1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

503 Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường Trung học phổ thông (THPT) tỉnh Thái Bình hiện nay

94 685 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường Trung học phổ thông (THPT) tỉnh Thái Bình hiện nay
Trường học Trường Trung học phổ thông tỉnh Thái Bình
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 399 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

503 Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trường Trung học phổ thông (THPT) tỉnh Thái Bình hiện nay

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21, đất nớc ta đang bớc vào mộtthời kỳ phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị tr -ờng định hớng XHCN, hớng tới kinh tế tri thức và mở rộng hội nhập quốc tếvới nhiều thuận lợi và khó khăn, thử thách phải vợt qua Để thực hiện thắng lợinhiệm vụ đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: “Lấy việcphát triển nguồn lực con ngời là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bềnvững” Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng nhấn mạnh: tiếp tục “phát huy nhân

tố con ngời” và “tăng cờng nguồn lực con ngời” để “từng bớc phát triển kinh

tế tri thức” Bởi lẽ, con ngời vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển,

đầu t cho con ngời chính là tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển, là bảo đảmvững bền cho sự phồn thịnh của mỗi quốc gia Việc phát triển nguồn nhân lực

là “chìa khóa” quyết định thành công của giai đoạn cách mạng mới trên đất

n-ớc ta

GD-ĐT có vị trí quan trọng để phát triển nguồn nhân lực Giáo dụctrong hệ thống trờng học với chủ thể là đội ngũ nhà giáo là con đờng ngắnnhất và khoa học nhất để truyền thụ tri thức cho học sinh một cách cơ bản có

hệ thống và hiệu quả Hệ thống giáo dục nớc ta hiện nay có nhiều cấp học,ngành học đợc xây dựng chặt chẽ và mang tính phát triển, đội ngũ nhà giáo làlực lợng nòng cốt thực hiện mục tiêu GD-ĐT, là ngời xây dựng cho học sinh thếgiới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị cho học sinh tri thức và phơng pháp tduy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo Vì vậy, vai trò của đội ngũnhà giáo rất quan trọng, công việc của họ sẽ để lại dấu ấn trong tơng lai Khi nói

về vai trò của đội ngũ nhà giáo, tại hội nghị giáo dục ở Australia năm 1993 các

đại biểu đã đa ra nhận định “Ngời giáo viên sẽ là ngời có trách nhiệm làm thay

đổi thế giới” Đảng ta cũng xác định “Giáo viên là nhân tố quyết định chất ợng giáo dục và đợc xã hội tôn vinh” [10, tr.38-39]

l-Nằm trong cấu trúc chung của hệ thống giáo dục quốc dân, các trờngTHPT là một cấp học, một bộ phận hữu cơ của giáo dục phổ thông, là cầu nốigiữa bậc tiểu học, THCS với bậc đại học Nếu giáo dục đại học là khâu trựctiếp đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lợng cao tham giaquá trình CNH, HĐH đất nớc, thì giáo dục THPT là khâu chuẩn bị cho họcsinh THPT – bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực tiếp tục học lên hoặc đi

Trang 2

vào cuộc sống lao động ở cấp học này, đội ngũ nhà giáo có vai trò rất quantrọng trong việc đào tạo học sinh thành nguồn nhân lực có tri thức, có nănglực và phẩm chất, có đủ điều kiện để tiếp cận bậc GD-ĐT cao hơn hoặc lao

động ở một ngành nghề cụ thể khi cha có khả năng học tiếp Nhng hiện naytrong các trờng THPT, “đội ngũ nhà giáo vừa thiếu lại vừa thừa, một bộ phậnnhỏ nhà giáo cha đạt chuẩn đào tạo, một số thiếu năng lực giảng dạy và tinhthần trách nhiệm Đáng lo ngại là tác động tiêu cực của cơ chế thị trờng đãlàm xói mòn phẩm chất của một số nhà giáo gây ảnh hởng xấu đến uy tín ngờithầy trong xã hội” [4, tr.21] Điều đó làm hạn chế việc thực hiện vai trò đàotạo nguồn nhân lực của đội ngũ nhà giáo, là một trong những nguyên nhânchủ yếu dẫn tới thực trạng: nhiều học sinh kiến thức lệch lạc, thiếu hiểu biếtcác vấn đề chính trị - xã hội, một bộ phận học sinh suy thoái về đạo đức, lốisống; phần lớn học sinh sau khi tốt nghiệp THPT thiếu khả năng tự tìm kiếmviệc làm, cha vững vàng trớc những biến đổi phức tạp của cuộc sống Chất l-ợng đào tạo ở cấp học này cha thực sự đáp ứng đợc mục tiêu đặt ra Đặc biệt,vào thời điểm hiện nay dấu hiệu một cuộc khủng hoảng GD-ĐT đã đến mứckhiến xã hội phải lên tiếng

Là ngời đã từng trực tiếp tham gia công tác giáo dục ở một trờng THPTthuộc tỉnh Thái Bình, mong muốn qua việc khảo sát vai trò của đội ngũ nhàgiáo ở một tỉnh để có thể phát hiện những tiềm năng đang tiềm tàng, khơi dậynăng lực sáng tạo, nhiệt tình cống hiến của đội ngũ nhà giáo trong công tác

giáo dục thế hệ công dân mới của đất nớc, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT tỉnh Thái Bình hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, nhận thức đợc tầm quan trọng của GD-ĐT

và vai trò của đội ngũ nhà giáo đối với việc phát triển nguồn nhân lực nên ở

n-ớc ta đã có một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới các khía cạnhkhác nhau của vấn đề nhà giáo và vai trò của đội ngũ nhà giáo:

Những công trình có tính chất định hớng cho việc nghiên cứu về mốiquan hệ giữa GD-ĐT với việc phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ nhàgiáo trong mối quan hệ đó nh: “Con ngời Việt Nam, mục tiêu và động lựcphát triển KT-XH” mã số KX.07 do GS.TS Phạm Minh Hạc chủ biên vớinhiều vấn đề đợc phân tích trong đó có các vấn đề phát triển GD-ĐT, bồi d -

Trang 3

ỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực, gia đình - nhà tr ờng - xã hội với việcphát hiện, tuyển chọn, giáo dục và đãi ngộ ngời tài; “Chiến lợc phát triểngiáo dục trong thế kỷ 21, kinh nghiệm của các quốc gia” của Viện nghiêncứu phát triển giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, là tập hợp những kết quảnghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến lĩnh vực chiến l ợc pháttriển giáo dục.

Những công trình nghiên cứu khoa học ít nhiều có đề cập đến đặc điểm,vai trò của đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn hiện nay nh: “Xây dựng đội ngũtrí thức khoa học Mác-Lênin trong các trờng đại học ở nớc ta hiện nay” củaPhạm Văn Thanh, công trình chủ yếu bàn về đội ngũ nhà giáo Mác-Lênin vàvai trò của đội ngũ này trong các trờng đại học; “Trí thức giáo dục đại họcViệt nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH” của Nguyễn Văn Sơn với nộidung bàn về việc xây dựng đội ngũ nhà giáo ở các trờng đại học đáp ứng yêucầu của giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay; “Giáo dục đạo đức cho họcsinh THCS tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay” của

Đỗ Tuyết Bảo đi sâu nghiên cứu vai trò, ý nghĩa của GD-ĐT đối với sự hìnhthành và phát triển nhân cách cho học sinh THCS trong điều kiện mới; “Kinh

tế thị với sự hình thành và phát triển nhân cách của ngời thầy giáo Việt Namtrong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Nh Thơ đã lý giải những biến đổi trongquá trình hình thành và xây dựng nhân cách s phạm cho đội ngũ nhà giáo;

“Giáo dục đạo đức XHCN qua bộ môn GDCD cho học sinh THPT ở tỉnh BàRịa-Vũng Tàu” của Nguyễn Sỹ Quyết Tâm với những giải pháp đáp ứng mụctiêu giáo dục toàn diện cho học sinh THPT

Tuy nhiên đến nay vẫn cha có một công trình khoa học nào nghiên cứu

về vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở cáctrờng THPT trên địa bàn một tỉnh, trong đó có tỉnh Thái Bình Do vậy, trên cơ

sở kế thừa những thành quả của các công trình khoa học đi trớc, đứng ở giác

độ chuyên ngành CNXHKH chúng tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao vai trò của

đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT tỉnh Thái Bình hiện nay” để thực hiện luận văn của mình.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực và

vai trò của đội ngũ nhà giáo, luận văn làm rõ thực trạng vai trò của đội ngũnhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT tỉnh Thái

Trang 4

Bình, từ đó đa ra giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ nhàgiáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT của tỉnh.

Nhiệm vụ: Luận văn có 3 nhiệm vụ cụ thể sau:

Làm rõ những khái niệm: đội ngũ nhà giáo, nguồn nhân lực, học sinhTHPT, từ đó phân tích đặc điểm, vai trò của đội ngũ nhà giáo với t cách là chủthể quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT

Đánh giá đúng thực trạng vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình

đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT tại tỉnh Thái Bình hiện nay

Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quátrình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT tỉnh Thái Bình

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng: Nghiên cứu đội ngũ nhà giáo dới góc độ chính trị - xã hội

thể hiện trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực

- Phạm vi: Vai trò của đội ngũ này trong thời kỳ đổi mới nhất là trong

những năm gần đây

- Địa bàn nghiên cứu: Các trờng THPT tỉnh Thái Bình.

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, t ởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về vai trò của đội ngũnhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực từ lực lợng học sinh THPT

t-* Cơ sở thực tiễn:

Luận văn nghiên cứu toàn bộ hoạt động của đội ngũ nhà giáo ở các ờng THPT tỉnh Thái Bình hiện nay trong mối quan hệ với quá trình đào tạonguồn nhân lực

tr-* Phơng pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng, phơng pháp duy vậtlịch sử kết hợp với phơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, kế thừa, logic vàlịch sử, thống kê, điều tra xã hội học…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xã, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xãhội của vấn đề

6 Những đóng góp mới của luận văn

Xác định các xu hớng biến động về vai trò của đội ngũ nhà giáo trongquá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT hiện nay

Trang 5

Xác định quan điểm và hệ thống giải pháp để nâng cao vai trò của độingũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT trongthời gian tới.

7 ý nghĩa của luận văn

ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhậnthức đầy đủ hơn về vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồnnhân lực; làm cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dỡng đội ngũ nhà giáo

ở các trờng THPT; làm tài liệu tham khảo cho ngành GD-ĐT mà trớc hết làngành GD-ĐT Thái Bình Góp phần làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu một sốvấn đề về trí thức, con ngời, nguồn nhân lực

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn

đ-ợc kết cấu thành 3 chơng 6 tiết

Trang 6

1.1.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, quốcgia nào cũng nhận thức rõ nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đến sự pháttriển KT-XH của đất nớc Nhiều quốc gia đã xây dựng cho mình chiến lợcphát triển nguồn nhân lực và coi đó là vấn đề cốt lõi cho sự phát triển

Khi nói đến “nguồn nhân lực” tức là muốn nói đến một tài sản quý, vốnquý có khả năng sinh sôi nảy nở và có thể đem ra sử dụng Tài sản quý, vốnquý đó gắn liền với con ngời - một đơn vị tế bào tạo nên nguồn nhân lực, là

đối tợng cần đợc đầu t, đợc giáo dục và đợc đào tạo Có thể hiểu nguồn nhânlực ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, nói tới nguồn nhân lực là nói tới con ngời hiện thực và chất ợng phát triển của con ngời gắn liền với bản chất xã hội

l-Các nhà triết học mácxít đã khẳng định: con ngời hiện thực là mộtchỉnh thể sinh học - xã hội, nhng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực củacon ngời Kết hợp hai mặt sinh học và xã hội, con ngời có một năng lực tiềm

ẩn (tiềm năng), khi đợc sử dụng và gặp môi trờng thuận lợi thì tiềm năng ấy

đ-ợc phát huy, lúc đó con ngời trở thành động lực cho sự phát triển KT-XH Môitrờng đó chính là hoạt động lao động - hoạt động bản chất nhất của con ngờinhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống: “Lao động là điều kiện cơbản, đầu tiên của toàn bộ đời sống loài ngời và nh thế đến một mức mà trênmột nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con ng-ời”[26, tr.641] Và, mặc dù: “Bản thân chúng ta, với cả xơng thịt, máu mủ và

đầu óc, chúng ta là thuộc về tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tựnhiên”[26, tr.665] nhng nhờ có lao động mà: “Ngời là giống vật duy nhất cóthể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật” [26, tr.673].Lao động mang ý nghĩa nhân bản sâu xa bởi trong lao động con ngời đã làmbiến đổi tự nhiên, biến đổi cả bản thân mình và đã làm nên lịch sử của cả xãhội loài ngời Điều đó cho thấy, nếu con ngời là sản phẩm của hoàn cảnh lịch

Trang 7

sử - xã hội thì đặc trng bản chất nhất của nguồn nhân lực là sự phản ánh trình

độ phát triển, mức độ hoàn thiện con ngời trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.Chính các hoạt động nhận thức thực tiễn của con ngời đã làm hoàn thiện nhâncách, trình độ, trí tuệ và thể lực của con ngời, giúp con ngời thực hiện cácchức năng xã hội của mình Vì vậy, khi đào tạo nguồn nhân lực cần phải pháttriển cả mặt sinh học (sức khỏe, nuôi dỡng, vệ sinh, môi trờng ) và mặt xã hội(kiến thức, kỹ năng, đạo đức, lối sống ) cho con ngời Đây là điều kiện để tạo ranhững khả năng, tiềm năng của nguồn nhân lực đồng thời cũng là cơ sở để cógiải pháp phát huy vai trò của nguồn nhân lực

Thứ hai, nói tới nguồn nhân lực là nói tới con ngời trong t cách cá nhân

và cá thể tồn tại, hoạt động, sống và tự biểu hiện đời sống của mình trong mối liên hệ với những ngời khác, với cả cộng đồng, chịu ảnh hởng cũng nh sự tác

động của các quan hệ xã hội và điều kiện lịch sử - xã hội mà cá nhân đó đang sinh sống.

Khi xem xét mối quan hệ giữa con ngời với thế giới xung quanh, cácnhà triết học mácxít đã chứng minh đợc: con ngời là sản phẩm của hoàn cảnh,

đồng thời là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh Nhng hoạt động sáng tạo ra hoàncảnh của con ngời lại chỉ đợc thực hiện trong mối quan hệ với cộng đồng Xãhội và quan hệ xã hội là điều kiện để con ngời thể hiện bản tính phong phú và

t duy sáng tạo của mình Do đó, khả năng của con ngời hay của nguồn nhânlực đợc huy động vào quá trình phát triển xã hội sẽ trở thành những thông sốquan trọng để nghiên cứu và điều chỉnh một cách có ý thức nguồn nhân lựccủa từng quốc gia hoặc từng địa phơng

Thứ ba, nói đến nguồn nhân lực cần nhấn mạnh đến vai trò tích cực, sáng tạo của con ngời trong hoạt động thực tiễn, nó thể hiện ở vai trò chủ thể sáng tạo trong quá trình phát triển đồng thời cũng là khách thể của quá trình phát triển, thể hiện trong việc con ngời cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo bản thân.

Các nhà mácxít khẳng định: sự thay thế của các hình thái KT-XH tronglịch sử là do sự phát triển của LLSX Mà trong LLSX, con ngời là yếu tố cáchmạng và năng động nhất Chính con ngời đã làm nên những biến đổi về tínhchất và trình độ của LLSX để rồi đa xã hội tiến lên Với luận điểm, xã hội tạo

ra con ngời ở mức độ nào thì con ngời cũng tạo ra xã hội ở mức độ đó đã chothấy: trong tiến trình các cuộc cải biến xã hội, con ngời luôn là mục tiêu đồngthời là động lực của tiến trình đó Thực tế đã chứng minh, ở đâu các lực lợng

Trang 8

cách mạng có ý thức đầy đủ về vai trò của con ngời, có giải pháp hiện thựchóa vai trò của con ngời thì sự nghiệp cách mạng ở đó sẽ giành thắng lợi Với

ý nghĩa đó, xét trong quá trình phát triển thì con ngời vừa là mục tiêu, vừa là

động lực

Kế thừa và phát triển những luận điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãtiếp tục nghiên cứu và khẳng định, con ngời là những cá nhân cụ thể, vừa tồntại với t cách cá nhân với những nhu cầu, khát vọng và năng lực tiềm tàng lạivừa tồn tại với t cách là những thành viên của gia đình, của cộng đồng dân tộc.Bằng năng lực và trách nhiệm đối với xã hội, con ngời có vai trò to lớn, quyết

định tới thành công của cách mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của dân tộc vàhạnh phúc của nhân dân Ngời viết: “Vô luận việc gì đều do con ngời làmra”[32, tr.113] Rằng “Phải bồi dỡng, đào tạo và phát huy năng lực của conngời, của từng cá nhân và của cả cộng đồng dân tộc [34, tr.56]

Từ cơ sở đó có thể quan niệm rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con ngời trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phơng

đã đợc chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển KT-XH của đất nớc hoặc một vùng, một địa phơng cụ thể Nguồn nhân

lực là nơi cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất củadân số, của các nguồn lực, có khả năng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thầncho xã hội Cấu trúc nguồn nhân lực của một quốc gia gồm những ngời nằmtrong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có haykhông làm việc ở Việt Nam, theo Luật lao động, nam tuổi từ 15-60; nữ tuổi

từ 15-55, có khả năng lao động đều thuộc nguồn nhân lực

1.1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội

Để phát triển KT-XH cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực

có ý nghĩa quyết định sự phát triển, vì con ngời vừa là một nguồn lực, vừa làchủ thể của các nguồn lực khác Con ngời bằng lao động sáng tạo đã phát hiện

ra ngày càng nhiều nguồn lực trong tự nhiên và từ nguồn lực tự nhiên tạothành những nguồn lực mới, làm tăng lên những khả năng có thể có của đất n-

ớc, của dân tộc cho sự phát triển Mặt khác do đặc tính lao động sáng tạo củacon ngời mà nguồn nhân lực trở nên sinh động và không cạn kiệt, hơn nữanguồn nhân lực có khả năng phát triển, tái sinh và tự nhân mình lên gấp bội

Trang 9

Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững thì cần phải quan tâm bồi ỡng, phát triển nguồn nhân lực cả về trí tuệ, năng lực, thể lực và đạo đức.

d-Cách đây hơn 150 năm, Mác đã đề cập tới phát triển con ngời toàn diện,lấy đó làm cơ sở cho sự phát triển xã hội CSCN Ông cho rằng sự phát triểnLLSX xã hội trớc hết là: “Phát triển sự phong phú của bản chất con ngời, nh làmột mục tiêu tự thân”[28, tr.168] Theo Mác-Ăngghen, cuộc đấu tranh củanhững ngời cộng sản chống lại trật tự t sản chính là nhằm mục đích “tạo rahoàn cảnh có tính ngời” để “phát triển những năng lực phẩm chất ngời” Kếtquả của cuộc đấu tranh đó là sự xuất hiện một liên hợp, trong đó “sự phát triển

tự do của mỗi ngời là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi ngời” Nguồnnhân lực vừa là một yếu tố của sản xuất, của tăng trởng kinh tế, vừa là mục

tiêu của sự phát triển, “phát triển nguồn nhân lực chính là hoạt động đầu t, là quá trình bồi dỡng, đào tạo, sử dụng về số lợng và chất lợng nguồn nhân lực nhằm tạo ra cho lực lợng này những năng lực, phẩm chất cần thiết, đáp ứng đ-

ợc yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển KT-XH” Việc phát hiện và

làm bộc lộ tiềm năng của nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa con ngời chỉ có thể thông qua hoạt động thực tiễn, qua đó làm tích cựchóa nguồn nhân lực, tạo ra sự giải phóng cho tiềm năng của con ngời để dẫntới sự sáng tạo của con ngời Vấn đề là phải phát triển một nguồn nhân lực nhthế nào, làm thế nào để khơi dậy và phát huy đợc vai trò của của nguồn nhânlực đó?

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin, để xây dựng CNXH vàCNCS cần phải có một nguồn nhân lực có chất lợng, nguồn nhân lực đó chính

là những con ngời mới XHCN Thời Mác-Ăngghen, tuy cha có những điềukiện khách quan cho sự ra đời của con ngời mới XHCN nhng qua việc nghiêncứu những quy luật phát triển nội tại của CNTB, các ông đã phác họa nhữngnét chính của con ngời mới đại diện cho nguồn nhân lực của chế độ xã hộimới Đó là những con ngời phát triển toàn diện, không bị trói buộc suốt đờivào một sự phân công lao động nào, những con ngời lấy lao động làm nguồnhứng thú duy nhất trong đời sống, ngày càng có đầy đủ năng lực và phẩm chất

để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân Lênin cũng nói

đến con ngời mới khá cụ thể, đó là những con ngời có tinh thần làm chủ tậpthể, có năng lực làm chủ, hăng say lao động, coi trọng sản xuất, coi trọng củacông, có kỷ luật tự giác cao, có tri thức khoa học, có khả năng tiếp thu nhữngthành tựu mới nhất của nền văn minh hiện đại vì “ngời ta chỉ có thể trở thành

Trang 10

ngời cộng sản sau khi làm giàu trí tuệ của mình bằng sự hiểu biết tất cả nhữngkho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”[22, tr.8] Chủ tịch Hồ Chí Minh chorằng, để xây dựng thành công CNXH thì phải có những con ngời XHCN, đó lànhững con ngời vừa “hồng vừa chuyên”, “vừa có đức vừa có tài”, những conngời phát triển toàn diện cả về nhận thức, tình cảm và ý chí, những con ngờiyêu nớc, yêu chủ nghĩa quốc tế vô sản Những luận điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin và t tởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận của Đảng CSVN trong vấn đề

đào tạo một nguồn nhân lực với những con ngời cờng tráng về thể chất, trongsáng về tinh thần, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức và nhân cách đáp ứng đợc sựnghiệp cách mạng của đất nớc trong giai đoạn hiện nay Việc tạo ra nguồn

nhân lực để xây dựng xã hội là sự nghiệp của nhiều “binh chủng”, trong đó ngành GD-ĐT đóng vai trò quyết định.

1.1.1.3 Giáo dục - đào tạo là nhân tố có ý nghĩa quyết định chất lợng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực đợc phát triển bằng nhiều con đờng khác nhau, songGD-ĐT là con đờng có hiệu quả nhất GD-ĐT là hoạt động đặc biệt chỉ cótrong xã hội loài ngời, đó là hoạt động có tổ chức của xã hội nhằm bồi dỡng

và phát triển các phẩm chất và năng lực cho con ngời cả về t tởng, đạo đức,khoa học, sức khỏe và nghề nghiệp Ngay từ khi CNXH còn là học thuyết,Mác-Ăngghen đã đánh giá cao vai trò của sự nghiệp giáo dục, các ông chorằng giáo dục là nhiệm vụ cần thiết, bắt buộc đối với mọi ngời Trong tácphẩm “Nguyên lý của CNCS” Mác-Ăngghen đã nói tới chế độ giáo dục trongmột xã hội tổ chức theo nguyên tắc CSCN là “giáo dục công cộng, không mấttiền cho tất cả trẻ em”, giáo dục toàn diện cả “trí dục, thể dục” và “kỹ thuậtbách khoa” Các ông nhấn mạnh: sự nghiệp xây dựng xã hội mới trong đócùng với phát triển kinh tế còn phải xây dựng văn hóa, đào tạo con ngời, vì thếcần phải chú ý đến nhiệm vụ giáo dục, coi đó là biện pháp hàng đầu để đàotạo con ngời mới với t cách là chủ thể sáng tạo có ý thức của xã hội mới.Lênin đã vận dụng quan điểm của Mác-Ăngghen để phát triển giáo dục ở nớcNga ngay sau Cách mạng Tháng Mời Trong lúc nớc Nga còn đang rất khókhăn, nghèo về kinh tế, lạc hậu về văn hóa, …Lênin đã nhận thấy việc nângcao trình độ văn hóa, giáo dục và kỹ thuật là vô cùng cần thiết để thoát khỏitối tăm, nghèo nàn, bệnh tật Ông nhấn mạnh: lúc này Nhà nớc Xô Viết phảicoi phát triển giáo dục là một nhiệm vụ trọng tâm; tất cả mọi ngời, đặc biệt làthanh niên phải có nhiệm vụ “học tập” vì nếu không xây dựng đợc một nền

Trang 11

học vấn hiện đại thì “CNCS cũng chỉ là một nguyện vọng mà thôi”[23, tr.175].Những luận điểm của Mác-Ăngghen và Lênin cùng những kinh nghiệm thựctiễn về tầm quan trọng của giáo dục trong quá trình đào tạo con ngời mới đểxây dựng xã hội mới đến nay vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục soi sáng chocác dân tộc muốn có sự phát triển nhanh và bền vững.

Việt Nam là một dân tộc hiếu học, trọng tri thức, trọng học vấn Từngàn xa ông cha ta đã đúc kết nên bài học lịch sử: để xây dựng xã tắc vữngbền, để quốc gia cờng thịnh thì phải chăm lo cho nguồn lực trí tuệ của dân tộc.Nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng khẳng định “phí trí bất hng”, nhà chí sỹ yêunớc Phan Bội Châu cũng cho rằng “ngời Việt Nam phải ngẩng cao đầu để tựcứu lấy mình bằng tài năng và trí tuệ của mình, bằng việc khai trí và chấn hngtân học” Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cáchmạng Việt Nam đã học tập lý luận và kinh nghiệm thế giới, kế thừa và pháttriển truyền thống dân tộc trong việc xây dựng một nền giáo dục tiến bộ phục

vụ sự nghiệp cách mạng, xây dựng đất nớc Việt Nam theo con đờng và mụctiêu đã lựa chọn

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, Chủ tịch HồChí Minh đã nhấn mạnh: “Nạn dốt là một trong những phơng pháp độc ác màbọn thực dân dùng để cai trị chúng ta… Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, vìvậy tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” [34, tr.8] Rằng phải

xây dựng một nền giáo dục mới, “Vì lợi ích mời năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng ngời”, vì “Muốn xây CNXH phải có con ngời XHCN”

[37, tr.159]

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn vai tròcủa nguồn nhân lực, coi con ngời vừa là động lực, vừa là mục tiêu của côngcuộc phát triển KT-XH, con ngời là nguồn vốn, là tài sản quý giá nhất Đảng

ta khẳng định: “Để đáp ứng yêu cầu về con ngời và nguồn nhân lực là nhân tốquyết định sự phát triển của đất nớc trong thời kỳ CNH, HĐH, cần tạo chuyểnbiến cơ bản và toàn diện về giáo dục”[12, tr.201], vì “Phát triển GD-ĐT là mộttrong những động lực quan trọng của sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện đểphát huy nguồn lực con ngời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng

kinh tế nhanh và bền vững”[12, tr.108] Với phơng châm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Đảng ta nhấn mạnh: một quốc gia phát triển cần có một nền

kinh tế phát triển, một nền kinh tế có sức mạnh để phát triển cần phải tạo ra

đ-ợc một nguồn nhân lực với một trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại và một

Trang 12

nguồn chất xám cũng nh nhân lực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nângcao năng suất lao động, phát triển các hoạt động dịch vụ, hoạt động văn hóa,tinh thần, tất cả những điều này đều phụ thuộc vào GD-ĐT Hơn nữa GD-ĐT

đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành con ngời lao động mới - ngời côngdân Việt Nam có lý tởng XHCN, có lòng tự hào dân tộc, có khả năng tiếp thunhững tiến bộ của KH&CN và tinh hoa văn hóa của nhân loại, có khả năng lao

động và tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội Với ý nghĩa đó

Đảng ta chỉ rõ: GD-ĐT nguồn nhân lực là một một khâu chủ yếu trong toàn

bộ quá trình phát triển nguồn lực của đất nớc Trên nền tảng học vấn phổthông về tự nhiên, xã hội và nhân cách…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xã, GD-ĐT nguồn nhân lực phải hớngtới việc hình thành, phát triển kiến thức, kỹ năng lao động phù hợp với cáchthức tổ chức, phân công lao động xã hội theo từng giai đoạn phát triển, trongcác lĩnh vực hoạt động và điều kiện cụ thể

Những quan niệm trên là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về một bộphận quan trọng của nguồn nhân lực, đó là học sinh THPT - đối tợng tác động

và cũng là sản phẩm lao động của đội ngũ nhà giáo ở các trờng THPT

1.1.2 Học sinh trung học phổ thông - nguồn nhân lực đang đợc đào tạo

1.1.2.1 Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông

Theo điều 4 Luật Giáo dục (2005), giáo dục THPT là một bộ phận hữucơ của giáo dục phổ thông, nằm trong cấu trúc chung của hệ thống giáo dụcquốc dân Căn cứ vào điều 83 Luật Giáo dục (2005), những ngời đang học tậptại các cơ sở giáo dục phổ thông (gồm bậc tiểu học và bậc trung học, trongbậc trung học có 2 cấp là cấp THCS và cấp THPT) và giáo dục nghề nghiệp

(gồm các trờng trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) đợc gọi là học sinh.

Kết hợp điều 4 và điều 83, có thể hiểu học sinh THPT là những ngời

đang theo học ở cấp THPT, cấp học kế tiếp sau cấp THCS và “đợc thực hiệntrong ba năm học, từ lớp 10 đến lớp 12 Học sinh vào học lớp 10 phải có bằngtốt nghiệp THCS, có tuổi là mời lăm ”[21, tr.20] Điều lệ trờng trung học(2000) cũng quy định rõ tuổi của học sinh THPT “là 15 đến 19”[14, tr.26]

Theo quy định của luật Lao động nớc ta, với lứa tuổi trên học sinhTHPT là lực lợng nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và là bộphận quan trọng của nguồn nhân lực Đây là lứa tuổi có sự phát triển phức tạpcả về mặt sinh học và mặt xã hội, là thời kỳ học sinh bớc vào giai đoạn cuốicủa quá trình chuẩn bị nền tảng cho sự tham gia của họ vào hoạt động nghề

Trang 13

nghiệp và các dạng lao động xã hội Xem xét nguồn nhân lực trên cả hai

ph-ơng diện cá thể và xã hội thì học sinh THPT với t cách là một bộ phận củanguồn nhân lực cũng đợc xem xét trên hai phơng diện đó với những đặc điểmtâm sinh lý, những hoạt động đặc trng và nhân cách xác định

Với độ tuổi từ 15 đến 19, học sinh THPT là những con ngời đang trởngthành, có khả năng phát triển mạnh mẽ về trí tuệ và nhanh chóng về thể lực ởgóc độ sinh học, đây là lứa tuổi đang dần hoàn thiện về cơ thể, là giai đoạncác em phát triển về chiều cao, trọng lợng và thể trạng với tốc độ nhanh Sovới các thế hệ cha anh trớc đây, học sinh THPT ngày nay do đợc sống tronghòa bình, do đời sống ngày một nâng cao và nhu cầu dinh dỡng đợc đáp ứngngày càng đầy đủ nên có sự phát triển tốt hơn về thể lực Các em đã có mộtthể hình đẹp hài hòa, một sức khỏe dồi dào có thể đáp ứng đợc những đòi hỏi

về sự hao phí các sức lực thần kinh, cơ bắp trong lao động với những đặc thùnghề nghiệp khác nhau Hơn nữa ở độ tuổi này tính chủ định phát triển mạnh,khả năng quan sát, ghi nhớ đạt ở mức độ khá cao và giữ vai trò chủ đạo tronghoạt động trí tuệ, khả năng t duy lý luận, t duy trừu tợng cũng nh năng lực tduy độc lập sáng tạo đợc hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện Đâychính là cơ sở để học sinh THPT có thể tiếp nhận và xử lý một khối lợng lớntri thức, là điều kiện để bồi dỡng trí tuệ, tay nghề, để trang bị chuyên môn,nghề nghiệp và là giá đỡ cho tiềm năng sáng tạo của các em trong t cáchnguồn nhân lực ở góc độ tâm lý, học sinh THPT thích cái mới, thích khámphá, sáng tạo, giàu óc tởng tợng, nhiều ớc mơ, hoài bão, có nhu cầu tìm hiểu,nhu cầu tình bạn, tình yêu…Những đặc điểm này đã tác động rất mạnh đến sựhình thành t tởng của các em, khi các em xác định đợc niềm tin, lý tởng thìcác em có thể xả thân vì lý tởng và phấn đấu với niềm lạc quan, với sức sốngmạnh mẽ để đạt đợc niềm tin và lý tởng đó ở các em không có tính bảo thủ,trì trệ, dễ thích ứng với đờng lối đổi mới, rất quan tâm đến tơng lai nên cũngrất quan tâm đến những vấn đề lớn của đất nớc, của thời cuộc Đây là điềukiện để học sinh THPT xác định đợc phơng hớng tiến thân, lập nghiệp và xâydựng sự nghiệp cho mình

Với t cách là nguồn nhân lực trẻ, đang đợc chuẩn bị để thực hiện chứcnăng của một công dân có học vấn, đợc quyền tham gia vào các hoạt động lao

động, học tập và các mối quan hệ xã hội, nhân cách của học sinh THPT đợchình thành trong quá trình xã hội hóa và giải quyết các mâu thuẫn Đó là mâuthuẫn giữa sự phát triển mạnh mẽ về thể lực, trí lực và những mơ ớc nhiều

Trang 14

chiều với khả năng thực hiện những mơ ớc đó theo định hớng xác định phùhợp với năng lực và điều kiện vốn có của bản thân, của gia đình; giữa lợngthông tin lớn về kinh tế, chính trị, xã hội…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xã với tiềm năng tiếp nhận, xử lý,chọn lọc những thông tin đó; giữa khối lợng lớn những tri thức phải học ở giai

đoạn cuối của các trờng phổ thông với những nhu cầu hoạt động của tuổi trẻ;giữa tính phong phú, đa dạng của nghề nghiệp xã hội, của tri thức với quỹ thờigian và điều kiện học tập có hạn của học sinh…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xãQuá trình giải quyết nhữngmâu thuẫn đó khiến cho học sinh THPT phát triển mạnh mẽ về các mặt, nhất

là về tình cảm đạo đức, thẩm mỹ, nhu cầu giao tiếp và xu hớng nghề nghiệp

Đây là thời kỳ của sự hình thành, ổn định về tính cách để chuẩn bị cho các emtiến dần tới vị trí xã hội của một ngời công dân đích thực trong giai đoạn tiếptheo Điểm nổi bật trong nhân cách của học sinh THPT là sự tự ý thức, tựkhẳng định mình về mặt sinh học, biết nhìn nhận và suy nghĩ về hành vi củamình so với chuẩn mực của tập thể, biết đánh giá cái đúng sai trong hành vicủa mình và những cá nhân khác Tuy nhiên sự đánh giá đó thờng bị thiênlệch, hoặc đề cao quá mức bản thân dẫn tới sự kiêu căng, hoặc lý tởng hóa ng-

ời khác một cách quá mức dẫn tới mặc cảm tự ty với chính mình Làm cho các

em biết ngời biết ta một cách khách quan là cả một quá trình đòi hỏi nghệthuật s phạm của đội ngũ nhà giáo ở học sinh THPT, nhu cầu đợc sống trongmột tập thể mạnh, có uy tín tốt đã tạo cho hoạt động giao tiếp của các emmang tính xã hội rõ nét, các em đã biết đợc lợi ích của những việc mình làm,biết tự điều chỉnh khi xảy ra xung khắc trong giao tiếp Cùng với giao tiếp, đờisống tình cảm của các em ngày càng phong phú, nó không chỉ dừng lại ởnhững sở thích sinh hoạt thờng nhật mà còn đợc xây dựng trên những mục

đích lâu dài nh phấn đấu trong học tập và tu dỡng, trong các phong trào tậpthể…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xã Trong quan hệ với ngời lớn tuổi, các em tự tin hơn, các em không chỉbiết đòi hỏi ngời lớn phải u ái những quyền lợi của cá nhân mà còn thấy đợctrách nhiệm của bản thân trớc gia đình, dòng họ, làng xóm Tình cảm nam nữcũng đợc nảy sinh ở giai đoạn này Có thể thấy mỗi nhân cách là một thế giớiriêng, đặc biệt là trong vấn đề tình cảm, do đó việc nhận biết, bồi dỡng hoặckhắc phục những biểu hiện sai lệch trong đời sống tình cảm của các em làcông việc hết sức nhạy cảm, đòi hỏi sự tỷ mỷ, cần mẫn và tấm lòng nhân áibao dung của các nhà giáo trong mọi tình huống giáo dục

Học sinh THPT là nguồn nhân lực đang bớc qua lứa tuổi vị thành niên đểtrở thành một công dân trong cộng đồng xã hội, là nguồn nhân lực chuẩn bị bổ

Trang 15

sung vào lực lợng lao động có tri thức của xã hội, cho nên hoạt động của các emrất đa dạng về loại hình và tính chất Các hoạt động giao lu, văn hóa, văn nghệ,

thể dục thể thao trở thành nhu cầu thờng trực song hoạt động học tập vẫn là hoạt

động chủ đạo Thái độ, động cơ lựa chọn đối với các môn học để thỏa mãn các

khuynh hớng nghề nghiệp là nét đặc thù so với học sinh cấp THCS Vì thế, hoạt

động của học sinh THPT mang tính năng động, độc lập và chủ động hơn Đối ợng hoạt động của học sinh THPT đợc mở rộng, nó không chỉ đóng khung trongkhuôn khổ nhà trờng mà ngày càng tiếp cận với những hoạt động phong phúngoài xã hội thông qua những nội dung sinh hoạt chính khóa, ngoại khóa và sự

t-mở rộng giao lu của các em Hoạt động của học sinh THPT diễn ra trong môi ờng và những điều kiện đã đợc thiết kế một cách có kế hoạch để chuẩn bị chocác em kết thúc giai đoạn học tập ở phổ thông chuyển sang giai đoạn học đạihọc, học nghề, lập nghiệp Sự nghiêm túc của các kỳ thi vào các cơ sở đào tạochuyên nghiệp mà học sinh THPT phải trải qua là những điều kiện khách quanràng buộc các em vào hoạt động học tập Nh vậy, hoạt động của học sinh THPT

tr-là quá trình nhằm đạt tới mục đích hoàn thiện kiến thức phổ thông, chuẩn bị choviệc tiếp thu kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở mức cao hơn Điều này đòi hỏi

ở các em tính tự lập, chủ động, hoạt động lý trí của bản thân và cách nhìn đúng

đắn hơn những giá trị xã hội và những gì vốn có của cá nhân Do đó, đội ngũ nhàgiáo cần hiểu rõ hoạt động đặc trng của học sinh ở cấp học này để có thể địnhhớng cho hoạt động đó theo mục tiêu đã xác định

Từ những phân tích trên có thể hiểu: học sinh THPT là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang ngời lớn, đó là lứa tuổi nở rộ sức mạnh thể chất, tinh thần

và trí tuệ, lứa tuổi với những hoạt động đặc trng để hình thành nhân cách và phẩm chất của một công dân, hình thành thế giới quan và lý tởng, là lứa tuổi luôn luôn tự tìm hiểu bản thân mình và tìm hiểu ngời khác, lứa tuổi tự khẳng

định và tìm cách xác định vị trí, vai trò của mình trong xã hội.

1.1.2.2 Vai trò của học sinh trung học phổ thông

Nếu con ngời là nguồn lực quý giá nhất của sự phát triển xã hội thì họcsinh THPT là bộ phận kế cận nguồn lực ấy Sinh lực của một dân tộc, mộtquốc gia thể hiện ở chính lực lợng này, trong tơng lai các em sẽ là lực lợng cókhả năng “dời non lấp biển”, là “rờng cột của nớc nhà”, là “mùa xuân củanhân loại” Là những thanh niên, lực lợng giàu tiềm năng phát triển, học sinhTHPT chính là nguồn tài sản vô giá của đất nớc hôm nay và mai sau

Trang 16

Trớc đây trong lý luận về con ngời, chủ nghĩa Mác-Lênin rất quan tâm đếnthanh niên, đánh giá cao vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng thếgiới C.Mác đã hình dung thấy “tơng lai của cả loài ngời phụ thuộc vào thế hệcông nhân đang lớn”, còn Lênin đã chỉ rõ vai trò của thanh niên khi ông khẳng

định nhiệm vụ của nhà trờng là “phải đào tạo đợc một thế hệ có khả năng thựchiện vĩnh viễn CNCS”[22, tr.9] Trong t tởng của Hồ Chí Minh, vai trò của thanhniên trong đó có học sinh THPT luôn gắn với vận mệnh của dân tộc Sẽ không thểgiải phóng đợc dân tộc khỏi cuộc sống nô lệ nếu không thức tỉnh đợc thế hệ trẻ.Ngời viết: “Hỡi Đông Dơng đáng thơng hại! Ngời sẽ chết mất nếu đám thanh niêngià cỗi của Ngời không sớm hồi sinh”[32, tr.173] Trong th gửi học sinh nhânngày khai trờng đầu tiên của nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Ngời khẳng định

“công học tập của các cháu” sẽ góp “một phần lớn” để đem lại tơng lai tơi sángcho dân tộc Ngời xác định rõ vai trò của thế hệ trẻ là “chủ nhân tơng lai của đất n-ớc” bởi vì “nớc nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do thanhniên”[39, tr.185]

Ngày nay, Đảng ta đánh giá rất cao vai trò của thế hệ trẻ trong đó cóhọc sinh THPT Đảng ta đã khẳng định, họ là những ngời giữ “vai trò xungkích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12, tr.126], họ chính lànguồn nhân lực đầy tiềm năng đáp ứng đợc yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ

đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, phát triển kinh tế tri thức, hội nhập kinh tếquốc tế và khu vực Vai trò đó đợc khẳng định bởi những yếu tố sau:

Một là, với t cách là một bộ phận hợp thành nguồn nhân lực, học sinh

THPT đang học tập, tiếp thu tri thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức để sau nàytham gia vào các lực lợng lao động xã hội, góp phần quyết định “Non sôngViệt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt nam có bớc tới đài vinhquang hay không”[34, tr.33]

Hai là, học sinh THPT phần lớn là những Đoàn viên Thanh niên Cộng

sản Hồ Chí Minh, họ có sức khỏe, có tri thức, là cánh tay đắc lực “là đội dự bịtin cậy của Đảng, thờng xuyên bổ sung lực lợng trẻ cho Đảng, kế thừa sựnghiệp vẻ vang của Đảng và Hồ Chủ Tịch”[11, tr.59]

Ba là, học sinh THPT là những ngời có học vấn phổ thông hoàn chỉnh,

là lực lợng quan trọng hàng năm bổ sung vào lực lợng học sinh trong các ờng trung học chuyên nghiệp, các trờng dạy nghề, sinh viên các trờng cao

tr-đẳng, đại học ở nớc ta Với tiềm năng trí tuệ khá cao, dám nghĩ, dám làm,dám đơng đầu với thử thách, học sinh THPT sẽ là lực lợng lao động có trí tuệtrong tơng lai Đây là đặc điểm có ý nghĩa nổi bật của học sinh THPT

Trang 17

Bốn là, học sinh THPT là nguồn nhân lực kế thừa và phát triển truyền

thống dân tộc, kế thừa những thành quả của các thế hệ đi trớc, đồng thờichuẩn bị đầy đủ tri thức, đạo đức, sức khỏe, năng lực nghề nghiệp để sau nàytrực tiếp tiếp bớc cha anh xây dựng đất nớc giàu mạnh, đồng thời có nhiệm vụ

vẻ vang là chăm lo dìu dắt thiếu niên nhi đồng để tạo ra sự thống nhất, nốitiếp, kế thừa giữa các thế hệ nhằm thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, học sinh THPT với độ tuổi phát triển mạnh mẽ về thể chất, trí

tuệ và tâm hồn, họ là lực lợng có khả năng nhận thức nhanh, trí nhớ tốt, độnhạy cảm cao để tiếp nhận những tri thức khoa học cơ bản, liên tục, hệ thống

từ nhiều nguồn khác nhau Họ là một bộ phận của nguồn nhân lực, có vai tròquan trọng đối với tơng lai của nớc nhà, đợc GD-ĐT theo yêu cầu của quátrình đào tạo nguồn nhân lực, họ sẽ trở thành những con ngời toàn diện, có tài,

có đức, có sức khỏe, có năng lực, thẩm mỹ và nghề nghiệp, là nguồn nhân lực

đảm bảo cho sự thành công của công cuộc đổi mới đất nớc hiện nay

1.2 Vai trò của đội ngũ nhà giáo trong việc đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng trung học phổ thông

1.2.1 Nhà giáo và đội ngũ nhà giáo trong các trờng trung học phổ thông

1.2.1.1 Nhà giáo và đội ngũ nhà giáo

Giáo dục với t cách là một hiện tợng xã hội, đã xuất hiện và tồn tại cùngvới sự xuất hiện và tồn tại của xã hội loài ngời Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục

là chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và pháttriển những kinh nghiệm, tri thức mà nhân loại đã tích lũy đợc Nhiệm vụ đặcbiệt đó từ thời cổ đại đến nay đã trở thành một chức năng chuyên biệt và đợcgiao cho các nhà giáo

Trong đời sống tinh thần của dân tộc ta, nhà giáo là một chức danh xãhội đợc xếp đầu tiên và không hàm nghĩa giới tính Theo từ điển Tiếng Việt,nhà giáo là “Những ngời làm nghề dạy học”[57, tr.516] Nếu hiểu nh vậy thì

có thể nói rằng đất nớc ta là đất nớc của nghề dạy học, vì ở nớc ta cứ biết chữ

là có thể đi dạy học, điều này thờng thấy và rất phổ biến ở thời kỳ phong kiến

và thời kỳ Pháp thuộc Thời phong kiến, những ngời làm nghề dạy học gọi làthầy giáo (Về danh hiệu đợc gọi là “thầy đồ” – thời nhà Lê gọi tắt là “sinh

đồ”, thời nhà Nguyễn là “tú tài”) Đây là những ngời rất đợc coi trọng, đợcxếp ở vị trí rất cao, vị trí thứ hai trong ba bậc “quân, s, phụ”, trớc cả cha mẹ.Nhiều gia đình nghề dạy học là một nghề truyền thống: cả ông cháu, cha con

đều nối nghiệp làm thầy, có ngời thi đỗ cao nhng không chịu làm quan chỉnhất quyết làm thầy giáo, có ngời làm quan rồi cũng rời bỏ quan trờng để lui

Trang 18

về dạy học Với quan niệm “nhất tự vi s, bán tự vi s” đã làm thầy giáo, tựnhiên là đợc tất cả mọi ngời trong làng xóm kính trọng, kể cả những thầy giáokhông có danh tiếng hoặc đức hạnh không cao.

Sau Cách mạng tháng Tám, nền giáo dục của nớc Việt Nam độc lập ra

đời Nền giáo dục đó đòi hỏi phải có đội ngũ thầy giáo đáp ứng đợc nhiệm vụ

“diệt giặc dốt”- một trong những loại giặc nguy hiểm không kém “giặc đói”

và “giặc ngoại xâm” Hởng ứng lời kêu gọi toàn dân tham gia “chống nạn thấthọc” của Hồ Chủ Tịch, ngời cha biết chữ phải coi học tập là quyền lợi vànghĩa vụ của mình, ngời biết chữ có nghĩa vụ phải dạy ngời cha biết chữ Cáclớp bình dân học vụ, các trờng lớp bổ túc văn hóa, các trờng lớp s phạm khángchiến đợc tổ chức, thu hút đợc hàng triệu trẻ em, ngời lớn đi học, hàng vạn ng-

ời biết chữ tham gia dạy học Ngời thầy giáo trong giai đoạn này là những

ng-ời làm công tác xóa mù chữ cho nhân dân để từng bớc nâng cao dân trí phục

vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc, xây dựng và phát triển

đất nớc

Vừa tiến hành chiến dịch chống mù chữ, Đảng và Nhà nớc chủ trơngphát triển giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đại học Chủ trơngcải cách nền giáo dục thành nền giáo dục phát triển những năng lực sẵn có củathế hệ trẻ, đào tạo thế hệ trẻ thành nguồn nhân lực có trình độ, thành nhữngngời công dân hữu ích cho đất nớc Nền giáo dục đã tiến dần từ mục tiêu nângcao dân trí là chủ yếu sang mục tiêu đào tạo nhân lực, nhân tài cho đất nớc.Ngời thầy giáo giai đoạn này không chỉ đơn thuần là những ngời biết chữ đidạy cho mọi ngời biết đọc, biết viết mà phải là một đội ngũ những ngời cótrình độ, có năng lực, có nghệ thuật s phạm, tiến hành dạy học trong một tổchức chặt chẽ theo một chơng trình, kế hoạch, mục tiêu cụ thể Những nhàgiáo thời nay phải có đủ điều kiện để đào tạo đợc một lớp ngời có tri thức, sứckhỏe, đạo đức, tay nghề, đào tạo đợc một nguồn nhân lực có chất lợng ngàycàng cao đáp ứng yêu cầu của đất nớc trong giai đoạn cách mạng mới Vì vậy,

để làm rõ hơn khái niệm nhà giáo là “Những ngời làm nghề dạy học” đồng

thời quy định địa vị pháp lý của nhà giáo, tại điều 70 của Luật Giáo dục nớc

CHXHCN Việt Nam đã đa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo: “Nhà giáo là những ngời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trờng, cơ sở giáo dục khác” [21, tr.56] Trong hệ thống giáo dục quốc dân, những ngời làm

nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong hệ thống giáo dục nói chung đợc gọi lànhà giáo Những nhà giáo ở bậc đại học đợc gọi là giảng viên, những nhà giáo

ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục phổ thông trong đó

Trang 19

có giáo dục THPT đợc gọi là giáo viên Nh vậy, thầy giáo, giảng viên hay giáoviên chính là nhà giáo (từ đây trong luận văn những thuật ngữ tơng đơng trên

đợc dùng với nghĩa nh nhau)

Về “ Đội ngũ nhà giáo”, thuật ngữ “đội ngũ” đợc hiểu chung nhất là tậphợp một số đông ngời cùng đặc điểm, chức năng hoặc nghề nghiệp đợc tổ

chức thành một lực lợng xã hội Do đó, đội ngũ nhà giáo là tập hợp những

ng-ời làm nghề dạy học hay những ngng-ời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trờng, cơ sở giáo dục khác, đợc tổ chức thành lực lợng và hoạt động theo mục đích của ngành GD-ĐT đề ra.

Hai khái niệm “Nhà giáo” và “Đội ngũ nhà giáo” có mối liên hệ vớinhau nhng không hoàn toàn đồng nhất Trớc hết cả hai khái niệm đều phản

ánh những mặt, những khía cạnh liên quan đến cùng một đối tợng là nhữngngời làm nghề dạy học Song, khái niệm “Nhà giáo” phản ánh mối liên hệ vàthuộc tính bản chất, phổ biến của những ngời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáodục trong nhà trờng với tính cách là những cá nhân nói chung, từ đó giúpchúng ta phân biệt đợc một ngời nào đó trong xã hội có phải là nhà giáo haykhông Còn khái niệm “Đội ngũ nhà giáo” phản ánh mối liên hệ, thuộc tínhbản chất, phổ biến về sức mạnh, vai trò của nhà giáo với tính cách là cộng

đồng đợc tổ chức thành lực lợng để thực hiện các hoạt động có mục đích Kháiniệm này giúp chúng ta nhận biết và phân biệt về quy mô, các hình thức tồntại, vận động, biến đổi, cơ chế sắp xếp trong một tổ chức nhất định và ở nhữngthời điểm cụ thể Cả hai khái niệm đều là phơng tiện giúp chúng ta nhận định,

đánh giá tơng đối toàn diện và chính xác vai trò của “Nhà giáo” với cả tínhcách cá nhân và cộng đồng để từ đó có những giải pháp nâng cao vai trò củalực lợng này trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực

1.1.2.2 Nhà giáo trong các trờng trung học phổ thông, một số đặc

điểm và yêu cầu

Thời cổ đại, mỗi nhà giáo vừa tự xác định mục tiêu, nội dung và phơngpháp giáo dục, vừa trực tiếp lựa chọn ngời học và truyền thụ nội dung giáo dụccho học trò của mình Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội nói chung

và giáo dục nói riêng những chức năng đó không còn tập trung ở một nhàgiáo, mặc dù chỉ mang tính tơng đối nhng sự phân công chức năng này đã đợcphân hóa và hình thành ở ba nhóm chức năng: có những nhà giáo đảm nhiệmchức năng nghiên cứu những vấn đề mục tiêu, nội dung, phơng pháp (ta gọi lànhà giáo nghiên cứu giáo dục); có những nhà giáo đảm nhiệm công việctruyền thụ những nội dung giáo dục cho ngời học sau khi những nội dung đó

Trang 20

đã đợc cơ quan quản lý có thẩm quyền quyết định (ta gọi là nhà giáo dạy học);

có những nhà giáo chuyên hay chủ yếu làm việc ở những cơ quan quản lý giáodục (ta gọi là nhà giáo quản lý) Trong các trờng THPT, nhà giáo đảm nhiệmcả ba chức năng trên chỉ là số ít, còn số đông các nhà giáo chủ yếu đảm nhiệm

việc dạy học, vì thế trong luận văn, chúng tôi chủ yếu bàn về đội ngũ nhà

giáo dạy học” ở các trờng THPT.

Giáo dục phổ thông là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân,

và là một bộ phận quan trọng của hệ thống đào tạo nhân lực Mục tiêu củagiáo dục phổ thông: “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thểchất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng

động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngời Việt Nam XHCN, xây dựng

t cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên, hoặc

đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21, tr.21]

Cấp THPT là một bộ phận hữu cơ của giáo dục phổ thông, là cầu nốigiữa cấp tiểu học, THCS với bậc đại học Đây là cấp học làm cho hệ thốngGD-ĐT nớc ta mang tính chỉnh thể, hệ thống và liên thông Bởi lẽ:

Nếu cấp tiểu học có mục tiêu hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí

tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tụchọc THCS, cấp THCS có mục tiêu giúp học sinh củng cố, phát triển

những kết quả của giáo dục tiểu học, có học vấn ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hớng nghiệp để tiếp tục học

THPT, thì mục tiêu của cấp THPT là giúp cho học sinh củng cố và

phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thờng về kỹ thuật và hớng nghiệp,

có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hớng phát triển,tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộcsống lao động [21, tr.21-22]

Nh vậy, THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là thời

đoạn xác định chất lợng, hiệu quả của giáo dục phổ thông và góp phần quyết

định đến chất lợng của giáo dục đại học sau này Từ cấp học này sẽ cho ra đờimột lực lợng lao động có văn hóa, có điều kiện học hỏi nâng cao tay nghề vàcũng là cơ sở để lựa chọn và đào tạo đội ngũ trí thức cho đất nớc Chất lợng vàhiệu quả của giáo dục THPT sẽ là trình độ đích thực của nền dân trí, là tiềmnăng của nguồn nhân lực nớc ta Lực lợng chủ chốt góp phần thực hiện thắnglợi mục tiêu của giáo dục THPT chính là đội ngũ nhà giáo ở các trờng THPT

Trang 21

ở nớc ta, đội ngũ nhà giáo THPT đợc đào tạo để làm công tác giảng dạy, giáodục cho các em học sinh lớp 10, 11, 12, với nhiệm vụ truyền thụ tri thức vàuốn nắn học sinh theo những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, đội ngũ nhà giáo cótác động nhất định (có khi là quyết định) tới tơng lai của các em: sự lựa chọncông việc, tạo động cơ phấn đấu, khắc sâu trong các em ý thức thực hiện cácnghĩa vụ trong cuộc sống, giúp các em tiếp tục học lên hoặc bớc vào cuộcsống lao động.

Từ sự phân tích trên có thể đa ra nhận định: Đội ngũ nhà giáo THPT là một

bộ phận của đội ngũ nhà giáo Việt Nam, đó là những ngời làm công tác giảng dạy, giáo dục ở các trờng THPT, có chức năng chủ yếu là trực tiếp truyền bá tri thức văn hóa, rèn luyện nhân cách cho học sinh THPT nhằm chuẩn bị cho các em đi tiếp tục học tập ở cấp đại học, cao đẳng hoặc đi vào cuộc sống lao động sản xuất, cuộc sống xã hội, làm nghĩa vụ công dân với t cách là bộ phận của nguồn nhân lực phục

vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc trong giai đoạn hiện nay.

Là một bộ phận của đội ngũ nhà giáo Việt Nam nên đội ngũ nhà giáoTHPT cũng có đầy đủ những phẩm chất, nhân cách của nhà giáo Việt Nam,

đồng thời xuất phát từ yêu cầu giáo dục và đối tợng giáo dục của cấp THPT,

đội ngũ nhà giáo ở cấp học này có một số điểm đáng lu ý sau đây:

Một là, đội ngũ nhà giáo THPT là những ngời trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục ở các trờng THPT, những ngời đạt chuẩn đào tạo theo quy

định và chủ yếu đợc đào tạo tại các trờng đại học s phạm trong nớc.

Là nhà giáo thì ở cấp học nào, bậc học nào cũng phải đạt chuẩn đào tạotheo quy định, điều này đợc căn cứ vào mục tiêu giáo dục và đặc điểm đối t-ợng tác động của nhà giáo ở từng cấp học, bậc học ở cấp THPT, mục tiêugiáo dục của nhà giáo là giúp cho học sinh hoàn thiện học vấn phổ thông, cónhững hiểu biết thông thờng về kỹ thuật và hớng nghiệp, có điều kiện pháthuy năng lực cá nhân, có đủ tiềm năng di chuyển nghề nghiệp và dễ dàngthích nghi với đời sống hiện đại đầy năng động và thách thức Đối tợng tác

động của nhà giáo trong các trờng THPT là một nguồn nhân lực đang ở giai

đoạn bộc lộ và phát triển những năng lực về thể lực, trí lực và nhân cách, đó lànhững học sinh “không còn là trẻ con nhng cũng cha phải là ngời lớn”, rấtham hiểu biết, muốn thử sức nhng lại dễ bị ảnh hởng bởi môi trờng xung quanh.Lao động của nhà giáo liên quan trực tiếp đến việc khai thác và phát huy nănglực nội sinh của từng cá nhân Vì vậy, để thực hiện đợc mục tiêu giáo dục với đốitợng nhạy cảm trên, để quá trình lao động đạt đợc hiệu quả đòi hỏi nhà giáo ởcấp học này phải là những ngời có trí lực phát triển tốt, có kiến thức khoa họcchuyên ngành vững chắc, có sự hiểu biết không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ

Trang 22

những gì mình giảng dạy, mà còn phải có trình độ “kỹ thuật bách khoa” hiểu rõnhững loại hình lao động khác nhau thì mới có thể thực hiện đợc chức năng hớngnghề, hớng nghiệp cho học sinh Chỉ có các trờng đại học mà chủ chốt là trờng

đại học s phạm mới đủ điều kiện và khả năng đào tạo đội ngũ nhà giáo cấpTHPT Hơn nữa chỉ có tốt nghiệp các trờng ĐHSP thì đội ngũ nhà giáo này mới

có đủ điều kiện để hiểu rõ đối tợng tác động, xác định rõ mục tiêu giáo dục và cókhả năng bằng những thiết kế khoa học, những tác động s phạm hợp quy luật đểtác động vào học sinh, làm biến đổi học sinh theo mục tiêu đào tạo của cấpTHPT đồng thời tạo điều kiện cho học sinh phát huy đợc năng lực của mình với

t cách là một nguồn nhân lực trẻ, khỏe, năng động, có tri thức phổ thông - điềukiện cần cho một nguồn nhân lực có trình độ cao của một quốc gia đang pháttriển Vì vậy tại điều 77 của Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005 đã ghi rõ về chuẩn

đào tạo của nhà giáo THPT nh sau: “Có bằng tốt nghiệp ĐHSP hoặc bằng tốtnghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dỡng nghiệp vụ s phạm đối với giáo viênTHPT” [21, tr.59]

Hai là, đội ngũ nhà giáo THPT vừa là nhà s phạm, nhà phơng pháp vừa

để làm gì, có ý nghĩa nh thế nào trong đời sống và vận dụng những kiến thức

đó vào thực tế nh thế nào Muốn làm đợc nh vậy thì bản thân nhà giáo khôngchỉ có năng lực nắm vững nội dung, hệ thống những tri thức khoa học mìnhgiảng dạy và những kiến thức liên quan, không chỉ hiểu rõ những quy luật củaquá trình giáo dục và đối tợng giáo dục mà họ còn phải có nghệ thuật s phạm,

có sự hiểu biết và niềm tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, vào

đờng lối của Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Hơn nữa, nhà giáoTHPT dẫn dắt học sinh nắm vững tri thức, tiếp cận chân lý một cách tích cựcchủ động không phải bằng cách phán truyền những chân lý có sẵn mà phảibằng cách thiết kế, tổ chức quá trình học tập của học sinh thông qua việc sửdụng hiệu quả các phơng pháp giảng dạy, phơng pháp s phạm và kỹ năng dạy

Trang 23

học Một nhà s phạm ngời Đức đã từng nói: Ngời thầy giáo tồi là ngời mang

đến chân lý có sẵn, còn ngời thầy giáo giỏi là ngời biết dạy học sinh đi tìmchân lý Để dạy cho học sinh đi tìm chân lý thì ngời thầy phải có phẩm chất vànăng lực của một nhà s phạm, nhà phơng pháp, nhà khoa học và nhà chính trị

Ba là, nhà giáo ở các trờng THPT là những ngời cần và phải có khả năng tổ chức các hoạt động xã hội, là những ngời có tâm hồn tơi trẻ, ân cần chu đáo, có sức hấp dẫn, đầy khát vọng đẹp đẽ và sôi nổi cho dù nhà giáo đó

là những giáo viên mới vào nghề hay đã công tác lâu năm trong nghề.

Có lẽ đây là nét nổi bật của nhà giáo THPT so với nhà giáo ở các cấphọc, bậc học khác Điều này xuất phát từ chính đặc điểm tâm lý lứa tuổi của

đối tợng mà nhà giáo THPT trực tiếp đào tạo, đó là những học sinh THPT.Các em là những thanh niên đang ở giai đoạn trởng thành về mặt thể lực, tâm

lý đã mang nhiều nét của ngời lớn nhng vần còn có một vài đặc điểm của tuổithiếu niên thậm chí cả của tuổi ấu thơ Tất cả những phẩm chất đó thể hiện ởkhả năng tri giác rõ ràng, ở những rung cảm mãnh liệt, ở tính tích cực mạnh

mẽ và ở ngọn lửa nhiệt tình sôi nổi của tuổi trẻ Nhà giáo THPT cần biết quýtrọng những phẩm chất này, không dập tắt ngọn lửa nhiệt tình của tuổi trẻ,ủng hộ ý thức mạnh dạn dám nghĩ, dám làm của các em Chính sự sôi nổinhiệt tình, và những khát vọng đẹp đẽ của tuổi trẻ đã thẩm thấu vào suy nghĩ,tình cảm và hành động của nhà giáo khiến cho họ trở nên gần gũi, thân thiếtvới học sinh vừa nh ngời cha, ngời mẹ, ngời anh, ngời chị lại vừa nh ngời bạntâm giao để từ đó bằng năng lực s phạm của mình thông qua các hoạt độnghọc tập, giao lu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao hớng các em vào con đ-ờng đúng đắn Chỉ có những nhà giáo giàu tâm huyết và tài năng mới có thểlàm đợc điều đó, mới đóng góp hiệu quả cho sự phát triển và đào tạo mộtnguồn nhân lực với những con ngời có đủ phẩm chất, năng lực tạo ra mọi giátrị cho cuộc sống hôm nay và mai sau

Tóm lại, đội ngũ nhà giáo THPT là những ngời có hiểu biết khá sâu

rộng về xã hội, về con ngời và có kinh nghiệm cuộc sống phong phú Với trình

độ chuyên môn theo quy định của Luật Giáo dục, với phẩm chất chính trịvững vàng và nhân cách nhà giáo, họ chính là lực lợng quan trọng góp phầnhoàn thành mục tiêu giáo dục ở cấp THPT và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ

sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Vai trò của đội ngũ nhà giáo ở các trờng trung học phổ thông trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực

Trang 24

Khi nói về vai trò của nhà giáo, Lênin nhấn mạnh: “Đội quân giáo sphải tự đặt cho mình nhiệm vụ lớn lao là truyền bá văn minh và trớc hết phải

là đội quân chủ yếu trong công tác giáo dục XHCN” [20, tr.185], Cômenski,nhà giáo dục vĩ đại ngời Tiệp từng nói: “Dới mặt trời không có chức vụ nào uviệt hơn!” [19, tr.68], Maiacốpski - nhà thơ Nga vĩ đại cũng từng ca tụng:

Trên mặt trận thứ ba,

Nh ngọn núi chót vót,Trên mặt trận học tập,Trên mặt trận sách vở,Ngời giáo s

Khác nàoNgời chiến sỹ anh hùng

Đó là một kỵ binh nh kiểu Bu-đi-on-ni,

Đó là một chiến sỹ ở tiền phơng [19, tr.13]

Vai trò của ngời thầy quan trọng là nh thế, cho nên trong tất cả các chế

độ xã hội khác nhau, từ xa đến nay, từ đông sang tây, nhà giáo là ngời đợc quýtrọng nhất “Phải đề cao uy tín của ngời giáo viên, làm cho mọi lứa tuổi vàmọi giới phải kính trọng ngời giáo viên một cách sâu sắc, bao trùm chungquanh ngời giáo viên một cái hào quang của sự quý mến chung” (Diễn văn

đọc tại Hội nghị Ban chấp hành trung ơng Đoàn thanh niên cộng sản Liên-xôcủa Calinin, ngày 8-5-1940) [19, tr.13]

Khi xã hội càng phát triển thì giáo dục bằng hệ thống nhà trờng vàthông qua đội ngũ nhà giáo là con đờng ngắn nhất, khoa học nhất và hiệu quảnhất để truyền thụ tri thức cơ bản một cách hệ thống, chính xác cho ngời học

Đội ngũ nhà giáo trong quá trình giảng dạy và giáo dục đã xây dựng cho ngờihọc thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, phơng pháp t duy khoa học và khảnăng làm việc độc lập sáng tạo.Vì thế, nhà giáo là chủ thể quan trọng của nềngiáo dục, là nhân tố có ý nghĩa quyết định trực tiếp chất lợng giáo dục, là “ng-

ời có trách nhiệm làm thay đổi thế giới”, công việc của họ sẽ “để lại dấu ấntrong xã hội tơng lai” Có thể nhận thấy nhà giáo có vai trò rất đặc biệt và rấtkhó khăn là làm cho ngời học hình thành một nhân cách theo mục tiêu đã đợcquy định Đây là công việc mà ngời ta thờng nói một cách hình ảnh là công

việc của một kỹ s tâm hồn” Để làm đợc việc này, nhà giáo vừa phải có nhân

cách cao hơn ngời học “một cái đầu”, lại vừa phải giỏi về lĩnh vực khoa họcchuyên ngành và nghệ thuật giáo dục để giúp cho ngời học hình thành đợc

Trang 25

nhân cách đó Với vai trò nh vậy, nghề dạy học của nhà giáo là “nghề cao quý nhất”, đòi hỏi ở ngời làm nghề này phải hiểu biết nhiều hơn những ngời làm ở các ngành nghề khác do: “vừa phải biết cái nghề mà ngời học cần, lại vừa phải biết thêm nghề dạy ngời đó học” [40, tr.209].

Là một đất nớc có nền văn hiến lâu đời, một dân tộc hiếu học ViệtNam đã có một lịch sử giáo dục lâu đời với những ngời thầy đã ra công dạychữ, dạy ngời cho bao thế hệ Việt Nam khôn lớn, trởng thành Với truyềnthống “tôn s trọng đạo”, nhân dân ta luôn đề cao nghề dạy học và vị trí cao cảcủa ngời thầy Qua tục ngữ ca dao, ông cha ta còn truyền dạy: “Không thầy đốmày làm nên” hay “Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy” Kế thừa truyềnthống đó của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm thía vai trò và vị trí củangời thầy qua chính những năm đi dạy học và bằng cả chặng đờng bôn bakhắp năm châu bốn biển vừa tự học vừa tìm đờng cứu nớc Ngời căn dặn:

“Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của ngời thầy học là: chăm lo dạy dỗ con

em của nhân dân thành ngời công dân tốt, ngời lao động tốt, ngời chiến sỹ tốt,ngời cán bộ tốt của nớc nhà” [30, tr.36] Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng từngnhấn mạnh: “Ngời thầy giáo là chiến sỹ tiên phong trong việc truyền bá cáimới” [15, tr.89] Do đó: “Dù tên tuổi không đăng trên báo, không đợc thởnghuân chơng, song những ngời thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh” [29,tr.236]

Trong thời đại ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN đã chứngminh: trí tuệ con ngời là nguồn tài nguyên quý giá, mặt bằng dân trí và nguồnnhân lực phát triển là nền móng để tiềm lực trí tuệ của mỗi quốc gia phát triểnvững bền Vì thế, vị trí và vai trò của nhà giáo càng trở nên vô cùng quan trọng.Với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng và nhân dân ta đã xác định: CNH,HĐH là con đờng tất yếu, hợp quy luật để nớc ta “thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xahơn so với các nớc chung quanh, giữ đợc ổn định chính trị xã hội, bảo vệ đợc độclập chủ quyền và định hớng XHCN” [7, tr.27] Để thực hiện thắng lợi sựnghiệp CNH, HĐH, cần phải nâng cao mặt bằng dân trí, cần phải đào tạo đợc

một nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lợng cao Nhng trớc hết

phải biết nuôi dỡng, phát triển nguồn nhân lực “ngay từ tuổi ấu thơ đến lúc ởng thành và trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân về các mặt trí lực, tâm lực,thể lực, các phẩm chất đạo đức - nhân cách công dân, trình độ học vấn,chuyên môn và văn hóa ” [56, tr.17] Trọng trách này đợc giao cho ngànhGD-ĐT mà lực lợng chủ chốt là đội ngũ nhà giáo Nhận thức đợc điều đó

Trang 26

tr-Nghị quyết Trung ơng 2 khóa VIII khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết

định chất lợng giáo dục và đợc xã hội tôn vinh” [10, tr.38-39], từ đó Đảng vàNhà nớc ta đã có những chính sách động viên và phát huy vai trò của đội ngũnhà giáo, góp phần vào sự tiến bộ của công tác giáo dục nớc nhà

Đội ngũ nhà giáo THPT, lực lợng trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục cấp THPT, họ có vai trò quyết định chất lợng giáo dục ở cấp THPT, góp phần từng bớc nâng cao trình độ dân trí, phát hiện và bồi dỡng nhân tài, đào tạo một nguồn nhân lực đủ điều kiện đáp ứng đợc yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc trong giai đoạn hiện nay

Vai trò đó đợc thực hiện trên các mặt sau đây:

Một là, trang bị cho học sinh những tri thức cơ bản về thế giới quan, t ởng, chính trị, pháp luật, đạo đức, góp phần hình thành và phát triển lối sống, cách ứng xử có văn hóa của lực lợng lao động trẻ.

t-Trong mọi thời đại, sự phát triển trí tuệ của con ngời luôn gắn với mộtthế giới quan nhất định, chỉ sau khi trau dồi đợc một thế giới quan khoa họccon ngời mới có thể tự khẳng định mình trong cuộc sống ở các trờng THPT,

đội ngũ nhà giáo thông qua các môn học, trực tiếp là các môn khoa học xã hội

và nhân văn nh GDCD, Văn học, Lịch sử…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xãtrang bị cho học sinh cấp học nàynhững hiểu biết về bức tranh khoa học của thế giới, quy luật phát triển của tựnhiên, xã hội, con ngời, hiểu các vấn đề quốc tế cấp thiết nh: hòa bình, môi tr-ờng, dân số, HIV/AIDS Đây là những kiến thức cơ bản nhằm hình thành thếgiới quan khoa học cho học sinh Khi hiểu đợc những vấn đề trên học sinh sẽhình thành đợc cho mình kỹ năng phán đoán một số hiện tợng xã hội theo tduy biện chứng, biết kết hợp lý luận và thực tiễn trong nhận thức cũng nhtrong cuộc sống, từ đó có thái độ ủng hộ và thích sáng tạo ra cái mới, cái tiến

bộ, ghét sự dối trá và những t duy phản khoa học, biết sống thẳng thắn, trungthực, tôn trọng lẽ phải, sự thật và đấu tranh cho lẽ phải, cho sự công bằng

ở độ tuổi phát triển với những diễn biến tâm lý cha ổn định, học sinhTHPT đang rất muốn thử sức và tự khẳng định mình nhng lại bồng bột, thiếuchín chắn, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, bị kẻ xấu lợi dụng Đội ngũnhà giáo giúp các em hiểu đợc các giá trị xã hội cơ bản nh: tự do, dân chủ,nhân đạo, công bằng, hạnh phúc, hiểu đợc lịch sử dựng nớc và giữ nớc, bảnsắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của cách mạng Giáo dục chocác em lý tởng độc lập dân tộc và CNXH, đờng lối đổi mới đất nớc, các chínhsách lớn của Đảng và Nhà nớc cũng nh các nội dung cơ bản của Hiến pháp,

Trang 27

các đạo luật cơ bản của nớc ta Có đợc những hiểu biết trên các em sẽ nhận ra

và trân trọng các giá trị đích thực của xã hội, cộng đồng và gia đình, biết vàthực hiện tốt pháp luật, sử dụng đúng quyền tự do cá nhân và thực hiện tốtnghĩa vụ đối với xã hội Khi đó các em sẽ hình thành và tạo lập đợc lý tởngphù hợp với các giá trị cao đẹp, mọi hoạt động của các em đều nhằm biến lý t-ởng đó thành mục đích của cá nhân trong cuộc sống hàng ngày Các em tựgiác chấp hành pháp luật của Nhà nớc, kỷ luật của đoàn thể, nội quy của nhàtrờng, thờng xuyên rèn luyện tinh thần yêu nớc, tinh thần dân tộc, đấu tranhchống mọi tiêu cực trong xã hội, trong cuộc sống

Trong nhà trờng, nếu chỉ chú trọng đến việc đào tạo những con ngời cókiến thức khoa học, có thân hình khỏe mạnh mà không quan tâm đến việcgiáo dục đạo đức cách mạng, giáo dục lối sống, nếp sống và cách c xử cho họcsinh thì không thể có đợc chất lợng giáo dục toàn diện Nguồn nhân lực đợc

đào tạo sẽ chỉ là những con ngời “vô dụng”, không thể là “tơng lai của Tổquốc, là hy vọng của dân tộc” Bởi vì: “Có tài mà không có đức thì chẳngnhững không làm đợc gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa” [35,tr.126] Vì vậy, thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, đội ngũ nhà giáo THPTqua quá trình giảng dạy và giáo dục đã làm cho học sinh hiểu đợc nhữngnguyên tắc, phạm trù đạo đức nhân đạo và tiến bộ của loài ngời, của dân tộc,hiểu đợc những chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ xã hội Giúp các

em biết vận dụng những điều đã học vào việc phân tích, xử lý, đánh giá cáctình huống, các hành vi đạo đức, biết tự rèn luyện để hoàn thiện nhân cách đạo

đức của mình, biết sống và làm việc trong quan hệ đoàn kết, hợp tác, tôn trọng

và giúp đỡ lẫn nhau với những hành vi ứng xử văn hóa Từ đó, việc thờngxuyên tự giác rèn luyện những phẩm chất đạo đức làm các em sống có lý tởng

và hoài bão cao đẹp, có mục đích và kế hoạch, có ý chí, nghị lực và quyết tâmvơn lên một cách lạc quan lành mạnh, đồng thời tạo cho các em thói quen lờinói đi đôi với việc làm, phong cách ứng xử văn minh và lịch sự, lúc này các

em sẽ rất ghét lối sống ích kỷ, buông thả, lai căng, thô bạo và sự hởng thụ vậtchất tầm thờng thấp kém

Có thể nhận thấy nhà giáo THPT có vai trò quan trọng trong việc trang

bị những phẩm chất cần thiết không thể thiếu cho học sinh THPT, đó là nhữngphẩm chất góp phần rèn luyện tính kỷ luật, tác phong công nghiệp và ý thứctrách nhiệm với công việc mà nguồn nhân lực nớc ta cần và phải có

Trang 28

Hai là, trang bị cho học sinh những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại

về văn hóa, khoa học nhằm phát triển tiềm năng trí tuệ của nguồn nhân lực.

Trớc đây, khi nghiên cứu mục đích và nhiệm vụ của giáo dục, Mác,

Ăngghen và Lênin đã khẳng định mục đính của nền giáo dục XHCN là đào tạonhững con ngời phát triển toàn diện cả về trí dục, thể dục, đức dục, mỹ dục và

kỹ thuật tổng hợp Trong đó vấn đề trí dục tức là những tri thức văn hóa, khoahọc đợc đặt lên hàng đầu Các ông cho rằng muốn xây dựng thắng lợi CNCSthanh niên phải nắm đợc tất cả kho tàng văn hóa, tất cả tri thức mà loài ngời

đã tạo ra trong quá trình lịch sử, nếu thanh niên không thông hiểu những trithức đó thì CNCS cũng chỉ là mơ ớc mà thôi Kế tục và phát triển quan điểm

đó, khi giao nhiệm vụ cho thanh niên, Xta-lin đã nói: “Muốn kiến thiết thì cầnphải có tri thức, cần phải nắm đợc khoa học trớc mắt chúng ta là một bứcthành trì, bức thành đó gọi là khoa học, nó bao gồm tri thức của nhiều bộ môn.Dẫu thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải chiếm cho bằng đợc bức thành trì đó.Thanh niên nếu muốn trở thành những ngời xây dựng đời sống mới, muốn trởthành những lớp ngời thay thế chân chính của đội quân cận vệ xa kia, thì cầnphải chiếm lấy bức thành đó [24, tr.225] Vì thế, phải trang bị cho học sinhnhững tri thức khoa học có hệ thống và khả năng ứng dụng những tri thứckhoa học vào trong thực tế đến mức thành thạo và tự động hóa Trên cơ sở đóphát triển năng lực nhận thức cũng nh khả năng sáng tạo của học sinh, dẫn dắthọc sinh từ chỗ cha biết đến chỗ biết, từ chỗ giản đơn đến chỗ phức tạp, từ chỗnhận thức những hiện tợng đến chỗ nhận thức bản chất Đó là nhiệm vụ nhàgiáo phải làm để phát triển trí tuệ của học sinh

Trong thời đại KH-CN đang phát triển nh vũ bão hiện nay đòi hỏi phải

có một nguồn nhân lực với những con ngời có kiến thức về văn hóa, khoa họctheo kịp sự phát triển trên Những kiến thức đó đợc coi là vốn tri thức tối thiểubắt buộc đối với nguồn nhân lực Cần phải xác định và trang bị cho học sinhvốn tri thức tối thiểu bắt buộc đối với cấp THPT để học sinh có thể tham ravào nền sản xuất đã phát triển cao, tham gia vào các lĩnh vực khác của đờisống xã hội hoặc tiếp tục học tập trong các trờng cao đẳng, đại học Nhiệm vụ

đó thuộc về nhà giáo THPT

Thông qua giảng dạy các môn học và các hoạt động giáo dục, đội ngũnhà giáo THPT đã trang bị cho học sinh hệ thống những kiến thức phổ thôngcơ bản, kỹ thuật, tổng hợp, hiện đại, mang đặc thù Việt Nam về tự nhiên, xãhội và t duy, đồng thời trang bị những kiến thức phổ thông về kinh tế, về kỹthuật Trên cơ sở hệ thống những kiến thức đợc trang bị giúp các em hình

Trang 29

thành t duy khoa học, t duy lôgíc và diễn đạt lôgíc, kỹ năng ghi nhớ, tái hiện,phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát và vận dụng tổng hợp kiến thức để giảiquyết các vấn đề đặt ra cũng nh biết cách tự học và hoàn thiện từng bớc vốnhiểu biết của mình Với việc trang bị những kiến thức và kỹ năng trên, đội ngũnhà giáo tạo cho học sinh thái độ tôn trọng kỷ luật học tập, học tập một cáchkhoa học, có ý thức khắc phục khó khăn, chuyên cần, tự giác trong học tập, có

ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn để hoạt động có hiệuquả, có nhu cầu làm giàu vốn hiểu biết của mình, kiên trì tự học, vơn lênkhông ngừng và có hoài bão sẵn sàng đem hiểu biết phục vụ đất nớc, phục vụnhân dân Không chỉ dừng lại ở việc dạy cho các em học sinh nhận thứcnhững kiến thức trong kho tàng tri thức của nhân loại đội ngũ nhà giáo còndẫn dắt học sinh “cách nhận thức” những kiến thức đó và xây dựng cho các

em một phơng pháp t duy khoa học để các em có thể tiếp tục nhận thức cáchiện tợng và sự vật khác trong đời sống xã hội

Ba là, trang bị cho học sinh những kiến thức về lao động, kỹ thuật tổng hợp, giúp các em hớng nghiệp và chuẩn bị nghề cho tơng lai.

Ngời ta thờng bảo chọn nghề là chọn cuộc đời, chọn số phận Cuộc đờicủa một con ngời có ý nghĩa hay không chính là ở chỗ bằng lao động củamình đem lại lợi ích cho chính bản thân và cho ngời khác Công việc - đó lànội dung chủ yếu của đời sống con ngời, lao động - đó là điều kiện sống còn

đầu tiên của con ngời và của cả loài ngời Tuy nhiên, muốn cho lao độngkhông phải là nỗi cực nhọc, là “sự trừng phạt của thợng đế” nh một truyềnthuyết cổ xa đã nói, mà trở thành niềm vui, hạnh phúc, sự thỏa mãn, nguồncảm hứng và sáng tạo, mỗi ngời phải chọn cho mình một dạng hoạt động lao

động, nói cụ thể là phải chọn đợc một nghề thích hợp Nhng, trong cái biểnnghề nghiệp mênh mông, mỗi ngời muốn tìm đợc nghề phù hợp thực sự vớimình, gắn bó máu thịt suốt đời với mình đòi hỏi phải có những kiến thức và sựhiểu biết nhất định về lao động và kỹ thuật tổng hợp Chuẩn bị bớc vào thếgiới nghề nghiệp, ở lứa tuổi học sinh ngời ta chia thành ba giai đoạn: trớc 11tuổi là thời kỳ tởng tợng, mong muốn, ớc mơ; từ 11 đến 17 tuổi là thời kỳchọn thử, ớm thử; từ 17 đến 18 tuổi là thời kỳ quyết định cụ thể nghề nghiệp t-

ơng lai Do vậy, ở cấp THPT học sinh phải đợc chuẩn bị chu đáo về kế hoạchnghề nghiệp, kế hoạch cuộc đời Các em muốn hiểu rõ “mình”, hiểu rõ

“nghề”, đi sâu phân tích “thế giới nghề nghiệp” và “thế giới cái tôi” để chọnnghề cho đúng thì cần có sự giúp đỡ, t vấn của đội ngũ nhà giáo Trong quátrình dạy các môn văn hóa trực tiếp là môn Kỹ thuật công nghiệp và môn Kỹ

Trang 30

thuật nông nghiệp, dạy lao động kỹ thuật và lao động sản xuất, qua sinh hoạthớng nghiệp và hoạt động ngoại khóa, đội ngũ nhà giáo giúp học sinh bớc đầulàm quen với các nghề khác nhau trong xã hội, hiểu đợc giá trị của lao độngqua các hoạt động nghề cụ thể Từ đó giáo dục các em tình yêu đối với lao

động, thói quen lao động có kỷ luật, rèn luyện ý thức tổ chức, tinh thần tráchnhiệm trong lao động, có thái độ lao động đúng đắn và đạo đức nghề nghiệp.Qua các môn học có quan hệ đến nền kinh tế quốc dân giúp học sinh nắm đợcnhững hoạt động của những ngành chủ yếu, nghề cơ bản, nghề truyền thốngcủa địa phơng để học sinh hiểu một cách khái quát bức tranh toàn cảnh vềhoạt động nghề trong xã hội Giúp các em có nhãn quan nghề nghiệp, có hiểubiết tối thiểu, cần thiết những yêu cầu của nghề, hiểu đợc vị trí, vai trò, nhiệm

vụ, phơng hớng phát triển một số nghề chủ chốt và nhu cầu sử dụng nhân lựccủa từng vùng kinh tế cũng nh hệ thống đào tạo nghề trong xã hội nhằm kíchthích học sinh tự giác tìm hiểu các ngành nghề và xác định trách nhiệm củabản thân trong hoạt động nghề mai sau

Nh vậy, vai trò của đội ngũ nhà giáo THPT chính là trên cơ sở cung cấpkiến thức về lao động, kỹ thuật tổng hợp để giới thiệu nghề, cung cấp thôngtin về nghề nhằm điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của học sinh khichọn nghề, đồng thời hớng dẫn học sinh lựa chọn hớng học tập và nghề nghiệpmai sau phù hợp với yêu cầu xã hội và năng lực của bản thân

Bốn là, trang bị cho học sinh những kiến thức về thể chất, vệ sinh và quốc phòng nhằm phát triển các tố chất về thể lực của nguồn nhân lực trẻ.

Quá trình CNH, HĐH và xây dựng đất nớc hiện nay bắt buộc phải cómột nguồn nhân lực với những con ngời khỏe mạnh, nhanh nhẹn, vui vẻ, yêu

đời và chịu đựng đợc gian khổ Trí nhớ, sự cần cù và sự chú ý phụ thuộc nhiềuvào trạng thái chung của sức khỏe, sẽ chỉ có “một tâm hồn khỏe mạnh trongmột thân thể khỏe mạnh” Vì thế việc tăng cờng giáo dục sức khỏe và phòngbệnh là điều kiện quan trọng nhất của sự phát triển chung về thể lực, của việcnâng cao cờng độ lao động trí óc và của mọi nguồn cảm hứng sáng tạo.Hiện nay, một trong những hạn chế của nguồn nhân lực nớc ta đó là “thểlực nhỏ bé, sức khỏe hạn chế” [52, tr.105] Khắc phục hạn chế đó, con ng ờicần đợc chăm sóc sức khỏe, giáo dục các kiến thức về thể chất, sức khỏe, vệsinh ngay từ khi còn ở tuổi ấu thơ Trong các nhà tr ờng nhiệm vụ này đợcgiao cho các nhà giáo ở các trờng THPT, các em học sinh đang ở giai đoạn

đạt đợc sự trởng thành về mặt thể lực nhng sự phát triển cơ thể còn kém sovới yêu cầu thể lực của nguồn nhân lực Đội ngũ nhà giáo trong quá trình

Trang 31

giảng dạy các môn học, trực tiếp là môn thể dục và các hoạt động ngoạikhóa nh sinh hoạt chuyên đề về sức khỏe sinh sản vị thành niên, về vệ sinhmôi trờng và phòng bệnh, hội khỏe Phù Đổng các cấp trang bị cho họcsinh các phơng pháp luyện tập các kỹ thuật cơ bản của thể dục, của một sốmôn thể thao, các kiến thức về vệ sinh thân thể, giới tính, kế hoạch hóa gia

đình, bảo vệ môi trờng, phòng bệnh và rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩnquy định, có khả năng tự điều chỉnh phù hợp với sức khỏe các hoạt độngsinh hoạt, học tập, lao động, vui chơi, biết luyện tập và thi đấu thể dục thểthao ở lớp, ở trờng và ở địa phơng Bên cạnh đó đội ngũ nhà giáo còn trang

bị cho học sinh một số kiến thức quân sự phổ thông và kiến thức quốcphòng để các em biết đợc điều lệnh nội vụ quân sự, có ý thức sẵn sàng làmnghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc

Đội ngũ nhà giáo ở các trờng THPT góp phần lớn trong việc đào tạonhững con ngời cờng tráng về thể chất, trong sáng về tinh thần đáp ứng yêucầu nguồn nhân lực của sự nghiệp CNH, HĐH và xây dựng đất nớc hiện nay

Năm là, giáo dục thẩm mỹ nhằm phát triển khả năng nhận thức cái đẹp

và làm nảy nở mọi năng khiếu về nghệ thuật ở học sinh THPT.

M.Gorky đã từng nói: Con ngời, ai cũng có trong mình một phẩm chấtnghệ sỹ, một tình yêu đối với cái đẹp, tình yêu con ngời và cuộc sống Điều đócũng có nghĩa con ngời luôn khao khát vơn tới trình độ thẩm mỹ cao, biểuhiện ở việc họ không chỉ muốn cảm thụ, hởng thụ đối với cái đẹp mà còn luônmong muốn đợc sáng tạo ra cái đẹp Cái đẹp là lý tởng thẩm mỹ mà con ngờihằng mơ ớc, phấn đấu để đạt tới Bởi lẽ cái đẹp luôn tạo ra cho con ngời nhữngrung cảm thẩm mỹ đầy đủ nhất, hoàn hảo nhất Tuy nhiên khái niệm về cái

đẹp không cố định, nó thay đổi tùy theo thời đại ở nớc ta, thời phong kiến cái

đẹp đợc dựa trên t tởng thích an nhàn, xa rời lao động Ngày nay, dựa trênquan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, cái đẹp phải phù hợp với đời sống thực

tế, mô tả trung thành hiện thực, thể hiện đợc sự vơn tới cái mới, cái tiến bộ,phải phục vụ cho một lý tởng cao quý, nội dung và hình thức của cái đẹp phảithống nhất với nhau và tạo ra những cảm xúc lành mạnh

Đối với học sinh THPT, cái đẹp biểu hiện ở khả năng tổ chức cuộc sốnglao động và học tập theo quy luật của cái đẹp, lối sống văn minh, ứng xửvăn hóa, biết nói lời hay và làm việc tốt, biết hành động với những cử chỉcao đẹp Hiện nay, khi hàng ngày, hàng giờ học sinh THPT tiếp xúc với sự

đa dạng của “cái đẹp” đợc ngoại nhập (cả tốt, cả xấu) mà sự giao l u vănhóa, sự hội nhập quốc tế đem lại thì việc giáo dục thẩm mỹ cho các em thực

Trang 32

sự cần thiết và không thể thiếu đợc trong nhà trờng THPT Trong quá trìnhgiảng dạy và giáo dục đội ngũ nhà giáo THPT đã làm cho học sinh hiểu đ ợccái đẹp trong đời sống lao động và học tập, trong thiên nhiên và con ng ời,trong quan hệ thầy trò và quan hệ bạn bè, trong văn học và nghệ thuật Giúpcho các em năng lực tích lũy vốn ấn tợng và kiến thức đa dạng, phong phú

về cái đẹp trong thiên nhiên, trong đời sống và trong văn học nghệ thuậtcũng nh năng lực tham gia một vài loại hình hoạt động văn học nghệ thuật

nh : làm thơ, viết truyện, vẽ tranh Trên cơ sở đó hình thành cho học sinhthái độ tôn trọng, yêu quý, giữ gìn, bảo vệ cái đẹp chân chính, lành mạnh,văn minh và nhu cầu tự bồi dỡng cho bản thân về niềm say mê sáng tạo,tình cảm đạo đức, lý tởng, lối sống văn minh, mong muốn đa cái đẹp vàomọi lĩnh vực hoạt động của bản thân cũng nh môi trờng sống chung quanh,không khoan nhợng trớc mọi biểu hiện thiếu văn hóa, không sử dụng nhữngsản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động đang đợc du nhập từ ngoài vào nớcta

Kết luận chơng 1

Sự nghiệp cách mạng của nớc ta đang tiến hành với mục tiêu tạo ra sựtăng trởng cao về kinh tế, tiến bộ về xã hội, cải thiện và không ngừng nângcao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng nớc ta thành mộtquốc gia giàu mạnh, văn minh Để đạt mục tiêu đó, vấn đề có ý nghĩa sốngcòn là phải đào tạo đợc một nguồn nhân lực có chất lợng, điều này phụ thuộcvào quá trình GD-ĐT, trong đó đội ngũ nhà giáo giữ vai trò quyết định

Đội ngũ nhà giáo THPT là một bộ phận của đội ngũ nhà giáo Việt Nam,

là lực lợng chủ chốt ở các trờng THPT, có vai trò quyết định chất lợng giáodục ở cấp học này là đào tạo những học sinh THPT thành những con ngời có

đức, có tài, có năng lực và phẩm chất đáp ứng đợc yêu cầu của đất nớc tronggiai đoạn hiện nay

Vai trò của đội ngũ nhà giáo THPT cần đợc nghiên cứu và khảo sát trênmột địa bàn cụ thể để tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hơn nữavai trò của đội ngũ này trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở nớc ta tronghiện tại và trong tơng lai

Trang 33

Chơng 2

vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng THPT tỉnh Thái Bình

hiện nay thực trạng, xu hớng biến đổi

2.1 Thực trạng vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở các trờng trung học phổ thông tỉnh Thái Bình

2.1.1 Đặc điểm của đội ngũ nhà giáo trung học phổ thông tỉnh Thái Bình

Ngoài những đặc điểm chung của đội ngũ nhà giáo THPT nớc ta, độingũ nhà giáo THPT tỉnh Thái Bình còn có những đặc điểm riêng Những đặc

điểm riêng đó là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến kết quảthực hiện vai trò đào tạo nguồn nhân lực của đội ngũ nhà giáo Căn cứ vào

điều kiện, hoàn cảnh ra đời và sự chi phối, quy định bởi các yếu tố tự nhiên,KT-XH của tỉnh chúng tôi cho rằng đội ngũ nhà giáo THPT tỉnh Thái Bình cómột số đặc điểm nh sau:

Thứ nhất, đội ngũ nhà giáo THPT tỉnh Thái Bình ra đời và phát triển ở một tỉnh thuần nông nghèo còn nhiều khó khăn.

Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp nằm ở phía nam vùng châu thổ sôngHồng Nh một hòn đảo nhỏ với ba mặt giáp sông và một mặt giáp biển, TháiBình không có rừng núi, đất đai và khí hậu thích hợp cho việc phát triển nôngnghiệp Với diện tích 1545,4 km2, khoảng 1,8 triệu dân hầu hết là ngời Kinh,

sống chủ yếu bằng nghề nông (trên 90%), mật độ dân số 1100 ngời/km2 (số liệu năm 2003) “Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, trình độ thấp, tụt hậu so

với các tỉnh trong khu vực và bình quân chung của cả nớc; kết cấu hạ tầngkinh tế và xã hội cha đáp ứng nhu cầu phát triển với nhịp độ cao; tích lũy từnội bộ nền kinh tế còn thấp, vốn đầu t thiếu; trình độ, năng lực quản lý kinh tếcòn nhiều bất cập; nguồn nhân lực tuy đông nhng trình độ tay nghề thấp, sức

ép về lao động, việc làm còn rất lớn, nhiều vấn đề xã hội bức xúc phải tiếp tụcquan tâm giải quyết” [13, tr.32] Đội ngũ nhà giáo THPT tỉnh Thái Bình ra

đời, phát triển và sinh sống trong điều kiện đó nên chịu khá nhiều ảnh hởng và

sự chi phối của những yếu tố trên Một mặt họ là những nhà giáo có tinh thầnlao động cần cù, chăm chỉ, có khả năng chịu đựng và dám đơng đầu với tháchthức khó khăn, sống có “tình làng - nghĩa xóm” đùm bọc lẫn nhau, có tinhthần trách nhiệm trong công việc với mong muốn những gì mình trang bị chohọc sinh sẽ giúp các em trởng thành và có đủ khả năng, điều kiện tham gia

Trang 34

xây dựng quê hơng, góp phần sớm đa quê hơng ra khỏi tình trạng nghèo, tụthậu nh hiện nay Mặt khác do hoạt động và giao tiếp nhiều với những ngờinông dân của một tỉnh nông nghiệp nghèo, chậm phát triển, gia đình thậm chíbản thân nhiều nhà giáo cũng gắn với nghề nông nên họ cũng chịu những tác

động tiêu cực của tâm lý tiểu nông Số đông thụ động trông chờ, mang tính lệthuộc “ngời sao ta vậy”; trung bình chủ nghĩa “cào bằng, bình quân”, thỏamãn với những gì mình có, ít chí tiến thủ vơn lên “nhìn lên mình chẳng bằng

ai, nhìn xuống không ai bằng mình”; trọng tình cảm một cách cực đoan “trămcái lý không bằng một cái tình”, trọng tuổi tác và kinh nghiệm quá mức “sốnglâu nên lão làng”…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xãNhững yếu tố này đã gây ảnh hởng không nhỏ đến quátrình đội ngũ nhà giáo thực hiện vai trò của mình

Thứ hai, đội ngũ nhà giáo THPT tỉnh Thái Bình ra đời và phát triển ở một tỉnh có truyền thống văn hóa và truyền thống cách mạng.

Thái bình là xứ sở của các bộ môn nghệ thuật truyền thống nh: chèo,múa rối nớc, các trò chơi, điệu múa dân gian khá đặc sắc mang giá trị văn hóacao Lễ hội truyền thống cũng rất đa dạng, phong phú và chứa đựng tính nhânvăn sâu đậm Thái Bình còn là quê hơng của thơ ca, tục ngữ đã đóng góp mộtphần không nhỏ vào kho tàng văn học dân gian của nớc nhà Nghệ thuật kiếntrúc, điêu khắc, hội họa cũng khá độc đáo với trên 100 công trình đợc Nhà nớcxếp hạng Với bàn tay lao động khéo léo, ngời dân Thái Bình đã tạo nênnhững sản phẩm tinh xảo của làng chạm bạc Đồng Xâm, lụa mẹo Phơng La,thêu Minh Lãng, đặc sản bánh cáy, cây bông, đèn trời Nguyên Xá nổi tiếngtrong và ngoài nớc từ nhiều thế kỷ nay Những truyền thống văn hóa đặc sắc

đó đã tạo nên cho những ngời dân vùng quê lúa trong đó có đội ngũ nhà giáoTHPT một tâm hồn rộng mở, tinh tế, sự tế nhị trong c xử, tính giản dị trong lốisống

Thái Bình là vùng đất đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấutranh cách mạng và xây dựng đất nớc Trong kháng chiến, Thái bình là địa ph-

ơng trù phú “kho ngời vựa lúa”, không chỉ nuôi sống dân c mà còn cung cấpmột số lợng lớn về “sức ngời” và lơng thực với các phong trào dẫn đầu cả nớc;

“cánh đồng 5 tấn/ha”; “thóc thừa cân, quân vợt mức” Đội ngũ nhà giáo TháiBình với phong trào: “Mỗi nhà giáo là một chiến sỹ kiên cờng, mỗi trờng học làmột pháo đài chống Mỹ”, với sự hy sinh của 187 nhà giáo đã góp phần vào thắnglợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ [21, tr.331] Trong đổimới, Thái Bình đi đầu cả nớc về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn: điện, đ-

Trang 35

ờng, trờng, trạm và các phong trào thi đua xóa nhà dột nát, chuyển đổi cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm.Trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, Thái Bình đã mạnh dạn,

đột phá và có những giải pháp khá hiệu quả, là cơ sở thực tiễn ra đời Chỉ thị

30 của Bộ chính trị tháng12/1998 về Quy chế dân chủ cơ sở Truyền thốngcách mạng đó đã hun đúc nên cho ngời dân Thái Bình trong đó có đội ngũ nhàgiáo THPT tình cảm dân tộc sâu sắc, đức tính kiên cờng, bền bỉ, sự mạnh dạn,

tự tin, rất nhân ái, vị tha nhng cũng rất cơng quyết không khoan nhợng trớcnhững tiêu cực, những sai trái trong đời sống xã hội

Thứ ba, đội ngũ nhà giáo THPT tỉnh Thái Bình ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của giáo dục THPT tỉnh Thái Bình cấp học quan trọng của nền giáo dục XHCN Việt Nam.

Tỉnh Thái Bình đợc thành lập tơng đối muộn so với các tỉnh đồng bằng Bắc

bộ (21-3-1890) Đến năm 1902 ở Thái Bình mới có 1 trờng học với 40 học sinh và

1 giáo viên Từ đó cho đến trớc năm 1945, quy mô giáo dục nhỏ bé, phát triểnchậm, cả tỉnh mới chỉ có 2 trờng trung học (tơng đơng với cấp II hay THCS hiệnnay) chứ cha có trờng cấp III (tức THPT hiện nay) Sau cách mạng tháng Támnăm 1945, giáo dục Thái Bình hoạt động và thực hiện mục tiêu giáo dục mà nềngiáo dục mới của nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề ra, lúc này ở Thái Bìnhvẫn cha có trờng cấp III Năm 1957, trớc tốc độ phát triển khá nhanh của các trờngcấp II và thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ II (1956), Thái Bình bắt đầu mở

1 trờng phổ thông cấp III tại Thị xã gồm 8 lớp học, 400 học sinh và 18 giáo viên

Đội ngũ nhà giáo THPT tỉnh Thái Bình ra đời từ đó

Những năm gần đây đợc quan tâm và đầu t đúng mức giáo dục THPTThái Bình đã có những chuyển biến tích cực về quy mô phát triển, về chất l-ợng và hiệu quả giáo dục Số trờng, lớp THPT đợc mở rộng với nhiều loại

hình, số học sinh THPT không ngừng tăng (Xem bảng 2.1- phụ lục 01)

Chất lợng và hiệu quả giáo dục cấp THPT cũng đạt kết quả rất khảquan Với định hớng: “Tạo nguồn cho công tác đào tạo nhân lực, phải tạo nênmặt bằng dân trí tối thiểu làm cơ sở” [43, tr.35], phát triển và nâng cao chất l-ợng các cấp học, bậc học phải “gắn với thực tiễn vùng, địa phơng, đến sự tăngcờng công tác hớng nghiệp, đào tạo kỹ năng lao động, dạy nghề phổ thông vàcác kỹ năng cần thiết khác cho công việc và cho cuộc sống trong nền kinh tếthị trờng, trong thời kỳ CNH, HĐH” [53, tr.19] Gần đây, trung bình mỗi nămThái Bình có khoảng 19000 học sinh tốt nghiệp THPT (đạt tỷ lệ trên 99%), số

Trang 36

học sinh trúng tuyển vào đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hàngnăm khoảng 6000 em (đạt tỷ lệ hơn 30%) [49] Giáo dục THPT của Thái Bình

đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực quan trọng cho đất nớc

Cùng với việc mở rộng quy mô các trờng THPT và nâng cao chất lợnggiáo dục của cấp học này, tỉnh và ngành giáo dục Thái Bình đặc biệt quan tâm

đến việc xây dựng một đội ngũ nhà giáo giỏi về chuyên môn, có trình độ cảmhóa, giáo dục học trò Năm học 2004-2005: “Đội ngũ giáo viên toàn ngành cơbản đủ về số lợng”[49, tr.2] và “Chất lợng đội ngũ giáo viên các ngành học,bậc học tiến bộ đồng đều về mọi mặt, riêng trình độ chuyên môn tăng nhanh

so với năm học trớc” [48, tr.8] Trong sự phát triển đó, đội ngũ nhà giáo THPTThái Bình không ngừng tăng dần theo các năm học Tỷ lệ giáo viên đứng lớphai năm gần đây đã đạt yêu cầu của Bộ GD-ĐT; số nhà giáo đợc đứng tronghàng ngũ của Đảng năm sau nhiều hơn năm trớc; nhà giáo có trình độ đạtchuẩn và trên chuẩn khá cao, việc bố trí, sử dụng có những biến chuyển tíchcực (Xem bảng 2.2 – phụ lục 01)

Hai năm đầu của thế kỷ 21 giáo dục Thái Bình đợc vinh dự nhận cờ thi

đua dẫn đầu cả nớc do Bộ GD-ĐT trao tặng Năm học 2003-2004 có 23 đơn vị

và 43 cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợc Bộ GD-ĐT tặng bằng khen;tính đến tháng 8 năm 2006 tỉnh Thái Bình có 59 nhà giáo u tú trong số đó có

19 nhà giáo THPT…, gắn lý luận với thực tiễn chính trị - xã trong những thành tích kể trên có sự đóng góp to lớn của

đội ngũ nhà giáo THPT Chính sự phát triển về số lợng, sự vơn lên về trình độcủa đội ngũ này đã tác động tích cực, hiệu quả đến công tác giáo dục và đàotạo nguồn nhân lực Đội ngũ nhà giáo THPT chính là lực lợng tiếp thêm sứcchiến đấu cho Đảng bộ và nhân dân Thái Bình, góp phần sớm đa Thái Bình rakhỏi tình trạng nghèo, chậm phát triển nh hiện nay

2.1.2 Thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện vai trò giáo dục

-đào tạo nguồn nhân lực của đội ngũ nhà giáo ở các trờng trung học phổ thông tỉnh Thái Bình

2.1.2.1 Những thành tựu đạt đợc và những hạn chế cần khắc phục

Nhận thức sâu sắc vai trò đối với công tác giáo dục, đội ngũ nhà giáoTHPT tỉnh Thái Bình đã không ngừng cố gắng thực hiện vai trò của mình theomục tiêu GD-ĐT, góp phần phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiệnnay Có thể đánh giá những thành tựu cơ bản cũng nh những hạn chế chủ yếutrên các mặt sau đây:

Trang 37

Thứ nhất, thành tựu và hạn chế trên lĩnh vực giáo dục thế giới quan khoa học, chính trị, t tởng, đạo đức, lối sống.

Theo GS Phạm Minh Hạc thì “thế giới quan là một trong những phẩmchất cấu thành đạo đức cá nhân Đó là phẩm chất hớng về xã hội” [17, tr.95].Thế giới quan khoa học tạo niềm tin, hớng hoạt động và quan hệ của từng ng-

ời, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay của xã hội nói chung Quátrình giảng dạy những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin đợc thểhiện trong nội dung chơng trình các môn học (đặc biệt là môn GDCD), độingũ nhà giáo bớc đầu giúp các em hình thành những quan điểm duy vật biệnchứng, các quy luật phát triển của tự nhiên, của xã hội và của t duy Kết quả

điều tra cho thấy phần lớn (96,4%) học sinh THPT khẳng định: các thầy cô

giáo đã cho chúng em đợc thấy bức tranh khoa học về thế giới với sự pháttriển phong phú của thiên nhiên, với cuộc sống lao động kiên cờng và sáng tạocủa con ngời, xu thế phát triển của khoa học công nghệ hiện đại và những vấn

đề chung mà nhân loại ngày nay cần đoàn kết để giải quyết; 93% học sinh có thái độ ủng hộ cái mới, cái tiến bộ và thích sáng tạo ra cái mới; 98,5% học sinh mong muốn sống thẳng thắn, trung thực, tôn trọng lẽ phải, sự thật; 89%

học sinh thấy rằng cần phải đấu tranh cho lẽ phải, cho sự thật và sự công bằng.Với thế giới quan khoa học đợc thầy cô trang bị, học sinh THPT tỉnh TháiBình bớc vào cuộc sống lao động với niềm tin theo mục tiêu: dân giàu, nớcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trong điều kiện hiện nay, khi CNXH đang gặp nhiều khó khăn, các thếlực thù địch luôn tìm mọi cách để phá hoại thì đội ngũ nhà giáo THPT có vaitrò quan trọng trong việc xây dựng và nâng cao các phẩm chất chính trị, t tởngXHCN cho học sinh ở các trờng THPT của tỉnh Việc giáo dục cho học sinhcác giá trị xã hội cơ bản, lý tởng độc lập dân tộc và CNXH, đờng lối đổi mới

và những chính sách lớn của Đảng, của Nhà nớc giúp các em nhận ra và trântrọng những giá trị đích thực của cuộc sống về lòng yêu nớc, yêu quê hơng

Qua điều tra có tới 90% học sinh THPT ở Thái Bình hiểu rằng yêu nớc gắn

liền với yêu CNXH; yêu nớc không chỉ bằng lời nói mà phải bằng hành động

cụ thể, phải học tập, rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp, vì truyền thống của quê

hơng Đa số (86%) học sinh đã trả lời: thầy cô giáo đã giúp chúng em củng cố

lòng tự hào dân tộc, giúp chúng em ý thức đợc phải biết tôn trọng lợi ích củacá nhân, lợi ích của tập thể, của xã hội, phải có niềm tin vào con đờng mà

Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn Với câu hỏi: “Em có tin rằng sự

Trang 38

nghiệp đổi mới theo định hớng XHCN mà Đảng ta đang lãnh đạo sẽ thành

công không?”, đã có 83% học sinh trả lời “tuyệt đối tin tởng”, 7% trả lời “tin tởng”, 5% không có ý kiến gì, số còn lại trả lời “không tin” Những năm trớc

đây, khi ở một số huyện của Thái Bình xảy ra tình trạng mất ổn định về chính

trị - xã hội, nhng phần lớn (trên 90%) học sinh trong đó có học sinh THPT vẫn

bình tĩnh quan tâm đến học tập và còn tích cực tham gia vào các tổ chức đoànthể làm công tác tuyên truyền vận động gia đình, ngời thân, góp phần ổn địnhtình hình trật tự tại địa phơng Số học sinh ở các trờng THPT tỉnh Thái Bình

đứng trong hàng ngũ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tính đến tháng 12/2005 là

66102 em đạt 99,3%, mỗi năm có 107 học sinh là đoàn viên u tú đợc tham dự

lớp tìm hiểu về Đảng, năm 2003 có 1 học sinh đợc kết nạp vào Đảng CSVN[2, tr.5] Những con số đó phần nào nói lên sự trởng thành về ý thức chính trị

và lập trờng t tởng của học sinh, đồng thời khẳng định vai trò của đội ngũ nhàgiáo trong việc nâng cao phẩm chất chính trị, t tởng cho học sinh THPT tỉnhThái Bình

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Muốn xây CNXH phải có con ngờithấm nhuần đạo đức XHCN” [36, tr.264-265] Trong số các đối tợng “phảithấm nhuần đạo đức XHCN” mà Bác nói đến không thể thiếu học sinh THPT.Trong các trờng THPT việc giáo dục đạo đức cho học sinh đợc đội ngũ nhàgiáo xác định là lĩnh vực kỳ diệu bậc nhất của việc phát triển nhân cách chohọc sinh, là nhiệm vụ có tầm chiến lợc bao trùm và xuyên suốt quá trình giảngdạy và giáo dục của mình Những nguyên tắc, phẩm chất đạo đức nh: lòngnhân ái, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trung thực,khiêm tốn, dễ thích nghi, giàu lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm đợc các nhàgiáo chuyển tải qua những giá trị nhân văn trong các tác phẩm văn học, quanhững chiến thắng oanh liệt của dân tộc trong những bài học lịch sử, quanhững tấm gơng ngời tốt, việc tốt trong môn GDCD, trong các buổi sinh hoạtchuyên đề, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa đã dần cảm hóa các em họcsinh, thu hút các em vào các hoạt động học tập, rèn luyện một cách tích cực và

tự giác Vì vậy, những năm gần đây tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt, khátăng lên, hạnh kiểm trung bình và yếu kém giảm đi (Xem bảng 2.3- Phụ lục01)

Đi đôi với việc trang bị cho học sinh các chuẩn mực đạo đức của conngời Việt Nam, đội ngũ nhà giáo còn giáo dục cho các em ý thức tôn trọngpháp luật, tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nớc, kỷ luật của đoàn thể, nội

Trang 39

quy của nhà trờng Số học sinh vi phạm pháp luật những năm gần đây giảm

đáng kể Cụ thể là: năm học 2002-2003 có 33 trờng hợp học sinh THPT cóhành vi vi phạm pháp luật nh: trộm cắp, đánh nhau, gây rối trật tự nơi côngcộng, 7 học sinh liên quan đến ma túy thì năm học 2005-2006 con số đó đãgiảm xuống chỉ còn 11 trờng hợp, đặc biệt là tính đến ngày 25/5/2006 ở cáctrờng THPT trong tỉnh không có học sinh nào liên quan đến ma túy [51, tr.4]

Những số liệu trên đã nói lên vai trò to lớn của đội ngũ nhà giáo trongviệc giáo dục, đào tạo học sinh thành những con ngời phát triển toàn diện, có

“đức” có “tài” Học sinh THPT của Thái Bình khi bớc vào cuộc sống lao độngvẫn giữ đợc nét đẹp truyền thống: cần cù, chịu khó, yêu nớc, thơng ngời, trungthực, lạc quan và đầy nghị lực

Việc xây dựng cho học sinh lối sống cao đẹp, đó là lối sống tích cực,chủ động, linh hoạt, giản dị, lành mạnh, tiết kiệm, có mục đích, kế hoạch, biết

đồng cảm, chia sẻ, có kỷ luật và tinh thần hợp tác trong mọi lĩnh vực hoạt

động của đời sống xã hội đợc đội ngũ nhà giáo rất quan tâm Đa số học sinhthừa nhận, các thầy cô giáo đã giáo dục, uốn nắn cho các em rất nhiều về cách

sống, cách ứng xử có văn hóa 93% học sinh cho rằng những chuẩn mực về lối

sống mà thầy cô trang bị rất cần thiết với ngời học sinh trong thời kỳ đổi mới

và mở cửa hội nhập Một trong những nét đẹp về lối sống của học sinh THPTThái Bình đó là sự đồng cảm, sẻ chia trớc nỗi buồn, sự khó khăn của ngờikhác, biểu hiện ở hành vi “thăm hỏi, động viên giúp đỡ bạn bè khi họ gặpchuyện không vui”, ở việc “ủng hộ xây nhà tình nghĩa với tổng số tiền là71.000.000đ”, ở phong trào “phụng dỡng suốt đời bà mẹ Việt Nam anh hùng”[3, tr.3-4] Sự bất bình trớc những ngời “vô tâm trớc nỗi buồn, niềm vui củangời khác”, sự “áy náy, dằn vặt khi không giữ lời hứa”, sự “khó chịu khi thấyngời khác vứt rác ra đờng”, sự “ân hận khi có thái độ vô lễ với thầy cô” Đây

là kết quả đội ngũ nhà giáo mong đợi ở học sinh, là thành quả các nhà giáo đãtạo đợc khi thực hiện vai trò giáo dục lối sống cho học sinh

Có thể khẳng định những phẩm chất về thế giới quan, về đạo đức cáchmạng, về t tởng chính trị và lối sống của con ngời mới XHCN mà đội ngũ nhàgiáo đã trang bị cho học sinh THPT tỉnh Thái bình đã thực sự góp phần đàotạo đợc một lớp ngời lao động mới có tinh thần yêu nớc, yêu quê hơng, có ph-

ơng hớng sống đúng đắn với những ớc mơ và hoài bão cao đẹp, có lòng nhân

ái, có thói quen sống, làm việc, học tập theo kỷ luật, pháp luật, có ý thức tiếtkiệm và bảo vệ của công và đặc biệt là ý chí vơn lên không cam chịu nghèo

Trang 40

hèn để lập thân, lập nghiệp, quyết tâm phấn đấu không mệt mỏi để trở thànhngời lao động chân chính.

Tuy nhiên, ở Thái Bình vẫn còn có những học sinh thể hiện quan điểmduy tâm về thế giới, biểu hiện ở việc không tích cực học tập, rèn luyện, chorằng việc thi cử, đỗ đạt là do số phận “học tài thi phận”, nhiều em còn tin vào

thần thánh: đi lễ chùa, đi xem bói trớc khi đi thi Vẫn còn khoảng 5% học

sinh không tin tởng vào khả năng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, cải tạo bảnthân của con ngời mà cho rằng mọi cái trong vũ trụ là do thợng đế, chúa trờitạo ra Nhận thức của học sinh về các chuẩn mực t tởng chính trị XHCN vẫncha thật sâu sắc, bền vững để có thể trở thành động cơ bên trong thôi thúc các

em phải hiện thực hóa bằng hành động cụ thể Một số học sinh (5%) không

nhiệt tình và ít quan tâm, thậm chí không quan tâm đến các vấn đề thời sự,chính trị của đất nớc và thế giới, còn tỏ ra hoài nghi về thắng lợi của côngcuộc đổi mới theo định hớng XHCN ở nớc ta, cha thực sự tin tởng vào sự lãnh

đạo của Đảng, thiếu niềm tin vào sự nghiệp chung của đất nớc, của quê hơng.Một bộ phận học sinh (dù nhỏ) cha đạt chuẩn về đạo đức, vẫn còn bị xếp loạihạnh kiểm trung bình, trong số đó có những em còn yếu kém, có biểu hiện changoan, còn vi phạm kỷ luật, vi phạm nội quy của nhà trờng thậm chí có những

em còn vi phạm pháp luật, gây lo lắng, nhức nhối cho gia đình, nhà trờng,thầy cô và bè bạn Xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nên một số học sinh

vẫn còn chấp nhận lối sống tự do, buông thả: 8% học sinh cha chấp nhận, tuân thủ lối sống có kỷ luật, 11% học sinh thờ ơ với khó khăn của ngời khác, 4%

học sinh còn ham chơi đua đòi trong khi hoàn cảnh kinh tế gia đình không chophép Lối sống đẹp vẫn cha thực sự trở thành nhu cầu bên trong thôi thúc hành

vi của các em Thực trạng trên cho thấy: việc hình thành, củng cố và phát triểnthế giới quan khoa học cho học sinh, việc giáo dục chính trị, t tởng, đạo đức,lối sống cho học sinh vẫn cha đợc nh mong muốn, cha đáp ứng đợc yêu cầuphát triển con ngời toàn diện trong giai đoạn hiện nay Điều đó cũng có nghĩavai trò của đội ngũ nhà giáo trong việc hình thành những phẩm chất quantrọng không thể thiếu của nguồn nhân lực cho học sinh THPT ở Thái Bình còn

có những hạn chế nhất định Tìm ra những giải pháp khắc phục hạn chế này làvấn đề mà bản thân đội ngũ nhà giáo ở các trờng THPT và ngành GD-ĐT tỉnhThái Bình băn khoăn trăn trở nhiều năm qua

Thứ hai, thành tựu và hạn chế trên lĩnh vực giáo dục tri thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật.

Ngày đăng: 06/04/2013, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1960), Chống Đuyrinh, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuyrinh
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1960
4. Ban T tởng - Văn hoá Trung ơng (2002), Hỏi đáp về các kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ơng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về các kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ơng khoá IX
Tác giả: Ban T tởng - Văn hoá Trung ơng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
5. Nguyễn Thị Bình (1998), “Bài phát biểu tại Hội thảo nghiên cứu, phát triển tự học – tự đào tạo”, Nghiên cứu giáo dục, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu tại Hội thảo nghiên cứu, phát triển tự học – tự đào tạo”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1998
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khoá VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khoá VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ t Ban chấp hành Trung ơng khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ t Ban chấp hành Trung ơng khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Ban Chấp hành Tỉnh đoàn Thái Bình (2003), Báo cáo công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm 2003 Khác
3. Ban Chấp hành Tỉnh đoàn Thái Bình (2005), Báo cáo công tác Đoàn và phong trào thanh niên giai đoạn 2001-2005 Khác
13. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w