1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn kỹ thuật môi trường Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường đối với ngành thuỷ sản.

27 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vấn đề môi trường trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản.. Thực trạng tuân thủ Luật bảo vệ môi trường trong khai thác, nuôi trồng vàchế biến thủy sản.. Mở đầuThời gian qua,

Trang 1

MỤC LỤC

Mở đầu

Chương I Thực trạng phát triển ngành thủy sản và các vấn đề môi trường

1 Thực trạng phát triển ngành thủy sản

2 Các vấn đề môi trường trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản

3 Mục tiêu phát triển ngành thuỷ sản và dự báo các vấn đề môi trường chínhChương II Tổng quan về các quy định pháp luật bảo vệ môi trường đối vớingành thuỷ sản

1 Các quy định về môi trường trong hệ thống pháp luật liên quan đến nuôitrồng, khai thác và chế biến thuỷ sản

2 Các quy định của Luật và hệ thống các văn bản dưới Luật BVMT đối vớilĩnh vực nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản

3 Phân tích tính thống nhất, mối quan hệ của các quy định này với các quyđịnh của Luật bảo vệ môi trường và hệ thống các văn bản dưới luật bảo vệmôi trường

Chương III Tổ chức thực hiện luật bảo vệ môi trường trong ngành thủy sản

1 Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm về bảo vệ môi trường trongngành thủy sản

2 Thực trạng tuân thủ Luật bảo vệ môi trường trong khai thác, nuôi trồng vàchế biến thủy sản

Chương IV Kiến nghị hướng bổ sung, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môitrường ngành thuỷ sản

1 Hoàn thiện pháp luật về ngành thuỷ sản theo hướng lồng ghép các quyphạm về bảo vệ môi trường

Trang 2

2 Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trườngđối với ngành thuỷ sản.

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 3

Mở đầu

Thời gian qua, cùng với sự tăng tốc của nền kinh tế, ngành thủy sảncũng đã phát triển mạnh trên các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và chế biến.Những thành công trên đã nâng cao vị thế của ngành trong nền kinh tế quốcdân, dần trở thành một trong những lĩnh vực xuất khẩu chủ chốt của nước tatrong thời gian tới Tuy nhiên, mặt trái của nó là tác động tiêu cực đến môitrường đang để lại hậu quả lớn cho môi trường và con người

Ngày 27 tháng 12 năm 1993, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đãthông qua Luật bảo vệ môi trường Cũng như các bộ/ngành khác trong cảnước, ngành thủy sản cũng đã tích cực triển khai thực hiện Luật bảo vệ môitrường Các kết quả đạt được đã góp phần giảm bớt các tác động nhiều mặtcủa các hoạt động nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản đến môi trường

và con người Để có bức tranh tổng quan về thực trạng thi hành Luật bảo vệmôi trường trong ngành thủy sản, nhiệm vụ "Đánh giá việc thực hiện Luật bảo

vệ môi trường trong ngành thủy sản và đề xuất hướng hoàn thiện trong thờigian tới" đặt ra nội dung nghiên cứu các vấn đề môi trường trong các lĩnh vựcnuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản, tình hình thực hiện Luật bảo vệmôi trường trong ngành và hướng hoàn thiện trong thời gian tới Báo cáo tổngkết nhiệm vụ gồm các nội dung sau:

1 Thực trạng phát triển ngành thuỷ sản và các vấn đề môi trường

2 Tổng quan về các quy định pháp luật bảo vệ môi trường đối vớingành thủy sản

3 Tổ chức thực hiện Luật bảo vệ môi trường trong ngành thủy sản

4 Kiến nghị hướng bổ sung, hoàn thiện pháp luật về Bảo vệ môi trườngngành thủy sản

Trang 4

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nhóm nghiên cứu đã nhận được sựgiúp đỡ và tạo điều kiện của Vụ Khoa học và công nghệ, Viện nghiên cứukinh tế và quy hoạch thủy sản (Bộ Thủy sản), các bạn đồng nghiệp trong CụcMôi trường Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ và hỗtrợ kịp thời đó.

Mặc dù có nhiều cố gắng, song do hạn chế về mặt thời gian và nguồnlực tổ chức thực hiện, báo cáo chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết và hạn chế.Rất mong nhận được ý kiến góp ý để báo cáo được hoàn thiện hơn

Trang 5

1.1 Nuôi trồng thủy sản

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành thuỷ sản, nuôitrồng thủy sản (NTTS) ở nước ta có bước tiến khá dài với mức tăng bình quânhàng năm 4 - 5% về diện tích nuôi trồng và hơn 9% về sản lượng Đến hếtnăm 1998, đã có 626.330 ha mặt nước được đưa vào sử dụng NTTS, trong đó335,890 ha mặt nước ngọt (ao, hồ, hồ chứa, ruộng trũng) và 290.440ha mặtnước lợ, mặn (vùng triều, eo vinh, đầm phá ven biển) với nhiều đối tượngnuôi phong phú như tôm cá nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nuôi lồng trênsông, ngoài biển, nuôi trong đầm nước lợ, rừng ngập mặn, đem lại sản lượng537.870 tấn, chiếm 32% tổng sản lượng thủy sản cả nước Bên cạnh đó, với

354 trại cá giống sản xuất khoảng 7 tỉ cá bột, về cơ bản đã cung cấp đủ giốngnhân tạo thoả mãn nhu cầu giống nuôi ở các loại hình mặt nước và các vùngsinh thái khác nhau Trong quá trình bước đầu chuyển sang phương thức nuôibán thâm canh và thâm canh đã quan tâm đến việc chế biến và sử dụng thức

ăn công nghiệp Với 24 cơ sở sản xuất thức ăn, năm 1998 đã sản xuất 20.000tấn thức ăn nuôi tôm cá, đáp ứng một phần nhu cầu của các khu vực nuôitrồng thủy sản

Thực hiện Nghị quyết 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về một số chủtrương, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông

Trang 6

nghiệp, nhân dân ở hầu khắp các tỉnh ven biển đã tiến hành chuyển đổi vùngđất nhiễm mặn trồng lúa, trồng cói, làm muối hiệu quả thấp sang nuôi trồngthủy sản, mà chủ yếu là nuôi tôm Năm 2001, tổng diện tích chuyển đổi ởvùng ven biển đã lên tới trên 220 nghìn hecta, trong đó riêng Cà Mau đã cótới hơn 132 nghìn ha Diện tích chuyển đổi này đã góp phần quan trọng trong

số xấp xỉ 60 nghìn tấn tôm nuôi tăng thêm, nâng tổng sản lượng tôm nuôi lêngần 160 nghìn tấn, cao gấp rưỡi so với năm 2000 Đặc biệt, mô hình nuôi luâncanh tôm lúa đã đem lại hiệu quả cao và bền vững ở các tỉnh vùng đồng bằngsông Cửu Long Trong các vùng nước ngọt, tuy không sôi động như vùng venbiển nhưng quá trình chuyển dịch cũng diễn ra với qui mô không kém, vớiviệc sử dụng các diện tích mặt nước hồ chứa, sông, ao hồ nhỏ, ruộng lúa đểnuôi tôm càng xanh, cá chim trắng và nhiều loài cá có giá trị cao khác nhau.Không những góp phần quan trọng tạo sản phẩm xuất khẩu, nuôi trồng thủysản đã có đóng góp to lớn cho cải thiện cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

1.2 Chế biến thủy sản

Trước năm 1975 công nghiệp chế biến thủy sản ở nước ta phát triểnchậm, chủ yếu tập trung vào các sản phẩm truyền thống như các loại sảnphẩm khô, mắm và nước mắm Toàn miền Bắc chỉ có nhà máy đồ hộp HạLong (thành lập năm 1957) là cơ sở chế biến thủy sản công nghiệp phục vụchủ yếu cho thị trường nội địa và một số Ýt nhà máy ở miền Nam chế biếnthủy sản đông lạnh

Sau năm 1975, ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang đãđược đầu tư, xây dựng thêm một số cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh bằngnguồn vốn ngân sách và viện trợ không hoàn lại Đến năm 1980 đã xây dựngthêm 16 xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh, đưa tổng số nhà máy chế biếnthủy sản trong cả nước lên 40 với tổng cộng cấp đông là 172T/ngày

Trang 7

Đến cuối năm 1990, số cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh đạt tới con sè

102 cơ sở với tổng sản lượng đông lạnh là 60.200T Ngoài ra, các cơ sở chếbiến nước mắm, chế biến hàng khô, bột cá cũng phát triển mạnh Cả nước có

73 cơ sở chế biến nước mắm quốc doanh và hàng chục cơ sở chế biến tư nhânvới công suất khoảng 105 triệu lít/năm Sản lượng bột cá chế biến hàng nămtrên 10.000tấn Sản lượng thủy sản khô các loại trong năm 1990 khoảng7.700T

Từ năm 1991 đến nay, công nghiệp chế biến thủy sản phát triển vượtbậc không chỉ số lượng mà cả về chất lượng Nhờ sự giúp đỡ, tư vấn của cácchuyên gia dự án US/VIE.9./058 và dự án Cải thiện chất lượng và xuất khẩu

do DANIDA tài trợ, các xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh đã từng bướcnâng cấp điều kiện sản xuất và xây dựng chương trình quản lý sản xuất theoHACCP để sản xuất các sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh và có chất lượngnhiều xí nghiệp được xây mới, cải tạo Đến cuối năm 1998 đã có 186 xínghiệp chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu với sản lượng sản phẩm thủysản đông lạnh đạt khoảng 150.000T/năm; sản phẩm khô là 15.000T; nướcmắm 170 triệu lít và 9.000T bột cá Ngoài công ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long,chóng ta đã xây thêm 2 cơ sở sản xuất đồ hộp ở Kiên Giang và Thành phố HồChí Minh, đưa khối lượng sản phẩm đồ hộp năm 1998 lên 3.480T

1.3 Khai thác thủy sản

Trong khoảng 15 năm trở lại đây, sản lượng khai thác thủy sản củaViệt Nam đã tăng trưởng liên tục với mức bình quân năm là 6,9% Lao độngtrực tiếp khai thác hải sản cũng tăng và đạt gần 627.000 lao động (1997) Tuynhiên sản lượng cá khai thác ở vùng gần bờ chiếm tỷ lệ chủ yếu (trên 800.000tấn, khoảng 80% tổng sản lượng cá đã khai thác được) Hiện tại mức khai thác

ở vùng này chỉ cho phép đạt 700.000tấn Trong khi đó tiềm năng nguồn lợivùng biển xa bờ còn Ýt được khai thác, năng suất lao động thấp, tăng trưởng

Trang 8

về sản lượng khai thác chậm hơn so với tăng số lượng tàu thuyền và công suấtmáy.

Đội tàu khai thác cá biển có trang bị động lực của Việt Nam hiện nay

đã lên đến 71.500 chiếc, với tổng công suất máy 1.850.000CV Nhưng phầnlớn tàu thuyền có công suất máy nhỏ, loại lắp máy trên 90 CV chỉ chiếm 25%

Do đó rất hạn chế đi khai thác cá vùng biển xa bê

Phần lớn tàu thuyền khai thác hải sản đều kiêm nghề Ở phía Bắc có sốtàu thuyền khai thác cá đáy chiếm khoảng 35%, cá tầng khoảng 65% Trongkhi đó, số lượng tàu thuyền nói trên ở miền Trung phân biệt là 28% và 72%,còn ở Nam Bộ tỷ lệ đó bằng nhau

Những năm gần đây, được Chính phủ cho phép, Bộ Thủy sản đang thựchiện chương trình khai thác cá xa bờ, số tàu thuyền có công suất máy lớn đãtăng lên Trong tổng sản lượng hải sản 1,35 triệu tấn khai thác năm 2001, đã

có 456 nghìn tấn được đánh bắt trong vùng biển xa bờ, chiếm 33% tổng số,trong đó sản phẩm làm nguyên liệu xuất khẩu chiếm 30% Đó chính là kếtquả hoạt động của đội tàu cá xa bờ chỉ chiếm khoảng 26% tổng số tàu

Năm 2001 cũng là lần đầu Việt Nam thử nghiệm thuê tàu trần vàchuyên gia của nước ngoài để tham gia khai thác trên biển Và mặc dù còn rấtnhỏ bé, một đội tàu cá đầu tiên của Việt Nam đã lên đường đi khai thác ởvùng biển nước ngoài theo thoả thuận song phương, rút kinh nghiệm để mởhoạt động cho những năm sau

1.4 Đánh giá chung

Những thành tựu trong hoạt động khai thác và nuôi trồng, cộng với sựchuyển mình mạnh mẽ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản đã tạo nênthành tích to lớn trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, đạt giá trị 1,7 tỷUSD/năm, chiếm gần 40% kim ngạch xuất khẩu của cả khối nông nghiệp và

Trang 9

trên 12% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đứng thứ 3 sau ngành dầu khí vàdệt may.

Bên cạnh các kết quả trên, quá trình liên hợp hóa, hợp tác hoá trong lựclượng sản xuất như đòi hỏi của tự thân nó trong sự phát triển cũng đang diễn

ra với nhịp độ nhanh chóng, với nhiều cấp độ, qui mô và hình thức Đến nay,trong khai thác hải sản đã có 450 hợp tác xã (trên 15 nghìn lao động) và 4.300

tổ hợp với khoảng 21 nghìn lao động Trong nuôi trồng thuỷ sản đã có 34HTX và trên 3.400 tổ hợp Các HTX và tổ hợp đã đóng góp vai trò tích cựctrong các khâu tổ chức sản xuất, dịch vụ nguyên nhiên liệu, song đó là nhữngnhân tố cần thiết trên con đường phát triển lực lượng sản xuất theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hóa

Một sè con số của năm 2001:

- Diện tích mặt nước sử dụng để nuôi thủy sản: 887.500 ha

2 Các vấn đề môi trường trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thủysản

2.1 Trong nuôi trồng thủy sản

Bên cạnh phát triển mạnh, nuôi trồng thủy sản của Việt Nam bộc lộnhiều vấn đề bất cập liên quan đến các điều kiện môi trường và kinh tế - xãhội trong phạm vi từng vùng, từng tỉnh, cũng như trong các hệ sinh thái đặcthù Việc thiếu qui hoạch một số loại hình nuôi trồng thủy sản đã gây hại đếnmôi trường, đặc biệt ở các vùng ven biển, như chặt cây của rừng ngập mặn và

Trang 10

xây dựng đê ở các vùng triều để nuôi tôm quảng canh, thiếu các công trình kỹthuật cần thiết để làm thoái hoá môi trường, sinh thái vùng ven biển, làm giảmnăng suất sinh học của thủy vực, giảm lượng thức ăn tự nhiên, phá hoại cácđiều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển của Êu thể thuỷ sản khác nhau.

Một số tác động chính đến môi trường có thể thống kê như sau:

- Việc phá các rừng ngập mặn hoặc đắp bờ khoanh vùng rừng ngậpmặn để nuôi tôm quảng canh thô sơ đã gây ra những tác động có hại đến tàinguyên và môi trường

Hầu hết các đầm nuôi ven biển phía Bắc Việt Nam là rừng ngập mặn cónhiều loài cây, nhiều xác cây, lá và các bộ phận khác của cây Các đầm nuôichỉ sử dụng được một thời gian ngắn, sản lượng cá tôm chỉ đạt trung bình 80

- 100kg/ha/năm Sau vài năm đất trong đầm thoái hoá phải bỏ hoang, gây ralãng phí rất lớn về tài nguyên thiên nhiên Khi xây dựng các đầm người tathường phá thảm thực vật ở trong đầm, có khi phá cả các cây ở ngoài bờ đầm,

do đó mất hàng rào bảo vệ chống xói lở đã làm mất nơi ở, nơi cung cấp thức

ăn cho nhiều loài hải sản và nhiều sinh vật khác là thức ăn của chúng

- Quá trình ôxy hoá trầm tích và hình thành môi trường chua mặn trongcác đầm nuôi Ở một số đầm chất lượng đất và nước còn tương đối tốt, nhưng

do mặt bờ và sườn bờ không có cỏ, cây trao đổi nước làm cho độ pH giảmnhanh Nhiều động vật trong đầm không thích nghi kịp nên bị sốc và chết

Ở trong các đầm có nhiều chất hữu cơ, chúng phát triển rất mạnh tạothành lớp tảo bám ở đáy cản trở hoạt động của tôm, tiêu hao nhiều O2 vàoban đêm Khi chúng chết, bị phân hủy yếm khí tạo ra H2S trong đầm gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng

Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II còngcho thấy các đầm nuôi tôm quang cảnh thô sơ ở Bến Tre qua một số năm sử

Trang 11

dụng, môi trường đã thoái hoá rõ rệt Nhiệt độ nước trong đầm nuôi tômthường khá cao (có khi tới 36 - 370C) do mất đi độ che phủ của cây rừng Phù

sa bồi lắng làm mương tôm rất cạn (0,3 - 0,5m) độ đục khá cao (5 - 15cm),hạn chế sự phát triển của tảo và thuỷ sản sinh vật

- Tác động của việc xây dựng các đầm nuôi tôm quang cảnh đến sựxâm nhập mặn Trong những năm gần đây, việc đắp bờ xây dựng hàng loạtcác đầm tôm lớn dọc bờ biển của sông và ven sông đã làm giảm đáng kể diệntích phân phối nước triều, nhất là vào thời kỳ triều cường

Một số địa phương trước đây đã quai đê để trồng lúa nhưng do đất chuamặn, năng suất thấp đã chuyển một phần diện tích sang nuôi tôm, cua, cánước lợ ở trong đê như Uông Bí, Yên Hưng (Quảng Ninh), Kiến Thụy, TiênLãng (Hải Phòng) Nhưng do không quan tâm đến việc ngăn chặn suy thoáimôi trường nên năng suất thủy sản giảm Một số sinh vật chết dần khiến choquá trình khoáng hoá các phần hữu cơ bón cho lúa bị cản trở hoặc hạn chế

- Tác động của việc đắp các đầm tôm quảng canh đến quá trình xói lởven biển, ven sông Bên cạnh việc quai đê lấn biển lấy đất trồng lúa, việc đắp

đê để nuôi tôm đã lấp các nhanh sông nhỏ đổ ra biển, khiến cho đất phù sa bồi

tụ dồn vào cửa sông lớn của hệ sông Hồng hoặc ứ đọng phía trong đê Ở cáccửa sông nhỏ, không còn đất bồi nên bị sóng làm xói lở mạnh Điển hình làđoạn bờ dọc từ Giao Hải đến Văn Lý (tỉnh Nam Hà) Trên một đoàn bờ biểndài 20km không còn bãi triều lầy và đang bị xói lở mạnh Cách đây khoảnggần một thế kỷ, một nhánh cửa sông Hóòng đã đổ ra đây, nhưng nay chỉ cònmột nhánh sông Sò với dòng chảy yếu ớt

Một số nơi nhân dân lại sử dụng các vùng đất bồi lắng đang trong quátrình hình thành bãi triều có rừng ngập mặn để đắp đầm nuôi tôm (Thái Thụy,Tiền Hải, Xuân Thủy, Kim Sơn, Nam Hoàng Hóa, Nam cửa Lạch ghép) Dotác động của gió, bão nên nhiều đầm bị vỡ hoặc bị xói lở vì nền đáy là bùn

Trang 12

non, thành phần cơ giới thường là cá bột, cát nhỏ thiếu chất dính kết, gây ralãng phí lớn.

- Tác động của việc nuôi tôm, cá đến sự ô nhiễm nguồn nước So vớicác ngành công nghiệp, nông nghiệp thì sự ô nhiễm môi trường nước do nuôitôm, cá quảng canh thô sơ như hiện nay không lớn Tuy nhiên do nhốt lâungày trong đầm, thay nước Ýt nên môi trường trong đầm bị ô nhiễm mạnh do

sự hình thành H2S và NH4 phân hủy các xác cây bị ngập mặn Một hiện tượngkhá phổ biến trong các đầm nuôi tôm quảng canh thô sơ ở cả miền Bắc vàmiền Nam là có nhiều tảo dao động như oscillatoria subbervis, O.limota Cácloài tảo này thường phát triển thành lớp nhờn dày, màu lục, chúng chết sẽ làmcho nước trong đầm bị thối, lượng ôxy hoà tan giảm, làm cho chất lượng đầmthoái hoá nhanh Khi tháo đầm đánh bắt tôm cá, nước có tác chất độc hại trênchảy ra sông rạch làm ô nhiễm vùng xunh quanh

Ở một số địa phương, nhất là ở ven biển Nam Bé, trong những năm gầnđây người nuôi tôm đã quan tâm đến việc diệt cá trong các đầm nuôi Thuốcdiệt cá chủ yếu là cây ruốc cá hoặc bã chè Thường người ta rắc nước thuốcvào đầm cho cá chết và để cho cá chết thối làm thức ăn cho tôm Do vậy nướctrong đầm bị ô nhiễm nặng và ảnh hưởng đến các đầm lân cận và kênh rạch,tiêu diệt nhiều sinh vật ở đó Không những thế mùi hôi thối nồng nặc đã ảnhhưởng đến sức khoẻ của con người

- Tác động của việc nuôi tôm tới môi trường và sinh thái vùng biển.Chỉ tính riêng Quảng Ninh với 10.286 ha đầm nuôi tôm được xây dựng đãlàm giảm tới 40% tổng diện tích vùng triều giảm 43% diện tích rừng ngậpmặn Các địa phương khác cũng có hiện tượng tương tự

Việc đắp bờ đầm, nhất là những đầm nằm sâu trong sông đã ảnh hưởngtới việc lưu thông nước của thủy lực, nhất là về mùa mưa, gây ảnh hưởng tớinông nghiệp và giao thông đường thủy

Trang 13

2.2 Trong chế biến thủy sản.

Tác động môi trường của ngành chế biến thủy sản thể hiện từ góc độchất thải là chính, trong đó nước thải đang là vấn đề lớn nhất Ở Việt Nam, dokhông chú trọng đến môi trường ngay từ khâu thiết kế và xây dựng cơ sở hạtầng, nên nhiều cơ sở chế biến thủy sản gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng, ảnh hưởng đến môi trường, sinh vật và cộng đồng xung quanh Một sốkhía cạnh môi trường đặc trưng của ngành chế biến thủy sản có thể kể đếnnhư sau:

a Nước thải

Nước thải chế biến thủy sản đặc trưng bởi các thông số ô nhiễm nhưmàu, mùi, chất rắn không hoà tan, chất rắn lơ lửng, các vi sinh vật, chỉ sốBOD, COD, pH, nhiệt độ v.v

Màu trong nước thải thủy sản do các chất hữu cơ bị phân rã; một sốchất ở dạng keo và dạng hoà tan

Trong nước thải từ các cơ sở chế biến thủy sản có chứa các chất rắnkhông hoà tan; các mảnh vụn thủy sản do quá trình chế biến tạo ra như:xương cá, vẩy, đầu tôm các chất này gây cản trở cho quá trình xử lý, vì vậycần tách, lắng chúng trước khi đưa nước thải vào các hệ thống xử lý sinh học

Trong nước thải thủy sản có rất nhiều loại vi sinh vật, các vi sinh vậtnày có sẵn trong nguyên liệu thủy sản (ruột, da, mang) hoặc từ môi trườngbên ngoài Nhóm vi sinh vật chỉ thị Colifrom và Ecoli được sử dụng để xácđịnh vi khuẩn gây bệnh đường ruột trong nước

Chỉ sè BOD (Biochemical oxygen Demand) là hàm lượng ôxy hoà tan(thể hiện bằng gam hoặc miligam ôxy theo đơn vị thể tích) phản ánh đượclượng các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ trong mẫu nước

Ngày đăng: 13/05/2015, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w