511 Nghiên cứu chiến lược phát triển dân số và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Dân số vừa là chủ thể, vừa là khách thể Dân số vừa là lực lượng sảnxuất, vừa là lực lượng tiêu dùng, là yếu tố chủ yếu của quá trình sản xuất
Vì vậy qui mô, cơ cấu và chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn tới qui
mô, cơ cấu sản xuất, đến quá trình phát triển kinh tế xã hội Nghiên cứudân số cũng có nghĩa là nghiên cứu nguồn lực con người, mà con ngườikhông ai khác là chủ thể của quá trình sản xuất Vì vậy nghiên cứu dân số
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong công cuộc công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước trong thời đại mới, thời đại thông tin thời đạicách mạng, khoa học và công nghệ
Từ lâu, loài người đã bắt đầu thấy lo ngại trước sự phát triển số lượngcủa mình Sự lo ngại này càng tăng cùng với tốc độ tăng của dân số Khi
mà khoảng thời gian để dân số thế giới tăng gấp đôi rút ngắn lại rất nhanh.Dân số tăng nhanh đã và đang gây sức ép rất lớn về kinh tế xã hội, môitrường sống Tiến sĩ Nafic Sadik đã chỉ rõ : "Cố gắng cung cấp đầy đủcác nhu cầu cần thiết cho số dân tăng thêm quá nhanh cũng giống như cốgắng chạy trên một chiếc băng truyền ngược chiều : người chạy cố gắngthật nhanh để duy trì cảm giác đi lên, từ đó có thể thấy rằng mọi cố gắngtrong các chương trình xã hội đều chưa thật đầy đủ để phát triển về mặt sốlượng Quyền lợi của con người thực sự sẽ bị tước đoạt ngày càng nhiều vàtương lai sẽ chẳng hứa hẹn được điều gì tốt đẹp nếu như chương trình kếhoạch hoá gia đình và các tổ chức xã hội khác không có sự bổ sung mộtcách đáng kể về chất lượng"
Dân số tăng nhanh cùng với những hậu quả của nó sẽ trở thành vấn
đề toàn cầu đòi hỏi các chính phủ không chỉ giải quyết các vấn đề trongphạm vi quốc gia mình mà còn phải có những quan hệ song phương, đaphương hợp tác chặt chẽ cùng nhau giải quyết vấn đề dân số trên phạm vitoàn cầu và toàn khu vực
Trong giai đoạn cách mạng nước ta hiện nay, việc nghiên cứu, luận cứmột cách khoa học cho việc đề ra và tổ chức thực hiện các giải pháp nhằmphát huy nhân tố con người có ý nghĩa vừa cấp bách, vừa cơ bản Những
Trang 2giải pháp đó phải trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, khơi dậy cho đượcnhững điều kiện bảo đảm cho những tiềm năng đó biến thành hiện thực.Qua một số lý luận trên toát lên tầm quan trọng của việc Nghiên cứuchiến lược phát triển dân số và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta Vàđây cũng chính là nội dung chính của đề tài cần nghiên cứu.
Mặc dù đã có sự giúp đỡ của thầy giáo Nguyễn Ngọc Quân nhưng dotrình độ có hạn nên không thể tránh được những sai sót Em xin chân thànhcảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của thầy đã giúp em thực hiện đềtài này
Trang 3PHẦN I: DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.
I THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN DÂN SỐ Ở NƯỚC TA.
1 Quy mô và cơ cấu dân số.
a Quy mô và sự gia tăng dân số.
Quy mô dân số trước hết được hiểu là tổng số dân của một vùng mộtquốc gia, một khu vực hay trên toàn thế giới
Những thông tin về qui mô dân số hết sức cần thiết trong việc phântích so sánh với các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội nhằm lý giải nguyênnhân của tình hình và hoạch định chiến lược phát triển
Việt nam được coi là một trong những nước nhất thế giới, với mộtnền nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển lại chịu ảnh hưởng nặng nề bởicác cuộc chiến tranh Tuy vậy quy mô dân số nước ta vẫn đông và tăngnhanh chóng Năm 1921 nước ta mới chỉ khoảng 16 triệu dân; 1960: 30triệu; 1975: 48 triệu; 1985: 60 triệu; 1995: 74 triệu; 1997: 76 triệu
Như vậy, khoảng thời gian dân số nước ta tăng gấp đôi ngày càngđược rút ngắn khoảng cách Dự báo đến năm 2000 dân số nước ta khoảng
83 triệu người, 2005: 89 triệu; 2010: 95 triệu và 2015: 101 triệu
Với qui mô dân số như hiện nay, Việt Nam đứng hàng thứ hai ở ĐôngNam á sau Inđônêxia, đứng thứ 7 trong số 42 nước thuộc khu vực Châu á -Thái Bình Dương và đứng hàng thứ 13 trong số những nước đông dân nhấtthế giới (sau các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Inđônêxia, Nga, Brazin,Nhật, Nigiêria, Pakistan, Băngladet, Mêhicô và CHLB Đức) Cụ thể: TrungQuốc: 1,2 tỷ, ấn độ gần 1 tỷ, Mỹ: 261 triệu, Inđônêxia: 195 triệu, Brazil:
159 triệu, Nga: 147 triệu Nếu đầu kỷ nguyên này, dân số Việt Nam chỉbằng 0,6% dân số thế giới thì đến nay đã chiếm gần 1,3%
Với những số liệu trên cho thấy quy mô dân số nước ta là rất lớn vàgia tăng nhanh chóng, vượt xa tốc độ gia tăng dân số thế giới
Trang 4Mặc dù trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đề ra chủtrương chính sách nhằm làm giảm mức sinh, hạn chế việc gia tăng dân số.Nhưng thực tế tốc độ gia tăng dân số ở nước ta hàng năm tuy có giảmnhưng giảm chậm và vẫn còn cao so với nhiều nước trên thế giới Điều nàyđược thể hiện ở bảng sau:
Bảng1: Tỷ lệ thay đổi hàng năm, chia theo từng nước (%)
Nguồn: Would population prospects the 1992, United Nations
Nhìn vào bảng trên ta thấy Trong giai đoạn 1965 - 1970 tỉ lệ gia tăngddân số của nước ta thấp hơn Trung Quốc và Inđônêsia Nhưng đến giaiđoạn 1985 -1990 khi Trung Quốc và Inđônêsia đã đạt được mức tăng dân
số dưới mức 2% thì Việt Nam vẫn ở tốc độ tăng dân số trên 2% RiêngNam Triều Tiên đạt được mức giảm tốc độ gia tăng dân số đáng kể nhất,
đã ở "điểm dừng dân số" với tốc độ tăng dân số thấp hơn 1%
Như vậy dân số nước ta vẫn ở mức tỷ lệ gia tăng dân số cao mà
"nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tăng dân số quá nhanh trước hết là docác cấp uỷ Đảng và chính quyền chưa thực sự quán triệt chủ trương coiviệc giảm tốc độ gia tăng dân số là một quốc sách lơi lỏng việc lãnh đạo vàchỉ đạo tổ chức thực hiện; phong trào quần chúng thực hiện kế hoạch hoágia đình chưa được phát động rộng khắp; công tác tuyên truyền giáo dụcnhằm khắc phục ảnh hưởng tâm lý và tập quán cũ làm còn yếu, đầu tư củaNhà nước cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình chưa thoả đáng;dụng cụ và phương tiện cho công tác này còn thiếu nghiêm trọng, bộ máychuyên trách yếu kém, thống kê dân số không chính xác" - Nghị quyết
Trang 5Hội nghị lần thứ Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sáchdân số và kế hoạch hoá gia đình.
Quy mô dân số lớn, tốc độ gia tăng dân số còn cao trong điều kiệnkinh tế nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam đang đặt ra những vấn đề kinh tế
- xã hội hết sức gay gắt cần giải quyết, trước mắt cũng như lâu dài
b Phân bố dân cư.
Những số liệu về qui mô và đặc trưng của tổng số dân của một quốcgia chưa nói lên được qui mô và sự gia tăng dân số của từng vùng, từngkhu vực trong lãnh thổ quốc gia đó Xét trên phạm vi các quốc gia t hì phải
so sánh giữa quốc gia này với quốc gia khác để thấy được tình hình pháttriển kinh tế xã hội của từng quốc gia Còn xét t rong phạm vi một quốc giathì tuỳ vào đặc điểm của mỗi quốc gia sẽ chia thành các đơn vị hành chínhtrong nước khác nhau: các khu tự trị, các bang, tiểu ban, các tỉnh, thànhphố, quận, huyện, phường xã Các đơn vị hành chính có thể thay đổi theocác thời kỳ khác nhau của lịch sử Ở Việt Nam, dân số cũng được xác địnhcho các đơn vị hành chính Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số toànquốc ngày 1/4/1989 dân số được chia theo 43 tỉnh, thành phố Từ năm
1990 theo quyết định của Nhà nước, một số tỉnh trước kia sát nhập, naylại tách ra nên có những thay đổi nhất định về mặt hành chính Hiện naynước ta có khoảng 53 tỉnh, thành phố với 54 dân tộc khác nhau
Việc xác định số dân trong các vùng theo các đặc trưng địa lý, kinh
tế, xã hội, văn hoá và dân số học khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng nhằmphân bố và phân bố lại lực lượng sản xuất, lao động và dân cư ở nước ta,
do điều kiện lịch sử nên việc phân bố dân cư theo các vùng lãnh thổ khácnhau không hợp lý, được thể hiện qua tỉ trọng đất đai và tỉ trọng dân số củatừng vùng cũng như mật độ dân số (xem bảng 2)
B ng 2: S phân b dân c gi a các vùng n m 1993.ảng 2: Sự phân bố dân cư giữa các vùng năm 1993 ự phân bố dân cư giữa các vùng năm 1993 ố dân cư giữa các vùng năm 1993 ư giữa các vùng năm 1993 ữa các vùng năm 1993 ăm 1993
Các vùng Đất đai(%) Dân số(%) Mật độ dân cư (ng/km2)
1 Miền núi Trung 31,1 17,3 120
Trang 6Nguồn : The population of Việt Nam
Một trong những chỉ báo chủ yếu phản ánh sức ép dân số đối với đấtđai tài nguyên là " Mật độ dân số" Qua bảng trên cho thấy, trong 7 vùngchủ yếu, dân số tập trung đông nhất ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng (1105ng/km2) Trong khi đó ở vùng Tây nguyên chỉ có 52 người/ km2 bằng 1:21lần so với vùng đồng bằng Sông Hồng Những năm vừa qua, dochính sách
di dân tích cực nên mật độ dân số trong một số vùng thưa dân giàu tàinguyên đã tăng lên đáng kể Dự báo bước sang th k 21, t tr ng phânế kỷ 21, tỷ trọng phân ỷ 21, tỷ trọng phân ỷ 21, tỷ trọng phân ọng phân
b dân c gi a các vùng nh sau:ố dân cư giữa các vùng năm 1993 ư giữa các vùng năm 1993 ữa các vùng năm 1993 ư giữa các vùng năm 1993
Một tiêu thức khi nghiên cứu sự phân bố dân cư ở nước ta là sự phân
bố dân cư theo thành thị nông thôn Đại bộ phận dân cư nước ta sống chủyếu bằng nghề nông nên dân cư tập trung ở vùng nông thôn lớn (80% dân
số cả nước) còn ở các vùng thành thị chỉ chiếm khoảng 20% Tuy nhiên ở
Trang 7nước ta, thu nhập giữa thành thị và nông thôn có sự chênh lệch nhau lớnnên việc di dân từ nông thôn ra thành thị làm cho tốc độ gia tăng cơ họccủa thành thị cao gây sức ép lớn về việc làm, nhà ở, ô nhiễm môi trường đòi hỏi các ngành có chức năng phải có những biện pháp những chủtrương đúng đắn cần thiết để giải quyết vấn đề này.
c Cơ cấu dân số theo giới tính.
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng dân số của một quốc gia hay mộtvùng nó đó thành các nhóm, các bộ phận theo một hay nhiều tiêu thức như:
độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, học vấn Trong đó cơ cấudân số theo độ tuổi và giới tính có vị trí rất quan trọng bởi những số liệu về
cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính phục vụ cho nhiều mục đích phântích các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị
Cơ cấu dân số hợp lý sẽ tạo điều kiện thúc đẩy quá trình phát triểnkinh tế - xã hội, đồng thời nó còn tác động trực tiếp đến quá trình biến động
tự nhiên và biến động cơ học dân số
Giới tính có vai trò quyết định để cân bằng sinh thái của cộng đồngtrong những mối liên hệ xã hội và kinh tế Vì vậy đặc trưng về giới tính có
vị trí quan trọng trong việc lập kế hoạch huy động nghĩa vụ quân sự, nghĩa
Trang 8(1975) thì cơ cấu giới nữ cao hơn so với nam bởi lẽ trong chiến tranh, mộtlực lượng nam giới đông phải đi làm nghĩa vụ quân sự , tuy nhiên sau thốngnhất đất nước việc trở về đoàn tụ lại làm cho tỉ lệ dân số tăng nhanh, tỷ lệgiới tính vẫn tiếp tục mất cân đối và sự thay đổi theo hướng sự thiếu hụtnam giới tăng lên nhưng không đáng kể.
d Cơ cấu dân số theo độ tuổi.
Việt Nam là nước đang phát triển Cơ cấu phát triển tuổi thuộc loạidân số trẻ và trẻ hơn cơ cấu dân số của các nước đang phát triển nóichung Thể hiện ở bảng sau:
B ng : C c u tu i các nảng 2: Sự phân bố dân cư giữa các vùng năm 1993 ơ cấu tuổi các nước phát triển các nước phát triển và ấu tuổi các nước phát triển các nước phát triển và ổi các nước phát triển các nước phát triển và ư giữa các vùng năm 1993.ớc phát triển các nước phát triển vàc phát tri n các nển các nước phát triển và ư giữa các vùng năm 1993.ớc phát triển các nước phát triển vàc phát tri n vển các nước phát triển và à
Nguồn: United Nations 1991, trang 228, 230
Phân tích kết quả điều tra mẫu: TCTK Hà Nội, 1991, trang 11
Dựa vào bảng trên ta thấy tỷ lệ dân số nhóm tuổi 0 - 4 và 5 - 11 ởnước ta cao hơn so với các nước đang phát triển và cao hơn nhiều so vớicác nước phát triển
Trang 9Theo báo cáo kết quả điều tra lao động, việc làm 1996, HN 1/1997.Nước ta với dân số hơn 76 triệu người thì có 65,7% từ 15 tuổi trở lên Tỷ
lệ tham gia lực lượng lao động tính từ 15 tuổi trở lên là 73,68% Tỷ lệ thấtnghiệp thành thị là 5,69% và tỉ lệ thời gian được sử dụng ở nông thôn là72,11% Trong khi đó lao động nông thôn chiếm 76% lực lượng lao động
cả nước (PTS Nguyễn Bá Ngọc - Thị trường lao động Việt Nam thựctrạng và định hướng, LĐ & XH 8/1997)
Dân số tăng nhanh với qui mô lớn, số lượng người bước vào độ tuổi
có khả năng lao động lớn Một mặt nó tạo ra một nguồn lao động dồi dào ,một thị trường tiêu dùng lớn là điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuấtlàm cho tổng sản phẩm quốc dân tăng lên Mặt khác, dân số tăng nhanh tớimức "bùng nổ" đã và đang gây ra những khó khăn lớn cho chính phủ trongviệc giải quyết việc làm, gây tác động xấu tới môi trường tự nhiên, tệ nạn
xã hội
2 Hậu quả của sự gia tăng dân số.
Dân số tăng nhanh hiện nay chủ yếu tập trung vào các nước đang pháttriển Sự gia tăng dân số quá mức đã và đang gây ra sức ép về việc làmrất lớn, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tác động xấutới môi trường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên
a Dân số tăng nhanh kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Như đã biết, hiện nay ở các nước đang phát triển đang phải đương đầuvới tình trạng dân số quá đông nơi mà nền kinh tế chưa phát triển, chưathoả mãn nhu cầu lao động của tất cả mọi người dân thì việc tăng dân số
sẽ ảnh hưởng đến quá trình nâng cao mức sống dân cư vì con người takhông thể không sống mà không ăn, không tiêu dùng Mặt khác, nếu nguồnvốn cố định trong khi dân số tăng nhanh thì mức trang bị kỹ thuật cho mỗilao động giảm, năng suất lao động không tăng được làm hiệu quả kinh tếkém
Từ khi chuyển đổi cơ chế, nền kinh tế Việt Nam cũng đạt được nhữngbước chuyển đổi đáng kể Song sự gia tăng dân số quá nhanh nhanh hơnnhiều so với sự tăng trưởng nền kinh tế làm cho mức sản xuất các sảnphẩm chủ yếu bình quân đầu người đến năm 1997 vẫn còn rất thấp: điện
Trang 10226 kwh, than : 117 kg, dầu thô: 118 kg, thóc: 352 kg, xuất khẩu : 96 USD.Thu nhập dân cư còn thấp, GDP bình quân đầu người mới đạt 270USD/người/năm Mà theo sự phân loại của các nhà kinh tế thế giới thìnhững nước có thu nhập quốc dân bình quân đầu người là 500 USD/năm thìđược xếp vào những nước cực kỳ nghèo trên thế giới Như vậy, có thể nóiViệt Nam là một nước cực kỳ nghèo.
Để phát triển sản xuất thì phải có đầu tư để tăng vốn dành cho sảnxuất đã có những thuyết kinh tế chứng minh tốc độ phát triển kinh tế phụthuộc vào mức độ tiết kiệm của đất nước Khi dân số tăng nhanh thì tỷ lệngười ăn theo tăng lên do đó không thể tăng tỷ lệ người ăn theo tăng lên do
đó không thể tăng tỷ lệ thu nhập Nước ta còn nghèo, ngân sách Nhà nướclại eo hẹp nên hàng năm ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư xây dựng cơbản mới đạt khoảng 23 - 24% / GDP rất thấp so với các nước trong khuvực thời kỳ công nghiệp hoá (Singapore 40%, Hàn Quốc 30%) Do đóchúng ta đang rất thiếu vốn và thiếu máy móc thiết bị hiện đại
b Dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội.
Khi dân số tăng nhanh sẽ gây sức ép lớn đối với chính phủ về vấn đềsức khoẻ, trình độ học vấn cho người dân, vấn đề tạo việc làm cho nhữngngười bước vào độ tuổi lao động, bảo hiểm xã hội, nhà ở Dân số đôngthường đi kèm với nền kinh tế nghèo nàn do đó chính phủ không thể vàkhông đủ điều kiện chăm sức khoẻ tốt và tạo được một nền giáo dục tốt.Bình quân mỗi học sinh chỉ có 0,43m2 phòng học, trong đó Đại học và caođẳng: 13,1 m2, phổ thông trung học : 2,74m2, tiểu học : 0,15m2 ở các nướcphát triển bình quân mỗi giáo viên cấp I phụ trách 19 học sinh, cấp II: 15học sinh, cấp III: 13 học sinh Trong khi đó ở Việt Nam, cấp I: 51,3 họcsinh, cấp III: 18 học sinh/giáo viên Tình hình trên đã dẫn đến tình trạng
"xuống cấp" hệ thống giáo dục, chất lượng giảng dạy học tập giảm sút, tỷ
lệ học sinh đến trường có xu hướng giảm xuống và tỷ lệ bỏ học có xuhướng tăng lên Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng cũnggây khó khăn cho việc phổ cập giáo dục, đặc biệt là đối với các dân tộcthiểu số miền núi thì việc phổ cập giáo dục cho họ hầu như nước ta chưathực hiện được Do đó mặt bằng dân trí ở các vùng này rất thấp Vì vậy,hạn chế giá tăng dân số, đem lại sức khỏe tốt và việc giáo dục tốt hơn cho
Trang 11trẻ em ngày hôm nay sẽ tạo ra một lực lượng lao động có giá trị cho ngàymai.
Dân số tăng nhanh gây sức ép lớn đối với vấn đề nhà ở và đô thị hoá
ở nước ta do có sự chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị nên hiệntượng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị đã và đang tạo nên sức ép vềmọi mặt đối với các đô thị Có tới hơn một nửa số dân đô thị phải sốngchen chúc trong các ngôi nhà ổ chuột hoặc các khu xây dựng bất hợp phápvới điều kiện sinh hoạt rất khó khăn như: thiếu nước sinh hoạt , điều kiện
vệ sinh xuống cấp Cùng với những khó khăn thấp đó thì vấn đề giải quyếtviệc làm ở các đô thị cũng là một vấn đề cần được quan tâm Khi vấn đềnày không được giải quyết một cách có hiệu quả thì sẽ gây nên tình trạngthất nghiệp và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xãhội như : trộm cắp, cướp giật, mại dâm, nghiện hút
c Dân số tăng nhanh làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, tăng nạn tham
ô hiễm môi trường và phá huỷ môi trường thiên nhiên.
Riêng vấn đề tài nguyên, thiên nhiên môi trường không mang tính chấtriêng rẽ của từng quốc gia mà nó mang tính toàn cầu vì ở đâu (nước pháttriển hay đang phát triển) đều có nhu cầu về ăn, ở, mặc đi lại Để giảiquyết được nhu cầu cơ bản này thì con người phải tác động vào tự nhiên.Như đã biết, diện tích đất canh tác trên hành tinh chúng ta không phải vôhạn nghĩa là nguồn cung cấp thức ăn cho con người có một giới hạn nhấtđịnh Một số nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng , nhiên liệu khác -cái mà hiện nay sự phát triển kinh tế cũng như sự tồn tại xã hội loài ngườiđang trông chờ thì trữ lượng và khả năng khai thác có hạn, song mức độtiêu dùng ngày càng tăng mà không có mức độ phù hợp tất yếu sẽ gây nênkhông ít khó khăn cho nền kinh tế và hậu quả bất lợi cho hệ sinh thái conngười
Một thực tế cho thấy trong vài chục năm trở lại đây, cùng với thờigian qui mô dân số ngày càng tăng thì diện tích rừng che phủ trên toàn cầucàng giảm và Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng đó Theo ướctính hàng năm thế giới mất từ 17 - 20 triệu ha rừng nhiệt đới trong đó cácnước đang phát triển chiếm 1,0 - 1,5% Theo tính toán của các nhà khoahọc thì để đảm bảo cho sự phát triển của nhân loại một cách bền vững thì
Trang 12mật độ rừng che phủ phải ở mức độ 40 - 50% diện tích toàn cầu Trên thực
tế con số đó thấp hơn rất nhiều
ở nước ta giai đoạn 1943 - 1984 đã xảy ra tình trạng dân số tăng lênbao nhiêu thì diện tích rừng giảm bấy nhiêu
Rừng Hiện nay nước ta mỗi năm mất khoảng 20 vạn ha rừng với tốc độ tànphá rừng như hiện nay thì bước vào thế kỷ 21, Việt Nam sẽ là một nướckhông có rừng, điều này có thể gây ra những hậu quả khó lường trướcđược
ở những nước phát triển hoặc đang phát triển những nỗ lực gia tăngthu nhập bằng bất cứ giá nào đã huỷ hoại các hệ thống tự nhiên Việc sửdụng ngày càng nhiều các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu như DDT, 666trong nông nghiệp, đốt rừng làm nương rẫy, đánh bắt hải sản với khốilượng quá lớn gây nên những áp lực lớn đối với môi trường Vì vậy để đảmbảo cho sự văn minh của xã hội loài người mãi mãi được tồn tại để điềuchỉnh sự phát triển dân số hợp lý là cần thiết và cấp bách
Như vậy gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhânlàm cho đất canh tác ngày một thu hẹp, rừng bị tàn phá nghiêm trọng,nguồn nước ngày càng khan hiếm và ô nhiễm, nạn thất nghiệp, thất học ,thiếu chăm sóc y tế, suy dinh dưỡng, tệ nạn xã hội gia tăng, hạn chế điềukiện phát triển trí tuệ văn hoá và thể lực của giống nòi cản trở sự phát triểnkinh tế - xã hội, đặc biệt trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội còn yếu kém củanước ta (Trích báo cáo của Bộ chính trị tình hình Hội nghị lần thứ tư Banchấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách DS - KHHGĐ tháng 1
- 1993)
Trang 13Phát triển kinh tế dù có tăng nhanh nhưng vấn đề tốc độ phát triển dân
số không được kìm lại, chúng ta sẽ không thực hiện tốt được các mục tiêukinh tế xã hội Nhiều nỗ lực về phát triển kinh tế văn hoá sẽ bị triệt tiêu
3 Chiến lược phát triển dân số đến năm 2000.
Vấn đề dân số trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hộiđược Đại học Đảng toàn quốc lần thứ VII chỉ rõ :" Thực hiện đồng bộchiến lược dân số trên cơ sở ba mặt quy mô dân số, cơ cấu dân số và sựphân bố dân số "
a Mục tiêu và giải pháp.
- Giảm nhanh tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên để đến năm 2000 tổng tỷ suấtsinh đạt mức 2,9% hoặc thấp hơn để quy mô dân số dưới mức 82 triệungười
Do đặc điểm nước ta là nền công nghiệp trồng lúa nước với gần 80%dân số sống bằng nghề nông nên có thể sử dụng các giải pháp có liên quanđến nông nghiệp, chẳng hạn như phát triển nông nghiệp, tiến hành thuỷ lợihoá, hoá học hoá, áp dụng một phần cơ giới hoá lao động nông nghiệp đểđẩy mạnh mức tăng trưởng kinh tế, dẫn đến mức sống tăng nhanh, qua đógián tiếp tác động tới việc chấp nhận qui mô gia đình nhỏ, làm giảm tỷ lệsinh, tăng tỷ lệ thực hành tránh thai của các cặp vợ chồng
Qua thực trạng về dân số ở nước ta, cho ta thấy được sự phân bố dân
cư không hợp lý giữa các vùng Vì vậy mục tiêu đặt ra là phân bổ lại nguồnlực giữa các vùng cho hợp lý hơn Nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tếtương đối đồng đều giữa các vùng trong nước
Để thực hiện được mục tiêu này cần phải đưa ra những giải phápnhằm khuyến khích dân cư đi khai thác vùng kinh tế mới, thực hiện biệnpháp giao đất, giao rừng, hỗ trợ về vốn, vật chất cho những người đến vùngnày
b Các chính sách cụ thể.
Thứ nhất, có chính sách khuyến khích về vật chất và tinh thần đối vớinhững gia đình ít con, người vận động thực hiện và làm nhiệm vụ
Trang 14KHHGĐ Từ trước đến nay, các hình thức khuyến khích mới chỉ tập trungvào các cặp vợ chồng chấp nhận KHHGĐ, còn người vận động và làmnhiệm vụ KHHGĐ hầu như bị xem nhẹ Điều đó dẫn đến tình trạng ngườivận động không thấy được quyền lợi của mình trong công việc và họ khôngthiết tha với công việc Còn đối với các dịch vụ KHHGĐ cũng vậy họ làmtheo nghĩa vụ không tính đến chất lượng của dịch vụ và thiếu tinh thầntrách nhiệm Để giải quyết tình trạng này cần chú trọng hơn nữa các hìnhthức khuyến khích vật chất tinh thần cho đối tượng này.
Về hình thức khuyến khích có thể thưởng bằng tiền, hiện vật hoặcnhững vấn đề có liên quan đến đời sống tinh thần Tuy nhiên tuỳ theo từngvùng khác nhau nên quy định mức thưởng khác nhau Bởi vì, ở những vùngmiền núi, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn trình độ dân trí thấp, do đóviệc vận động khó khăn hơn nhiều so với những vùng đồng bằng hay thànhthị
Bên cạnh đó cần có những biện pháp hành chính đối với những Đảngviên, viên chức Nhà nước không thi hành chính sách dân số KHHGĐ nhưphạt tiền, giảm mức lương hoặc biện pháp mạnh nhất là buộc thôi việc.Thứ hai, tăng cường các chính sách bảo hiểm cho người già công tácbảo hiểm cho người già nếu làm tốt sẽ có tác dụng mạnh mẽ tới ý thức củangười dân về số con mong muốn Một trong những nguyên nhân dẫn đếnquy mô gia đình lớn đólà cần có nhiều con để phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổigià, khi chức năng này được xã hội đảm nhiệm và làm tốt thì tất yếu sẽ dẫnđến số con trung bình giảm Chính sách bảo hiểm cho người già có thể làtăng mức trợ cấp cho những người chấp nhận mô hình gia đình nhỏ tăngthêm 5% lương, với những cặp không có con lương hưu tăng 10% và chămsóc sức khoẻ lúc ốm đau
Tiến hành thành lập các trung tâm dưỡng lão, các hội người già, hộinhững người tình nguyện chăm sóc người già Việc thành lập này có tácdụng thu hút sự tham gia, đóng góp của các thành viên , đoàn thể trong xãhội vào công tác này Bản thân những người tình nguyện phải được đàotạo qua lớp nghiệp vụ y tá để có thể xử lý những tình huống đơn giản và
họ sẽ hưởng chế độ ưu đãi và sự trợ cấp của Nhà nước hàng tháng Đặc biệtchính sách bảo hiểm cho người già cần hoạt động mạnh hơn nữa ở khu vực
Trang 15nông thôn, nơi còn duy trì khá phổ biến và nặng nề tư tưởng cần có nhiềucon.
Thứ ba, cần có những chính sách phân bố lại dân cư một cách hợp lý
Đi đôi với việc khuyến khích những người đi khai thác vùng kinh tế mới,Nhà nước phải có những chủ trương chính sách đảm bảo không chỉ về mặtvật chất mà cả về mặt tinh thần cho họ Đặc biệt cần phải đầu tư về hệthống y tế và giáo dục cho các vùng này Thực hiện việc giao đất giao rừngtrên cơ sở đầu tư ban đầu bằng tiền hoặc cây trồng hoặc cho vay với lãisuất thấp Có như vậy họ mới yên ổn làm ăn tránh trường hợp quay trở lạinơi xuất phát một cách ồ ạt, không có tổ chức
Thứ tư, nâng cao năng lực tổ chức quản lý: Qua nhiều năm thực hiệnkhảo sát thực tế của một số nước trong khu vực, chúng ta phải thấy rằng,đồng thời với việc thực hiện các giải pháp trên, phải coi trọng việc nângcao năng lực quản lý chương trình, một đảm bảo rất quan trọng cho việcthành công mà nội dung chính là đảm bảo một hệ thống đầy đủ, tổ chức đủmạnh với một đội ngũ cán bộ được đào tạo và các nhà lãnh đạo có uy tíncao đảm nhận, xây dựng được một hệ thống thông tin tốt để giúp việc nângcao chất lượng trong công việc xây dựng kế hoạch, xây dựng chính sáchphải có một hệ thống chính sách đồng bộ bao quát được các nội dung cóliên quan hướng vào việc giảm sinh để đưa mức sinh phát triển hợp lý
II THỰC TRẠNG NGUỒN LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA.
1 Đặc điểm thị trường lao động.
Đặc điểm đầu tiên khi nói về thị trường lao động ở nước ta là đông vềmặt số lượng nhưng chưa mạnh về mặt chất lượng - Thể hiện ở chỗ sốngười bước vào tuổi có khả năng lao động ngày một đông Khi đất nướcmới thống nhất (1975) số người trong độ tuổi lao động chỉ có trên 2 triệungười, năm 1980: 25 triệu; 1985: 30 triệu ; 1990: 35 triệu; 1995: 40t riệu và
dự tính đến năm 2000 khoảng 45 triệu người Tỷ trọng nguồn lao độngtrong dân số ngày càng tăng: 1975: 45%; 1985: 50%; 1995: 54% Dự tínhđến năm 2000: 55 - 56% (GS.PTS Tống Văn Đường - phát triển dân số vớiviệc làm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay- LĐ & XH Tháng 10 -1996)
Trang 16Từ khi nước ta chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trườngthì tình trạng thất nghiệp trở nên phổ biến Tình trạng thừa lao động, thiếuviệc làm vẫn rất đông ở nông thôn cũng như thành thị (khoảng 6 - 7 triệulao động dư thừa), phần lớn họ không có khả năng tìm việc ổn định.ở nôngthôn, hàng chục triệu nông dân chỉ làm việc, bốn tháng trong một năm,tập trung vào mùa vụ, thời gian còn lại hầu như là nhàn rỗi Trong khi laođộng nông thôn chiếm tới 76% lực lượng lao động cả nước thì thời gianđược sử dụng ở nông thôn chỉ ở mức 72,11% Đặc điểm lao động ở nôngthôn là trình độ văn hoá thấp, chủ yếu làm những công việc sử dụng nhiềusức lao động, lao động mang tính chất thủ công là chính, trình độ tay nghềrất thấp Tình trạng thất nghiệp ở nông thôn cũng là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến sự di dân tự do ra các thành phố lớn, các đô thị đểkiếm việc hình thành nên những "chợ lao động" gây khó khăn cho việcquản lý của các nhà chức trách Năm 1996, tỷ lệ lao động nông thôn rathành thị tìm việc làm trong dân số hoạt động kinh tế là 7,14% Số laođộng này chủ yếu làm các công việc và dịch vụ nặng nhọc như: làm thuê,đạp xích lô, đào đất Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội ởcác thành phố lớn như cờ bạc, nghiện hút, mại dâm Hiện nay cả nước cókhoảng 80 nghìn gái mại dâm, 80 nghìn người nghiện hút và 50 nghìnngười sống lang thang bụi đời
Trong khi tình trạng thất nghiệp ở nông thôn cao thì ở các khu côngnghiệp kỹ thuật cao, khu chế xuất lại thiếu các kỹ sư và công nhân lànhnghề Đội ngũ quản lý ở tầm vĩ mô và tầm vi mô đông nhưng chưa mạnh,trình độ năng lực quản lý còn thấp kém, khả năng nắm bắt thông tin, tiếpcận với những tri thức tiên tiến của khoa học quản lý trong cơ chế thịtrường chưa kịp thời đầy đủ Không những thế, số lượng cán bộ bị thoáihoá biến chất ngày càng gia tăng, tình trạng một bộ phận cán bộ thamnhũng, vi phạm kỷ cương phép nước có chiều hướng phát triển, nạn quanliêu ăn đút lót, hối lộ, tham ô tài sản của Nhà nước đang trở thành "quốcnạn"
Không chỉ ở nông thôn mà kể cả các khu vực thành thị số lượng laođộng chưa có việc làm cũng rất lớn, đặc biệt là các đô thị lớn như Đà Nẵng,Hải Phòng Theo số liệu điều tra gần đây chiếm khoảng 7 - 8% tổng số lao
Trang 17động thành thị trong đó 80% tập trung ở lứa tuổi thanh niên và đại bộ phận
là chưa có nghề Trong số này khoảng 70% có nhu cầu cấp bách cần giảiquyết việc làm ngay Đặc điểm lao động thành thị là có trình độ văn hoácao hơn nông thôn (phổ biến ở trình độ cấp II) Song thụ động trong việctìm kiếm việc làm, trông chờ ỷ lại vào gia đình hoặc Nhà nước, kén chọnnghề (không thích lao động nặng nhọc, phổ thông, thu nhập thấp) Học sinhcác trường Đại học, cao đẳng sau khi tốt nghiệp không muốn xa rời thànhphố về nông thôn v à đi các tỉnh vùng sâu, vùng xa (theo báo cáo số này lênđến hàng nghìn người Thành phố Hồ Chí Minh, Hà nội có hàng trăm bác
sĩ chờ việc, trong khi ở Tây nguyên miền núi Bắc Bộ rất thiếu) Lao độngthành thị có hiện tượng tái thất nghiệp (do các doanh nghiệp thay đổi côngnghệ, đòi hỏi lao động mới trẻ khoẻ, có tay nghề cao) (Nguyễn Khang -
về lao động, việc làm ở thành thị thời kỳ 1996 - 2000 - LĐ & XH tháng2/1996) Như vậy, phải khẳng định một lần nữa là chúng ta đang thiếunghiêm trọng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt
và trước hết là thiếu công nhân có kỹ thuật
Mặt khác, cơ cấu lao động ở nước ta lại rất đặc trưng của một nềnkinh tế thuần nông: 71% số người đang làm việc trong nền kinh tế là làmnông - lâm - ngư nghiệp, 14% làm trong các ngành công nghiệp và xâydựng cơ bản, 15% làm trong các ngành dịch vụ - hậu quả là năng suất laođộng bình quân đầu người rất thấp: 1,25 triệu đồng/năm/1 lao động(1995)Đất nước ta từ khi chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung baocấp sang cơ chế thị trường, việc tiếp cận với nền kinh tế thị trường còn rấtmới mẻ Những thông tin về thị trường lao động còn rời rạc, thiếu chuẩnmực chung, thiếu kinh nghiệm nên chưa có sự thích ứng linh hoạt với cơchế quản lý mới đã làm cho nhiều xí nghiệp, nhà máy thuộc khu vực quốcdoanh bị giải thể hàng loạt dẫn đến tình trạng mất việc làm của rất nhiềucông nhân Theo tổng liên đoàn lao động Việt Nam :hiện có khoảng 3% sốlao động trong doanh nghiệp Nhà nước không có việc làm hoặc khônglương và gần 15% số lao động không làm việc hết thời gian quy định
Với những đặc điểm nêu ở trên đã cho thấy một bức tranh khái quát vềthị trường lao động ở Việt Nam hiện nay Đó là tình trạng thất nghiệp tráhình ở nông thôn và tình trạng thất nghiệp ở thành thị do chuyển đổi cơ
Trang 18chế Với trình độ tay nghề của lao động rất thấp chưa theo kịp với tốc độphát triển của nền kinh tế Nhận thấy Đảng và Nhà nước cần phải cónhững chủ trương, chính sách nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp ở nước ta hiệnnay.
2 Một số mục tiêu và giải pháp khắc phục vấn đề thất nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
a Mục tiêu:
Phát triển hợp lý dân số trong sự cân đối với sự phát triển kinh tế, sửdụng có hiệu quả nguồn lao động tập trung giải quyết vấn đề việc làm chongười lao động là mục tiêu cấp bách trong giai đoạn hiện nay của cáchmạng nước ta Những hạn chế và thể lực, kiến thức, tay nghề của ngườiViệt Nam phải được khắc phục "thì nguồn nhân lực và nhân tố con ngườimới thực sự trở thành thế mạnh của đất nước"(1) Đảng ta coi"Giải quyếtviệc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọnghàng đầu của chiến lược, là tiêu chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựachọn công nghệ"(2)
Phương hướng quan trọng nhất để giải quyết việc làm thời kỳ này, báocáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội VIII của Đảng đãchỉ rõ" Nhà nước cùng toàn dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kếhoạch và các chương trình kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mangngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều tự
do hành nghề, thuê mướn công nhân theo pháp luật, phát triển dịch vụ việclàm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân
cư trên các địa bàn có tính chiến lược và kinh tế, an ninh - quốc phòng Mởrộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động Giảm đáng kể tỉ lệthất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn" (PTS NguyễnLương Trào - Vấn đề việc làm thời kỳ 1996 - 2000: nhiệm vụ và giải pháp -
LĐ & XH tháng 10-1996 trang 1) Đại hội đảng VIII đã vạch ra mục tiêu
về lĩnh vực lao động - việc làm đến năm 2000 như sau:
(1) Chiến lược ổn định v phát tri à ển kinh tế - xã hội đến năm 2000, trang 5
(2) Chiến lược ổn định v phát tri à ển kinh tế - xã hội đến năm 2000, trang 5
Trang 19- Giải quyết việc làm cho 6,5 - 7 triệu người, giảm tỷ lệ lao động thấtnghiệp ở thành thị xuống dưới 5% và tăng thời gian lao động được sử dụng
ở nông thôn lên trên 75%
- Số lao động qua đào tạo chiếm khoảng 22-25% tổng số lao động
b Một số giải pháp chủ yếu:
Để phấn đấu đạt được các mục tiêu đã nêu trên, chúng ta phải hiệnđồng bộ hàng loạt các giải pháp Trong đó có cả những giải pháp lâu dài cơbản và có cả những giải pháp có tính trước mắt
1 Huy động mọi nguồn lực để tạo ra môi trường kinh tế phát triểnnhanh có khả năng tạo mở nhiều chỗ làm việc mơí một cách thường xuyên
và liên tục Do dân số nước ta tăng nhanh từ nhiều năm trước, nên cung laođộng còn tiếp tục tăng Điều này gần như là bất khả kháng Vì vậy vấn đềđặt ra là phải tìm mọi cách tăng cầu về lao động Để đạt được điều này cầnmột số giải pháp sau:
- Tận dụng mọi nguồn lực để mở rộng sản xuất kinh doanh trong nước.Việc mở rộng sản xuất kinh doanh trong nước chúng ta đang gặp một mâuthuẫn là: muốn phát triển nông nghiệp thì đất nông nghiệp ngày càng bị thuhẹp, còn công nghiệp thì lạc hậu, sức cạnh tranh rất yếu, thị trường nội địađang bị "lấn sân" Hơn nữa trong điều kiện khoảng 70% lực lượng lao độngnông nghiệp đang thiếu việc làm trầm trọng, thì giải pháp kinh tế tổng hợphàng đầu để từng bước khắc phục tình trạng này là phải dồn sức cho sựphát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biếnnông, lâm, thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hóa Phát triển mạnh mẽ các ngành nghề phi nôngnghiệp sử dụng nhiều lao động ở nông thôn; Khôi phục và phát triển ngànhnghề truyền thống như: thêu ren, mây, tre đan hướng vào đầu tư và pháttriển các cây trồng vật nuôi đem lại giá trị kinh doanh cao, có giá trị xuấtkhẩu
Hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nước đang dần đi vào thế ổn định cầnphải tiếp tục đầu tư cho khu vực này Các doanh nghiệp tư nhân trực tiếpsản xuất cũng như được ưu đãi về thuế, về tín dụng và bảo hiểm rủi ro Nhànước cần mở rộng hình thức *** nhượng để thu hút các nguồn đầu tư nước
Trang 20ngoài cho phát triển sản xuất Đầu tư cho sản xuất phải đi lên với ứng dụngkhoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ tiên tiến Nhà nước cần cóchính sách khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngànhsản xuất nông nghiệp, công nghiệp như giảm thuế, cho vay vốn với lãi suất
ưu đãi, bảo trợ rủi ro
- Đầu tư phát triển các ngành công nghiệp, chú trọng trước hết côngnghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng
có chọn lọc một số cơ sở sông nghiệp nặng về dầu khí, than, xi măng, cơkhí, điện tử
- Cần xúc tiến, mở rộng và phát triển các ngành dịch vụ Trong đó tậptrung vào các lĩnh vực vận tải, thông tin liên lạc, thương mại, dịch vụ tàichính, ngân hàng
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 9-10% vừa làyêu cầu của sự phát triển, vừa là đòi hỏi của việc tạo mở công ăn việc làm.Tuy nhiên để có được tốc độ phát triển trên, tạo mở nhiều việc làm chongười lao động, phải có chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực trongnước, đồng thời thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài, tăng nhanh đầu tưphát triển toàn xã hội, đưa tỷ lệ này đạt khoảng 30%GDP vào năm 2000
2 Tiếp tục nghiên cứu, ban hành các chính sách hỗ trợ các đối tượngyếu thế trong việc tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm
Trong thời gian trước mắt, cần tập trung nghiên cứu, ban hành cácchính sách và cơ chế cụ thể về:
- Khuyến khích sử dụng lao động nữ, trong đó cần chú ý việc lựa chọnnghề đào tạo (hoặc đi học nghề) và hình thức đào tạo phải tuỳ thuộc vàocác địa bàn thuộc nông thôn hay đô thị, mới có thể nâng cao được khả năng
có việc làm (tự tạo việc làm) sau đào tạo
- Khuyến khích sử dụng lao động là người tàn tật: hỗ trợ các cơ sở sảnxuất của thương binh và người tàn tật
- Tập trung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi suất
ưu đãi cho các đối tượng trọng điểm vay theo dự án nhỏ tự tạo việc làm chobản thân, gia đình và cộng đồng