1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN

89 992 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 121,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là chất độc hạicó trong rác y tế, các loại hóa chất

Trang 1

Việc bảo vệ môi trường cũng bao gồm: việc giải quyết ô nhiễm do nhữngnguồn nước thải, ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sinh học,các chất thải trong y tế Để xử lý các loại chất thải trên là một vấn đề thật sựkhó khăn và nan giải Với mỗi loại chất thải, chúng ta cần có những biện pháp

xử lý khác nhau từ những khâu thu gom đến khâu tiêu hủy cuối cùng

Một trong những loại chất thải đó thì các chất thải trong y tế khá đượcquan tâm là chất thải y tế (CTYT) vì tính đa dạng và phức tạp của chúng.Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấpbách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trườngdân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng

Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đếnnhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng Từ năm 1997các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành Có 843 bệnh việntuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặtchẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng Ô nhiễm môitrường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả cácchất thải bệnh viện

Trang 2

Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là chất độc hại

có trong rác y tế, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thảiphóng xạ và các vật sắc nhọn … Tất cả các nhân viên tiếp xúc với chất thải y

tế nguy hại là những người có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm nhữngngười làm việc trong các cơ sở y tế, những người bên ngoài làm việc thu gomchất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do

sự sai sót trong khâu quản lý chất thải

Nước ta có một mạng lưới y tế với các bệnh viện được phân bố rộngkhắp trong toàn quốc Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì cho đến nayngành y tế có khoảng 12.569 cơ sở khám bệnh với 172.642 giường bệnh Cáchoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu

và đào tạo trong các cơ sở y tế phát sinh ra chất thải Các chất thải y tế dướidạng rắn, lỏng hoặc khí có chứa các chất hữu cơ, nhiễm mầm bệnh gây ônhiễm, bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường bệnh viện và xung quanh bệnhviện, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân

Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh là một trong 2 bệnh viện lớn củatỉnh với quy mô 900 giường bệnh và 1300 cán bộ công nhân viên đã và đangđáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân Tuy nhiên trong quá trìnhhoạt động đã phát sinh ra một lượng lớn chất thải rắn y tế nhưng hiện tại việcthu gom, quản lý và xử lý chất thải y tế tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh QuảngNinh còn nhiều hạn chế

Trên cơ sở các số liệu điều tra thực tế lượng chất thải rắn y tế phát sinhtại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, hiện trạng phân loại, thu gom và xử

lý chất thải rắn y tế để đánh giá tải lượng và hiệu quả quản lý đối với lượngchất thải y tế phát sinh Từ đó tạo cơ sở cho việc lựa chọn giải pháp quản lý,thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh

Trang 3

được hiệu quả hơn góp phần giảm thiểu tới mức thấp nhất tác động của nó đốivới môi trường và sức khỏe cộng đồng

II MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Y tế đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của tất cả mọingười, y tế là một trong các thành phần của sự phát triển kinh tế- xã hội củamột địa phương, một khu vực Ngành y tế đã phòng và chữa bệnh các lọaibệnh của các sinh vật (con người và động vật) bị nhiễm bệnh, trong đó có cácbệnh bị gây nên do ô nhiễm môi trường Thế nhưng, chính quá trình hoạtđộng của mình ngành y tế cũng đã gây nên rất nhiều vấn đề gây ô nhiễm môitrường và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và hoạt động sống của cácsinh vật

Đã từ rất lâu, việc giải quyết sự ô nhiễm môi trường trong các hoạt độngcủa ngành y tế đã là một vấn đề nhức nhối của toàn xã hội và trên thế giới.Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh cũng như các bệnh viện khác đang gặprất nhiều khó khăn trong việc quản lý môi trường bệnh viện và chất thải phátsinh từ các hoạt động y tế

Luận văn được thực hiện nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá lượng phát sinh và thành phần chất thải rắn y tế phát sinh tạiBệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá hiện trạng thu gom, quản lý và xử lý chất thải y tế tại Bệnhviện đa khoa tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom, quản lý và xử lý chất thải y tế

III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

- Tổng quan về chất thải rắn y tế

- Thu thập thông tin về Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh

- Hiện trạng quản lý chất thải y tế

Trang 4

- Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện.

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom, quản lý và xử lý chấtthải y tế

IV GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:

- Thời gian thực hiện: tháng 7/2011 đến 9/2012

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được giới hạn trong phạm vi: “Đánh giáhiện trạng thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoatỉnh Quảng Ninh và đề xuất cỏc biện phỏp cải thiện”

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu trên các phương pháp nghiêncứu được sử dụng:

Phương pháp thu thập thông tin tài liệu: kế thừa các kết quả nghiên cứu

đã có sẵn, thu thập phân tích qua các báo cáo, đề tài nghiên cứu, các báocáo đánh giá tác động môi trường

Phương pháp khảo sát thực địa: khảo sát, thu thập số liệu tại bệnh viện Phương pháp khảo sát tài liệu

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI Y TẾ

1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN:

1.1.1 Định nghĩa về chất thải rắn

Chất thải rắn là tất các các chất thải ở dạng rắn hoặc bùn được thải ratrong quá trình sinh hoạt, trong các quá trình sản xuất, dịch vụ và trong cáchoạt động phát triển của động thực vật

1.1.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn:

Chất thải rắn phát sinh trong quá trình sinh hoạt, dịch vụ, các quá trình

sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.

Sơ đồ 1: Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn

(Nguồn: Giáo trình chất thải rắn và chất thải nguy hại)

CT sinh hoạt

CT dịch vụ CT nông nghiệp CT công nghiệp

Khoáng sản Làm giàu Sản xuất Tái chế Sán xuất phụ

Tiêu thụ

Thải

Trang 6

1 1.3 Phân loại chất thải rắn:

Tuỳ vào tính chất và đặc điểm phát sinh chất thải mà chất thải răn đượcphân loại như sau:

* Phân loại theo tính chất:

- Độc, không độc

- Cháy được, không cháy được

- Bị phân huỷ sinh học, không bị phân huỷ sinh họck

* Phân loại theo đặc điểm nơi phát sinh:

- Chất thải sinh hoạt

- Chất thải công nghiệp

- Chất thải nông nghiệp

- Chất thải y tế

1.2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ:

1.2.1 Định nghĩa về chất thải y tế:

Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy trong tổng

số chất thải tạo ra từ các hoạt động y tế, gần 80% là chất thải thông thường(tương tự như chất thải sinh hoạt) còn lại xấp xỉ 20% là những chất thải nguyhại bao gồm chất thải nhiễm khuẩn và chất thải giải phẩu chiếm tới 15%; cácvật sắc nhọn chiếm khoảng 1%; các hóa chất, dược phẩm hết hạn chiếmkhoảng 3% và các chất thải độc di truyền, vật liệu có hoạt tán phóng xạ chiếmkhoảng 1%

Theo qui chế về quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số43/2007/ QĐ- BYT ngày 3/12/2007 của Bộ Y tế: chất thải y tế là chất thải ởdạng rắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguyhại và chất thải thông thường

Trang 7

1.2.2: Phân loại chất thải y tế

1 Chất thải lây nhiễm: gồm 4 nhóm

- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưới dao mổ đinh mổ, cưa, các ống tiêm mảnh thuỷ tinh vỡ

và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (Loại B): Là chất thải bị thấm máy thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

2 Chất thải hoá học nguy hại gồm có:

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế: có đặc tính như gây độc, ănmòn dễ cháy bao gồm:

- Formadehyde: được sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướpxác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số các khoa

- Các hóa chất quang hóa học: có trong các dung dịch dùng cố định vàtráng phim

- Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế bao gồm các hợpchất halogen như methylen chlorid, chloroform, freons, trichloro ethylen, cácthuốc mê bốc hơi như halothan; các hợp chất không có halogen như xylen,aceton, isopropanol, toluen, ethyl acetat và acetonitril,

Trang 8

- Oxit ethylene: được sử dụng để diệt khuẩn các thiết bị y tế, phòng phẫuthuật nên được đóng thành bình và gắn với các thiết bị diệt khuẩn Loại khínày có thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người.

- Các chất hóa học hỗn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khửkhuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh …

- Chất gây độc tế bào gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dínhthuốc gây độc tế bào và các chất tiết ra từ người bệnh được điều trị bằng hoátrị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy),dung dịch AgNO3 thải ra sau khi rửa phim chụp X quang

3 Nhóm chất thải phóng xạ:

Chất thải phóng xạ sinh ra trong các cơ sở y tế từ các hoạt động chẩnđoán định vị khối, hóa trị liệu và nghiên cứu phân tích dịch mô cơ thể Chấtthải phóng xạ tồn tại dưới cả ba dạng: rắn, lỏng và khí

Chất thải phóng xạ rắn gồm: các vật liệu sử dụng trong các xétnghiệm, chẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ,giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ …

-Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân tố phóng xạphát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh,các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ …

- Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như

133Xe, các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ …

4 Các bình chứa khí có áp suất.

Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình dung khí Các bình này dễgây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

Trang 9

5 Chất thải thông thường:

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,hoá hịc nguy hại, phóng xạ, dễ chát nổ bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnhcách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như cac chai lọthuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xươngkín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá họcnguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vậtliệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: Lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

- Các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm trong bệnh viện

- Các hoạt động hàng ngày của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và thân nhân

Trang 10

Khoa dược

Điều trị ngoại trú

Điều trị nội trú tại khoa, phòngPhẫu thuật

Cấp cứu

Hồi sức cấp cứu

Xuất viện

Thăm bệnh

Tái khám

BV

Người

bệnh

Dịch vụ ăn uống

Sơ đồ 2: Hoạt động khám và điều trị của bệnh nhân

1.2.4 Khối lượng chất thải phát sinh

Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý,

mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như:

 Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất

 Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa

 Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nộitrú và ngoại trú

 Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực

 Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điềutrị và chăm sóc

 Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân

Tham khảo tài liệu nước ngoài cho thấy khối lượng chất thải rắn y tếcũng được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và hệ số phát thải phụ thuộc

Trang 11

vào nhiều yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, thay đổi theo loại bệnh việnmức phát thải khác nhau theo các khoa phòng chuyên môn cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước

Chất thải bệnh viện nói chung (kg/giường bệnh/ngày)

Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)

(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004

Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện

Nguồn phát sinh Lượng chất thải theo từng bệnh viện

(kg/giường bệnh/ngày)

Bệnh viện đại học y dược 4,1 – 8,7

Bệnh viện tuyến huyện 0.5 – 1,8

(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004)

Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện

Bệnh phẩm chung toàn bệnh viện 0,2

(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004)

Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnhviện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải

Trang 12

rắn y tế cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thảinguy hại.

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y tế

(kg/ giường bệnh /ngày)

Chất thải y tế nguy

hại (kg/ giường bệnh/ngày)

lệ sử dụng giường bệnh) và còn một lượng chất thải sinh hoạt từ nhân viên y

tế trong bệnh viện Đối với các bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có mặtmột số lượng đáng kể người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi, một vài dịch vụkhác như nhà hàng ăn uống, sách báo v.v mà số lượng người vãng lai này khálớn nhiều khi tương đương với số bệnh nhân nằm viện Chính hiện trạng nàylàm cho khối lượng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểmthành phần chất thải bệnh viện cũng thay đổi theo (có thể tăng tỉ lệ khối lượngchất thải rắn sinh hoạt) Kết quả này dẫn tới sự quá tải hệ thống thu gom và

xử lý chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh Sự quá tải này cũng lànguyên nhân dẫn đến quản lý, thu gom và phân loại và xử lý thiếu nghiêmngặt và không tuân thủ các qui định bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng là một

tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại có thể bị lẫn vô chất thải rắn chung và phát tán

ra môi trường bên ngoài, trở thành nguồn gây ô nhiễm và có khả năng gây racác rủi ro về môi trường và sức khoẻ

Bảng 1.5: Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện

Trang 13

Giá trị

%

A Thành phần giấy các loại bao gồm cả mảnh carton 2,9

C Thành phần thuỷ tinh, ống thuốc tiêm, lọ thuốc tiêm, bơm kim

D Bông, gạc, băng, bột bó gãy xương, nẹp cố định 8,8

E Chai thuốc, túi thuốc, chai dịch, túi dịch, túi máu, thành phần

(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải)

Chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm các thành phần chất thải trong cácmục phân loại C,D,E,F

1.3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI:

Có nhiều phương pháp có thể áp dụng để xử lý và tiêu hủy chất thải y tế.Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm nhất định Việc áp dụng cácphương pháp này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi quốc gia,địa phương, các cơ sở y tế

1.3.1 Các phương pháp xử lý ban đầu:

1 Tiệt trùng bằng hơi nước:

Trong nhiều năm qua, hơi nước vẫn được sử dụng có hiệu quả trong tiệttrùng các thiết bị, vật tư và dụng cụ y tế

Xử lý tiệt trùng bằng hơi nước đòi hỏi một số điều kiện như các tác nhânlây nhiễm trong chất thải phải tiếp xúc với nhiệt độ cao trong một thời gian đủ

để tiệt trùng Có hai loại quy trình tiệt trùng là quy trình hơi nước và quy trìnhđốt nóng khô Nếu so sánh về nhiệt độ, quy trình tiệt trùng bằng hơi nướcnhanh hơn quy trình đốt nóng khô từ 30 đến 200 lần

Trang 14

Có hai thiết bị tiệt trùng thông dụng là nồi hấp (autoclve) và nồi chưng(retort) đều được thiết kế theo kiểu dạng buồng tiệt trùng có bộ điều khiểnnhiệt độ và áp suất tiệt trùng bằng hơi nước Tuy nhiên loại nồi hấp vẫn được

sử dụng thông dụng hơn trong tiệt trùng vì lý do thành nồi có hệ thống tiềnđốt nóng, vì vậy thời gian làm nóng chất thải nhanh hơn, dẫn tới làm giảmquá trình đông tụ nước bên trong buồng hấp và trên chất thải

Đối với những bệnh viện lớn, vị trí đặt các nồi hấp nên chọn ở những địađiểm để các công ty thu gom đến thu gom các loại chất thải bệnh viện

Nhược điểm lớn nhất của các phương tiện tiệt trùng bằng hơi nước là khókhăn trong tiêu hủy cuối cùng các chất thải đã qua tiệt trùng Các chất thải đãqua tiệt trùng trông vẫn như chất thải chưa qua tiệt trùng, cho nên rất khóthuyết phục các cơ sở thu gom và xử lý và khó được chấp nhận đưa vào xử lýchung với rác thông thường

Tiêu hủy cuối cùng kim tiêm và bơm tiêm đã tiệt trùng là một vấn đề nangiải vì các chất thải sắc nhọn này có thể gây tổn thương cho công nhân xử lýrác Mặc dù sử lý tiệt trùng bằng nồi hấp là một phương pháp xử lý kim tiêmhoàn hảo nhưng các kim tiêm sau khi tiệt trùng vẫn phải phá hủy hoặc bọc kíntrước khi chôn

2 Làm mất hoạt tính/ tiệt trùng bằng nhiệt

Phương pháp nhiệt khô được sử dụng để tiệt trùng các vật tư, thiết bị vàdụng cụ y tế, xử lý các chất thải lây nhiễm Bảng dưới trình bày thời gian vànhiệt độ cần thiết để tiệt trùng nhiệt khô trong các điều kiện lý tưởng Cácđiều kiện này rút ra từ thử nghiệm đối với giống vi trùng Gram dương, hình

que Bacillus.

Trang 15

Thời gian tiệt trùng(giờ) 6 3 2,5 1 0,5

Nhiệt khô kém hiệu quả hơn nhiệt ẩm khi làm tác nhân tiệt trùng và cầnnhiều thời gian hơn vì vậy chi phí tốn kém hơn là tiệt trùng bằng nước

3 Tiệt trùng bằng hơi gas:

Nguyên lý của phương pháp này là để chất thải tiếp xúc với nồng độ caocủa hơi gas tiệt trùng trong các điều kiện cần thiết và thời gian cần thiết vàthời gian xử lý yêu cầu Các tác nhân tiệt trùng trong các điều kiện cần thiết

và thời gian xử lý yêu cầu Các tác nhân tiệt trùng gồm oxit etylen và foc –man – đê – hit à hiện nay loại oxy già ( hydro peroxit) đang được nghiên cứulàm tiệt trùng bằng hơi gas Các chất oxit etylen và foc – man – đê – hit đều

có khả năng gây ung thư ở người và nếu để rò rỉ các chất này ra môi trườngsau khi xử lý sẽ gây ra các rủi ro tiếp xúc phải hóa chất này Do vậy phươngpháp này hầu như không được khuyến khích sử dụng nếu chỉ sử dụng hai loạihóa chất trên làm tác nhân tiệt trùng

4 Khử trùng bằng hóa chất:

Phương pháp khử trùng bằng hóa chất là cách bổ sung hóa chất để diệthoặc làm mất hoạt tính của tác nhân lây nhiễm Được sử dụng thường xuyêntrong y tế để làm sạch thiết bị và vật tư, để lau chùi sau phẫu thuật và làmsạch sàn tường và bàn ghế, xử lý chất thải lây nhiễm

Khử trùng bằng hóa chất áp dụng phù hợp nhất trong xử lý các chấtlỏng, đồng thời còn để xử lý chất thải rắn lây nhiễm đã được cắt vụn trước

xử lý Các chất thải rắn lây nhiễm nguyên vẹn sẽ chỉ có khả năng xử lý khửtrùng bề mặt

5 Chiếu xạ:

Trang 16

Được sử dụng để tiệt trùng một số sản phẩm và vật tư nhất định Tuynhiên phương pháp này tốn kém và yêu cầu rất cao về thiết bị và trình độnhân viên và đặc biệt là vấn đề nan giải tiêu hủy nguồn phóng xạ.

Tia sáng cực tím không thể xuyên sâu vào vật liệu cho nên chỉ sử dụnghạn chế cho tiệt trùng bề mặt Các loại tấm giấy thải loại có thể sử dụng tiasáng cực tím để tiệt trùng Các tia grama từ đồng vị phóng xạ coban- 60 cóthể sử dụng để chiếu xạ khử trùng chất thải lây nhiễm, do có khả năng xuyênsâu Tuy nhiên, công nghệ này hiếm khi được áp dụng trong xử lý chất thải

- Để khử độc cho chất thải nguy hiểm

- Giảm thể tích và lượng chất thải cần chôn lấp

- Thu hồi nhiệt để sử dụng cho các quá trình: lò hơi, hệ thống điện côngsuất nhỏ

Thành phần chất thải có tiêu hủy

Chai nhựa đựng hóa chất, dịch truyền, ống truyền dịch, túi đựng máu, túihóa chất

Bông băng, kim tiêm, ống tiêm, chai lọ thủy tinh, ống thuốc, các bệnhphẩm sau mổ

Chất hữu cơ + O2

Khói lò: CO2, CO, SO2, NOx, HCl, dioxin, furan, kim loại thăng hoa

Tro, xỉ

Trang 17

Khi phân tích thành phần chất thải và chất rắn nguy hiểm: C, H, O, S, W,tro nếu hàm lượng C, H lớn sẽ thích hợp cho sử dụng phương pháp đốt, ngượclại nếu ẩm và tro lớn nên dùng phương pháp khác.

Bảng 1.3 Các chất thải có thể và không nên đốt

Chất thải có thể đốt được Chất thải không nên đốt

- Dung môi

- Dầu thải, bùn dầu

- Chất thải bệnh viện, dược phẩm quá

- Chất thải có điểm bắt cháy < 400 C

- Chất thải phóng xạ (trừ quần áo bảo hộ)

- Chất thải vô cơ

Trong lò đốt bã thải nếu

- Nhiệt độ < 9000 C sẽ tạo ra dioxin, furan, VOC (chất hữu cơ bay hơi)

- Nhiệt độ > 9000C – 12000C các chất hữu cơ cháy hết

- Nhiệt độ > 12000C các chất PCBs cháy hết

Để duy trì nhiệt độ cao > 12000C trong lò đốt nếu nhiệt trị của chất thảithấp sẽ không đạt vì vậy phải bổ sung nhiên liệu phụ như than, dầu FO, dầu

DO, khí thiên nhiên

Thời gian lưu của chất thải trong lò đốt đủ để chất cháy hết, đối với phakhí ít nhất là 2 giây còn với pha rắn phải một vài giờ tùy loại và kích thướcchất thải phải đảm bảo tiếp xúc tốt giữa oxy không khí với chất thỉa bằng đảotrộn pha rắn và tăng tốc độ dòng khí

Sản phẩm của quá trình đốt là khói lò có chứa bụi, các oxit kim loạinặng, các khí axit vì vậy phải xử lý trước khi chất thải vào không khí

Trang 18

Xử lý bằng: Cyclon, lọc điện, lọc túi, tháp rửa

Xử lý khí bằng tháp hấp thụ: dùng các dung dịch kiềm của sữa vôi, sooda

để hấp thụ hóa học

Tro của lò đốt đem chôn l

1.3.3 Phương pháp trơ hóa:

Ổn định/ đóng rắn (Stabilization) là công nghệ trộn chất thải với ổn định/chất đóng rắn nhằm cố định chất thải trong cấu trúc của vật liệu rắn hoặc tạothành thể rắn bao lấy chất thải, làm cho chất thải nguy hại ít linh động hơn dogiảm độ hòa tan, giảm độ bay hơi, ít phản ứng hơn, giảm độ độc hại củaCTBNH và giảm sự rò rỉ của CTNH ra môi trường bằng cách bao bọc cách lychất thải nguy hại với môi trường

Phương pháp này bao gồm:

- Sự trộn lẫn giữa chất thải xi măng với một số vật liệu khác

- Tiêu hủy bằng cách cố định các chất độc có trong chất thải mà khônggây ra nguy hại lớn cho nguồn nước hoặc đất

- Thích hợp để tiêu hủy tro và các loại chất thải có chứa kim loại nặng Đối với chất thải y tế phương pháp trơ hóa chỉ thích hợp để xử lý tro của

lò đốt chất thải y tế Cho vôi, nước, xi măng để trộn đều thành khối đồng nhấtdưới dạng cục, sau đó chuyển tới bãi chôn lấp

Lò đốt sơ cấp Lò đốt thứ cấp

Hệthống

xử lýkhóilò

Nhiên liệu

Chất thải

Ống khói Nhiên liệu

Trang 19

Quá trinh này tương đối tốn kém nhưng thực hiện khá đơn giản Khôngứng dụng được cho chất thải nhiễm khuẩn.

1.3.4 Tiêu hủy bằng chôn lấp hợp vệ sinh

Thường được coi là giải pháp tốt nhất đối với chất thải rắn thông thường(tức là chất thải không lây nhiễm) Đây là biện pháp xử lý chất thải y tế cổxưa nhất và hiện nay vẫn được dùng phổ biến ở nhiều nơi trên khắp thế giới –đặc biệt là những nước nghèo Do phương pháp chôn lấp có công nghệ đơngiản và đặc biệt là chi phí đầu từ và chi phí xử lý thấp nhất so với các phươngpháp khác nên có phù hợp cho hầu như tất cả các bệnh viện đều có kinh tếkhó khăn

Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhiều nhược điểm như yêu cầuphải có diện tích đất đủ lớn để chôn lấp chất thải y tế; là tác nhân gây ô nhiễmmôi trường đất và nguồn nước ngầm cao; là nguồn ủ cho các bệnh truyềnnhiễm và gây thành dịch bệnh cho xã hội Cho nên, hiện nay người ta khôngkhuyến khích các bệnh viện sử dụng biện pháp chất thải y tế

Chất thải dạng lỏng không nên chôn ở các bãi chôn lấp, tốt hơn là tiêuhủy xuống các hệ thống cống thoát hợp vệ sinh Các chất thải đã xử lý và cặnlắng từ quá trình xử lý Các chất thải đã xử lý theo các phương pháp như tiệttrùng bằng hơi nước hay thiêu đốt tạo ra các phần cặn lắng như tro

Việc chôn lấp chất thải y tế nguy hại phải có quy trình xã hội do các cơquan chuyên môn hướng dẫn Hiện tại, Việt Nam và nhiều nước trên thế giới

đã có hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại Việc chôn lấp chất thải

y tế nguy hại phải tuân theo hướng dẫn này

1.4 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI

Trên Thế giới việc quản lý chất thải bệnh viện đã được nhiều Quốc giatiên tiến chú trọng từ rất lâu Hàng năm các Quốc gia đó đều có những thống

kê chính xác chất lượng chất thải y tế phát sinh, các chi phí cho vận hành vàkhấu hao thiết bị cũng như phí cho việc đầu tư nâng cấp cải tạo bệnh viện

Trang 20

1.4 TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT THẢI Y TẾ TỚI MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI:

Chất thải bệnh viện tồn tại ở ba dạng: rắn, lỏng, khí và chúng có khảnăng chuyển từ pha này sang pha khác hoặc được cố định vào một pha nàođói do quá trình biến đổi vật lý, hóa học và sinh học Mặc dù lượng chất thảibệnh viện so với tổng lượng chất thải sản sinh từ sản xuất công nghiệp và sinhhoạt không lớn, nhưng xét về mặt độc hại và tinh nguy hiểm (đặc biệt là rácthải y tế và nước thải từ khâu điều trị bệnh, phóng xạ, ) thì chúng gây ônhiễm môi trường đáng kể, ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình phát triểnlâu dài của con người:

1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường:

1 Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện đến môi trường không khí:

Hiện nay nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam xử lý chất thải bệnhviện chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp và thiêu đốt Các phương pháp này

có nguy cơ tác động rất lớn đến môi trường không khí nếu quy trình ký thuậtkhông được bảo đảm đúng yêu cầu Ví dụ, trong khâu thu gom vận chuyểnrác thải tới nơi thiêu đốt: bụi trong rác thải sẽ phát tán ra không khí và đượcgió phát tán đi xa Tại những bãi chôn lấp do hoạt động của các xe chở rác,người thu gom phế liệu mà một số lượng lớn bụi rác, đặc biệt là bào tử củanhiều loại vi sinh vật phát tán vào không khí cùng với sự bay hơi của cácdung môi hóa chất độc hại

Các chất hữu cơ có trong rác thải bị phân hủy dưới tác dụng của các visinh vật hiếu khí và yếm khí tùy điều kiện tại những nơi thu gom, vận chuyển,chôn lấp sẽ sinh ra các khí độc khác nhau Trong điều kiện phân hủy yếm khí

sẽ sinh ra CH4, NH3, H2S Trong rác thải xảy ra quá trình lý, hóa học khácnhau như quá trình thủy phân, quá trình hòa tan làm cho pH giảm, các vi sinh

Trang 21

vật phát triển mạnh bám vào các hạt bụi và lan tỏa khắp nơi có thể gây bệnhdịch nguy hiểm.

Hoạt động của lò đôt chưa đúng tiêu chuẩn trong bệnh viện và ngoài khuvực thành phố thị xã, phát sinh các khí độc hại như Nox, CO, CO2, SO2.dioxin và bụi Nếu chất thải đốt ở nhiệt độ t ≤ 900 độ C quá trình đốt sẽ phátsinh dioxin gây nguy hiểm cho người vận hành lò đốt

2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường nước:

Rác thải bệnh viện chứa nhiều hóa chất độc hại, vi sinh vật gây bệnhtruyền nhiễm do vậy nếu không được quản lý đúng quy định chúng sẽ pháttán vào môi trường nước gây ô nhiễm nguồn nước Mặt khác, nước thải bệnhviện không qua khâu xử lý nước thải ra các hệ thống cống rãnh chung lànguồn ô nhiễm độc hại đối với các nguồn nước mặt và nước ngầm ở khu vựcxung quanh

3 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường đất:

Khi chất thải bệnh viện không được phân loại mà thải chung với rác thảisinh hoạt bằng cách đem chôn lấp tại các bãi rác, không đúng quy cách, nướcrác sẽ ngấm xuống đất, rác tồn đọng trong đất sẽ gây ra sự thay đổi các thànhphần và gây ô nhiễm đất ở nơi chôn lấp

Các quá trình hấp phụ chất độc hại, trao đổi ion với đất, quá trình kết tủa

và phân hủy sinh học, đều làm cho đất bị ảnh hưởng theo hướng xấu đi

1.4.2 Tác hại của chất thải y tế lên sức khoẻ con người:

1 Các rủi ro từ chất thải y tế

Chất thải y tế bao gồm một lượng lớn chất thải có đặc điểm như chấtthải sinh hoạt chung và một tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 20%) các chất thải có khảnăng gây rủi ro cao Chất thải rắn y tế có thể tạo nên những mối nguy cơ tiềmtàng cho sức khoẻ con người

Trang 22

2 Các loại hình rủi ro

Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hay nhiều đặc trưng cơ bảnsau đây:

 Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhânnguy hại trong rác thải y tế

 Các hoá chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm

 Các chất chứa đồng vị phóng xạ

 Các vật sắc nhọn có thể gây tổn thương

 Chất thải có yếu tổ ảnh hưởng tâm lý xã hội

3 Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ

Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những ngưới

có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế,những người làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những ngườitrong cộng đồng bị phơi nhiễm chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắctrách trong các khu quản lý và kiểm soát chất thải

Dưới đây là những nhóm đối tượng chính có nguy cơ cao đối với táchại của chất thải y tế:

 Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện, nhữngngười thực hiện các thủ thuật xâm lấn, tiêm, thay băng, v.v

 Những người thực hiện nhiệm vụ phân loại, thu gom và vận chuyểnchất thải y tế từ ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện

 Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc bệnh nhân ngoại trú

 Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi

Trang 23

 Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phục

vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là,lao công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế

 Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại bãi đổ rácthải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu rác

Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ dịch vụ cơ sở y tế tư nhân, qui mô

lẻ, nằm rải rác cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường vàsức khoẻ do nguồn chất thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ýtới Đôi khi, ngay cả những tủ thuốc gia đình hoặc một số tế nạn xã hội nhưtiêm chích ma tuý cũng là nguồn phát sinh chất thải y tế nguy hại có tiềmnăng gây rủi ro cao về môi trường và sức khoẻ

4 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:

Các vật thể trong thành phần chất thải y tế nguy hại có thể chứa đựngmột lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như

tụ cầu, HIV, viêm gan B Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thểthông qua các hình thức sau:

 Qua da, qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắcnhọn gây tổn thương

 Qua các niêm mạc, màng nhầy

 Qua đường hô hấp do xông, hít thở phải

 Qua đường tiêu hoá do nuốt, ăn phải

Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kêtrong bảng dưới đây qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tuỳ,chất nhờn, nước mắt, tuyến nhờn

Có một mối liên hệ đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do virus gây ra hộichứng suy giảm miễn dịch người (HIV) và virus viêm gan B, C đó là những

Trang 24

bằng chứng của việc lan truyền các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm quađường phát thải chất thải rắn y tế Những virus này thường lan truyền qua vếttiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh.

Trong các cơ sở y tế, tính kháng đa thuốc kháng sinh của các vi khuẩnđối với hàng loạt họ kháng sinh và các hoá chất sát khuẩn cũng có thể tạo ranhững mối nguy cơ do sự quản lý yếu kém chất thải y tế Điều này đã đượcchứng minh, chẳng hạn các plasmid từ các động vật thí nghiệm có trong chấtthải y tế được truyến cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa,

vi khuẩn E.coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trườngbùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi trường thuận lợi choloài sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống xử lý và tiêu huỷchất thải y tế

Độ tập trung các các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễmcác vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim đã được tiêm qua da) hầunhư là những mối nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khoẻ trong các loạichất thải bệnh viện Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là nguyên nhân gây ranhững vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó

bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Như vậy, những vật sắc nhọn được coi là mộtloại chất thải y tế rất nguy hiểm bởi nó gây những tổn thương kép: vừa gâytổn thương lại vừa lây truyền các bệnh truyền nhiễm Những vấn đề đáng lưutâm là sự nhiễm trùng có thể được lây truyền bởi sự xâm nhập qua da do cáctác nhân gây bệnh, ví dụ như nhiễm khuẩn huyết do virus Các loại kim tiêm

đã tiêm qua da là một thành phần quan trọng nhất của loại chất thải sắc nhọn

và là mối nguy hiểm đặc biệt bởi chúng thường bị dính máu bệnh nhân

Trang 25

Bảng 1.6: Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại sinh vật gây bệnh và phương thức lây truyền

thải y tế

Nhiễm khuẩn tiêu hoá Nhóm enterobacteri: salmonella, shigella spp,

vibrio cholerac, các loại giun sán

Phân hoặc chất nônNhiễm khuẩn hô hấp Vk lao, virus sởi, streptococcus pneumoniac

Các loại dịch tiết, đờm

của mắt Nhiễm khuẩn sinh dục Neiserreria gonorrhoeac, virus herpes Dịch tiết

sinh dục

Bệnh than Bacillus antharacis

Chất tiết của

da (mồ hôi, chất nhờn) Viêm màng não Não mô cầu (neisseria meningitides) Dịch não

tuỷ

tiết sinh dụcSốt xuất huyết Các virus: junin, lassa, ebola, Marburg

Tất cả các sản phẩm máu và dịchtiết

Nhiễm khuẩn huyết do

Nhiễm khuẩn huyết do

thể

(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải - 2004)

5 Những mối nguy cơ từ loại chất thải hoá chất và dược phẩm:

Trang 26

Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế làmối nguy cơ đe doạ sức khoẻ con người như các độc dược, các chất gây độcgen, chất độc tế bào, chất ăn mòn, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây shockphản vệ, v.v các chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế hoặcđôi khi với tỷ lệ khá lớn nhưng trong các dạng thuốc, sinh phẩm bị quá hạn,thuốc thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếpxúc cấp tính và gây nhiễm độc mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng Sựnhiễm độc này có thể là do kết quả của sự hấp thụ hóa chất, hoặc dược phẩmqua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá Việc tiếp xúcvới các chất dễ cháy, chất ăn mịn, các hố chất gây phản ứng (phóc -man-đê-hít và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt,hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là dạngcác vết bỏng.

Các hoá chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng củanhóm chất thải y tế dạng hoá chất Chúng thường được sử dụng với số lượnglớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng đây cũng làloại hóa chất gây phản ứng và cũng có thể tạo nên các dạng hỗn hợp thứ cấp

có tính độc cao

Các loại hoá chất diệt côn trùng quá hạn lưu trữ trong các thùng bị rò rỉhoặc túi rách thủng có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻcủa bất cứ ai tới gần và tiếp xúc chúng

Trong những trận mưa lớn, các hoá chất diệt côn trùng bị rò rỉ có thểthấm sâu vô đất và tiếp theo gây ô nhiễm nước ngầm Sự nhiễm độc có thểxảy ra do tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm hoá chất, do hít phải hơi độc hoặc

do uống phải nước hoặc thức ăn đã bị nhiễm độc Các mối nguy cơ khác cóthể là khả năng dẫn đến các vụ hoả hoạn hoặc gây ô nhiễm do việc xử lý chấtthải không đúng cách chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc chôn lấp

Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể

Trang 27

gây nên bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhất là hệ thống

xử lý công nghệ phân huỷ sinh học) hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinhthái tự nhiên tiếp nhận nguồn nước này Những vấn đề tương tự như vậy cũng

có thể xảy ra do sản phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm cáckháng sinh và các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thuỷ ngân,phenol và các dẫn xuất, các hoá chất khử trùng và tẩy uế

6 Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào

Đối với các nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lýloại chất thải gây độc gen tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từcác rủi ro tiềm tàng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượnggây độc của chất độc và khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trìnhtiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bịhoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháphoá trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hoá chất có tínhnhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi mùi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da dotiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hoá do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc.Việc nhiễm độc qua đường tiêu hoá thường là do ảnh hưởng của những thóiquen xấu, chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong các công việcnhư khi định lượng dung dịch, xét nghiệm sinh hoá Mối nguy hiểm cũng cóthể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và chất tiết nhất là các bệnhphẩm cần xét nghiệm của những bệnh nhân đang trong giai đoạn điều trịbằng phương pháp hoá trị liệu

Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác độngđến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp hoặc quátrình phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn nhưnhóm ankyl hoá, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiệu độc tính tại mộtvài điểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại

Trang 28

thuốc chống ung thư lại nên ung thư và gây đột biến.

Nhiều loại thuốc có tính độc gây kích thích cao độ và gây nên nhữnghậu quả huỷ hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt, chúng cóthể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da

Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng, vận chuyển chất thải gâyđộc gen tế bào Việc làm thoát thải những chất thải như vậy vào môi trường

có thể gây nên những hậu quả sinh thái không thể lường trước được, nhiều khitác hại tới môi trường và sinh thái rất nghiêm trọng

7 Những nguy cơ từ các loại chất thải phóng xạ

Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởicác chất thải, đối tượng và phạm vi tiếp xúc Chất thải phóng xạ cũng nhưchất thải dược phẩm là một loại độc hại tới tế bào, gen, và cũng có thể ảnhhưởng tới các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tínhcao, ví dụ như: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán như máyXquang, máy chụp cắt lớp, v.v có thể gây ra một loạt các tổn thương chẳnghạn như phá huỷ các mô, nhiều khi gây bỏng cấp tính (với một số trường hợpmức độ bị ảnh hưởng trầm trọng tới mức phải dẫn tới việc xử lý loại bỏ hoặccắt cụt các phần cơ thể bị ảnh hưởng.)

Các nguy cơ từ các loại chất thải có chứa các đồng vị hoạt tính thấp cóthể phát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt của các vật chứa, do phương thứchoặc khoảng thời gian lưu giữ loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặcnhững người làm nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác khi phải tiếp xúc vớichất thải có chứa các loại đồng vị phóng xạ này là những người thuộc nhómnguy cơ cao

8 Tính nhạy cảm xã hội

Bên cạnh việc lo ngại đối với những nguy cơ lây bệnh của chất thải rắn

y tế tác động lên sức khoẻ, cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấntượng tâm lý, ghê sợ đặc biệt là khi nhìn thấy loại chất thải thuộc về giải

Trang 29

phẫu, các bộ phận cơ thể bị cắt bỏ trong phẫu thuật như: chi thể, dạ dày, cáckhối u, rau thai, bào thai nhi, máu, tổ chức hoại tử, dập nát.

1.5 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.5.1 Quản lý chất thải y tế tại Vương quốc Anh

1 Phân loại chất thải y tế

Định nghĩa chất thải y tế ở nước Anh dựa trên các quy định về rác thải

có kiểm soát năm 2000 như sau:

 Bất kỳ chất thải nào mà gồm toàn bộ hoặc một phần cơ thể người,

mô động vật, máu hoặc các dịch cơ thể, chất bài tiết, biệt dược màkhông an toàn có thể gây độc hại cho người khi tiếp xúc với nó

 Các rác thải khác bắt nguồn từ y tế, chất thải mà gây ra truyềnnhiễm cho người khi tiếp xúc với nó

Chất thải y tế nằm trong phạm vi định nghĩa này được chia thành 8 loạinhóm bao gồm: Mô người và chất truyền nhiễm; Các vật sắc nhọn; Mầm bệnh

và các chất thải phòng thí nghiệm; Các chất thải biệt dược; Nước tiểu, phân

và các sản phẩm vệ sinh; Các chất thải Cytotoxic; Các chất thải phóng xạ;Các biệt dược bị kiểm soát

2 Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay

Tại Anh, các phân tách chất thải rắn y tế được thiết lập một cách hợp

lý, điển hình trong các bệnh viện, phòng khám và các cơ sở y tế khác, các tổchức y tế có quy định bắt buộc về pháp lý để quản lý chất thải Thiêu hủy tất

cả chất thải y tế là hệ thống tiêu hủy phổ biến nhất, đôi khi kèm theo cả xử lý

sơ bộ ban đầu cho các thành phần độc hại đặc biệt nhờ khử trùng tại bệnhviện Điển hình ở nước Anh các phương tiện thiêu hủy là Sector riêng và đểđạt được tiết kiệm các hệ thống, được cấp cho từng khu vực Tuy nhiên, một

số bệnh viện hiện đang hoạt động nhờ “Hospital trusts” cũng tiêu hủy chấtthải rắn y tế bằng cách tự thiêu hủy hoặc họ kí hợp đồng với bên thứ 3 để

Trang 30

thiêu hủy Trong thực tế, không phải tất cả rác thải được thiêu hủy Chôn lấpđược sử dụng cho loại chất thải rắn y tế ít độc hại hơn (rác thải không gâybệnh truyền nhiễm) Lựa chọn phương pháp tiêu hủy cục bộ phải dựa trênđiều kiện thực tế và khả năng tiêu hủy có sẵn Tuy vậy, cách thức tiêu hủy cục

bộ hiện nay cũng ít được áp dụng Theo truyền thống, các lò đốt quy mô nhỏđược phép thực hiện các tiêu chuẩn môi trường thấp hơn, làm chúng có tínhhiệu quả theo chi phí (vì chi phí làm sạch khí là 50-60%) Tuy nhiên, phươngpháp này có vấn đề khi lượng khí thải nhỏ hơn, nhưng nồng độ cực đại tại mặtđất có thể cao hơn so với các lò đốt quy mô lớn, vì vậy mức độ rủi ro cho sứckhỏe sinh ra từ lò đốt quy mô nhỏ và lò đốt quy mô lớn là như nhau Khi tiêuchuẩn giới hạn phát thải đối với các lò đốt quy mô nhỏ được thắt chặt hơn, thìnhiều lò đốt nhỏ tại các bệnh viện sẽ bị đóng cửa Khi đó bệnh viện phải kýhợp đồng thu gom và thiêu hủy với công ty dịch vụ

3 Chiến lược tiêu hủy chất thải

Tại Anh, chiến lược tối ưu cho tiêu hủy chất thải y tế là thiêu hủy ởnhiệt độ cao với thiết bị làm sạch khí thải hợp lý để thỏa mãn các tiêu chuẩnChâu Âu về kiểm soát chất phát thải Chiến lược này đã được áp dụng trongquá khứ và sẽ tiếp tục được áp dụng trong tương lai Khối lượng chất thải rắn

y tế được chôn lấp sẽ giảm Trong khi đó các biện pháp tiêu hủy thích hợpkhác luôn luôn sẵn sàng đáp ứng đủ công suất theo yêu cầu Một phươngpháp xử lý rác thải y tế là khử trùng bằng nhiệt đã được đề xuất tại Anh và đãđược cơ quan môi trường chấp thuận như là một giải pháp để giải quyết vấn

đề này Bên cạnh đó biện pháp tiêu hủy “đồ sắc nhọn” tại nguồn (là tại cácbệnh viện và phòng khám tư) với chi phí thấp cũng được phát triển ở nướcAnh

1.5.2 Quản lý chất thải y tế tại Hồng Kông

1 Phân loại chất thải y tế

Tại Hồng Kông phân loại chất thải y tế chia thành 7 nhóm bao gồm:Nhóm 1 : Các đồ sắc nhọn đã nhiễm bẩn

Trang 31

trong bình và tất cả các ống thuốc tiêm hoặc các bính chứabiệt dược Cytotoxic sau khi sử dụng

Nhóm 7 : Các chất thải biệt dược và chất thải hóa học

2 Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay

Đầu tiên, năm 1999 các chất thải y tế được tiêu hủy nhờ kết hợp thiêutrong các lò đốt nhỏ đặt trong các bệnh viện và tiêu hủy bằng cách chôn lấp.Các lò đốt nhỏ không đạt được các tiêu chuẩn quốc tế về nnhiệt độ cao, thờigian lưu trữ dài và có thiết bị làm sạch khí thải Hơn nữa, các lò đốt nhỏ đượclắp đặt tại các khu vực đông dân cư và gần các tòa nhà cao tầng Sự phát thảicác chất độc hại từ các lò đốt chất thải y tế vào khí quyển sẽ gây tác hại tớisức khỏe của người dân sống ở khu vực lân cận Trước sự gia tăng các vụkhiếu nại của công chúng và sự gia tăng số người hợp nhiễm bệnh Chính phủHồng Kông đã giao nhiệm vụ cho các nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá và

đề xuất các giải pháp tiêu hủy chất thải y tế trong tương lai

Vào năm 2000, Tổ chức Y tế Hồng Kông (HKMA) đã giới thiệuhướng dẫn quản lý chất thải y tế nhằm đảm bảo cách thức phân loại thích hợptrong các bệnh viện và cơ quan y tế và các hoạt động nha khoa Điều này càngđược áp dụng hiệu quả hơn tại các bệnh viện, tại các cơ ở y tế nơi mà cán bộ

có chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm, có trang thiết bị đầy đủ nhằmkiểm soát sự lan truyền ô nhiễm

Tuy vậy, cho đến nay vẫn có một số hạn chế liên quan đến cách thứctiêu hủy chất thải y tế Chất thải y tế được phân tách ngay tại nguồn nhờ sử

Trang 32

dụng hệ thống mã màu cho các túi nhựa và các thùng chứa theo hướng dẫncủa HKMA Tất cả các loại chất thải rắn y tế và chất thải sinh hoạt đã đượctiêu hủy trong các bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh kỹ thuật cao ở Hồng Kông.Các lò đốt quy mô nhỏ ở các bệnh viện đã bị đóng cửa do kiểm soát khí thảikém hiệu quả.

Có 5 thành phần phát thải chủ yếu đang được xem xét cùng với kiểmsoát chất thải rắn y tế ở Hồng Kông như sau:

 Phân loại chất thải rắn y tế ra khỏi đồ phế thải

 Phân loại các loại chất thải rắn y tế khác nhau thành từng loại

 Kiểm soát chất thải rắn y tế từ các nguồn không phải từ bệnhviện

 Quản lý chất thải rắn y tế sinh ra trong đảo Outlying

 Tiêu hủy các xác chết động vật từ nguồn bệnh viện

3 Chiến lược tiêu hủy chất thải

Tại Hồng Kông, có một hệ thống kiểm soát hợp pháp để quản lý vàtiêu hủy chất thải y tế Các hướng cụ thể của luật tiêu hủy chất thải hiện nay,đặc biệt luật về chất thải hóa học là phù hợp với chất thải y tế Tuy nhiên, cácđiều khoản này không thỏa mãn được các yêu cầu của các tiêu chuẩn quốc tế

Để thỏa mãn các tiêu chuẩn tiêu hủy này, sơ đồ kiểm soát chất thải y tế đangđược phát triển hoàn thiện để bảo đảm rằng tất cả các dạng và các kiểu chấtthải y tế sinh ra được phân loại tại nguồn thải; đảm bảo an toàn trong quátrình lưu trữ, vận chuyển, thu gom, thiêu hủy và xử lý

Chiến lược tiêu hủy chất thải y tế tại Hồng Kông là phát triển cácphương tiện tiêu hủy tập trung (CIF) đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất

về làm sạch khí thải và các tiêu chí thiết kế khác Phương tiện này được xâydựng ở khu vực ngoại thành, xa các khu vực nhạy cảm Đảm bảo an toàn về

vệ sinh trong quá trình chuyên chở chất thải y tế từ các bệnh viện và các cơ sở

y tế tới nơi tiêu hủy tập trung là một vấn đề chính cần quan tâm

Trang 33

1.5.3 Quản lý chất thải y tế tại Srilanka

1 Phân loại chất thải y tế

Tại Srilanka, việc phân loại chất thải y tế đang được quản lý ởColombo, thủ đô Srilanka Định nghĩa chung về chất thải y tế là bất kỳ chấtthải nào mà gồm toàn bộ một phần cơ thể người hoặc mô động vật, máu, dịch

cơ thể, các chất bài tiết, thuốc, dược phẩm … có thể phân thành 6 loại: Chấtthải y tế thông thường, đồ vật sắc nhọn, biệt dược, thuốc và các dược phẩm,các vật gây mầm bệnh, nhau và mô bào thai, chất thải cytotoxic

2 Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay

Ở Srilanka, chất thải y tế được tiêu hủy nhờ sự áp dụng tổ hợp phươngpháp sau:

- Đốt cháy trong các lò đốt sơ bộ: Chất thải y tế thường bị lẫn với rácthải sinh hoạt của bệnh viện, được đốt căn bản Phương pháp này đã gặp nhiềukhó khăn trong việc xử lý với độ ẩm của rác thải, dẫn tới hư hỏng trong bộphận tự cấp nhiên liệu cháy Kết quả các khí tự nhiên cần được sử dụng làmnhiên liệu bổ sung, dẫn tới các chi phí vượt trội và không có bất kỳ hệ thốnglàm sạch khí hoặc kiểm soát phù hợp nào trên toàn bộ điều kiện đốt cháy

- Đốt cháy trong lửa trên mặt đất hoặc trong hầm: Các loại chất thải rắn

y tế đã được chọn lọc, đặc biệt các vật sắc và các dược phẩm, một số chất thảirắc y tế thông thường, được đốt cháy lộ thiên Lửa có thể được đốt cháy trênmặt đất hoặc trong hầm mỏ mà sau đó được phủ đất lên Đốt cháy lộ thiênđược tiến hành dưới sự giám sát

- Chôn cất tại chỗ: Các loại rác bệnh viện đã được chọn lọc được chôntại chỗ, đặc biệt là nhau và mầm bệnh Chôn lấp tại chỗ được thực hiện dưới

sự giám sát

- Đổ rác tại chỗ: Nơi bệnh viện có khu đất thích hợp, đổ rác tại chỗ xuấthiện trên mặt đất hoặc trong hầm rộng, và sau đó được phủ đất lên Các đống

Trang 34

rác đôi khi được đốt cháy, đốt cháy rác nhằm bảo toàn khả năng thiêu hủy Đổrác tại chỗ được thực hiện dưới sự giám sát.

- Thiêu hủy tại bãi chôn lấp rác đô thị: Chất thải rắn y tế thông dụngđược thiêu hủy tại bãi chôn lấp rác đô thị Chất thải rắn y tế có thể đưộc chônlẫn với rác thải sinh hoạt – loại rác thải sinh ra ở bệnh viện hoặc trong quátrình thu nhập hoặc trong giao thông Tại bãi chôn lấp rác đô thị, chất thảiđược tiêu hủy theo cách giống như rác thải sinh hoạt trong cộng đồng

3 Chiến lược tiêu hủy

Vào năm 1994, Chính phủ đề ra nhiệm vụ nghiên cứu khả thi để điềutra cách phân hủy chất thải rắn y tế ở Colombo Trong quá trình nghiên cứumột số cách tiêu hủy để tiêu hủy chất thải y tế được xem xét Các kết quảnghiên cứu chỉ cho rằng, mặc dù tính phức tạp cao và chi phí cao nhưng thiêuhủy rác được xem là phương pháp tin cậy, đảm bảo và hiệu quả cao, loại bỏđược mọi nguy cơ truyền nhiễm từ tất cả các loại chất thải y tế Do đó phươngpháp này được xem là cách tốt nhất để tiêu hủy chất thải rắn y tế trong tươnglai ở Colombo Yêu cầu về thời gian để có được phương tiện hoặc các phươngtiện thiêu hủy chất lượng cao, đồng thời có thể được chấp nhận về mặt môitrường ở Colombo thì chiến lược tiêu hủy tất cả chất thải y tế như sau:

- Trước mắt: Đổ rác có kiểm soát vào các đống rác trong đô thị, bằngcác biện pháp kiểm soát quản lý đã tăng tiến độ đổ rác nhanh như khi nó đượcthiêu hủy

- Lâu dài: Quá trình thiêu hủy do một hoặc nhiều chuyên gia tiến hành,các phương tiện thiêu hủy được sử dụng Quá trình đốt cháy lộ thiên chất thảirắn y tế đã thực hiện ở Srilanka không được xem là cách thay thế có thế chấpnhận được cho quá trình thiêu hủy hiện đại

Các phương tiện thiêu hủy cục bộ được thiết kế cho nhóm hoạt động vàđược lắp đặt ở các vị trí khác nhau (có thể tại bệnh viện), không tính đến hiệu

Trang 35

quả đối với chi phí nếu các phương tiện này được yêu cầu phải thực hiện nhưmột mô hình trình diễn Tuy nhiên, nếu các phương tiện này được phép đápứng các tiêu chuẩn môi trường ít chặt chẽ hơn thì phát triển các lò đốt nhỏhơn sẽ kinh tế hơn.

Bảng 1.8 Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y tế

(Nguồn: Hội thảo quản lý môi trường trong ngành y tế 5 6/03/2002)

1.55 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI VIỆT NAM

1.5.1 Tình hình chung

Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đọan đấtnước còn nghèo, lại mới trải qua chiến tranh, nhận thức về vấn đề môi trườngchưa cao nên các bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc,đúng quy trình kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chấtthải độc hại còn bị thiếu thốn nghiêm trọng Bên cạnh đó, công tác quản lýcòn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để

Mặt khác, số lượng bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh rất lớn, lạithiếu vốn, nên số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít Bảo vệmôi trường tại các bệnh viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện màcần có sự quan tâm của Chính phủ và toàn xã hội

Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chứcnhiều đợt tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân

Trang 36

viên y tế, bệnh nhân và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thugom, phân loại và xử lý sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế Tuynhiên, nhận thức của cộng đồng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tếvẫn còn yếu.

Chất thải y tế được các Công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lýhoặc được xử lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môitrường hoặc được ngâm trong Formandehyt rồi tập trung chôn lấp tại cácnghĩa trang, trong các khuân viên bệnh viện Rất nhiều loại chất thải lâynhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãi rác, thải ra hệ thống thu gom nước thảithành phố mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần thiết nào

Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chấtthải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thànhlập ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trongcông tác chỉ đạo, xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh việntrong phạm vi toàn quốc

Trên cơ sở đó, ngày 27/8/1999 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quychế quản lý chất thải y tế”, đến năm 2002 Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tiếp

“Quy chế bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế” Trong thời gian qua nhiềuchương trình nghiên cứu thí điểm các lò đốt, chương trình xây dựng quyhoạch tổng thể hệ thống các lò đốt trên toàn quốc đã và được triển khai

1.6.2 Tình hình quản lý chất thải y tế ở Quảng Ninh

Hiện nay, Quảng Ninh có 15 bệnh viện, 09 phòng khám đa khoa khuvực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung tâm y tế tuyến huyện, 186 trạm y

tế xã, phường Hầu hết các bệnh viện đều không tình trạng hoạt động hết côngsuất thiết kế hoặc quá tải Ngoài ra còn khoảng 30 phòng khám tư nhân đa

Trang 37

khoa và chuyên khoa để phục vụ việc khám và chữa bệnh theo nhu cầu củangười dân .

Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị cho hệ thống phòng,chống dịch, khám chữa bệnh từ cấp xã, phường đến tỉnh không ngừng đào tạolại nhằm đảm bảo đủ các cơ cấu cán bộ đối với từng cán bộ trong ngành Đếnnăm 2010, 100% số xã, phường có bác sĩ; 100% trạm y tế xã, phường có nữ

hộ sinh trung học, có dược tá và y học cổ truyền; 100% thôn, bản có cán bộ y

tế đã được đào tạo Phấn đấu đạt trung bình có 4 bác sỹ và 1 dược sỹ đại học/10.000 dân

Tuy nhiên, khi ngành y tế ngày càng phát triển, thì không thể khôngnhắc đến chất thải trong quá trình khám chữa bệnh , đây là chất thải rất đặctrưng và tính độc hại cao, càng khám chữa nhiều thì hàm lượng thải càng cao,

và nếu không có biện pháp giải quyết thì hậu quả sẽ là rất lớn

*Thống kê lượng chất thải nguy hại của ngành Y tế

Chương trình điều tra đã tập trung vào 07 bệnh viện điển hình là bệnhviện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, Bệnh viện hữu nghị Việt Nam-Thụy Điển và

05 bệnh viện đa khoa khu vực cấp huyện, thị xã

Tại 05 cơ sở bệnh viện khu vực được điều tra là:

- Trung tâm Y tế than Mạo Khê

- Bệnh Viện Đa khoa Hưng Yên

- Bệnh viện Đa khoa Hoành Bồ

- Bệnh viện Đa khoa thị xã Cảm Phả

- Bệnh Viện Đa khoa Móng Cái

Theo số liệu tổng hợp từ các nguồn khác nhau cũng như điều tra trực tiếphiện trạng phát thải và xử lý chất thải y tế của các bệnh viện khác trên địa bàntỉnh như sau:

Trang 38

Bảng 1.9: Hiện trạng phát thải CTNH ngành y tế trên địa bàn tỉnh

Quảng Ninh

CTNH

Lượng CTNH phát sinh tại cơ

sở điều tra thực

tế (kg/tháng)

Lượng CTNH phát sinh cơ sở điều tra nguồn khác (kg/tháng)

1 Dầu động cơ, bộ lọc dầu,

bôi trơn tổng hợp thải

chứa thủy ngân +má

phanh có chứa amiăng

(Nguồn: Báo cáo Sở Tài nguyên & Môi trường 6/2011)

Trang 39

Bảng 1.10 Kết quả phân tích thành phần rác y tế (trong túi vàng)

tại các bệnh viện Quảng Ninh

(Nguồn: Báo cáo Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Quảng Ninh)

1.6.3 Những khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý chất thải bệnh viện hiện nay:

Công tác quản lý chất thải rắn đô thị, công nghiệp và đặc biệt là chấtthải y tế còn gặp rất nhiều thách thức, như kinh phí đầu tư cho công tác quản

lý chất thải rất lớn; chưa có tiêu chuẩn đối với các lò đốt chất tải nói chung và

lò đốt chất thải y tế nói riêng; nhận thức bảo vệ môi trường của cộng đồngchưa cao; chưa có đầy đủ các văn bản pháp quy, các quy định cụ thể trongviệc thu gom, vận chuyển, phân loại, lưu trữ và xử lý chất thải y tế nên tìnhtrạng ô nhiễm môi trường do loại chất thải này gây ra đang là vấn đề bức xúccần phải giải quyết

Bên cạch các biện pháp quản lý chất thải rắn các loại theo cách tiếp cận

“cuối đường ống”, Việt Nam đang quan tâm nhiều đến cách tiếp cận quản lýchất thải tổng hợp, hướng tới một nền kinh tế bền vững về mặt môi trườngtrên cơ sở một nền sản xuất sạch và một xã hội tiêu dùng xanh

* Những tồn tại về kỹ thuật:

Trang 40

Mặc dù Bộ Y tế đã ban hành quy chế quản lý chất thải y tế và Chínhphủ đã ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại nhưng công tác quản lýchất thải y tế tại các địa phương vẫn còn nhiều bất cập đặc biệt là các tuyến cơ

sở Nguyên nhân chính của những bất cập này là công tác quản lý chất thải y

tế gồm nhiều công đoạn như: phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chưađược thực hiện nghiêm túc tại các cơ sở y tế và các cơ quan phụ trách thugom xử lý cụ thể là:

- Nhân viên bệnh viện, hộ lý, lao động chưa được hay được tậphuấn chưa đầy đủ,về những kiến thức cơ bản của công tác quản lý chấtthải bệnh viện

- Cơ quan phụ trách thu gom và xử lý chất thải chưa có đủ các phươngtiện chuyên dụng thu gom và vận chuyển chất thải y tế nguy hại

- Các địa phương chưa đủ khả năng xử lý chất thải y tế nguy hại nhưchưa có lò đốt đủ tiêu chuẩn hay lò đốt không đủ công suất

* Khó khăn về tài chính

- Hầu hết các bệnh viện đều đã được xây dựng lâu năm, cơ sở hạ tầng

đã xuống cấp nghiêm trọng nên thiếu nền kinh phí để tu bổ và xây dựng cáckhu xử lý chất thải y tế nguy hại đúng tiêu chuẩn

- Một số địa phương và bệnh viện được nhà nước hay các tổ chứcQuốc tế trợ giúp lắp đặt hệ thống lò đốt chất thải y tế nguy hại Nhưng khinhphí để vận hành các lò đốt chất thải y tế tương đối lớn nên các địa phương vàcác bệnh viện không đủ nguồn kinh phí để hoạt động các lò xử lý đã đượctrang bị

* Khó khăn trong công tác quản lý

- Thiếu một đội ngũ cán bộ quản lý và các chuyên gia có trình độ, kinhnghiệm để hướng dẫn triển khai các quy trình quản lý chất thải Thiếu phòngchức năng quản lý chất thải bệnh viện Chưa phân định rõ trách nhiệm vềcông tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát môi trường bệnh viện theo từng quý

Ngày đăng: 13/05/2015, 10:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Sơ đồ 1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn (Trang 5)
Sơ đồ 2:  Hoạt động khám và điều trị của bệnh nhân 1.2.4. Khối lượng chất thải phát sinh - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Sơ đồ 2 Hoạt động khám và điều trị của bệnh nhân 1.2.4. Khối lượng chất thải phát sinh (Trang 10)
Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước Chất thải bệnh viện nói - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 1.1 Lượng chất thải thay đổi theo từng nước Chất thải bệnh viện nói (Trang 11)
Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 1.4 Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện (Trang 12)
Bảng 1.5: Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện ST - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 1.5 Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện ST (Trang 13)
Bảng 1.3. Các chất thải có thể và không nên đốt - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 1.3. Các chất thải có thể và không nên đốt (Trang 17)
Bảng 1.6: Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại sinh vật gây bệnh và phương thức lây truyền Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 1.6 Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại sinh vật gây bệnh và phương thức lây truyền Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất (Trang 26)
Bảng 1.9:  Hiện trạng phát thải CTNH ngành y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 1.9 Hiện trạng phát thải CTNH ngành y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Trang 40)
Bảng 1.10  Kết quả phân tích thành phần rác y tế (trong túi vàng)     tại các bệnh viện Quảng Ninh - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 1.10 Kết quả phân tích thành phần rác y tế (trong túi vàng) tại các bệnh viện Quảng Ninh (Trang 41)
Bảng 2.1: Số lượng, cơ cấu giường bệnh ST - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 2.1 Số lượng, cơ cấu giường bệnh ST (Trang 47)
Bảng 2.2 Quy mô của từng loại phòng điều trị - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 2.2 Quy mô của từng loại phòng điều trị (Trang 48)
Hình 1: Quan hệ chức năng giữa các khối 2.3  CƠ CẤU TỔ CHỨC - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Hình 1 Quan hệ chức năng giữa các khối 2.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC (Trang 49)
Bảng 3.2 Lượng chất thải y tế từ năm 2007– hết năm 2011 - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 3.2 Lượng chất thải y tế từ năm 2007– hết năm 2011 (Trang 53)
Bảng 3.3: Số lượng nhân viên y tế bị phơi nhiễm nghề nghiệp - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 3.3 Số lượng nhân viên y tế bị phơi nhiễm nghề nghiệp (Trang 54)
Bảng 3.4:  Ước tính lượng chất thải y tế phát sinh hàng ngày tại  bệnh viện - luận văn kỹ thuật môi trường ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN
Bảng 3.4 Ước tính lượng chất thải y tế phát sinh hàng ngày tại bệnh viện (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w