1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Chuyên đề tốt nghiệp TP.HCM Trường Đại Học Kinh Tế

42 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu này chủ yếu xây dựng và đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế bên cạnh đó còn đánh giá vai trò của đầu tư công so với các nhân tố tăng trưởng khác t

Trang 1

TP.H CHÍ MINH THÁNG 4 N M 2012

Trang 2

Mục Lục

Trang CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI _3

1.4 Ý nghĩa của đề tài về mặt thực tiễn _5

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH

TẾ TRONG THỜI GIAN QUA 7

2.1.Thực trạng đầu tư công. 7

2.1.1. Quy mô đầu tư công _7

2.1.2. Phân bổ vốn đầu tư công theo ngành, lĩnh vực và địa phương _9

2.3.Đánh giá hiệu quả đầu tư công qua chỉ số ICOR 13

CHƯƠNG III : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT _19

3.1 Tổng quan lý thuyết 21

CHƯƠNG IV: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU _22

4.1 Phương pháp nghiên cứu _23

4.2 Dữ liệu trong nghiên cứu 24

4.3 Phân tích kết quả mô hình 24

4.4 Kiểm dịnh ràng buộc tuyến tính 25

4.5 Kiểm định mô hình _25

Trang 3

4.6 Nhận xét về vai trò của đầu tư công 27 4.7 Hạn chế của mô hình _29 CHƯƠNG V : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30 4.1 Kết luận từ mô hình _30 4.2 Kiến nghị từ mô hình 30 PHỤ LỤC _34

TÀI LIỆU THAM KHẢO _39

Trang 4

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Về đầu tư trong nước tăng trưởng mạnh nhất vẫn là khu vực nhà nước Khu vực

tư nhân đặc biệt là khi Luật Doanh nghiệp được thi hành (01/01/2000) cũng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế đặc biệt là thiếu bình đẳng trên thị trường, phần nào đó làm giảm động lực đầu tư

Theo các số liệu thống kê, hằng năm nguồn vốn nhà nước dành cho đầu tư ngày càng tăng, chiếm tỉ trọng rất lớn trong Ngân sách Quốc gia Xét theo cơ cấu vốn đầu tư: Nguồn vốn nhà nước chiếm 36,5% trong 2001 và giảm dần qua các năm Tuy nhiên với tổng số vốn đầu tư tăng từ 28.535,6 tỷ đồng (2001) lên 173.493,8 (trong 2010) thì tính theo giá trị tuyệt đối vốn đầu tư nhà nước qua mỗi năm là rất lớn Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), tính đến thời điểm hiện tại, các bộ, ngành và địa phương đã gửi danh mục dự án đầu tư công trong năm 2012 về Bộ Kế hoạch và Đầu tư với tổng số tiền lên tới 300 tỷ USD, gấp 3 lần quy mô của nền kinh tế

Trang 5

hiện nay.Tuy nhiên với nguồn vốn đầu tư rất lớn như trên, hiệu quả đạt được cả về đóng góp cho GDP và tạo công ăn việc làm là chưa tương xứng

Trong suốt thời gian qua, vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn lực công trở thành một vấn đề gây bàn cãi trong công chúng cũng như trong các hội thảo Bài nghiên cứu này chủ yếu xây dựng và đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế bên cạnh đó còn đánh giá vai trò của đầu tư công so với các nhân tố tăng trưởng khác trong giai đoạn 1985 -2010 ở Việt Nam

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế sẽ trả lời 2 câu hỏi quan trọng

� Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế như thế nào? Nếu tăng vốn đầu

tư công thì sẽ làm tăng trưởng kinh tế tăng lên hay giảm đi?

� Vai trò của vốn đầu tư công như thế nào so với các nhân tố tăng trưởng khác (Vốn đầu tư nhà nước bao gồm : Vốn ngân sách, tín dụng nhà nước và ODA)

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua hai bước chính:

� Nghiên cứu định tính : chủ yếu sử dụng hệ số ICOR để phân tích hiệu quả đầu tư công

� Nghiên cứu bằng phương pháp định lượng nhằm xác định rõ tầm ảnh hưởng của đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế, thông qua mô hình còn xác định vai trò của đầu tư công so với các nhân tố tăng trưởng khác

Nguồn dữ liệu được lấy từ sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP HCM, tổng cục thống kê, Wold bank trong giai đoạn1985-2010

Trang 6

1.4 Ý nghĩa của đề tài về mặt thực tiễn:

Vai trò của đầu tư công vốn rất quan trọng do đóng góp lớn vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm; định vị và củng cố nền kinh tế của đất nước trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đầu tư công càng nổi bật vai trò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và góp phần bảo đảm việc làm và an sinh xã hội thông qua các gói kích cầu của Chính phủ Nhưng do đặc điểm tính chất nguồn vốn và mục tiêu đầu tư, nên đầu tư công có hiệu quả kinh tế không cao hoặc khó xác định Hơn nữa, ở Việt Nam, đầu tư công thường có mối liên hệ trực tiếp với diễn biến của lạm phát cũng như tốc độ phát triển kinh tế Trong những năm gần đây số vốn đầu tư công của Việt Nam ngày càng tăng, do đó việc xác định mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng Nó không những cho thấy mối tương quan giữa hai đại lượng này, mà còn có thể dựa vào đó để đề

ra những quyết định về chính sách

Do tính chất phức tạp của việc nghiên cứu hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam và cơ sở dữ liệu thống kê còn chưa đầy đủ nên hiện nay chỉ có một số nghiên cứu trong nước đánh giá hiệu quả đầu tư công nhưng chủ yếu chỉ đánh giá định tính thông qua đánh giá thực trạng Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu định lượng của tiến sĩ Tô Trung Thành, Phó giáo sư-tiến sĩ Sử Đình Thành…

Bài viết này có kế thừa thành quả của các nghiên cứu khác, đồng thời phân tích mối quan

hệ giữa hai đại lượng này bằng cách sử dụng phương pháp hàm sản xuất Cobb-Douglas với dữ liệu được sử dụng ở Việt Nam từ 1985-2010

Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm có 5 chương Chương I giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu Chương II tổng quan về đầu tư công và tăng trưởng kinh tế trong những năm qua đồng thời sử dụng một số kiến thức định tính để đánh giá hiệu quả đầu tư công Chương III tổng quan các lý thuyết Chương IV đưa ra phương pháp xây dựng mô hình

Trang 7

nghiên cứu, trình bày cách thu thập dữ liệu, phân tích mối quan hệ giữa chúng và những hạn chế của mô hình Chương V Kết luận và kiến nghị từ mô hình

Trang 8

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

TRONG NHỮNG NĂM QUA

2.1 Thực trạng đầu tư công

2.1.1. Quy mô đầu tư công

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, trong những năm gần đây tổng vốn đầu tư trong xã hội cũng đã liên tục tăng cao Tính theo giá so sánh năm 1994, tổng số vốn đầu tư đã tăng từ 115 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 371 nghìn tỷ đồng năm 2009, gấp

3.2 lần, bình quân mỗi năm tăng 13,9%

Hình 2.1 : Tổng vốn đầu tư công theo giá so sánh 1994

Nguồn : Tổng cục thống kê, niên giám thống kê 2000-2010

Xét về cơ cấu, khu vực kinh tế Nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng đầu

Trang 9

33,9% năm 2008, thấp hơn tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhưng năm

2009 lại tăng trở lại mức 40,6%, trở về vị trí số một trong cơ cấu vốn đầu tư xã hội và vẫn chiếm giữ vị trí này trong 2010

So sánh tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng vốn đầu tư tính bình quân hàng năm trong thời kỳ 2000-2009 cho thấy: Tốc độ tăng vốn đầu tư ở cả nước và trong tất cả các khu vực đều cao hơn (gấp khoảng hai lần) so với tốc độ tăng GDP; Khu vực có vốn FDI có tốc độ tăng đầu tư cao nhất, bình quân mỗi năm 19,8%, khu vực kinh tế ngoài nhà nước 15%, còn khu vực Nhà nước 11%

Hình 2.2 : Tốc độ tăng trưởng của tăng trưởng kinh tế và các khu vực đầu tư

Nguồn số liệu : Tổng cục thống kê, niên giám thống kê 2000-2010

Do đầu tư công tăng nhanh nên vốn sản xuất và tài sản cố định có nguồn công tăng lên nhanh chóng trong nền kinh tế, với tốc độ tăng bình quân hàng năm vào khoảng 15%, mặc dù tỷ trọng tương đối đang có xu hướng giảm đi (từ mức 2/3 năm 2000, giảm xuống còn khoảng 50% năm 2006) và tiếp tục giảm thấp hơn trong các năm gần đây

Trong khi lao động trong khu vực Nhà nước không thay đổi bao nhiêu, thì trình độ trang

bị vốn của lao động khu vực Nhà nước đang tăng lên nhanh chóng Tài sản cố định và

Trang 10

vốn đầu tư dài hạn của một lao động khu vực DNNN năm 2004 có 160 triệu đồng; năm

2005 là 239 triệu đồng, năm 2006 tăng lên đến 418 triệu đồng và năm 2007 đạt 511 triệu đồng (trung ương 613 triệu đồng và địa phương 225 triệu đồng), tức là trong 4 năm mà trang bị vốn đã tăng hơn 3 lần cho lao động của khu vực kinh tế Nhà nước

2.1.2. Phân bổ vốn đầu tư công theo ngành, lĩnh vực và địa phương

Ở cấp độ lĩnh vực, đầu tư cho các ngành thuộc lĩnh vực kinh tế chiếm tới 77,1% vốn đầu

tư của nhà nước vào năm 2000 và 2009 (năm cao nhất là 2002 chiếm 82,7%, năm thấp nhất 2006 chiếm 73,9%) Đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực xã hội, liên quan trực tiếp tới phát triển con người (khoa học, giáo dục và đào tạo, y tế và cứu trợ xã hội, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng) từ 17,6% năm 2000 giảm xuống còn 15,2% năm

2009 (năm cao nhất là 2003 chiếm 19,7%, năm thấp nhất 2002 chiếm 14,3%) Xu thế này

là biểu hiện rõ rệt chính sách tập trung đầu tư cho kinh tế và tiết chế đầu tư cho xã hội; đó

là xu thế không hợp quy luật, bởi vì một mặt cùng với sự tăng lên của mức sống, các nhu cầu về phúc lợi cần phải được đảm bảo ở mức cao hơn, mặt khác sự phát triển của khoa học – công nghệ và xu thế phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi phải đầu tư ngày càng nhiều hơn cho phát triển nguồn lực con người

Ở cấp độ ngành, do số lượng vốn đầu tư của Nhà nước liên tục tăng với tốc độ cao, gấp 2,54 lần trong thời gian từ năm 2000-2009, nên tương ứng với nó, số vốn phân

bổ cho các ngành cũng tăng lên Các ngành có mức tăng đầu tư cao hơn mức bình quân chung là công nghiệp chế biến 2,61 lần; điện, khí đốt, nước, vận tải, thông tin 2,85 lần; y

tế, cứu trợ xã hội 2,94 lần; thương nghiệp, dịch vụ, tài chính, tín dụng 3, 47 lần, quản lý nhà nước, đảng và đoàn thể 3,75 lần; và cuối cùng là xây dựng 4,88 lần

Trang 11

Hình 2.3: Vốn đầu tư nhà nước cho các ngành (nghìn tỷ đồng, giá so sánh 1994)

Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2005, 2007, 2009

Về cơ cấu, trong 10 năm vừa qua, khoảng trên dưới 40% tổng số vốn đầu tư công dành cho các ngành kết cấu hạ tầng: điện, nước, vận tải, thông tin Công nghiệp khai thác mỏ chiếm ổn định khoảng 7-9% Công nghiệp chế biến tăng giảm thất thường trong khoảng 8-15% Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù là lĩnh vực hoạt động của đại đa số dân cư, nhưng không được Nhà nước chú trọng đầu tư; biểu hiện là tỷ trọng của lĩnh vực này trong đầu tư công đã giảm từ 12,2% năm 2000 xuống còn 7-8% những năm 2003-

2008 còn 6,1% vào năm 2010

Các ngành liên quan trực tiếp tới phát triển con người - khoa học, giáo dục và đào tạo, y

tế và cứu trợ xã hội, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng - không có sự thay đổi đáng kể tỷ trọng trong đầu tư công: chiếm 17,6% năm 2000, khoảng trên dưới 19% những năm 2003-2006 và từ năm 2007 giảm xuống 16,1%, chỉ còn 15,2% năm 2009;

Trang 12

trong đó khoa học, giáo dục và đào tạo giảm tỷ trọng từ 8,5% năm 2000 xuống 4-5% những năm 2002-2003, tăng lên 6-7% vào những năm 2004-2008, rồi lại sụt giảm xuống còn 5,1% năm 2009; còn y tế và cứu trợ xã hội tăng từ 2,4% những năm 2000-2003 lên 3,2-3,9% những năm 2004-2008, và giảm còn 2,8% năm 2009

Như vậy, xét cả về tốc độ tăng và tỷ trọng trong tổng đầu tư nhà nước, thì những ngành có thế mạnh trong sự phát triển dài hạn của đất nước là nông, lâm nghiệp, thủy sản

và khoa học, giáo dục, đào tạo lại là những ngành chiếm vị thế yếu nhất trong chính sách đầu tư của nhà nước Việc không chú ý tới nông nghiệp trong chính sách phát triển trong thời gian 10 năm qua đã gây nên nhiều vấn đề bất ổn trong nông nghiệp

Bên cạnh đó, nền giáo dục chậm được cải cách và chưa được đầu tư thích đáng cũng đang là điểm yếu trên con đường phát triển đất nước Ngân sách giáo dục hiện được phân bổ và quản lý một cách phân tán: các địa phương quản lý 74% NSNN chi cho giáo dục hàng năm, các bộ, ngành khác 21%, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý 5% Cùng với đó, việc sử dụng đầu tư công như là một công cụ thúc đẩy các ngành trọng điểm, then chốt trong nền kinh tế đã được thực hiện ở một phạm vi và mức độ nhất định, song tác động đối với hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu của toàn nền kinh tế còn hạn chế Những kết quả của việc nhà nước đầu tư cho các ngành công nghiệp tiên tiến, có công nghệ cao

và có tác dụng thúc đẩy, lan tỏa mạnh đối với sự phát triển chưa thấy rõ

Đối với địa phương, vốn đầu tư được phân bổ theo hai cấp ngân sách là trung ương và các tỉnh Tỷ lệ đầu tư cho hai cấp vào khoảng 60%: 40% trong năm 2002, sau đó vốn cho cấp trung ương giảm xuống tới mức 50% và không thay đổi bao nhiêu trong thời gian từ năm 2002 cho đến nay

Mặc dù trong chiến lược phát triển dài hạn có định hướng phát triển vùng và các vùng kinh tế lớn đều có quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, nhưng trên thực tế đã chưa sử dụng trực tiếp công cụ đầu tư công để thúc đẩy sự phát triển vùng theo những

Trang 13

định hướng đã vạch ra Thậm chí ngay cả việc thống kê vốn đầu tư đã thực hiện theo vùng cũng không làm được vì các dự án không có số liệu tính theo địa giới vùng

Chính vì vậy mà có sự đầu tư chồng chéo, trùng lặp ở một số vùng vốn có điều kiện phát triển thuận lợi, trong khi ở một số vùng khác có điều kiện khó khăn thì lại ít được đầu tư Tình trạng tỉnh nào cũng cố gắng đầu tư để có khu công nghiệp, cảng biển, khu đô thị, khu kinh tế mở diễn ra trong những năm gần đây phản ảnh, một mặt, tính tích cực chủ động của địa phương trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác, lại là biểu hiện của việc thiếu chiến lược đầu tư hợp lý theo vùng và sự phát triển có tính cục bộ địa phương

2.2 Tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng

Khi đánh giá kết quả của đầu tư công, ở nước ta thường dẫn ra những bằng chứng về số lượng các công trình đã xây dựng, năng lực sản xuất và dịch vụ đã được tăng lên Điều dễ thấy là đầu tư công trong những năm qua đã làm thay đổi đáng kể kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả nước Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả của đầu tư công đòi hỏi không chỉ đo đếm số lượng những kết quả đạt được mà còn phải xem xét mối tương quan về lượng giữa số vốn đã bỏ ra và kết quả đạt được

Theo các chuyên gia đánh giá, tính chung trong 20 năm qua, vốn là nhân tố chủ đạo của

sự tăng trưởng, đóng góp tới 46% mức độ tăng trưởng, nhân tố lao động khá ổn định, chỉ chiếm tỷ lệ 20%, nhân tố tiến bộ công nghệ và quản lý chiếm 34%, nhưng đã ngày càng

đi xuống, mặc dù khi phân tích sâu thì việc ứng dụng tiến bộ công nghệ, như công nghệ thông tin, viễn thông, năng lượng, xây dựng, sinh học đã được nâng lên Trong 10 năm gần đây, tác động của nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu chỉ còn 20%, gần giống như nhân tố lao động 21%, trong khi nhân tố vốn đã tăng lên 59%

Trang 14

2.3 Đánh giá hiệu quả đầu tư công qua chỉ số ICOR

Thước đo hiệu quả vốn đầu tư thường được dùng phổ biến hiện nay là hệ số suất đầu tư (Incremental Capital Output Ratio - ICOR), hay còn gọi là hệ số sử dụng vốn, hệ

số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm Hệ số này phản ảnh cần bao nhiêu đồng vốn tăng thêm để tạo ra một đơn vị tăng lên của GDP Hệ số ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại Về mặt ý nghĩa kinh tế, hệ số ICOR tính cho một giai đoạn sẽ phản ánh chính xác hơn việc tính ICOR cho hàng năm, vì trong một thời gian ngắn (1 năm) có một lượng đầu tư chưa phát huy tác dụng và cũng không phản ánh được nếu đầu tư dàn trải

Ở Việt Nam có hai chỉ tiêu phản ảnh về đầu tư, một là chỉ tiêu vốn đầu tư, hai là tích lũy tài sản (gross capital formation) Vốn đầu tư là lượng tiền các thành phần sở hữu

bỏ ra nhằm mục đích đầu tư và tích lũy tài sản là lượng tiền đầu tư đến được với sản xuất

Vì vậy, tích lũy tài sản luôn nhỏ hơn vốn đầu tư Qua tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê công bố đến năm 2010 ta có:

Bảng 2.1 Hệ số ICOR từ vốn đầu tư và tích lũy tài sản

Từ vốn đầu tư Từ tích lũy tài sản

Nguồn: Sài gòn đầu tư và xây dựng số 5/ 2008

Từ bảng (1) cho thấy:

� Hiệu quả đầu tư giai đoạn 2006-2010 giảm sút rõ rệt so với giai đoạn 2000-2005

� Lượng tiền bỏ ra nhằm mục đích đầu tư ngày càng ít tham gia vào quá trình sản xuất Nếu giai đoạn 2000-2005 bỏ ra gần 5 đồng có thể tạo ra 1 đồng tăng thêm

Trang 15

của GDP, đến giai đoạn 2006-2010 phải bỏ ra 7,4 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP (xem bảng 1)

Trong khi đó, ở nhiều nước đang phát triển và khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á chỉ số chỉ số ICOR chỉ ở 3.5-4%, cá biệt như ở Đài Loan giai đoạn 1960-1970 (có mức thu nhập như Việt Nam hiện nay họ đạt chỉ số ICOR là 2.4 trong khi đó tăng trưởng kinh tế đạt 11%) Từ kết quả đầu tư ở Việt Nam đạt thấp, Giáo sư David Dapice (Đại học Harvard) trong hội thảo 20 năm đổi mới của Việt Nam tại Hà Nội đã chỉ rõ, Việt Nam với tốc độ đầu tư cao như báo cáo thì tỉ lệ tăng trưởng phải đạt mức 9-10% thâm chí giáo sư này ước tính Việt Nam để thất thoát, lãng phí đầu tư mỗi năm đến 1 tỷ USD Ông Thomas Vellely, Giám đốc Chương trình Việt Nam thuộc trung tâm kinh doanh và quản lý trường đại học quản lí Kennedy, Đại học tổng hợp Harvard nhận xét: Tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam vừa qua là dựa trên mức đầu tư cao, chiếm 30-33% GDP trong đó dựa vào nguồn xuất khẩu dầu khí, viện trợ phát triển chính thức ODA và tiền gửi của người Việt Nam ở nước ngoài Hiện tượng này giống như các nước Đông Bắc Á thập niên 1950-

1960, Đông Nam Á thập niên 1970-1980, Trung Quốc trong những năm 90 nhưng tốc độ phát triển của Việt Nam không cao bằng và nếu hiệu quả đầu tư không được cải thiện và các nguồn tiền “ dễ dàng” không có nữa thì tăng trưởng của Việt Nam sẽ chậm lại Còn theo ngân hàng thế giới đánh giá, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam như các công ty Hàng hải, Thủy sản, Đường sắt , Dệt may, Cao su, mía đường, … mặc dù đầu tư lớn nhưng hoạt động kém hiệu quả

Theo tổng cục thống kê, từ năm 2001-2009 tỷ lệ vốn đầu tư, tỷ lệ đóng góp cho GDP và

tỷ lệ lao động của kinh tế nhà nước như sau:

Trang 16

Hình 2.4 kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế

Nguồn: tổng cục thống kê

Có thể thấy tỷ lệ vốn đầu tư của kinh tế nhà nước trong tổng đầu tư xã hội có xu hướng giảm dần nhưng vẫn chiếm tỷ trọng khá cao Đóng góp cho GDP của nhà nước vẫn quan trọng nhưng không tương xứng với số vốn đầu tư Xét ở hai tiêu chí đóng góp cho GDP

và tạo việc làm thì khu vực tư nhân chiếm vị trí áp đảo

Lâu nay hầu hết các nhà kinh tế đều nói đến thành phần kinh tế nhà nước hiệu quả kém nhất, nhưng qua tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê cập nhật mới nhất (2010) cho thấy khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mới là khu vực hiệu quả kém nhất

Trang 17

Bảng 2.2 ICOR theo khu vực sở hữu

Tính toán từ vốn đầu tư Tính toán từ tích lũy tài sản

Tổng Nhà

nước

Ngoài nhà nước

FDI Tổng Nhà

nước

Ngoài nhà nước

FDI

ICOR(2000-2005) 4.89 6.94 2.93 5.2 3.04 4.37 1.81 3.11 ICOR(2006-

2010) 7.43 8.68 4.01 12.3 4.4 5.13 2.54 8.7

Nguồn: Sài gòn đầu tư và xây dựng số 5 /2008

Như vậy có thể nhận xét, vốn đầu tư của toàn nền kinh tế kém hiệu quả là do suất đầu tư của khu vực của nhà nước quá cao và của khu vực đầu tư nước ngoài thuộc loại cao, trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại có hiệu quả đồng vốn hợp lý Nếu so sánh xét hiệu quả đầu tư theo tổng tích luỹ tài sản, thì ICOR của toàn nền kinh tế Việt Nam thuộc loại cao, song không vượt quá nhiều so với một số nước Đông Nam Á

So với ICOR tính theo tổng vốn đầu tư thì điều này cho thấy có một số lượng vốn đáng

kể được bỏ ra nhưng đã không trở thành tài sản Nói một cách khác là hiệu quả đồng vốn

bỏ ra kém là bởi vì đã phải chi cho nhiều khâu không trực tiếp liên quan tới sản xuất Ở khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lượng tiền đầu tư đi vào được trong quá trình sản xuất nhiều nhất (bỏ ra một đồng thì xấp xỉ 83% đi vào được quá trình sản xuất), tiếp đến là khu vực kinh tế tư nhân (bỏ ra 1 đồng có 68% đi vào sản xuất) trong khi đó khu vực kinh tế Nhà nước bỏ ra 1 đồng nhằm mục đích đầu tư chỉ có 63% là đến được với quá trình sản xuất

Trang 18

Hình 2.5: hệ số ICOR của toàn nền kinh tế và các khu vực giai đoạn 2000-2010

Nguồn: Sài gòn đầu tư và xây dựng số 5 /2008

Tuy nhiên, hệ số ICOR của khu vực nhà nước cũng rất cao lên tới 8.68 cao gấp đôi so với khu vực tư nhân (4.01) trong giai đoạn 2006-2010 Những yếu kém khiến hiệu quả đầu tư công chưa cao như đầu tư phân tán, kéo dài, dàn trải, thiếu đồng bộ khiến có công trình hoàn thành mà không đưa vào sử dụng, thậm chí là không hoàn thành được Hay việc đầu

tư thiếu quy hoạch; quản lý, giám sát đầu tư còn yếu kém làm thất thoát vốn đầu tư; cơ chế khuyến khích, ưu đãi đầu tư chưa hợp lý hay khuyến khích và ưu đãi đầu tư còn dàn trải cũng là những “lực cản” với hiệu quả đầu tư Đặc biệt, việc được bao cấp, quản trị yếu kém, dựa nhiều vào vốn tín dụng và tài nguyên thiên nhiên khiến đầu tư của nhiều doanh nghiệp nhà nước yếu kém

Đầu tư của khu vực Nhà nước không đạt hiệu quả kinh tế cao một phần là do không giống như khu vực tư nhân, trong rất nhiều trường hợp mục đích của đầu tư công không phải nhằm vào lợi nhuận và hiệu quả kinh tế Ngay cả phần lớn DNNN, tuy có mục tiêu chính là sản xuất kinh doanh nhằm đạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt, nhưng vẫn

Trang 19

còn phải thực hiện một số mục tiêu "phi lợi nhuận" như tạo điều kiện phát triển cho các vùng nghèo, có điều kiện khó khăn, sản xuất và cung ứng các hàng hóa công cộng, các sản phẩm và dịch vụ ít lãi, thậm chí lỗ vốn Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà có thể biện minh cho việc đầu tư kém hiệu quả của khu vực Nhà nước do những nguyên nhân chủ quan như chiến lược kinh doanh và đầu tư sai lầm, quản lý kém, thiếu trách nhiệm, lãng phí, tham nhũng

Các DNNN được nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi, được ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng, NSNN có một khoản đầu tư hỗ trợ các DNNN với số tiền tăng lên hàng năm, Chính phủ đứng ra bảo lãnh cho DNNN lớn đi vay nợ với lý do để thực hiện nhiệm

vụ do Nhà nước đặt hàng Với sự ưu đãi như vậy, một số DNNN lớn đã trở thành lực lượng mạnh chi phối các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam

Song Chính phủ chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của các DNNN, nhất

là đối với việc đầu tư Vốn đầu tư của các DN nhà nước được coi là "tự chủ" của DN, nên quá trình kiểm tra, kiểm soát chưa cao Các bộ cũng không thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh của các DNNN Nhiều DNNN vay nợ lớn để mở rộng quy mô, đầu

tư dàn trải vào nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề, phát triển các hoạt động ngoài ngành nghề chính, độc quyền và có khả năng lũng đoạn thị trường, quản lý kém gây thất thoát vốn, kinh doanh thua lỗ Tình trạng sử dụng chưa hiệu quả vốn đầu tư ở các DNNN đã

trở thành phổ biến và đáng báo động

Trang 20

CHƯƠNG III TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

3 Tổng quan lý thuyết

Vấn đề tìm hiểu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Theo các nghiên cứu trước đó việc tìm hiểu mối quan hệ trên gặp nhiều khó khăn là do tính dừng của dữ liệu (Sturm và de Haan 1995) Kết quả của DF test thường là có nghiệm đơn vị giữa các biến số.Vấn đề này thường xuất hiện khi cỡ mẫu nhỏ hoặc không đủ dữ liệu Để giải quyết vấn đề này trong các nghiên cứu gần đây người ta thường sử dụng dữ liệu của nhiều quốc gia để nghiên cứu (phương pháp SUR –seemingly Unrelated Regression)

Khi phân tích mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế, việc xét hiệu quả đầu

tư công còn phụ thuộc vào nguồn ngân sách đầu tư được lấy từ đâu Nếu nguồn đầu tư này được lấy trên cơ sở tăng thuế thì kết quả cuối cùng nền kinh tế nhận được có thể là sự sụt giảm trong GDP Bởi tác động của thuế thường là tác động tiêu cực trên diện rộng và làm triệt tiêu tác động tốt của nguồn vốn chính phủ Tuy nhiên nếu tác động của nguồn vốn đầu tư của chính phủ vượt trội hơn tác động của tăng thuế có thể dẫn đến sự tăng lên của GDP Nếu chính phủ tăng nguồn vốn đầu tư công bằng cách cắt giảm bớt chi tiêu thường xuyên cũng không có sự đảm bảo rằng sẽ làm tăng trưởng kinh tế tăng lên (Hulten 1996)

Kiểm định nhân quả Granger có thể được dùng để nghiên cứu mối quan hệ ngắn hạn giữa đầu tư công và các biến vĩ mô khác Một số tác giả như Aschauer (1990) và Munnell (1992) cho rằng sản lượng cao sẽ dẫn đến việc đầu tư của chính phủ tăng lên cao hơn là việc đầu tư của chính phủ làm tăng sản lượng

Theo các nhà kinh tế: Krugman (1991), Holtz-Eakin và Lovely (1996), Venables (1996) Fujita (1999) Cho rằng chi phí vận chuyển là yếu tố quan trọng xác định độ hoạt động

Trang 21

cỡ thị trường Hay việc đầu tư của chính phủ vào cơ sở hạ tầng sẽ góp phần tạo lập thị trường Các nhà sản xuất có thể tập trung lại ở khu vực trung tâm, nơi có hệ thống hạ tầng tốt Từ đó tạo lập kích cỡ thị trường

Fernal (1999) đã sử dụng phương pháp hàm sản xuất để tìm hiểu mối quan hệ giữa đầu

tư của chính phủ vào cơ sở hạ tầng và sản lượng Sử dụng dữ liệu của 29 khu vực trong nền kinh tế Mỹ từ 1953-1989, ông phát hiện ra rằng sự thay đổi trong cơ sở hạ tầng theo hướng giao thông thuận lợi hơn sẽ làm tăng trưởng sản lượng và làm tăng lượng xe cộ Theo như Fernal, kết quả này cho thấy rằng những con đường lớn ở US trong thời kỳ 195-1960 sẽ dẫn đến việc bùng nổ trong sản lượng quốc gia

Một số nghiên cứu khác cũng sử dụng hàm sản xuất như: Canning và Pedroni(1999), nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư của khu vực ngoài nhà nước Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ này khác nhau tùy thuộc vào đặc tính dữ liệu của mỗi quốc gia

Nhiều nhà nghiên cứu lại tập trung vào mối quan hệ giữa đầu tư công vả đầu tư tư nhân

Về vấn đề này, có hai giả thuyết được đưa ra;

� Đầu tư công gia tăng sẽ khiến đầu tư khu vực tư nhân bị thu hẹp lại Lý do là nhu cầu của chính phủ về hàng hóa dịch vụ có thể khiến lãi suất gia tăng, nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, theo đó, tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân Ngoài ra, việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường được thực hiện bởi tăng thuế hay vay nợ, đã cạnh tranh một cách trực tiếp với khu vực tư nhân trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế Với quan điểm được đồng thuận là đầu tư công thường có hiệu quả thấp hơn đầu tư tư nhân, thì giả thiết “lấn át” đưa ra khuyến nghị cắt giảm đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng

� Bacha (1990), Taylor (1994) và Agenor (2000) đã nghiên cứu giả thuyết đầu tư công gia tăng sẽ thúc đẩy khu vực đầu tư tư nhân Đầu tư công có thể đem đến một

số ngoại ứng có thể kể đến như :

Ngày đăng: 13/05/2015, 15:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 : Tổng vốn đầu tư công theo giá so sánh 1994. - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 2.1 Tổng vốn đầu tư công theo giá so sánh 1994 (Trang 8)
Hình 2.2 : Tốc độ tăng trưởng của tăng trưởng kinh tế và các khu vực đầu tư. - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng của tăng trưởng kinh tế và các khu vực đầu tư (Trang 9)
Hình 2.3: Vốn đầu tư nhà nước cho các ngành (nghìn tỷ đồng, giá so sánh 1994) - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 2.3 Vốn đầu tư nhà nước cho các ngành (nghìn tỷ đồng, giá so sánh 1994) (Trang 11)
Bảng 2.1 . Hệ số ICOR từ vốn đầu tư và tích lũy tài sản - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Bảng 2.1 Hệ số ICOR từ vốn đầu tư và tích lũy tài sản (Trang 14)
Hình 2.4 kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế. - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 2.4 kết quả hoạt động của 3 khu vực kinh tế (Trang 16)
Bảng 2.2. ICOR theo khu vực sở hữu - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Bảng 2.2. ICOR theo khu vực sở hữu (Trang 17)
Hình 2.5: hệ số ICOR của toàn nền kinh tế và các khu vực giai đoạn 2000-2010 - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 2.5 hệ số ICOR của toàn nền kinh tế và các khu vực giai đoạn 2000-2010 (Trang 18)
Bảng 4.1: Kết quả Wald test. - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Bảng 4.1 Kết quả Wald test (Trang 26)
Hình 4: Tốc độ tăng trưởng của GDP và các nhân tố đầu vào - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 4 Tốc độ tăng trưởng của GDP và các nhân tố đầu vào (Trang 36)
Bảng số liệu - Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam  Chuyên đề tốt nghiệp  TP.HCM  Trường Đại Học Kinh Tế
Bảng s ố liệu (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w