1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn kỹ thuật môi trường Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội

84 807 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu khách quan và tình hình thực tế của lưu vực sôngNhuệ - Đáy, được sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Giang và sự giúp đỡ của Chicục Bảo vệ môi trường Hà Nội thuộc Sở Tài

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Một số khái niệm 3

2.2 Hiện trạng một số lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam 4

2.2.1 Hiện trạng một số lưu vực sông trên thế giới 4

2.2.2 Hiện trạng một số lưu vực sông ở Việt Nam 6

2.3 Quản lý lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam 8

2.3.1 Một số mô hình quản lý lưu vực sông trên thế giới 8

2.3.3 Một số ý kiến đánh giá về các mô hình quản lý lưu vực sông trên thế giới 14

2.3.4 Một số ý kiến trao đổi và thảo luận về thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông ở nước ta 17

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.2 Nội dung nghiên cứu 21

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 21

3.2.2 Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua Hà Nội 21

3.2.3 Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội 21

3.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 23

Trang 2

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 23

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30

4.2 Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội 33

4.2.1 Tài nguyên nước mặt trên toàn lưu vực sông Đáy 33

4.2.2 Hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội 34

4.2.3 Nguồn gây ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội 44

4.3 Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội 47

4.3.1 Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy trước khi có 47

4.3.2 Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020 .50

4.3.3 Tình hình Triển khai thực hiện Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 59

4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội 67

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Kiến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1: Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Đáy 33Bảng 4.2:Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 8/2008 36Bảng 4.3: Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 12/2008 38Bảng 4.4: Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 9/2009 40Bảng 4.5:Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 11/2009 … 42

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1: Bản đồ phân đoạn ô nhiễm nước mặt lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 34Hình 4.2: Diễn biến BOD5 trên sông Nhuệ (từ Cống Liên Mạc đến Cống Thần) năm2008 39

Hình 4.3: Diễn biến COD trên sông Nhuệ (từ Cống Liên Mạc đến Cống Thần) năm 2008

Hình 4.4: Diễn biến BOD5 trên sông Nhuệ (từ Cống Liên Mạc đến Cống Thần) năm2009 43Hình 4.5: Diễn biến COD trên sông Nhuệ (từ Cống Liên Mạc đến Cống Thần) năm2009 43Hình 4.6: Một điểm cống xả nước thải ra sông Nhuệ tại khu vực Cầu Nòi (Cầu Diễn,

Hà Nội) 45Hình 4.7: Một góc sông Nhuệ 45Hình 4.8: Nước thải từ quy trình chế biến dong riềng được xả ra các cống rãnh

lộ thiên trong làng nghề Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai rồi chảy ra kênh T2với màu nước đen kịt……… 46Hình 4.9: Đường ống dẫn nước thải đen ngòm của cơ sở sản xuất bột giấy chạy ngầm,xuyên qua thân đê xả nước thẳng ra sông Nhuệ, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa,

Hà Nội 47

Trang 5

TNN : Tài nguyên nước

TNMT : Tài nguyên và Môi trường

UBND : Ủy ban nhân dân

TW : Trung ương

TCLVS : Tổ chức lưu vực sông

Trang 6

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước là tài nguyên vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người và

toàn bộ sinh vật trên Trái đất Nước tham gia vào các hoạt động sống cũng nhưhoạt động sản xuất của con người

Cùng với quá trình phát triển của xã hội, quá trình đô thị hóa, côngnghiệp hóa - hiện đại hóa làm tăng nhu cầu sử dụng nước và xả thải ra môitrường một lượng chất thải rất lớn Hơn nữa, sự bùng nổ dân số khiến cho nhucầu về nguồn nước ngày càng cao, con người càng phải khai thác triệt để nguồnnước nhằm phục vụ hoạt động sống của mình Sự khai thác tràn lan và xả ra môitrường lượng chất thải chưa qua xử lý đã dẫn đến tình trạng khan hiếm và ônhiễm nguồn nước

Ở nước ta, các lưu vực sông lớn như: lưu vực sông Cầu, lưu vực sôngNhuệ - Đáy, lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.Các lưu vực sông đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về chất lượng cũng như trữlượng, nhiều con sông có nguy cơ trở thành sông chết

Lưu vực sông Nhuệ - Đáy là một trong những lưu vực sông lớn của ViệtNam; có vị trí địa lý đặc biệt, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của vùngđồng bằng sông Hồng Lưu vực có diện tích tự nhiên 7.665 km2 ; tổng lượngnước hàng năm khoảng 28,8 tỷ m3; chảy qua 5 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, HàNam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, với dân số khoảng 10,77 triệu người.Tuy nhiên, lưu vực sông này hiện đang là một trong ba điểm nóng về Tài nguyênnước ở nước ta Nguồn nước của hai con sông này đang bị ô nhiễm nghiêm trọng

do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị, làng nghề, côngnghiệp, dịch vụ; đặc biệt nước thải công nghiệp và sinh hoạt, y tế không qua xử

lý đổ trực tiếp ra sông Hiện trạng môi trường nước của lưu vực sông Nhuệ Đáy vẫn đang diễn biến phức tạp, ngày càng xấu đi

Trang 7

Ngày 29/04/2008, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số57/2008/QĐ-TTg : “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sôngĐáy đến năm 2020” với vốn đầu tư trên 3.000 tỉ đồng Mục tiêu là xử lý ônhiễm, khôi phục lại hiện trạng môi trường thiên nhiên xanh, sạch, đẹp vốn cócủa lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy Bộ Tài nguyên Môi trường có trách nhiệmchủ trì và phối hợp với lãnh đạo 5 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hòa Bình, NamĐịnh, Hà Nam, Ninh Bình cùng các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các

bộ ngành liên quan chịu trách nhiệm thực hiện Đề án

Xuất phát từ yêu cầu khách quan và tình hình thực tế của lưu vực sôngNhuệ - Đáy, được sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Giang và sự giúp đỡ của Chicục Bảo vệ môi trường Hà Nội thuộc Sở Tài nguyên - Môi trường thành phố Hà

Nội, chúng tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiện trạng và tình

hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội ”

1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sôngNhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản

lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội

1.2.2 Yêu cầu

- Các số liệu thu thập được phải đảm bảo độ chính xác và tin cậy

- Chỉ ra được những điểm nổi bật trong hiện trạng môi trường nước lưuvực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội

- Chỉ ra được những mặt hạn chế và tích cực của công tác quản lý môitrường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội

- Đưa ra được các giải pháp mang tính khả thi, phù hợp với địa bàn nghiêncứu

Trang 8

PHẦN II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Theo Điều 3 - Luật Tài nguyên nước: "Lưu vực sông là vùng địa lý mà trong

phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông” [7]

Lưu vực sông là những lưu vực có diện tích trên 1000 km2; ranh giới địahình bao gồm 1 vùng đất có thể 2 hoặc 3 tỉnh và 2 hoặc nhiều vùng; quản lý lưuvực trong 1 vùng hoặc nhiều vùng

2.1.3 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển.

Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ haymột quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào vàlượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa)

Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thườngxuyên hay không thường xuyên trong các thủy vực ở trên mặt đất như: sôngngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết.[14]

2.1.4 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM, integrated water resources

management)

Trang 9

Khái niệm “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước” xuất hiện vào những năm đầu thập niên 90 song song với các khái niệm về “Phát triển bền vững”, “Quản

lý Tài nguyên và Môi trường”, “Môi trường và phát triển bền vững”, “Giám sát môi trường”, …

Tổ chức Hợp tác về Nguồn nước toàn cầu (GWP) định nghĩa về IWRM

như sau: “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) là một quá trình xúc tiến

việc phối hợp quản lý và phát triển các nguồn nước, đất đai và các nguồn lựcliên quan nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và phúc lợi xã hội một cách cân bằng

mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ thống sinh thái trọng yếu”(GWP, 2000) [11]

2.1.5 Quản lý lưu vực sông

Khái niệm quản lý lưu vực sông hiện đại đã vượt ra ngoài khái niệm quản

lý đất và nước truyền thống và nó “bao gồm những phần cơ bản của quy hoạch

sử dụng đất, chính sách nông nghiệp và quản lý xói mòn, quản lý môi trường vàcác chính sách khác; tất cả những hoạt động của con người sử dụng nước hoặcgây ảnh hưởng đến các hệ thống nước ngọt Quản lý lưu vực sông là quản lý các

hệ thống nước trong đó coi tài nguyên nước là một phần của môi trường tự nhiêntrong mối liên hệ khăng khít với môi trường kinh tế - xã hội” [12]

2.2 Hiện trạng một số lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Hiện trạng một số lưu vực sông trên thế giới

a, Sông Hằng (ở Ấn Độ)

Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510km bắt nguồn từdãy Hymalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnhBengal; rộng 907.000km2, một trong những khu vực phì nhiêu và có mật độ dâncao nhất thế giới; được người Hindu rất coi trọng và sùng kính, là trung tâm củanhững truyền thống xã hội và tôn giáo của đất nước Ấn Độ

Lưu vực sông Hằng gần như tạo ra một vùng đất liền thứ ba của Ấn Độ và làmột trong 12 vùng dân cư trên thế giới phụ thuộc vào con sông Đây cũng là nơi

Trang 10

sinh sống của hơn 140 loài cá, 90 loài động vật lưỡng cư và loài cá heo sôngHằng.

Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thếgiới vì bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp,rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý; phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôisông, rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu lò đốt Chất lượng nước đangtrở nên xấu đi nghiêm trọng Cùng với sự mất đi khoảng 30-40% lượng nước donhững đập nước đang làm cho sông Hằng trở nên khô cạn và có nguy cơ biếnmất Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước sông khácao như Hg (nồng độ từ 65-520ppb), Pb (10-800ppm), Cr (10-200ppm) và Ni(10-130ppm) Hiện nay, Chính phủ Ấn Độ đang có kế hoạch cải tạo và bảo vệcon sông này.[17]

b, Sông Mississipi (ở Mỹ)

Sông Mississipi, con sông dài thứ 2 ở Mỹ, với 3.782km, bắt nguồn từ hồItasca, chảy qua hai bang Minnesota và Louisiana Mực nước sông Mississippigiảm tới 22% trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 2004 Sự sụt giảm này liênquan tới tình trạng biến đổi khí hậu và gây ảnh hưởng lớn đối với hàng trămtriệu người trên thế giới Theo Quỹ bảo vệ thiên nhiên toàn cầu (WWF), consông này đang trở nên cạn kiệt, khô cằn, ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người

và phá hủy sự sống ở những vùng lưu vực con sông Nếu con sông này “chết” thìhàng triệu người sẽ mất đi những nguồn sống của họ, sự đa dạng sinh học bị pháhủy trên diện rộng, nước ngọt sẽ thiếu trầm trọng và đe dọa tới an ninh lươngthực

Nhận thức được tầm quan trọng của con sông này, nước Mỹ đã tiếnhành xây hàng nghìn con đập và đê dọc theo chiều dài của dòng sông trong suốtthế kỷ trước để hỗ trợ giao thông thủy và kiểm soát lũ lụt [17]

c, Sông Hoàng Hà (ở Trung Quốc)

Trang 11

Sông Hoàng Hà là con sông dài thứ 2 ở Trung Quốc, có vai trò rất quan

trọng đối với người dân nước này Đây chính là nguồn cung cấp nước lớn nhấtcho hàng triệu người dân ở phía Bắc Trung Quốc nhưng hiện giờ đã bị ô nhiễmnặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công nghiệp Một đường ống dẫn dầu

bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc với hơn 1.500 lít dầu đã tràn vàođất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà [17]

d, Sông Tùng Hoa (ở Trung Quốc)

Sông Tùng Hoa có chiều dài gần 2.000km, chảy qua thành phố lớn CápNhĩ Tân với gần 4 triệu dân và hơn 30 thành phố khác, nối tiếp với các vùngthôn quê mà đa số cư dân sống nhờ vào nguồn nước của con sông này SôngTùng Hoa đã bị ô nhiễm nặng nề bởi một sự cố bất thường liên quan đến các nhàmáy hóa chất dầu hỏa lớn trong tỉnh Cát Lâm phía Bắc Trung Quốc đã bất ngờ

bị nổ và hậu quả là hơn 100 tấn benzene và những chất độc khác từ nhà máy đã

đổ xuống sông Benzene và nitrobenzene là chất gây ung thư ngay cả với liềulượng nhỏ Khối chất độc ấy sẽ tiếp tục trôi xuống hạn nguồn, đổ vào con sônglớn Hắc Long Giang [17]

e, Sông Sarno (ở Italy)

Sông Sarno, Italy, chảy qua Pompeii tới phía Nam của vịnh Naples Con

sông này nổi tiếng bởi mức độ ô nhiễm nhất châu Âu với rất nhiều rác thải sinhhoạt và rác thải công nghiệp Sông Sarno đã không chỉ làm ô nhiễm tại nhữngnơi nó chảy qua mà còn làm ô nhiễm vùng biển mà nó đổ vào gần khu vực vịnhNaples [17]

f, Sông King (ở Australia)

Sông King nằm ở Tây Australia Sông này có độ phèn rất cao do chịu tácđộng của hơn 1,5 triệu tấn rác thải sunfit từ hoạt động khai khoáng được đổxuống mỗi năm Lượng rác thải hiện là hơn 100 triệu tấn, gây ô nhiễm nghiêmtrọng cho con sông này [17]

2.2.2 Hiện trạng một số lưu vực sông ở Việt Nam

Trang 12

Nhìn chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt,nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng Nguyênnhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạtkhông được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông Chất lượng nướcsuy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4+ , tổng N, tổng P cao hơntiêu chuẩn cho phép nhiều lần.

a, Lưu vực sông Đồng Nai - sông Sài Gòn

Sông Đồng Nai : Vùng hạ lưu (tính từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu vớisông Sài Gòn), ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4 - 6 mg/l, BOD = 4 - 8 mg/l)nhưng hầu như không đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm vi sinh và dầu

mỡ rõ rệt, ô nhiễm kim loại nặng, phenol, PCB… chưa vượt tiêu chuẩn, nhiễmmặn không xảy ra từ Long Bình đến thượng lưu Vùng thượng lưu nước có chấtlượng tốt, trừ khu vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng do hàm lượng caocủa các chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh Khả năng tự làm sạch của sông ĐồngNai khá tốt [16]

Sông Sài Gòn: Mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ (DO = 1,5 5,5 mg/l; BOD = 10 - 30 mg/l), dầu mỡ, vi sinh, không có điểm nào đạt TCVNđối với nguồn loại A Ô nhiễm cao nhất là ở vùng sông chảy qua trung tâm thànhphố Hồ Chí Minh Ngoài ra, sông Sài Gòn còn bị axit hoá nặng do nước phèn ởđoạn Hốc Môn - Củ Chi (pH = 4,0 - 5,5) [16]

-b, Lưu vực sông Cầu

Chất lượng nước các sông thuộc lưu vực sông Cầu ngày càng xấu đi,nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động Ô nhiễm cao nhất là đoạn sôngCầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải củanhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, khu Gang thép Thái Nguyên , chất lượng nướckhông đạt cả tiêu chuẩn A và B Tiếp đến là đoạn sông Cà Lồ, hạ lưu sông Công,chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn A và một số yếu tố không đạt tiêu chuẩn

B Yếu tố gây ô nhiễm cao nhất là các chất hữu cơ, NO và dầu Ô nhiễm nhất là

Trang 13

đoạn từ nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ tới cầu Gia Bảy, ôxy hòa tan đạt giá trịthấp nhất (0,4 - 1,5 mg/l), BOD5, COD rất cao (>1000mg/l); Colifom ở một sốnơi khá cao, vượt quá tiêu chuẩn A tới hàng chục lần Hàm lượng NO2- > 2,0mg/l và dầu mỡ > 5,5 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn B tới 20 lần [16]

c, Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy

Hiện tại, nước của trục sông chính thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy

đã bị ô nhiễm, đặc biệt là nước sông Nhuệ Chất lượng nước sông Nhuệ từng lúc(phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc), từng nơi vượt trên giới hạn chophép đối với nước loại B Nếu không có biện pháp ngăn ngừa khắc phục, xử lý ônhiễm kịp thời thì tương lai không xa nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy khôngthể sử dụng cho sản xuất được [16]

Phát triển kinh tế không đi đôi với việc bảo vệ môi trường, kết quả tấtnhiên là tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp và cường độ ô nhiễm ngàycàng tăng thêm Nhìn chung, các dòng sông lớn ở nước ta đang bị đe dọa nghiêmtrọng và sẽ trở thành sông chết nếu chúng ta không có biện pháp bảo vệ kịp thời

2.3 Quản lý lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Một số mô hình quản lý lưu vực sông trên thế giới

a, Mô hình quản lý lưu vực sông Hoàng Hà (ở Trung Quốc)

Sông Hoàng Hà là con sông lớn thứ hai của Trung Quốc với diện tích790.000 km2 , dân số khoảng 98 triệu người Chính phủ Trung Quốc thành lập

ủy ban bảo tồn sông Hoàng Hà (YRCC) thuộc Bộ Thủy lợi Trung Quốc nhằmquản lý khu vực thung lũng sông Hoàng Hà và các sông nội địa thuộc một sốtỉnh phía bắc Trung Quốc Mô hình tổ chức của YRCC giống mô hình của một

Bộ, dưới ủy ban có các cục, viện chuyên ngành và cục quản lý sông tại các tỉnh,phòng quản lý sông tại các huyện, các trung tâm và các viện nghiên cứu YRCC

có phạm vi hoạt động và quyền lực rất rộng, bộ máy tổ chức đồ sộ, 29000 người

Trang 14

vừa là cơ quan xây dựng triển khai các chính sách chiến lược vừa là cơ quanthực hiện các dự án đầu tư [12]

b, Mô hình quản lý sông Murray-Darling (ở Australia)

Sông Murray-Darling có diện tích lưu vực khoảng 1 triệu km2 chảy quamột số bang của Úc: New South Wales, Victoria, Queesland, nam Australia, thủ

đô Australia Cơ cấu tổ chức gồm: hội đồng cấp bộ trưởng với thành phần baogồm các bộ trưởng phụ trách TNN và môi trường của liên bang và các bang Ủyban LVS Murray-Darling là cơ quan thực thi các quyết định của hội đồng, ủyban có trách nhiệm quản lý hệ thống sông hồ thuộc lưu vực, tư vấn cho hội đồngcác vấn đề liên quan đến việc sử dụng các TNN, đất và BVMT trong lưu vực

Ủy ban bao gồm một chủ tịch độc lập, mỗi bang có hai đại diện làm ủy viên Các

ủy viên thường là trưởng các cơ quan có chức năng quản lý tài nguyên và môitrường Nằm trong ủy ban có các ban chính sách về nước, nhóm chương trình vềbền vững lưu vực sông, tài chính, các ủy ban, các bộ kỹ thuật và cán bộ giúpviệc cho ủy ban Mô hình quản lý LVS Murray-Darling hiện đang hoạt động kháhiệu quả và được nhiều nước coi như là một trong những mô hình mẫu mực cầnđược học tập [12]

c, Mô hình quản lý lưu vực sông Lerma-Chapala (ở miền trung Mexico)

Sông Lerma-Chapala dài 750 km, diện tích lưu vực 54.000 km2 , chảy qua

5 tiểu ban với dân số 15 triệu người Để quản lý các vấn đề về lưu vực sông,Chính phủ Mexico đã thành lập hội đồng LVS Lerma-Chapala

Cơ cấu tổ chức của hội đồng bao gồm: Chủ tịch là một Bộ trưởng của BộNông nghiệp hoặc Bộ Môi trường; các thành viên là thống đốc các bang thuộclưu vực; Bộ trưởng 5 Bộ có liên quan và Bộ lãnh đạo một số ủy ban trực thuộcChính phủ Cơ quan giúp việc cho hội đồng lưu vực sông có văn phòng hội đồng

và các ủy ban tiểu lưu vực Hội đồng lưu vực sông là một diễn đàn mà tại đóChính phủ liên bang, các tiểu ban và các đô thị cũng như đại diện các hộ sử dụng

Trang 15

nước chia sẻ trách nhiệm, phân phối TNN thúc đẩy QLTHTNN tại cấp lưu vực.Hội đồng hoạt động trên nguyên tắc phối hợp và đồng thuận [12]

d, Mô hình quản lý lưu vực sông Minnesota (ở Mỹ)

Ở Mỹ, để quản lý chất lượng nước lưu vực sông Minnesota, các nhà quản

lý chỉ ra rằng: vấn đề ô nhiễm nước của LVS Minnesota không thể giải quyếttriệt để nếu chỉ quan tâm đến việc kiểm soát nguồn thải tập trung mà bỏ quanguồn thải phân tán Bởi vậy, để thực hiện các biện pháp quản lý thì việc hiểu rõmức độ ô nhiễm của các nguồn nước, phạm vi ô nhiễm, thời gian xuất hiện ônhiễm là rất cần thiết

Qua phân tích, đánh giá cho thấy nguồn nước sông Minnesota đang bị ônhiễm bởi vi khuẩn, photpho, nitơ Để phục hồi chất lượng nước sôngMinnesota, cơ quan QLLVS Minnesota tập trung vào quản lý các nguồn thải cótải lượng nitơ, photpho và vi khuẩn lớn [12]

e, Mô hình quản lý lưu vực sông của Brazil

Tại Brazil, việc QLLVS đã được quan tâm từ những năm 80 của thế kỷ

20, cụm đô thị Sao Paulo nằm ở thượng lưu sông Tiete gồm 39 thành phố lớnnhỏ khác nhau bao gồm cả thành phố Sao Paulo Do dân số đô thị lớn nên lượngnước thải tới lưu vực sông không ngừng tăng lên, lượng nước cấp cho các đô thịnày lên tới 60m3 /s và 80% lượng nước trên được thải trở lại sông mà không quabất kỳ công đoạn xử lý nào Ô nhiễm nước đã trở thành một vấn đề nghiêm trọngtrong lưu vực sông

Để phục hồi chất lượng nước sông, tháng 9/1991 Chính phủ Brazil triểnkhai Dự án Sông Tiete nhằm làm sạch sông, hồ chứa trong lưu vực sông Mộttrong những nhiệm vụ quan trọng là kiểm soát phát thải từ hoạt động côngnghiệp Trên cơ sở thống kê toàn bộ các nguồn thải công nghiệp trong lưu vựcsông, Chương trình đã lựa chọn ra các nguồn thải cần phải tiến hành những biệnpháp xử lý hoặc thực hiện những biện pháp quản lý chặt chẽ Trên cơ sở phân

Trang 16

tích hiện trạng chất lượng nước trong lưu vực, những tiêu chí kiểm soát đượcxác lập và một quy trình về kiểm soát nước thải công nghiệp trong LVS Tietecũng được đề xuất [12]

f, Mô hình quản lý lưu vực sông của Pháp

Pháp từ năm 1966 đã quản lý tất cả 6 lưu vực sông trên cả nước dựa trênLuật về Nước ban hành năm 1964 Mỗi lưu vực có một Cục Lưu vực (Agence deBassin) với chức năng chính là định hướng và khuyến khích các hộ dùng nước

sử dụng hợp lý TNN thông qua các công cụ kinh tế và khởi xướng, cung cấpthông tin cho các dự án, điều hòa các lợi ích địa phương, lợi ích cá biệt và lợi íchchung trong khai thác TNN Cục Lưu vực có một Hội đồng quản trị trong đómột nửa là đại diện các cơ quan Nhà nước, 1/4 là đại diện các chính quyền địaphương và 1/4 còn lại là đại diện các hộ dùng nước (công nghiệp, nông nghiệp,cấp nước, thủy sản, … ) Các quyết định của Hội đồng quản trị phải được Ủyban LVS phê chuẩn Ủy ban LVS thường bao gồm từ 60 đến 110 ủy viên, trong

đó số đại diện của Nhà nước, chính quyền địa phương và các hộ dùng nước làtương đương Các Lưu vực có quyền tự chủ về tài chính, với nguồn thu là 2 loạiphí: phí tài nguyên nước và phí ô nhiễm nước [15]

2.3.2 Quản lý lưu vực sông ở Việt Nam

Tổ chức lưu vực sông ở nước ta có tên là Ban quản lý quy hoạch lưu vựcsông Theo Điều 64 của Luật Tài nguyên nước , Bộ Nông nghiệp và phát triểnnông thôn đã quyết định (Quyết định số 39/200/QĐ/BNN-TCCB) thành lập 3ban quản lý quy hoạch lưu vực sông: sông Hồng - Thái Bình, sông Đồng Nai,sông Cửu Long Chức năng của Ban quản lý quy hoạch các lưu vực sông nóitrên chủ yếu là lập và theo dõi việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông, phối hợpvới hệ thống hành chính trong điều tra cơ bản, kiểm kê đánh giá tài nguyên nướclưu vực sông

Hiện đang có một dự án trợ giúp kỹ thuật để xem xét việc phát triển Tàinguyên nước lưu vực sông do Ngân hàng phát triển châu Á tài trợ Việc sử dụng

Trang 17

TNN ở lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn đang và sẽ nảy sinh nhiều tranh chấpgay gắt giữa các mục tiêu khác nhau như: cấp nước cho các khu công nghiệp,phát điện, tưới, chống lũ, đồng thời lại có liên quan tới 11 địa phương trên lưuvực Bên cạnh đó, được sự tài trợ của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc(UNDP), thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai Dự án VIE/96/023 - quản lýmôi trường mà một trong những mục tiêu của Dự án là tìm kiếm và thử nghiệmnhững khả năng hợp tác về quản lý môi trường giữa các tỉnh nhằm bảo vệ nguồnnước LVS Sài Gòn - Đồng Nai.

Nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của việc quan trắc, giámsát, cảnh báo môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, từ năm 1995

Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay tách ra thành Bộ TNMT) đã thànhlập 3 trạm quan trắc và phân tích môi trường đất liền quốc gia, trong đó: trạmvùng 2 (khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ) và trạm vùng 3(khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long) được giaonhiệm vụ quan trắc môi trường nước mặt tại một số vị trí thuộc hệ thống sôngĐồng Nai - Sài Gòn Các trạm quan trắc này đã xây dựng chương trình quan trắcmôi trường hằng năm và thực hiện quan trắc liên tục từ năm 1995

Đến nay, mạng lưới quan trắc và phân tích môi trường quốc gia được đầu

tư mở rộng them một số trạm và không chỉ dừng lại trong phạm vi quản lý củaCục Bảo vệ Môi trường mà còn mở rộng thêm ở một số bộ phận khác như CụcQuản lý Tài nguyên nước, các trạm quan trắc môi trường thuộc mạng lưới quantrắc khí tượng, thủy văn và môi trường của Bộ TNMT [13]

Ngoài các trạm quan trắc môi trường quốc gia ra, nhiều tỉnh/thành trongLVS Đồng Nai - Sài Gòn cũng đã thành lập trạm quan trắc môi trường địaphương nhằm theo dõi, giám sát diễn biến chất lượng môi trường nói chung,phục vụ công tác quản lý môi trường của đại phương Hỗ trợ thêm còn có:

Trang 18

 Dự án quan trắc chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn năm

1996 - 1998 của Ủy ban Môi trường thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Sở Khoahọc Công nghệ và Môi trường thành phố lúc đó

 Dự án Pilot Project quan trắc và đánh giá mức độ ô nhiễm KLN và thuốctrừ sâu trong nước và bùn lắng của hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn do ViệnMôi trường và Tài nguyên phối hợp với Trường Đại học kỹ thuật Hoàng giaThụy Sỹ (EPFL) thực hiện năm 1997 - 1998 trong khuôn khổ Dự án hợp tác ViệtNam - Thụy Sỹ pha I (CEFINEA - EPFL)

 Dự án Môi trường LVS Đồng Nai - Sài Gòn (2001 - 2003) của Cục Bảo

vệ môi trường (Viện Môi trường và Tài nguyên chủ trì thực hiện)

 Các chương trình quan trắc môi trường hằng năm của các tỉnh/thành trênlưu vực: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Bà Rịa -Vũng Tàu, … và một số đề tài/dự án phục vụ công tác quản lý môi trường thuộccác cấp độ khác nhau được tiến hành trên LVS Đồng Nai - Sài Gòn

 Cho đến nay, các hoạt động liên quan đến quan trắc và phân tích môitrường nước đã và đang thực hiện tại LVS Đồng Nai - Sài Gòn có thể chia thành

o Các hoạt động quan trắc môi trường do Cục Quản lý TNN quản lý

o Các hoạt động quan trắc môi trường thuộc mạng lưới quan trắc môitrường của các tỉnh/thành phố trên LVS Đồng Nai - Sài Gòn

o Các hoạt động quan trắc môi trường trong khuôn khổ các chương trình, đềtài, dự án khác

Trang 19

Mỗi nhóm có những mục tiêu quan trắc và điều kiện thực hiện quan trắckhác nhau do đó chưa thống nhất được với nhau về vị trí các điểm quan trắc, tầnsuất và thời gian quan trắc, các thông số quan trắc, phương pháp quan trắc vàphân tích, phương pháp lưu trữ và xử lý số liệu quan trắc [13]

2.3.3 Một số ý kiến đánh giá về các mô hình quản lý lưu vực sông trên thế giới

Hiện nay, việc đổi mới thể chế trong Quản lý lưu vực sông (QLLVS) ởcác nước phát triển và đang phát triển thường tập trung vào hai việc là: thành lậpcác tổ chức quản lý ở cấp lưu vực, và đổi mới các họat động liên quan đến quản

lý nước ở lưu vực sông như là xây dựng cơ chế phối hợp, đổi mới pháp chế, thiết

kế lại các công cụ kinh tế trong chính sách nước (như giá nước, thuế, trợ cấp),thiết kế lại các tổ chức kinh tế (các tổ chức dịch vụ công, các tổ chức cung cấpdịch vụ, thị trường nước, chuyển giao quản lý tưới cho các tổ chức dùng nước)

Trên thế giới đã có hàng trăm các Tổ chức lưu vực sông (TCLVS) đượcthành lập Các tổ chức này có cơ cấu tổ chức và chức năng không hoàn toàngiống nhau tuỳ thuộc vào mỗi nước và điều kiện các lưu vực sông Sự khác nhauthường tập trung vào các điểm chính: hình thức tổ chức, chức năng, mức độtham gia trong quản lý nước của TCLVS, phương thức hoạt động, cơ chế tàichính Tổng hợp các mô hình của tổ chức quản lý lưu vực sông của thế giới cóthể rút ra một số ý kiến đánh giá như sau:

Về hình thức tổ chức:

Các hình thức của TCLVS trên thế giới có thể quy thành ba loại phổ biếnnhư sau: Cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông; Ủy hội lưu vực sông, Hội đồng lưu vựcsông Mỗi loại có một mức độ tập trung quyền lực cũng như mức độ tham giavào quản lý nước khác nhau

Trang 20

- Cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông: Đây là hình thức TCLVS có đầy đủquyền hạn và phạm vi quản lý lớn nhất Thí dụ như là Cơ quan thuỷ vụ thunglũng Tennessce ở Mỹ và Cơ quan thuỷ vụ Núi tuyết ở úc, Đây là những tổchức liên ngành lớn, tiếp nhận hầu hết các chức năng của các cơ quan hiện hữu,trong đó bao gồm tất cả chức năng điều hành và quản lý nước Hình thức này cóthể áp dụng đối với các lưu vực có nhiệm vụ phát triển lớn.

- Uỷ hội lưu vực sông: Là mô hình thấp hơn cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông

về quyền hạn cũng như sức mạnh của tổ chức và ảnh hưởng của nó trongQLLVS Một Uỷ hội lưu vực sông thường bao gồm một “ Hội đồng quản lý ”đại diện cho tất cả các bên quan tâm và có một “ Văn phòng kỹ thuật” chuyênsâu hỗ trợ Uỷ hội lưu vực sông liên quan chủ yếu đến xây dựng chính sách, lậpquy hoạch phát triển lưu vực, xây dựng thủ tục và kiểm soát sử dụng nước Nó

có thể điều chỉnh các vấn đề sử dụng nước liên quan đến nhiều tỉnh, thông quacác chính sách liên quan đến nước của lưu vực sông, xây dựng các cơ sở dữ liệu,thông tin và mô hình phù hợp về các vấn đề quản lý trên quy mô toàn lưu vực.Một số Uỷ hội lưu vực sông nắm cả chức năng vận hành (có thể cả đầu tư ) đốivới những công trình lớn, còn hầu hết việc vận hành và quản lý hàng ngày cáccông trình và hệ thống cung cấp dịch vụ nước là công việc của các tỉnh nằmtrong lưu vực Một Ủy hội như vậy có thể giám sát việc thực hiện các chiếnlược, vận hành và quản lý các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện chủ chốt Tuy nhiên,trong thực tế Uỷ hội thường uỷ quyền làm việc cho các tổ chức khác thông quacác thoả thuận hay hợp đồng vận hành Thí dụ về loại tổ chức này như là Ủy hộisông Maray- Darling của Úc, Ủy hội sông Mê Kông,

- Hội đồng lưu vực sông: Đây là mô hình yếu hoặc có ít quyền lực nhấthiện nay Hội đồng lưu vực sông hoạt động chỉ như là một diễn đàn mà tại đóchính quyền liên bang, các tiểu bang, cũng như đại diện các hộ dùng nước chia

sẻ trách nhiệm phân phối nước, thúc đẩy toàn diện quản lý nước tại cấp lưu vực.Các Hội đồng lưu vực sông thường hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận

Trang 21

Nói chung, hình thức này có vai trò giới hạn trong quy hoạch dài hạn, điềuphối các vấn đề chính sách và chiến lược cấp cao, không có vai trò vận hànhhoặc quản lý hàng ngày Thí dụ về hình thức này như Hội đồng lưu vực sôngLerma– Chapala được thành lập năm 1993 của Mexico,…

Về chức năng và nhiệm vụ:

Quản lý nước theo lưu vực sông có sự khác biệt so với quản lý nước theođịa giới hành chính của các tỉnh ở chỗ phạm vi xem xét và giải quyết của quản lýnước ở đây là trên toàn bộ lưu vực sông, trong đó chức năng của quản lý nước cóthể bao gồm hai loại, đó là: đề ra các tiêu chuẩn, kiểm tra, điều hành các tổ chứcchịu trách nhiệm quản lý vận hành các công trình khai thác sử dụng nước; quản

lý và điều hành về Tài nguyên nước trên toàn bộ lưu vực sông

Có thể thấy rằng gần như tất cả các TCLVS đều có chức năng lập quyhoạch quản lý lưu vực và bổ xung điều chỉnh quy hoạch này trong quá trình thựchiện Ngoài quy hoạch, TCLVS có thể tham gia vào quản lý nước cũng như vậnhành hệ thống công trình khai thác sử dụng TNN nhưng với các mức độ khácnhau tuỳ theo hình thức của TCLVS

Trong thực tế, các TCLVS đều tập trung vào việc xây dựng và phát triểncác chiến lược, chính sách, phân chia và điều phối sử dụng nước trong phạm vilưu vực, có ít các TCLVS tham gia trực tiếp vào quản lý vận hành các côngtrình cụ thể mà việc này thường dành cho hệ thống quản lý nước theo địa giớihành chính đảm nhiệm Từ chức năng có thể xác định cụ thể các nhiệm vụ củaTCLVS trong quy hoạch và quản lý nguồn nước của lưu vực sông

Về quyền hạn của TCLVS:

Quyền hạn của TCLVS phải được thể chế hoá trong các văn bản của nhànước và phải tương xứng với nhiệm vụ trong quản lý nước của TCLVS được nhànước giao cho Trong thực tế có TCLVS tập trung rất nhiều quyền lực và đảmnhiệm phần lớn các nội dung của quản lý nước kể cả điều tra quan trắc các sốliệu khí tượng thuỷ văn, số liệu chất lượng nước, đầu tư xây dựng và quản lý vận

Trang 22

hành các công trình sử dụng nước vừa và lớn (như là các Tổ chức quản lý lưuvực các sông lớn của Trung quốc như sông Trường Giang, Hoàng Hà ) Ngượclại cũng có TCLVS có rất ít quyền hạn trong quản lý nước mà chỉ đóng vai trònhư là một tổ chức tư vấn đóng góp các ý kiến về quản lý lưu vực sông cho cáccấp chính quyền, không tham gia bất kỳ các hoạt động quản lý nước cụ thể nào

Về cơ chế tài chính:

Hoạt động của TCLVS cần có nguồn kinh phí ổn định lâu dài Nguồn tàichính này có thể dựa trên sự trợ giúp của nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặcđóng góp tài chính của các tỉnh, các hộ dùng nước được hưởng lợi trên lưu vựcsông Trong thực tế, phần lớn các TCLVS trên thế giới được trích một phầnnguồn thu từ thuế TNN và phí ô nhiễm nước cho các hoạt động quản lý củamình

Về thành phần tham gia:

TCLVS là một diễn đàn để tất cả các bên liên quan trao đổi, thảo luận,giải quyết các tranh chấp và tìm tiếng nói chung trong quản lý sử dụng và bảo vệTài nguyên nước Các thành phần tham gia trong một TCLVS thường bao gồm

cơ quan quản lý cấp Trung ương, đại diện của các tỉnh và địa phương, đại diệncủa các Bộ và ngành dùng nước, đại diện của cộng đồng các hộ dùng nước Tuỳtheo chức năng và nhiệm vụ của mỗi TCLVS mà mức độ tham gia của các thànhphần này có thể khác nhau, tạo nên đặc điểm riêng về hoạt động của mỗiTCLVS [13]

2.3.4 Một số ý kiến trao đổi và thảo luận về thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông ở nước ta

Về yêu cầu đối với các TCLVS ở nước ta:

Các TCLVS phải có hình thức tổ chức phù hợp với điều kiện và bối cảnhcủa lưu vực sông ở nước ta Nhiệm vụ của TCLVS không được trùng lặp vớinhiệm vụ của các tổ chức khác trên lưu vực sông, đặc biệt là nhiệm vụ quản lýnước của hệ thống quản lý nước hiện hành của các tỉnh trên lưu vực TCLVS cần

Trang 23

có cơ chế phù hợp để có thể phối hợp hoạt động với các cơ quan và tổ chức kháctrong quản lý sử dụng nước, nhất là với hệ thống quản lý theo địa giới hànhchính hiện hành TCLVS phải là một diễn đàn mở rộng cho tất cả các thành phầnliên quan đến quản lý nước và môi trường tham gia trao đổi các ý kiến và thốngnhất cách giải quyết các mâu thuẫn trong quản lý nước, trong đó phải coi trọng

sự tham gia của cộng đồng Điều này phải được thể hiện trong cơ cấu tổ chức vàhoạt động của TCLVS

Về chức năng lập, trình duyệt và theo dõi thực hiện quy hoạch lưu vực sông:

Việc lập, trình duyệt và theo dõi thực hiện quy hoạch lưu vực sông là mộttrong những chức năng cần có của các TCLVS trên thế giới kể cả ở nước ta.TCLVS là tổ chức phù hợp nhất đảm nhiệm công tác quy hoạch lưu vực sông đểxác định các chính sách và chiến lược thực hiện quản lý tổng hợp và thống nhấttài nguyên nước, đất và các tài nguyên môi trường liên quan khác, quản lý vàbảo vệ lưu vực sông Điều này cũng phù hợp với Luật Tài nguyên nước cũngnhư chức năng nhà nước đã giao cho các Ban quản lý quy hoạch các lưu vựcsông đã thành lập ở nước ta như lưu vực sông Hồng- Thái Bình,

Về chức năng quản lý nước cũng như mức độ tham gia trong quản lý nước:

Có thể thấy rằng các lưu vực sông ở nước ta đang có nhiều tồn tại và bứcxúc không chỉ trong quy hoạch và cả trong quản lý nguồn nước cần phải tháo gỡ,hậu quả của cách quản lý riêng rẽ theo địa giới hành chính từ nhiều năm qua đểlại đến ngày nay Hiện tại nhà nước đã phân cấp cho hệ thống quản lý nước theođịa giới hành chính chịu trách nhiệm quản lý nước tại các tỉnh và địa phương,nhưng bao quát và giải quyết các vấn đề về quản lý nguồn nước trên toàn bộ lưuvực sông cả số lượng và chất lượng thì gần như chưa có ai chịu trách nhiệm (thí

dụ như các vấn đề phân chia hợp lý nguồn nước giữa các ngành dùng nước, giữacác khu vực, thượng lưu và hạ lưu, duy trì dòng chảy trên dòng chính và yêu cầunước cho hệ sinh thái , ) Điều này sẽ gây trở ngại rất nhiều cho việc thực hiện

Trang 24

các nguyên tắc về QLTHTNN và phát triển bền vững tài nguyên nước trên lưuvực và chỉ có thể giải quyết được khi trao chức năng này cho TCLVS

Các phân tích trên cho thấy việc giao trách nhiệm chỉ đạo, điều phối vàkiểm soát việc sử dụng nước trong phạm vi toàn bộ lưu vực sông cho cácTCLVS của nước ta như phần lớn các TCLVS trên thế giới thường đảm nhận làrất cần thiết để khắc phục các tồn tại của quản lý nước riêng rẽ theo địa giớihành chính hiện hành Tuy nhiên, để không chồng chéo thì các TCLVS ở nước

ta không nên tham gia vào các hoạt động quản lý khai thác và sử dụng nước của

hệ thống quản lý nước theo địa giới hành chính hiện hành mà TCLVS chỉ nênđóng vai trò theo dõi, kiểm soát và trợ giúp cho hoạt động quản lý nước của cáctỉnh và địa phương trên lưu vực sông hài hoà với nhau, vì quyền lợi riêng củacác tỉnh cũng như cả lợi ích chung của toàn bộ lưu vực sông Mặt khác, chỉ cóđược giao cho tham gia trực tiếp vào việc chỉ đạo, điều phối và kiểm soát việc sửdụng nước trên lưu vực sông thì TCLVS mới có vai trò và ảnh hưởng rõ rệt tớiphát triển của lưu vực sông và hơn nữa có thể sử dụng một phần các nguồn thu

về thuế, phí tài nguyên nước, cho các hoạt động thường xuyên của TCLVS

Điều 64 của Luật Tài nguyên nước mới chỉ đề cập đến việc thành lập Banquản lý quy hoạch lưu vực sông và các nội dung của quản lý quy hoạch lưu vựcsông, riêng về quản lý nước mới quy định về kiến nghị giải quyết tranh chấp vềtài nguyên nước trong lưu vực sông Để đưa thêm vai trò chỉ đạo, điều phối vàkiểm soát việc sử dụng nước trong phạm vi toàn bộ lưu vực sông cho cácTCLVS ở nước ta thì cần phải xem xét sửa đổi, để Luật Tài nguyên nước ngàycàng thích ứng và đi vào cuộc sống xã hội của đất nước

Do chức năng quản lý nước của TCLVS như đã phân tích ở trên chỉ giớihạn ở mức điều phối việc sử dụng nước trong phạm vi lưu vực sông, phối hợp vàtrợ giúp cho hệ thống quản lý nước theo địa giới hành chính của các tỉnh trên lưuvực, nên các TCLVS ở nước ta không cần tập trung quá nhiều quyền lực, tuynhiên nó cũng không thể là một tổ chức tư vấn đơn thuần mà cũng cần có một

Trang 25

số quyền lực nhất định tương xứng với vai trò điều phối, kiểm soát và giải quyếtcác xung đột và mâu thuẫn trong sử dụng nước của lưu vực sông Điều này phảiđược thể hiện trong cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động để thực hiện các chứcnăng và nhiệm vụ chủ yếu của TCLVS.

Về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của TCLVS:

TCLVS phải là một tổ chức có một vị trí độc lập, có cơ cấu tổ chức gọnnhẹ, phù hợp với hoạt động điều phối, theo dõi giám sát và tư vấn cho nhà nước

và các tỉnh về các hoạt động sử dụng nước và xâm phạm đến tài nguyên nước;

có sự tham gia đầy đủ của các thành phần liên quan thông qua các đại diện có vịtrí tương xứng trong Ban hay Hội đồng điều hành của TCLVS; hoạt động trênnguyên tắc đồng thuận cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro của các tỉnh và các ngànhdùng nước trên lưu vực TCLVS cần sử dụng quyền lực của các Tỉnh, Bộ vàngành liên quan thông qua vai trò và vị trí của các thành viên đại diện của tỉnh,

Bộ và ngành tham gia trong Hội đồng đại diện của TCLVS để thực hiện cácquyết định điều phối và quản lý [13]

Trang 26

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: môi trường nước sông Nhuệ, sông Đáy

- Phạm vi nghiên cứu: đoạn sông Nhuệ, sông Đáy chảy qua địa phận Hà Nội

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lí, địa hình, địa mạo, thủy văn, khí hậu, …

- Điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, đô thị hóa, tình hình phát triển kinh tế

xã hội

3.2.2 Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua

Hà Nội.

- Tài nguyên nước mặt trên toàn lưu vực sông Đáy

- Hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đoạn chảyqua địa phận Hà Nội

- Nguồn gây ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạnchảy qua địa phận Hà Nội: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thảilàng nghề, nước thải y tế

3.2.3 Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội.

- Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy trước khi

có “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm2020”

- Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đếnnăm 2020: căn cứ pháp lý, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, …

Trang 27

- Tình hình Triển khai thực hiện "Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưuvực sông Nhuệ - sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010”: kết quảđạt được; khó khăn, vướng mắc,

3.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản

lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu

- Thu thập số liệu và kế thừa tài liệu nghiên cứu đã có: từ các phòng ban,internet, văn bản quy phạm, báo cáo về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triểnkinh tế xã hội, hiện trạng chất lượng nước,… xác định tình hình xả thải, xử lýnước thải, ảnh hưởng của các nguồn thải đến chất lượng nước lưu vực sôngNhuệ - Đáy đoạn chảy địa phận Hà Nội

- Nghiên cứu các văn bản pháp luật về lĩnh vực quản lý Tài nguyên nước

và các cơ chế chính sách liên quan của Đảng, Nhà nước

3.3.2 Phân tích thống kê và xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằngphần mềm Microsoft Excel 2003

3.3.3 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc

Xác định thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý tổng hợp nguồn nướcnói chung và Quản lý lưu vực sông trên địa bàn nghiên cứu nói riêng

Trang 28

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Lưu vực sông Nhuệ - Đáy là một trong những LVS lớn của nước ta, có vịtrí địa lí đặc biệt: đa dạng và phong phú về các hệ sinh thái và tài nguyên; đóngvai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của cả nước nói chung, của vùngđồng bằng sông Hồng nói riêng Lưu vực nằm ở hữu ngạn sông Hồng với diệntích tự nhiên 7.665 km2 ; gồm một phần Thủ đô Hà Nội, 3 thành phố, 44 quận,huyện và hơn 990 xã, phường; với dân số năm 2009 là 10,77 triệu người Lưuvực có tọa độ địa lý từ 200 -21020’ vĩ độ Bắc và 1050 – 106030’ kinh độ Đông;chảy qua 5 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, HòaBình

LVS Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội bao gồm: huyện TừLiêm, huyện Thanh Trì và khu vực nội thành bên hữu ngạn sông Hồng với diệntích 1.631 km2 (thuộc Hà Nội cũ); quận Hà Đông, thị xã Sơn Tây, huyện ThạchThất, huyện Quốc Oai, huyện Phúc Thọ, huyện Đan Phượng, huyện Hoài Đức,huyện Thường Tín, huyện Phú Xuyên, huyện Thanh Oai, huyện Ứng Hòa, huyệnChương Mỹ, huyện Mỹ Đức với diện tích 1.768,3 km2 (thuộc tỉnh Hà Tây cũ);với dân số tính đến 0h ngày 1/4/2009 là 6.448.837 người (chiếm 7,51% dân số

cả nước)

Lưu vực được giới hạn như sau:

Phía Bắc và phía Đông được bao bởi đê sông Hồng kể từ ngã ba Trung Hàtới cửa Ba Lạt với chiều dài khoảng 242 km

Phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà với chiều dài khoảng

33 km

Trang 29

Phía Tây và Tây Nam là đường phân lưu giữa lưu vực sông Hồng và lưuvực sông Mã bởi dãy núi Ba Vì, Cúc Phương - Tam Điệp, kết thúc tại núi Mai

An Tiêm (nơi có sông Tống gặp sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Càn dài 10

km rồi đổ ra biển tại cửa Càn

Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài khoảng 95 km từ cửa

Ba Lạt tới cửa Càn

4.1.1.2 Địa hình, địa chất khoáng sản

Nằm trải dài theo phương vĩ tuyến từ Hà Tây cũ đến Nam Định lại chịuảnh hưởng của nhiều đới cấu trúc địa chất khác nhau khiến cho địa hình khu vựcnghiên cứu có sự phân hóa tương phản thể hiện rõ nét theo hướng Tây - Đông vàhướng Bắc - Nam Xét về mặt cấu trúc ngang đi từ Tây sang Đông có thể chiađịa hình khu vực nghiên cứu thành các vùng chính như sau: vùng núi, vùng đồngbằng và cửa sông ven biển

Địa hình trong phạm vi LVS Nhuệ - Đáy khá đa dạng về nguồn gốc cũngnhư về hình thái Tổng hợp kết quả nghiên cứu trên lưu vực đã xác định được 39dạng địa hình thuộc 5 nhóm nguồn gốc có tuổi khác nhau

Các khoáng sản trong khu vực được thành tạo trong quá trình mácma,pecmatit, nhiệt dịch, trầm tích, biến chất, phong hóa và sa khoáng hiện đại; trong

đó nhóm nguồn gốc ngoại sinh (trầm tích, phong hóa) đóng vai trò chủ yếu Kếtquả thống kê theo các tài liệu nghiên cứu đã thu thập được cho thấy: trong trêntoàn bộ lưu vực có 98 mỏ và điểm mỏ khoáng sản các loại với 4 nhóm khoángsản chính là :

 Nhóm khoáng sản nhiên liệu (than đá, than bùn): gồm 10 mỏ và điểmquặng, chiếm 9,8%

 Nhóm khoáng sản kim loại (sắt, vàng): gồm 7 điểm quặng, chiếm6,86%

Trang 30

 Nhóm khoáng sản không kim loại: gồm 80 mỏ và điểm quặng, chiếm

số lượng lớn (78,4%) và có giá trị sử dụng cao trong vùng nghiên cứu Chúngbao gồm các lợi nguyên liệu công nghiệp, xi măng và vật liệu xây dựng

 Nhóm nước khoáng - nước nóng: trong khu vực nghiên cứu mới chỉphát hiện và đang kí được 01 điểm mỏ nước khoáng Kim Bôi chiếm 0,98% Mỏ

đã được Sở Địa chất Đông Dương phát hiện từ những năm đầu của thế kỷ 20

4.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

a, Đặc điểm khí hậu

Lưu vực sông Nhuệ - Đáy có nền khí hậu mang đầy đủ những thuộc tính

cơ bản của khí hậu miền Bắc Việt Nam đó là nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùađông khá lạnh và ít mưa, mùa hè nắng nóng nhiều mưa tạo nên bởi tác động qualại của các yếu tố: bức xạ mặt trời, địa hình, các khối không khí luân phiênkhống chế

- Chế độ nắng:

Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, với

lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 105 - 120 kcal/cm2 và có số giờnắng thuộc loại trung bình, đạt khoảng 1600 - 1750 giờ/năm, trong đó tháng VII

có số giờ nắng nhiều nhất đạt 200 - 230 giờ/tháng và tháng II, III có số giờ nắng

ít nhất khoảng 25 - 45 giờ/tháng Chế độ nắng cũng giống như chế độ nhiệt, nó

ảnh hưởng đến tốc độ và dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ và nồng độ oxy hòatan trong nước

- Chế độ nhiệt:

Chế độ nhiệt phân hóa rõ rệt theo đai cao trong khu vực nghiên cứu Nhiệt

độ trung bình năm ở vùng thấp đạt từ 25 - 270C, ở vùng đồi núi phía Tây và TâyBắc nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 240C Mùa đông nhiệt độ trung bình ở vùngcao giảm xuống còn 16 - 190C, mùa hè trung bình khoảng 220C; còn ở vùng thấpmùa đông nhiệt độ trung bình 18 - 200C, mùa hè từ 27 - 300C Trong trường hợpcực đoan, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 400C, và nhiệt độ tối thấp có thể xuống

Trang 31

tới dưới 00C Chế độ nhiệt của nước phụ thuộc vào chế độ nhiệt của không khí

đã ảnh hưởng đến các quá trình hóa lý xảy ra trong nước , nó ảnh hưởng đến đờisống các vi sinh vật và vi khuẩn sống trong nước

- Chế độ gió:

Mùa đông gió có hướng thịnh hành là Đông Bắc, tần suất đạt 60 - 70%.Một số nơi do ảnh hưởng của địa hình, hướng gió đổi thành Tây Bắc và Bắc, tầnsuất đạt 25 - 40% Mùa hè các tháng V, VI, VII hướng gió ổn định, thịnh hành làĐông và Đông Nam, tần suất đạt 60 - 70% Tháng VIII hướng gió phân tán,hướng thịnh hành nhất cũng chỉ đạt tần suất 20 - 25% Các tháng chuyển tiếphướng gió không ổn định, tần suất mỗi hướng thay đổi trung bình từ 10 - 15%

- Chế độ mưa ẩm:

Do địa hình khu vực nghiên cứu đa dạng và phức tạp nên lượng mưa cũngbiến đổi không đều theo không gian Phần hữu ngạn của lưu vực có mưa khá lớn(X > 1800 mm), nhất là vùng đồi núi phía Tây (X > 2000 mm) Trung tâm mưalớn nhất ở thượng nguồn sông Tích thuộc núi Ba Vì (X = 2200 - 2400 mm).Phần tả ngạn lưu vực, lượng mưa tương đối nhỏ (X = 1500 - 1800 mm), nhỏnhất ở thượng nguồn sông Đáy, sông Nhuệ (X = 1500 mm), và lại tăng dần raphía biển (X = 1800 - 2000 mm)

Mùa mưa trùng với thời lỳ mùa hè, từ tháng V X, lượng mưa chiếm 80 85% tổng lượng mưa năm, đạt từ 1200 - 1800 mm với số ngày mưa vào khoảng

-60 - 70 ngày

Lượng mưa các tháng mùa khô đều dưới 100 mm/tháng, trong đó thángXII, I, II, III dưới 50 mm/tháng Trong thời kỳ này, dòng chảy nhỏ, chủ yếu phụthuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc

Trang 32

b, Đặc điểm thủy văn

b1, Mạng lưới sông ngòi trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy trên địa phận Hà Nội

- Sông Đáy:

Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, dài

237 km, bắt đầu từ cửa Hát Môn chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và đổ rabiển tại cửa Đáy Nhưng đến năm 1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy nướcsông Hồng không thường xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy trừ những nămphân lũ, vì vậy phần đầu nguồn sông (từ 0 km đến Ba Thá dài 71 km) sông Đáycoi như đoạn sông chết Hiện tượng bồi lắng và nhân dân lấn đất canh tác cản trởviệc thoát lũ mùa mưa Lượng nước để nuôi sông Đáy chủ yếu là do các sôngnhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào Nam Định, sông Nhuệ.Sông chảy theo hướng TB - ĐN

Hiện nay, sông Đáy đã bị xâm nhập mặn ở vùng hạ du Phần thượng vàtrung lưu cũng đã bị ô nhiễm do nguồn thải ở vùng dân cư tập trung, khu côngnghiệp của các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hà Nội, đặc biệt là úng,lụt ở vùng trũng Nam Định, Ninh Bình gây ô nhiễm môi trường nói chung vàmôi trường nước nói riêng

- Sông Nhuệ:

Sông Nhuệ dài 74 km, lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tướicho hệ thống thủy nông Đan Hoài Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố HàNội, quận Hà Đông và chảy vào sông Đáy tại thị xã Phủ Lý Sông Nhuệ có diệntích lưu vực 1.070 km2, chiếm 13,95% trong tổng diện tích lưu vực Nước sông

Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ 11 - 17 m3/

s, lưu lượng cực đại đạt 30 m3/s

- Những con sông thoát nước chính của Hà Nội:

+ Sông Tô Lịch: dài 14,6 km, rộngtrung bình 40 - 45 m, sâu 3 - 4 m, bắtđầu từ cống Bưởi chảy qua địa phận Từ Liêm, Thanh Trì qua đập Thanh Liệt và

Trang 33

đổ vào sông Nhuệ Đoạn cuối sông Tô Lịch tiếp nhận nước của sông Lừ, sôngKim Ngưu và đảm nhận tiêu thoát toàn bộ nước thải của thành phố.

+ Sông Sét: dài 5,9 km, sộng 10 - 30 m, sâu 3 - 4 m, bắt nguồn từ cống BàTriệu, hồ Bảy Mẫu rồi đổ ra sông Kim Ngưu ở Giáp Nhị

+ Sông Kim Ngưu: dài 11,8 km, rộng 20 - 30 m, sâu 3 - 4 m, bắt nguồn từđiểm xả cống Lò Đúc, tiếp nhận nước của sông Sét tại Giáp Nhị và hợp lưu vớisông Tô Lịch tại Thanh Liệt

+ Sông Lừ (sông Nam Đồng): dài 5,6 km, rộng trung bình 30 m, sâu 2 - 3

m, nhận nước thải, nước mưa từ các cống Trịnh Hoài Đức, cống Trắng (KhâmThiên) chảy qua Trung Tự về đường Trường Chinh và đổ ra sông Tô Lịch

b2, Chế độ thủy văn

Cũng như chế độ mưa ẩm, dòng chảy phân bố trên lưu vực cũng khôngđều, dòng chảy lớn nhất là ở núi Ba Vì, phần hữu ngạn lưu vực có dòng chảy lớnhơn phần tả ngạn Dòng chảy mùa lũ từ tháng 6 - 10 cũng chiếm 70 - 80% lượngdòng chảy năm, tháng 9 là tháng có dòng chảy trung bình tháng lớn nhất chiếmkhoảng 20 - 30% lượng dòng chảy năm và lũ lớn nhất năm của sông Đáy cũngthường xuyên xảy ra vào tháng 9

Do độ dốc dòng sông và cường độ mưa lớn ở vùng thượng lưu vực nên lũ

ở các sông suối vùa và nhỏ lên xuống rất nhanh với cường suất lũ lên lớn nhất cóthể tới 2 m/h (tại trạm Hưng Thi 2,28 m/h) Biên độ lũ có thể 9 - 10 m và tốc độ

Trang 34

dòng chảy lớn nhất có thể > 4 m/s (trạm Lâm Sơn Vmax = 4,37 m/s, trạm HưngThi Vmax = 3,49 m/s) Thời gian kéo dài một trận lũ chỉ từ 1 - 3 ngày.

Sông Đáy có vị trí rất quan trọng, trước đây nó vừa là đường thoát nướcchính của sông Hồng, vừa là đường tiêu nước của bản thân LVS Đáy Trên dòngchính sông Đáy ở trung và hạ lưu có các chi lưu là sông Nhuệ, sông Châu, sôngĐào Nam Định Chế độ dòng chảy sông Đáy không những chịu ảnh hưởng củacác yếu tố mặt đệm trong lưu vực, các yếu tố khí hậu (trước hết là mưa) mà cònphụ thuộc vào chế độ nước sông Hồng và chế độ thủy triều vịnh Bắc Bộ Vì thế

mà chế độ dòng chảy sông Đáy rất phức tạp và có sự khác nhau nhất định giữacác đoạn sông Do địa hình lòng dẫn ở một số đoạn bị thu hẹp (như eo TânLang), và sự lấn chiếm lòng sông, bãi sông làm cản trở thoát lũ, them vào đó lànước vật từ sông Đào Nam Định do sông Hồng chảy sang và nhất là khi lũ gặptriều cường thì lũ rút rất chậm, kéo dài trong nhiều ngày gây úng ngập ở cácvùng trũng, ảnh hưởng xấu đến nước sinh hoạt và môi trường sống của nhân dânvùng úng ngập

4.1.1.4 Đất

Theo phân loại phát sinh học trên bản đồ đất tỷ lệ 1/250.000 và sự chuyểnđổi tương đương sang phân loại của FAO - UNESCO, trong lưu vực đã phát sinhmột lớp phủ thổ nhưỡng gồm 2 tổ hợp đất và 25 đơn vị đất, 1 đơn vị núi đá trọc

Trang 35

và hình thành các nhóm đất chính như sau: nhóm đất mặn, nhóm đất phù sa,nhóm đất xám, nhóm đất vàng đỏ, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Dân số

Theo kết quả Tổng điều tra Dân số năm 2009, ở thời điểm 0h ngày1/4/2009, dân số Hà Nội có 6.448.837 người, chiếm 7,51% dân số cả nước, xếpthứ 2 về số dân sau thành phố Hồ Chí Minh Tốc độ tăng dân số bình quân mỗinăm là 2,11% (mức tăng này cao hơn mức tăng bình quân của cả nước (1,2%),cao hơn hai lần mức tăng của vùng đồng bằng sông Hồng) Ước tính dân sốtrung bình năm 2010 toàn thành phố có 6.611,7 ngàn người tăng 2,1% so vớinăm 2009, trong đó nam có 3.248,6 ngàn người chiếm 49,13%, nữ có 3.363,1ngàn người chiếm 50,87% Tỷ suất sinh thô ước tính năm 2010 là 16,75‰ giảm

so với năm 2009 (17,15‰) là 0,04‰.

Mật độ dân số chung của Hà Nội là 1.926 người/km2 (cao hơn 7,4 lần mật

độ dân số cả nước 256 người/km2) và phân bố không đồng đều giữa các quận,huyện, thị xã Nơi có mật độ dân số cao nhất là quận Đống Đa 36.550người/km2, quận Hai Bà Trưng 29.368 người/km2; nơi có mật độ dân số thấpnhất là huyện Ba Vì 576 người/km2

4.1.2.2 Đô thị hóa

Dân số Hà Nội sống ở khu vực thành thị có 2.632.087 người và ở khu vựcnông thôn là 3.816.750 người Tỷ trọng dân số ở khu vực thành thị là 40,5%,nhiều hơn 34,75% vào năm 1999 và bằng 10,37% dân số thành thị của cả nước

Tỷ lệ tăng dân số khu vực thành thị bình quân mỗi năm trong thời kỳ 1999 –

2009 là 3,76%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 1,12% Trong1.204.688 người tăng lên giữa hai cuộc Tổng điều tra thì 66,9% người ở khu vựcthành thị và 33,1% người ở khu vực nông thôn

Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá ởViệt Nam diễn ra nhanh, nhất là trong 10 năm trở lại đây Năm 1990, tỷ lệ đô thị

Trang 36

hoá mới đạt vào khoảng 17-18%, đến năm 2000 con số này đã là 23,6% và hiệnnay đạt 28% Dự báo, năm 2020, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam sẽ đạt khoảng45% Trong xu thế đó, Hà Nội là một trong hai thành phố (thành phố Hồ ChíMinh) có mức và tốc độ đô thị hóa đạt cao nhất Ước tính đến năm 2010, tỷ lệ đôthị hóa đạt ở Hà Nội là 30 - 32% và nhảy vọt thành 55 - 65% vào năm 2020 Quátrình đô thị hóa của Hà Nội đã phát triển mạnh theo chiều rộng và có sức lan tỏamạnh (đô thị hóa theo chiều rộng).

4.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế - xã hội của Hà Nội năm 2010 được phát triển toàn diện

và đạt được những kết quả khá Dự kiến cả năm 2010, tổng sản phẩm nội địa

(GDP) tăng 11% so với năm 2009, trong đó ngành công nghiệp tăng 11,6%, các

ngành dịch vụ tăng 11,1%, Ngành nông, lâm, thuỷ sản tăng 7,2%

Hà Nội hiện có 1.350 làng có nghề, trong đó có 244 làng nghề truyềnthống Nhưng, đến nay phát triển nghề, làng nghề vẫn mang tính tự phát, dothiếu mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư đổi mới công nghệ, thông tin thị trường, sảnphẩm chưa có thương hiệu

Trên địa bàn thành phố đã có 43/49 cụm công nghiệp (CCN), 63/177 điểmcông nghiệp đã và đang xây dựng, trong đó 19 CCN đã hoàn thành hoặc cơ bảnhoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đi vào hoạt động; 7 CCN đang triểnkhai xây dựng từng phần các hạng mục hạ tầng kỹ thuật và thu hút các nhà đầu

tư thứ phát; 17 CCN mới đang thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư; 6 CCN đangtrong quá trình kêu gọi đầu tư; 22 điểm đã hoàn thành hoặc cơ bản hoàn thànhxây dựng hạ tầng kỹ thuật, đã giao đất cho các hộ sản xuất làng nghề xây dựngnhà xưởng; 41 điểm đang hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặtbằng hoặc bắt đầu triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật

Nhìn chung thời gian qua, các khu, CCN trên địa bàn TP Hà Nội pháttriển khá nhanh Giai đoạn 2005-2009, đã thành lập và triển khai xây dựng 36CCN (bằng 73%), 55 điểm công nghiệp làng nghề (bằng 87%); tổng diện tích đã

Trang 37

xây dựng hạ tầng kỹ thuật đạt 2.150ha, đã giao đất và cấp phép đầu tư cho hơn1.200 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài, hơn 1.500 hộ sản xuất tại các làngnghề vào đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng vào quá trình thúcđẩy phát triển sản xuất công nghiệp, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường tạicác làng nghề trên địa bàn thành phố.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 1/10/2010, đàn trâu toàn Thànhphố hiện có 26.900 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1.451 tấn Tổng đànlợn hiện có 1.625.165 con, số lợn xuất chuồng trong năm là 4.120.207 con, sảnlượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 308.217 tấn

Năm 2010 diện tích rừng trồng mới ước đạt 296 ha, tăng 6,9% cùng kỳ.Diện tích rừng được chăm sóc 627,2 ha, diện tích rừng được giao khoán, bảo vệ 5.545,6 ha, số cây trồng phân tán ước đạt 753 ngàn cây Sản lượng gỗ khai thácước đạt 10 037 m3 , tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2009 và đều được khai thác

từ rừng trồng

Theo kết quả điều tra thuỷ sản 1/11/2010 của các huyện, quận, thị xã:Diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn Thành phố đạt 20.554,5 ha, tăng 5,3% socùng kỳ Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 56.734,8 tấn, tăng 36,76% so vớicùng kỳ Tổng sản lượng thuỷ sản khai thác năm nay đạt 2.653,1 tấn, giảm7,72% so cùng kỳ

Hà Nội hiện có 2.363 trường, có với 39.442 lớp, 1.355.216 học sinh và72.924 giáo viên các cấp học, ngành học Thành phố hiện có 50 trường Đại học,

27 trường Cao đẳng và 52 trường Trung học chuyên nghiệp

Tổng thu ngân sách trên địa bàn dự kiến cả năm 2010 đạt 100.000 tỷđồng, vượt 12,7% dự toán năm, tăng 17% so năm 2009, trong đó thu nội địa là87.560 tỷ đồng Tổng chi ngân sách địa phương năm 2010 là 40.037 tỷ đồng,vượt 14,9% dự toán, giảm 13,2% so năm trước, trong đó chi thường xuyên là17.905 tỷ đồng; chi xây dựng cơ bản là 16.922 tỷ đồng [18]

Trang 38

4.2 Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội.

4.2.1 Tài nguyên nước mặt trên toàn lưu vực sông Đáy

- Tài nguyên nước mặt trên LVS Đáy gồm có hai phần đó là:

+ Nước mặt được sinh ra do mưa trên diện tích LVS Đáy sau khi trừ đibốc hơi phần còn lại được coi là tài nguyên nước Lượng nước này bị tiêu haomột phần do ngấm, do trữ lại trên các đồng ruộng ao hồ, còn phần lớn tạo thànhdòng chảy trên các sông nhánh cũng như sông chính của toàn lưu vực

+ Nước mặt được chuyển sang sông Đáy theo các phân lưu sông Hồngnhư sông Đào Nam Định, sông Ninh Cơ được tính theo tỷ lệ phân bổ so với Sơn Tây

- Trên cơ sở các số liệu tính toán lượng mưa và dòng chảy theo các tầnsuất, Đại học Mỏ - Địa chất đã đưa ra kết quả nghiên cứu về tổng hợp tài nguyênnước mặt trên LVS Đáy trong bảng sau:

Bảng 4.1: Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Đáy

Trang 39

4.2.2 Hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội

Hình 4.1: Bản đồ phân đoạn ô nhiễm nước mặt lưu vực sông

Nhuệ - sông Đáy

Trang 40

a, Hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội năm 2008

Sông Nhuệ là một chi lưu của sông Hồng, nhận nước sông Hồng qua cống LiênMạc, tiêu nước thải và nước mưa cho thành phố Hà Nội, nhập vào sông Đáy tạithị xã Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) Do vậy, trận lụt lịch sử tại Hà Nội diễn ra vào cuốinăm 2008 (từ 30/10-07/11/2008) đã làm cho chất lượng nước sông Nhuệ có sựthay đổi lớn trong năm 2008 Điều này được thể hiện rõ qua kết quả phân tíchmẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy trong 2 bảng số liệu sau:

Ngày đăng: 13/05/2015, 10:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Quyết định số 57/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020
15. Quản lý Tài nguyên nước của cộng hòa Pháp, Thạc sỹ Lê Văn Hợp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, http://www.wrd.gov.vn/Noi-dung/Quan-ly-tai-nguyen-nuoc-cua-Cong-Hoa-Phap/29744.news Link
18. Tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội năm 2010 , http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=383&idmid=2&ItemID=10849 Link
1. Báo cáo môi trường Quốc gia 2006: Hiện trạng môi trường nước 3 lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy, hệ thống sông Đồng Nai Khác
2. Báo cáo Tình hình triển khai Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2010 và các giải pháp thực hiện đề án giai đoạn 2011-2015 Khác
3. Báo cáo Tình hình triển khai Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 Khác
4. Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020 Khác
5. Đề án Quản lý bảo vệ môi trường, quản lý sử dụng đất đai lưu vực sông Nhuệ (9/2009) Khác
6. Hội nghị Triển khai Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy Khác
9. Quyết định số 1404/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy Khác
10. Quyết định Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy (Ban hành kèm theo Quyết định số 1698/QĐ-BTNMT, ngày 16 tháng 09 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường) Khác
11. GS.TS. Ngô Đình Tuấn, Quản lý tổng hợp Tài nguyên nước, NXB Hà Nội, 2000 Khác
12. Quản lý tổng hợp lưu vực sông trên thế giới và những vấn đề cần nghiên cứu khi đề xuất mô hình quản lý lưu vực sông ở Việt Nam, TS. Lê Trung Tuân, Viện khoa học Thủy lợi, NN&PTNN kỳ 2 - tháng 3/2005 Khác
13. Một số vấn đề về thực hiện Quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông ở nước ta hiện nay, PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng, trường Đại học Thủy lợi, NN&PTNN 12/2004 Khác
14. Sổ tay phổ biến kiến thức Tài nguyên nước Việt Nam, Ủy ban quốc gia về Chương trình Thủy văn Quốc tế (VNC-IHP) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1: Bản đồ phân đoạn ô nhiễm nước mặt lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy - luận văn kỹ thuật môi trường Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội
Hình 4.1 Bản đồ phân đoạn ô nhiễm nước mặt lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy (Trang 38)
Bảng 4.4:  Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 9/2009 (trên địa phận thành phố Hà Nội) - luận văn kỹ thuật môi trường Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội
Bảng 4.4 Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 9/2009 (trên địa phận thành phố Hà Nội) (Trang 44)
Bảng 4.5:  Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 11/2009 (trên địa phận thành phố Hà Nội) - luận văn kỹ thuật môi trường Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội
Bảng 4.5 Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 11/2009 (trên địa phận thành phố Hà Nội) (Trang 46)
Hình 4.6: Một điểm cống xả nước thải ra sông Nhuệ tại - luận văn kỹ thuật môi trường Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội
Hình 4.6 Một điểm cống xả nước thải ra sông Nhuệ tại (Trang 49)
Hình 4.9: Đường ống dẫn nước thải đen ngòm của cơ sở sản xuất bột giấy chạy ngầm, xuyên qua thân đê - luận văn kỹ thuật môi trường Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội
Hình 4.9 Đường ống dẫn nước thải đen ngòm của cơ sở sản xuất bột giấy chạy ngầm, xuyên qua thân đê (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w