất nhập khẩu) Đây là chủ trương đầy tính sáng tạo và dũng cảm trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ

Với cách làm linh hoạt, đi từ nhỏ đến lớn, lấy ngắn nuôi dài, Direximco đã có những bước phát triển nhảy vọt về kim ngạch xuất nhập khẩu:

Bảng 2.1 – Kim ngạch XNK của Direximco trong giai đoạn 1980 – 1985

STT Năm Kim ngạch xuất khẩu

Trang 21

a.3 Trong thời kỳ hoạt động của Direximco, mặc dù kinh doanh là chủ yếu,

nhưng Ban lãnh đạo Công Ty đã nhận thức được xu hướng các tỉnh sẽ dần dần tiến lên tự làm xuất nhập khẩu, nhất là xuất thô và sơ chế, giảm dần phụ thuộc vào Thành phố, từ đó đặt ra yêu cầu Direximco phải tổ chức cho được một số cơ sở sản xuất của chính mình để chủ động có nguồn hàng xuất ổn định lâu đài, có hiệu quả kinh doanh cao trên cơ sở dựa vào tiềm năng và thế mạnh về mặt khoa học kỹ thuật, tay nghề của Thành phố thông qua làm hàng xuất khẩu tinh chế Quyết định đầu tư xây dựng cơ sở chế biến hàng xuất khẩu là thể hiện ý đồ chiến lược này

b) Chuyển thể từ Direximco sang Doanh nghiệp Cầu Tre:

Sau khi có Nghị quyết 01/NQ-TW ngày 14 tháng 09 năm 1982 của Bộ Chính Trị, căn cứ vào Nghị quyết hội nghị Ban Thường Vụ Thành Uỷ bàn về công tác xuất nhập khẩu (Thông báo số 12/TB-TU ngày 28 tháng 04 năm 1983), Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố đã ra Quyết định số 73/QĐ-UB ngày 01 tháng 06 năm 1983 chuyển Công Ty xuất nhập khẩu Trực dụng Công nghiệp Saigon Direximco thành Doanh Nghiệp Quốc Doanh Chế Biến Hàng Xuất Khẩu Cầu Tre (Doanh nghiệp Cầu Tre)

Theo Quyết định nói trên, Doanh Nghiệp là một đơn vị sản xuất chế biến để cung ứng xuất khẩu trực thuộc Sở Ngoại Thương Thành phố Mặt hàng của Doanh Nghiệp gồm một số loại hải sản khô, đông lạnh và một số hàng khác được quy định cụ thể trong kế hoạch hàng năm của Doanh Nghiệp

Sau nhiều đợt tổ chức lại ngành Ngoại thương Thành phố, Doanh Nghiệp lần

Trang 22

Đối Ngoại, Sở Kinh tế Đối Ngoại, Sở Thương Mại và Tổng Công Ty Thương Mại Sài gòn

Vào thời điểm chuyển thể, tình hình tài sản của Direximco rất khả quan, gồm nhiều tài sản cố định có giá trị cao, nhất là một quỹ hàng hoá lớn

Direximco đã chuyển giao toàn bộ tài sản cho Sở Ngoại Thương, trong đó riêng hàng hoá nhập (sợi nhựa, hoá chất, vv ) trị giá khoảng 10 triệu USD, 103 triệu đồng hàng hoá xuất khẩu, hơn 45 triệu đồng hàng công nghệ phẩm và 77 triệu đồng vốn bằng tiền

Sở Ngoại Thương đã cắt giao lại cho Doanh Nghiệp số vốn 218 triệu đồng, để làm vốn kinh doanh ban đầu, trong đó:

- Vốn cố định : 143 triệu đồng

- Vốn lưu động : 75 triệu đồng

Thật ra, các phần vốn '' do Ngân sách cấp'' nói trên thực chất chỉ là một phần trích trong khoản tích luỹ Direximco tạo được từ kết quả kinh doanh của mình Sau đợt đổi tiền năm 1985, vốn cố định được quy ra thành 14,3 triệu đồng và qua các đợt đánh giá lại theo chủ trương của Bộ Tài Chánh và hàng năm Doanh Nghiệp trích lãi để bảo toàn vốn, phần vốn nói trên là 11,8 tỉ đồng, chiếm khoảng 11,4 % tổng số vốn của Doanh Nghiệp (Quyết toán năm 1997)

Riêng vốn lưu động (75 triệu đồng) vào cuối năm 1984, Doanh Nghiệp đã hoàn trả lại đầy đủ cho Ngân sách

Bằng nguồn vốn khiêm tốn được giao, với nỗ lực của bản thân, Doanh Nghiệp đã từng bước đi lên, xây dựng được cơ ngơi thuộc loại quy mô tương đối lớn của Thành phố như ngày hôm nay

Trang 23

Quá trình đi lên của Doanh Nghiệp thật ra không đơn giản Qua nhiều giai đoạn khác nhau, thuận lợi nhiều nhưng khó khăn không ít, thậm chí có lúc đòi hỏi Doanh Nghiệp phải có sự chọn lựa một cách thật sáng suốt và phải có quyết tâm cao vượt qua thử thách để khỏi đi vào bế tắc

* Các giai đoạn phát triển của Doanh nghiệp:

Hơn 20 năm hoạt động của Doanh Nghiệp có thể chia thành ba giai đoạn chính:

 Giai đoạn 1983- 1989: Sản xuất khẩu kết hợp kinh doanh hàng nhập khẩu

Nét đặc trưng hoạt động giai đoạn này là kết hợp sản xuất hàng xuất khẩu với kinh doanh hàng nhập khẩu dưới hình thức chủ yếu dùng hàng nhập để đối lưu huy động hàng xuất, đồng thời dùng lãi và chênh lệch giá trong kinh doanh hàng nhập để hổ trợ làm hàng xuất khẩu

Giai đoạn này có 2 thời kỳ:

+ Thời kỳ 1983 -1987: Doanh nghiệp Cầu Tre là chân hàng cùa IMEXCO

Theo Quyết định 73/QĐ-UB của UB Nhân dân Thành phố, sau khi chuyển thể từ Direximco, Doanh Nghiệp Cầu Tre cũng như nhiều đơn vị làm hàng xuất khẩu khác của Thành phố đã trở thành ''chân hàng'' của IMEXCO, trong đó vai trò của IMEXCO là đầu mối Ở khâu nhập, Doanh Nghiệp thông qua IMEXCO dưới hình thức “hàng đối lưu” và trong phạm vi “quyền sử dụng ngoại tệ” của mình

Trong điều kiện bộ máy IMEXCO chưa đủ mạnh, cơ chế quản lý còn mang tính bao cấp, quyền tự chủ về tài chánh và kế hoạch của Doanh Nghiệp chưa được giải quyết rõ ràng, dứt khoát, hàng đối lưu thường chậm, dẫn đến trì trệ trong huy

Trang 24

Mặt khác, trang thiết bị kỹ thuật và các phương tiện khác của Doanh Nghiệp không theo kịp đà phát triển sản xuất đòi hỏi phải được khẩn trương tăng cường

Trong 2 năm đầu, kim ngạch xuất khẩu đã chựng lại:

- 1983 (7 tháng cuối năm): 4,2 triệu USD

- 1984 : 7,5 triệu USD

Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, một mặt Doanh Nghiệp cố gắng tranh thủ ủng hộ của trên, một mặt tự lực phấn đấu để tìm cách ổn định sản xuất đưa hoạt động Doanh Nghiệp đi lên

Một trong những biện pháp chủ yếu phải làm ngay là đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mặc dù gặp khá nhiều khó khăn về vật tư, tiền vốn.Với phương châm “vừa xây dựng, vừa sản xuất”, xây dựng xong đến đâu, đưa vào sản xuất đến đó, Doanh Nghiệp đã sử dụng mặt bằng với hiệu quả tốt hơn Cùng với tranh thủ sự tin cậy của khách hàng nước ngoài nhập chịu thiết bị trả chậm, Doanh nghiệp đã có điều kiện nắm bắt thời cơ Chiến dịch sò điệp với việc huy động hơn 12.000 tấn nguyên liệu, làm ra hơn l.000 tấn sản phẩm đông lạnh và khô hay kế hoạch làm mặt hàng thịt heo đông lạnh xuất cho Liên Xô gần 3.000 tấn trong 2 năm 1985 -1986 thành công tốt đẹp đã minh chứng cụ thể cho cách làm sáng tạo này Nhờ vậy, kim ngạch xuất khẩu năm 1985 - 1987 đã có sự gia tăng đáng kể:

Trang 25

Kim ngạch xuất khẩu trong 2 năm 1988 – 1989 có sự chuyển biến rõ rệt:

Bảng 2.2 – Kim ngạch XNK giai đoạn 1988 – 1989

STT Năm Kim ngạch XK Kim ngạch NK

1 1988 18,2 triệu USD/R 22,3 triệu USD/R

2 1989 25,0 triệu USD/R 18,4 triệu USD/R

Tình hình kinh tế cuối năm 1988 đầu năm 1989 của khu vực nói riêng và cả nước nói chung bước sang giai đoạn mới với nhiều khó khăn:

- Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn hàng nhập lậu tràn lan Nhiều đơn vị nhập ồ ạt, thiếu kế hoạch khiến nguyên liệu, vật tư nhập về phục vụ sản xuất (sợi, nhựa, hoá chất, vv ) bị tồn đọng, tồn kho lâu, vốn quay chậm, buộc lòng phải bán lỗ để có vốn tiếp tục sản xuất Tỷ suất bán hàng nhập khẩu thường thấp hơn tỷ suất làm hàng xuất khẩu

- Kinh doanh hàng nhập khẩu trên thực tế đã mất tác dụng hổ trợ xuất khẩu

- Về mặt sản xuất hàng xuất khẩu Doanh Nghiệp cũng có những khó khăn riêng: + Giá nguyên liệu trong nước ngày càng tăng theo tốc độ giảm giá của đồng bạc Việt Nam

+ Thị trường thế giới biến động bất lợi: giá xuất nhiều mặt hàng chủ lực của Doanh Nghiệp như tôm đông lạnh sụt giảm do sức thu hút của thị trường yếu

+ Lãi suất ngân hàng cao

+ Hiệu ứng vỡ nợ nhiều doanh nghiệp trong nước làm cho Doanh Nghiệp khó thu

Trang 26

+ Thiếu điện cho sản xuất vv

Tất cả những yếu tố nói trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh Nghiệp: năm 1989 tỉ giá hàng xuất bình quân lên đến 4.408 ĐVN/1USD-R trong khi tỷ giá bán hàng nhập bình quân (sau khi loại trừ thuế nhập khẩu và phí lưu thông) là 4.281 ĐVN/1USD-R

 Giai đoạn 1990 - 1998: Đi vào tinh chế xuất khẩu, chấm dứt kinh doanh hàng

nhập Những nét lớn của sách lược kinh doanh mới có thể tóm lược như sau:

- Tập trung đi vào tinh chế sản xuất, không huy động hàng xuất thô từ bên ngoài

- Sau hơn 20 năm hoạt động, phấn đấu nhanh chóng giảm và đi đến chấm dứt nhập hàng để kinh doanh, tập trung sản xuất hàng xuất khẩu

- Cơ cấu hàng nhập chỉ gồm chủ yếu nguyên liệu, vật tư phục vụ sản xuất của XN

- Rà soát lại cơ cấu mặt hàng xuất, chọn lọc một số sản phẩm Doanh Nghiệp có điều kiện và ưu thế làm tốt, hiệu quả kinh doanh cao, triển vọng phát triển lâu dài kể cả mặt hàng mới để tập trung đầu tư

- Đặt chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh lên hàng đầu Cân nhắc thận trọng hiệu quả kinh tế khi xây dựng kế hoạch và triển khai làm các mặt hàng xuất hhẩu, không nhất thiết chạy theo doanh số

Nhờ vậy, Doanh Nghiệp đã sớm khắc phục tình trạng khó khăn và liên tục làm ăn có lãi Từ năm 1991 trở đi mặc dù kim ngạch xuất khẩu trực tiếp từng lúc tuy có biến động lên xuống:

Trang 27

Bảng 2.3 – Kim ngạch XNK giai đoạn 1990 – 1998

STT Năm Kim ngạch XK

(1.000 USD)

Kim ngạch NK (1.000 USD)

Hiệu quả kinh doanh (lãi trước thuế lợi tức) (triệu đồng )

 Giai đọan từ năm 1999 đến nay: Doanh Nghiệp bắt đầu triển khai một số

dự án đầu tư liên doanh với nước ngoài làm hàng xuất khẩu:

Diện tích mặt bằng đã phát triển từ 3,5 hecta ban đầu, nay lên đến 7,5 hecta trong đó có hơn 30.000m2 nhà xưởng sản xuất, kho lạnh, kho hàng và các cơ sở phụ thuộc khác

Trang thiết bị đã đầu tư đủ mạnh có khả năng sản xuất và chế biến nhiều mặt hàng khác nhau về thuỷ sản, thực phẩm chế biến, trà và các loại mặt hàng nông sản

Trang 28

lượng xuất khẩu trung bình hàng năm trên 7.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm từ 17 đến 18 triệu USD/năm

Hệ thống máy móc trang thiết bị của Doanh Nghiệp dần được bổ sung và lắp mới với công nghệ của Châu Âu và Nhật Bản cho phép Doanh nghiệp cung cấp khoảng 8.500 tấn các loại sản phẩm/năm Hệ thống cấp đông có công suất trên 60 tấn/ngày và dung lượng của hệ thống kho lạnh là 1.000 tấn sản phẩm

Để có thể đưa hàng thâm nhập thị trường các nước, năm 1999 Doanh nghiệp đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP Đến năm 2000, Doanh nghiệp đã được phép xuất hàng thuỷ sản và nhuyễn thể 2 mảnh vỏ vào thị trường Châu Âu Đồng thời Doanh Nghiệp đã được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9002 và năm 2003 đã nâng cấp ISO 9001:2000 của tổ chức TUV CERT - Đức Doanh nghiệp cũng đã nhanh chóng đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại 25 nước và đang tiếp tục đăng ký tại 23 nước khác

Ngày 31/03/2005, Doanh Nghiệp được tiến hành Cổ phần hoá theo Quyết định số 1398/QĐ – UB của UBND TP.HCM Mục đích của việc cổ phần hoá là nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, phát huy nội lực, sáng tạo của cán bộ, công nhân viên, huy động thêm các nguồn vốn từ bên ngoài để phát triển doanh nghiệp, đồng thời phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động và của các cổ đông

Ngày 14/04/2011, theo Quyết định số 1817/QĐ – UBND của UBND TP.HCM về việc phê duyệt phương án và chuyển Doanh nghiệp Chế biến Hàng xuất khẩu Cầu Tre thành Công ty Cổ phần Chế biến Hàng xuất khẩu Cầu Tre

Sau khi Cổ phần hoá Doanh nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre có tên

tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN HÀNG XUẤT KHẨU CẦU TRE

Trang 29

Công ty Cổ phần Chế biến Hàng xuất khẩu Cầu Tre có:

- Tư cách pháp nhân theo Pháp luật Việt Nam kể từ ngày đăng ký kinh doanh

- Thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế độc lập

- Con dấu riêng, được mở tài khoản tại Ngân hàng theo quy định cùa Pháp luật

- Tổ chức và hoạt động theo điều lệ của Công ty Cổ phần và Luật doanh nghiệp, được đăng ký kinh doanh theo luật định

Vốn điều lệ: 117.000.000.000 (một trăm mười bảy tỷ) đồng Cổ phần phát hành lần đầu: 11.700.000 (mười một triệu bảy trăm ngàn) cổ phần với mệnh giá một cổ phần là 10.000 đồng

Qua gần 30 năm thành lập và hoạt động, Công ty cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre là đơn vị luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao hàng năm, thực hiện đầy đủ các chỉ tiêu nộp thuế, bảo toàn và phát triển vốn, tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người lao động

2.2 Ngành nghề, kinh doanh:

_ Sản xuất, chế biến, bảo quản thịt và sản phẩm từ thịt

_ Chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản

_ Sản xuất và mua bán trà các loại

_ Sản xuất và mua bán các loại bánh, kẹo, thực phẩm, nước giải khát (không sản xuất nước giải khát tại trụ sở)

_ Mua bán thủy sản và sản phẩm từ thủy sản, nông lâm sản nguyên liệu, động vật

Trang 30

Nam ký kết hoặc tham gia quy định và các loại động vật quý hiếm khác cần được bảo vệ), lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá điếu sản xuất trong nước, vật liệu xây dựng, đồ dùng cá nhân và gia đình, máy móc thiết bị và phụ tùng ngành chế biến thực phẩm - ngành xây dựng

_ Trang trí nội thất

_ Cho thuê kho bãi, văn phòng nhà ở

_ Kinh doanh nhà hàng ăn uống (không kinh doanh tại trụ sở)

_ Kinh doanh bất động sản

_ Đào tạo nghề

_ Dịch vụ hỗ trợ trồng trọt

_ Môi giới thương mại

_ Đại lý mua bán ký gửi hàng hóa

_ Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp

_ Tư vấn đầu tư (trừ tư vấn tài chính kế toán)

_ Tư vấn xây dựng (trừ thiết kế công trình, khảo sát xây dựng, giám sát thi công)

* Hàng hóa/dịch vụ chính :

_ Hải sản: nghêu, bạch tuộc, mực, cá, cua, ghẹ,

_ Thực phẩm Chế biến: Chả giò, Há cảo, Xíu mại, Chạo tôm, Bánh xếp,

_ Trà các loại ướp hương tự nhiên, Trà lài, Trà sen, Trà đen, Trà Ôlong, Trà phổ nhĩ, Trà khổ qua,…

Ngày đăng: 13/05/2015, 16:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 – Kim ngạch XNK của Direximco trong giai đoạn 1980 – 1985 - Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài
Bảng 2.1 – Kim ngạch XNK của Direximco trong giai đoạn 1980 – 1985 (Trang 20)
Bảng 2.2 – Kim ngạch XNK giai đoạn 1988 – 1989 - Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài
Bảng 2.2 – Kim ngạch XNK giai đoạn 1988 – 1989 (Trang 25)
Bảng 2.3 – Kim ngạch XNK giai đoạn 1990 – 1998 - Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài
Bảng 2.3 – Kim ngạch XNK giai đoạn 1990 – 1998 (Trang 27)
Bảng 2.4 – Phân loại tài sản cố định của Công ty - Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài
Bảng 2.4 – Phân loại tài sản cố định của Công ty (Trang 33)
Bảng 2.5 – Kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu mặt hàng - Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài
Bảng 2.5 – Kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu mặt hàng (Trang 42)
Bảng 2.6 – Kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu thị trường - Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài
Bảng 2.6 – Kim ngạch xuất khẩu theo cơ cấu thị trường (Trang 44)
Bảng 2.7 – Tình hình tài chính của công ty Cầu Tre - Xây dựng chiến lược Marketing của Công ty Cầu Tre tại thị trường nước ngoài
Bảng 2.7 – Tình hình tài chính của công ty Cầu Tre (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w