LỜI MỞ ĐẦUI .Đặt vấn đề: Phân bón hóa học và thuốc trừ sâu là những điều kiện tất yếu trong nôngnghiệp trong khi nhu cầu lương thực không ngừng tăng lên.Chúng ta không thểđáp ứng nhu cầu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề:
Phân bón hóa học và thuốc trừ sâu là những điều kiện tất yếu trong nôngnghiệp trong khi nhu cầu lương thực không ngừng tăng lên.Chúng ta không thểđáp ứng nhu cầu nếu thiếu chúng nhưng lạm dụng nhiều sẽ để lại những hậu quảnhư nhiễm độc cấp tính,quái thai.Ô nhiễm môi trường gồm đồ uống và nước tướitiêu tiêu diệt các loài có lợi và môi trường sống của chúng.Việt Nam đang chuyển
từ nước nông nghiệp sang hiện đại hóa công nghiệp,lực lượng nhân lực ngày càngtăng lên thì nhu cầu lương thục càng tăng nhưng với vốn trinh độ hiểu biết thấp thìcác vấn đề từ vệ sinh an toàn thực phẩm dễ phát sinh.Các hóa chất có hại sẽ tíchlũy trong lương thực hàng ngày chúng ta ăn mà còn gây ô nhiễm môi trường sinhthái
Vì vậy đề tài này ta sẽ nghiên cứu dộc chất tích lũy trong sản
phẩm nông nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi
trường sống.Từ đó ta sẽ có một nhìn nhận và dánh giá thiết thực
để có những biện pháp bảo vệ cho chính mình và cho môi trườngquanh ta
II.Mục đích – yêu cầu:
II.1.Mục đích: Tìm hiểu về nguồn độc chất tích lũy trong câytrồng dưới nhiều hình thức và cách phòng chống ,cải tạo
II.2.Yêu cầu: tìm hiểu các đôc chất cụ thể,tác hại.Đánh giá tìnhtrạng ô nhiễm và các biện pháp cai tạo hợp lí
II.3.Đối tượng nghiên cứu: tác dụng của thuốc trừ sâu và phânbón lên cây trồng.Các kim loại nặng tích lũy trong cây trồng
II.4.Phương pháp nghiên cứu: tìm các thông tin về nguồn độc chấttích lũy trong cây trồng từ các nguồn tài liệu của thư viện và trênmạng internet
Trang 2II.5.Phạm vi nghiên cứu:trên các tài liệu đã đươc thu thập từ trước
do khảo sát ở các vùng ô nhiễm ở thành phố và nông thôn trongnước,cung các tài liệu khảo sát ở nước ngoài
II.6.Kết quả nghiên cứu:
Sau khi nghiên cứu ta sẽ hiểu rõ thêm về các nguồn độc chấttrong cây trông và cách bảo vệ sức khỏe con người
Vì thời gian có hạn nên khi làm bài em sẽ có nhũng saisót Em rất mong được góp ý của thầy để bài tiểu luận sau đạtkết quả tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trường, cảm
ơn viện đã cho em học bộ môn này và một nguồn tài liệu phongphú từ thư viện.Em cảm ơn thầy đã cho em làm đề tài này để emhiểu thêm về các độc chất phục vụ cho chuyên ngành mình học
và những kiến thức thực tiễn trong đời sống
Trang 3I.Một số khái niệm:
I.1Độc chất:
Chất độc là các chất có thể gây các tác dụng có hại cho sức khoẻ của chúngta
Chất độc có ở các dạng sau:
-Dạng rắn: các thuốc, cây cỏ, các hoá chất dạng bột,…
-Dạng lỏng: các hoá chất dạng dung dịch, mỹ phẩm, xà phòng dạng lỏng, hoá chấtđánh bóng, các thuốc dạng syrô,… Chú ý dạng chất độc này vì bạn có thể uốngvới số lượng lớn trong một thời gian ngắn và được cơ thể hấp thu rất nhanh
-Dạng mù (từ bình xịt hoặc phun): thuốc trừ sâu, sơn, hoặc một số hoá chất tẩy.Các dung dịch dạng hơi hoặc mù này rất dễ cháy, nổ và gây tổn thương cho phổi,tim,… nếu bạn hít phải
-Dạng không nhìn thấy: dạng khí hoặc hơi như các khí độc từ các đám cháy, côngnghiệp,…
Chất độc có thể là:
Các hoá chất dùng trong nông nghiệp (thuốc trừ sâu, trừ cỏ, diệt chuột, ).,Thuốc(thuốc tân dược, y học dân tộc).Các hoá chất trong công nghiệp, môi trường.Cáchoá chất dùng trong gia đình.Mỹ phẩm, vệ sinh.Các chất ma tuý.Vũ khí chiếntranh hoá học.Thực phẩm (đồ ăn, uống).Chất độc tự nhiên: động vật, cây cỏ, nấm
Chất độc có hình thức bên ngoài như thế nào ?
Trang 4Hình thức bên ngoài của chất độc rất đa dạng Một chất độc có thể cómàu sắc rất đẹp, có thể có các hình dạng và kích cỡ khác nhau, mùi vị thơm ngon.Chất độc thậm chí có thể rất giống với thức ăn hoặc đồ uống ưa thích của bạn.Nhưng ở đây ta sẽ nghiên cứu chất độc tiềm ẩn trong sản phẩm nông nghiệp mà ta
I.2.2 Tích lũy sinh học
I.2.2.1 Đặc tính của quá trình tích lũy sinh học
Sự tíchlũy sinh học được định nghĩa như là một quá trình mà qua đó sinh vậttích lũy các hóa chất trực tiếp từ môi trường vô sinh (vd nước, khí, đất) và từ cácnguồnthức ăn (truyền dưỡng) Các hóa chất môi trường được hấp thu một lượnglớn bởisinh vật qua quá trình khuếch tán thụ động
4.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy sinh học
Sự tích lũy sinh học các độc chất môi trường chịu ảnh hưởng bởi một vàiyếu tố Trước hết phải kể đến là tính bền vững trong môi trường của độc chất.Mức độ tích lũy của một chất trong môi trường được xác định bằng nồng độ củachất đó trong môi trường Chất gây ô nhiễm dễ dàng bị đào thải ra khỏi môi
trường thì thường không sẵn sàng cho tích lũy sinh học
(Ví dụ một số chất dễ dàng bị hấp thu bởi acid humic có trong bùn đáy thì thường
ít có khả năng tích lũy sinh học trong cá.)
Khi bị hấp thu bởi sinh vật, thì số phận của chất gây ô nhiễm sẽ ảnh
hưởng đến sự tích lũy sinh học của nó Các chất bị chuyển hóa sinh học thườngtrở nên dễ tan trong nước và ít tan trong lipid Chất bị chuyển hóa sinh học do đó
Trang 5ít bị cô lập trong khối lipid và dễ dàng bị đào thải ra khỏi cơ thể,các chất dễ dàng
bị chuyển hóa sinh học, thì sự tích lũy sinh họcsẽ ít diễn ra Sự khác nhau về tốc
độ đào thải dẫn đến sự khác nhau trong tích lũy sinh học của loài
I.3.Sản phẩm nông nghiệp:
Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc,
tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chănnuôi đàn gia súc.Sản phẩm nông nghiệp là các cây trồng,vật nuôi mang lai lợi íchcho con người.Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nôngnghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nôngnghiệp Các sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gâygiống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm
I.4.Độc chất tích lũy trong sản phẩm nông nghiệp:
Là các chất độc có hại tích lũy trong cây trồng bằng các con đường khacnhau gây hại cho sức khỏe con người khi được sử dụng và tích lũy trong cơ thể
II.Các con đường xâm nhập của độc chất:
Cây cối muốn phát triển được phải cần chất dinh dưỡng bên cạnh đó là cácyếu tố phong tránh kẻ thù ,nên chất độc sẽ xâm nhập qua quá trình sinh dưỡng củacây Như :
-phân bón
-thuốc trừ sâu
II.1.Phân bón:
II.1.1.Phân bón: là các hợp chất được cung cấp cho thực vật để đẩy mạnh tăng
trưởng Phân bón thường được trộn vào đất để cây hấp thụ bằng rễ, hoặc phun đểcây hấp thụ qua lá.Phân bón có thể là phân hữu cơ (có thành phần là các chất hữucơ), hoặc phân vô cơ (gồm các chất hóa học hoặc chất khoáng vô cơ đơn giản).Phân bón có thể được tạo một cách tự nhiên như lá mục hoặc khoáng chất có sẵntrong đất, hoặc được sản xuất bằng các quy trình tự nhiên (chẳng hạn ủ) hoặc hóahọc (chẳng hạn quy trình Haber)
Trang 6*So sánh giữa phân bón hóa học và phân bón tự nhiên
Phân Hóa học làm cho cây trồng bộc phát mạnh mẽ nhưng không duy trì hiệuquả được lâu Ngoài ra chúng còn để lại những tồn dư dưới các dạng muối trongđất gây nên những hậu quả có thể kể như sau : Ngăn cản cây trồng hấp thụ nhữngdưỡng chất cần thiết, tiêu diệt các loại vi sinh vật hữu ích cần thiết cho cây trồng Phân bón hóa học có thể gây nguy hiểm và độc hại cho bạn và môi trường sốngcủa bạn
Phân Hữu Cơ giúp tạo nên sự phì nhiêu của đất canh tác từ đó tạo sự mạnh khỏe và vững bền cho cây trồng để chúng nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh.Phân hữu cơ bảo đảm cho bạn và cây trồng của bạn sống trong một môi trường an toàn và không bị nhiễm độc Dùng phân hữu cơ sẽ tạo sự cân bằng về môi trường
và một điều quan trọng là thúc đẩy việc xử lý các phế phẩm hữu cơ đang tồn đọng gây ô nhiễm môi trường trở thành phân bón
Phân Hóa Học làm gia tăng sự mẫn cảm của cây trồng với các loại bệnh
Phân Hoá Học có thể làm cây trồng dễ mẫn cảm với các loại bệnh hơn qua việc giết chết các Vi Sinh Vật (VSV) trong đất mà các VSV này bảo vệ cho cây trồng khỏi bị một chứng bệnh nào đó Nhiều loại bệnh cho cây trồng được khống chế bởi các VSV phát triển quanh vùng rễ cây Hiện tượng thiếu các VSV này và một
số vi lượng cần thiết là khá phổ biến ở các vùng đất thường xuyên được bón phân hóa học và sự thiếu các vi lượng thiết yếu này lại là lý do để sử dụng thêm phân hóa học Kết quả là hệ thống rễ cây bị bao vây bởi quá nhiều một loại nguyên tố nào đó mà không thể hấp thụ các nguyên tố cần thiết khác do đó làm cho cây bị yếu đi vì mất cân đối dinh dưỡng và rất dễ bị các loại bệnh tấn công
Phân Hóa Học ngăn cản sự hấp thụ các dưỡng chất cần thiết: quanh vùng
lông hút của rễ cây, keo đất từ mùn hữu cơ chuyển hầu hết các chất khoáng từdung dịch đất sang hệ thống rễ cây và đi vào cây trồng Những hạt mùn sẽ có hấplực đối với các nguyên tố dinh dưỡng như đạm, lân, kali, và các nguyên tố kim
Trang 7loại khác Khi phân hóa học được bón vào đất năm này qua năm khác sẽ gây nên
sự thay đổi cơ bản cấu trúc của các hạt mùn hữu cơ và khi sử dụng liên tiếp, quánhiều các phần tử phân bón được đưa vào đất để mong đạt được sự phát triểnmạnh và nhanh của cây trồng Khi có quá nhiều phân tử bám quanh các hạt mùnlàm cho hệ thống lông hút của bộ rễ bị bội thực một loại nguyên tố và không cònkhả năng hấp thu các chất khoáng khác mà cây thực sự cần nữa
Phân Hóa Học diệt các tập đoàn vi sinh vật : Đất cần phải được coi như
một vật thể sống Khi phân hóa học được sử dụng năm này qua năm khác, cácAcid được tạo thành sẽ phá hủy các chất mùn hữu cơ phì nhiêu được tạo ra từ sựphân rã của các cơ thể sinh vật đất đã chết Các chất mùn này có tính năng liên kếtcác hạt đá li ti với nhau tạo nên sự phì nhiêu của đất canh tác Trên bề mặt của cácvùng đất canh tác thường bón phân hóa học, các hạt đá không có keo mùn hữu cơliên kết lại thường tạo thành một lớp rắn, ít hay nhiều không thấm nước, lớp rắntrên bề mặt này làm cho nước mưa hoặc nước tưới không thấm xuống đất được màchảy ra các ao hồ hoặc sông suối Như vậy lớp chất rắn bề mặt này đã ngăn cảnkhông cho nước thấm xuống, đồng thời cũng không cho nước ở dưới ngấm lêntrên để thoát hơi Lớp đất phía dưới trở thành bị ngộp và có tính Acid Trong lớpđất thiếu khí và có tính Acid này, mật độ VSV bị thay đổi và có thể bị chết
*Phân Hóa Học nguy hiểm và độc hại: Một số phân hóa học chứa hợp
chất Nitrat Khi được bón xuống đồng ruộng, nước mưa làm trôi các chất Nitratnày xuống ao hồ sông suối làm phát triển các loại rong tảo, khi rong tảo chết đi,quá trình phân hủy sẽ sử dụng rất nhiều Oxygen trong nước, hậu quả là nước bị
thiếu dưỡng khí và làm các sinh vật không thể sống được Ngoài ra dư lượng
Nitrat trong rau hoặc các thực phẩm có thể gây ra việc chuyển hóa Hemoglobin trong máu thành Methemoglobin, sự chuyển hóa này xảy ra mạnh và nhiều hơn ở người trẻ, gây nên bệnh và chết người.
Trang 8Việc làm giảm hàm lượng nitrat (NO3) trong rau quả đang là một vấn đềlớn và quan trọng trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới Nông phẩm có dưlượng NO3 cao thì càng có nhiều nguy cơ gây ngộ độc cho người tiêu dùng Nôngphẩm không tồn đọng NO3 và các hóa chất độc hại thì có giá trị trên thương trườngcao gấp nhiều lần so với nông phẩm bình thường.
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nitơ là một trongnhững yếu tố dinh dưỡng cơ bản cần thiết Nó tham gia vào việc cấu thành cácchất liệu di truyền và tất cả các loại protein cũng như các thành phần chủ yếu kháccủa tế bào thực vật Khi cung cấp không đủ hàm lượng nitơ cần thiết, quá trìnhsinh trưởng và phát triển của cây trồng sẽ bị hạn chế hoặc ngưng hoàn toàn
Để có thể tạo được các aminoacide, cần có nitơ ở dạng NO3 và NO2 Khicây có đủ lượng glucide thì phần lớn NO3 sẽ được chuyển hóa thành NH3 ở bộ rễ.Quá trình chuyển hóa này cần hàng loạt các enzyme flavoprotein xúc tác với sựtham gia của kim loại như Mo, Cu, Fe, Mn trong đó Mo có ý nghĩa đặc biệt đốivới sự tăng cường quá trình khử NO3
Quá trình trao đổi nitơ xảy ra trong toàn bộ đời sống cây trồng nhưng thayđổi tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau Trong điềukiện dinh dưỡng nitơ tối ưu, tốc độ sinh trưởng của cây trồng được thúc đẩy nhanhhơn và quá trình hóa già có thể chậm lại Khi lượng NO3 trong cây thiếu hụt, nó sẽđược đáp ứng bằng cách oxy hóa NH3 Đây là quá trình nitrat hóa Quá trình nàyxảy ra mạnh trong điều kiện ẩm độ của đất đạt 60-70%, nhiệt độ từ 25-30oC và pH
= 6,2-9,2
Các chất hữu cơ và vô cơ chứa đạm dưới nhiều dạng khác nhau, tùy theodạng đạm, chúng được chia thành các dạng NO3-, NO2-, NH3+ Một số cây trồng
có khả năng tích lũy một lượng lớn NH3 trong suốt giai đoạn sinh trưởng của nó
mà không gây hại cho cây Các kết quả phân tích cho thấy có sự liên quan giữanăng suất thu hoạch và hàm lượng nitrat (lượng đạm bón càng cao thì năng suất
Trang 9cây trồng cũng tăng cao nhưng lại tích lũy một lượng thừa nitrat trong nôngphẩm)
Khi xâm nhập vào cơ thể con người với liều cao, dưới tác động của cácenzyme trong cơ thể, nitrat chuyển hóa thành nitrit, ngăn cản việc hình thành vàtrao đổi oxy của hemoglobine trong máu, dẫn đến tình trạng thiếu oxy của tế bào(ngộ độc nitrat) Nitrat đặc biệt nguy hại đối với cơ thể trẻ em Ngoài ra nitrittrong cơ thể con là nguồn tạo ra các nitroza gây ung thư Do đó, để hạn chế mốinguy hại do nitrat trong nông phẩm gây nên, người ta đã quy định mức tối đa dưlượng nitrat có trong từng loại rau quả
II.2.Thuốc trừ sâu:
Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên
có đặc điểm nóng và ẩm quanh năm Điều kiện khí hậu này rất thuận lợi cho sựphát triển của cây trồng và đây cũng là môi trường tốt cho sự phát sinh và pháttriển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại cho cây trồng đặc biệt là trên cây rau Để hạnchế sự phá hại của sâu, bệnh hại thì việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bảo vệ mùamàng là một biện pháp quan trọng và chủ yếu.Thuốc bảo vệ thực vật cùng vớiphân bón là những phát minh vĩ đại của con người để đảm bảo an ninh lương thực,đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng cao của loài người Tuy nhiên thuốc bảo vệthực vật về tính độc thì nó lại độc hại đối với sức khỏe của con người do đó khi sửdụng chúng cần phải tuân thủ đúng theo khuyến cáo của nhà khoa học và chỉ dẫnghi trên bao bì, không được lạm dụng và sử dụng một cách bừa bãi thiếu kiểm soátnhằm đảm bảo sức khỏe con người và đảm bảo vệ sinh môi trường Dư lượngthuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọađối với sức khỏe con người, ảnh hưởng xấu đến môi sinh Ngoài ra, khi phunthuốc bảo vệ thực vật thì một lượng thuốc đáng kể sẽ rơi vào đất và tồn tại trong
đó về lâu dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức sinh trưởng và phát triển của câytrồng
Trang 10Tác hại thuốc trừ sâu?
1 Những người nông dân ở các quốc gia đang phát triển có nguy cơ phơi nhiễm đặc biệt cao do chính các loại thuốc trừ sâu họ sử dụng và phần lớn trong số họ thiếu hiểu biết về những nguy cơ có thể xảy ra Những biện pháp bảo hộ thường không được sử dụng và hậu quả là nhiễm độc thuốc trừ sâu xảy ra khá thường xuyên
2 Những biểu hiện cấp tính của việc nhiễm độc thuốc trừ sâu bao gồm: tê dại, cảmgiác kim châm, thiếu khả năng phối hợp hoạt động, đau đầu, chóng mặt, rùng mình, cảm giác buồn nôn, đau bụng, đổ mồ hôi, mờ mắt, khó thở, suy hô hấp hay giảm nhịp đập của tim
3 Thuốc trừ sâu với một liều lượng cao có thể gây bất tỉnh, co giật hoặc tử vong
4 Những ảnh hưởng mãn tính của việc tiếp xúc thuốc trừ sâu trong một thời gian dài bao gồm: suy giảm trí nhớ và sự tập trung, mất phương hướng, sự trầm cảm nghiêm trọng, nổi cáu, rối loạn, đau đầu, khó khăn trong giao tiếp, phản xạ chậm,
ác mộng, mộng du, ngủ gà hay mất ngủ
5 Một số thuốc trừ sâu nhất định đã được chứng minh là chất làm ức chế thần kinh (làm rối loạn chức năng của hệ thống thần kinh) hay chất làm rối loạn hoóc môn(cản trở hoạt động sản xuất và làm việc)
6 Các bằng chứng cũng cho thấy mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc trừ sâu với các bệnh về hô hấp, da, ung thư, khuyết tật thai nhi, rối loạn về sinh sản và thần kinh
7 Trẻ em và thai nhi đặc biệt dễ bị tổn thương bởi sự nhiễm độc thuốc trừ sâu Việc tiếp xúc rộng rãi với thuốc trừ sâu tại các quốc gia đang phát triển là một vấn
đề hết sức nghiêm trọng
8 Những khuôn khổ điều chỉnh hiện thời không quan tâm một cách hợp lý đến các
mô hình sử dụng thuốc trừ sâu tại các nước đang phát triển (ví dụ như sự pha trộn các loại thuốc trừ sâu, việc thiếu quần áo bảo hộ, mức độ tiếp xúc cao…)
I.2.1 Thực trạng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên rau:
Trang 11Thuốc BVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chấttổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản chống lại sự phá hại của sinhvật gây hại.Dư lượng là liều lượng hoạt chất và các sản phẩm trung gian sau khiphân hủy có độc tính còn lưu lại trong nông sản, môi trường Sau một khoảng thờigian nó sinh ra các hợp chất mới thường có tính độc cao hơn bản thân nó.
Thuốc diệt cả2,4-D tồn lưu trong MTST đất cũng có khả năng tích lũytrong quả hạt cây trồng.Các thuốc trừ sâu dẫn xuất từ EDBC như maned,propinedkhông có tính độc cao với động vật máu nóng và không tồn dư lâu trong môitrường nhưng dư lượng của chúng trên khoai tây và cà rốt…,dưới tác dụng củanhiệt có thể chuyển thành ETV,mà ETV qua nghiên cưu cho chuột ăn gây ung thư
và đẻ chuột quái thai
Theo Chi cục BVTV thành phố Hồ Chí Minh (2007), kiểm tra trên 3.050 mẫu rau từ các chợ đầu mối, siêu thị, cửa hàng, cơ sở chế biến có 141 mẫu dư lượng thuốc BVTV vượt quá mức cho phép nhiều lần Những mẫu rau bị nhiễm có nguồn gốc từ nhiều nơi trên cả nước tập trung ở Lâm Đồng (52 mẫu), thành phố
Hồ Chí Minh (22 mẫu), Tiền Giang (15 mẫu) và Long An (11 mẫu) Qua đó cho thấy tình hình dư lượng thuốc BVTV trên rau tại thành phố Hồ Chí Minh khó kiểm soát được nguồn gốc xuất xứ của từng loại rau này nên khi bán ra thị trường người tiêu dùng không thể biết được loại rau nào là an toàn và không an toàn ảnh hưởng đến sức khỏe của chính họ.
Đây là một thực trạng đáng báo động không những ảnh hưởng xấu đến sứckhỏe của người tiêu dùng, người sản xuất mà còn ảnh hưởng đến sự cạnh tranh củarau cải trên thị trường Muốn khắc phục được tình trạng này thì trong quá trình sảnxuất cần phải sử dụng thuốc BVTV một cách cân đối và hợp lý, sử dụng các chếphẩm sinh học thay thế dần các loại thuốc hóa học và nhất là sản xuất rau an toàntheo tiêu chuẩn GAP
Trang 12Đầu năm 2007 Chi cục BVTV An Giang tiến hành kiểm tra nhanh dư lượngthuốc BVTV trong rau bằng phương pháp GT – Test Kit Trong số 19 mẫu rau quảcác loại tại Chợ Mới, Long Xuyên đã có 10 mẫu phát hiện có dư lượng trong đó có
8 mẫu ở mức không an toàn là cà chua, bẹ dún, đậu que, đậu đủa, cải xanh, cải bắpchiếm 41,1% Chỉ qua việc kiểm tra nhanh trên 19 mẫu rau quả mà đã có đến 10mẫu phát hiện có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, đây là một thực trạng đáng báođộng ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm đồng thời trên hết là ảnh hưởng đếnsức khỏe của người tiêu dùng Tình trạng này cần phải được khắc phục nếu để kéodài thì không những sức khỏe của người tiêu dùng bị đe dọa mà còn ảnh hưởngxấu đến thương hiệu rau quả của Việt Nam trên thị trường thế giới
Qua việc kiểm tra trên cho thấy tình hình dư lượng thuốc BVTV tại các tỉnh
là rất phức tạp người dân khó có thể phát hiện được loại rau mà họ sử dụng là cónhiễm độc hay không, tạo tâm lý lo sợ khi họ sử dụng thực phẩm ảnh hưởng đến
uy tín và thương hiệu của sản phẩm trên thị trường
Theo thống kê của viện BVTV Việt mỗi ngày một tăng: từ 10.300 tấn lên33.000 tấn vào đầu những năm 1990; đến năm 2003 tăng lên 45.000 tấn và năm
2005 đã là 50.000 tấn Nhiều loại thuốc trừ sâu cực độc đã bị cấm sử dụng ở ViệtNam nhưng vẫn còn lưu thông trên thị trường và loại thuốc trừ sâu cực độc nàyvẫn được sử dụng; ước còn khoảng 15 – 20% trên tổng lượng thuốc BVTV đangđược sử dụng Sự lạm dụng hóa chất, thuốc BVTV và sử dụng những loại thuốccực độc đã làm cho độ màu mỡ của đất đai sút giảm nhanh chóng Nhiều vùng đấtcạn kiệt chất dinh dưỡng và thành đất hoang hóa (Phương Liễu, 2006)
Theo báo Lao Động (2007), những loại rau có nguy cơ nhiễm thuốc BVTV cao là cải xanh (miền Bắc 48,1%, miền Nam 44,4%), đậu cove (miền Nam 69%, miền Bắc 51,5%), rau muống 30,4% Những loại rau này là những thực phẩm mà người dân sử dụng hằng ngày nếu chúng bị nhiễm thuốc BVTV thì có nguy cơ rất cao ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Trang 13Tình trạng ngộ độc thực phẩm (NĐTP) do sử dụng rau có dư lượng thuốc bảo vệ thực đang là một thực trạng đáng báo động tạo tâm lý lo sợ cho người tiêu dùng Theo Hồng Hải (2007), từ năm 2000 – 2006 đã có 174 vụ NĐTP tại bếp ăn tập thể với 14.653 người mắc, 97 vụ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất với 9.989 người mắc, 58 vụ trong các trường học với 3.790 người mắc và 2 cháu tử vong, 161 vụ NĐTP do thức ăn đường phố với 3.759 người mắc và 7 người chết Ngộ độc thực phẩm có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào nguyên nhân của NĐTP có rất nhiều nhưng nguyên nhân cốt lõi nhất là do nguồn nguyên liệu bị nhiễm độc nên khi chế biến thức ăn thì rất nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.
I.2.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến tồn dư thuốc BVTV trên rau:
Sử dụng thuốc nằm trong danh mục cấm hoặc đã quá hạn sử dụng
Tình hình lạm dụng thuốc BVTV gây ra những hậu quả nghiêm trọng chocon người do trong quá trình canh tác sản xuất rau họ không chú ý đến việc sửdụng loại thuốc BVTV nào cho an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng và môitrường Bên cạnh đó, người dân còn hạn chế sự hiểu biết về các loại thuốc BVTV
nó biểu hiện qua sự khảo sát ở 6.840 hộ nông dân tại khu vực phía Nam có 151 hộ
sử dụng thuốc BVTV cấm, 126 hộ dùng thuốc ngoài danh mục (Tấn Phát, 2003)
Theo Báo Lao Động (2008), nhiều loại thuốc nhóm lân hữu cơ thuộc danhmục những loại thuốc cấm sử dụng trên rau vẫn được sử dụng tràn lan như:Monitor, Azodrin, Endosulfan, Monocrotophos, Methamidophos, Methylparathion Đây là những loại thuốc có độ độc rất cao thời gian phân hủy kéo dàinếu tồn lưu trong rau thì cần phải trải qua thời gian dài mới phân hủy hết được.Những sản phẩm này khi bán ra thị trường sẽ ảnh hưởng trược tiếp đến sức khỏecủa cộng đồng Ngoài ra, một số loại thuốc có thể hủy hoại các mô tế bào của conngười gây ra những tổn thương về trước mắt và lâu dài
Trang 14Tất cả các trình bày trên đây đều là hiện tượng, nhưng tại sao? Tại sao bênbán vẫn có thuốc cấm, và bên mua lại chuộng thuốc cấm? nhà nước đã làm gì đểkhống chế việc này, và hiệu quả sao? Sao đi dông dài quá mà không thấy phân tích
gì hết vậy?
Không đảm bảo thời gian cách ly
Tình hình sử dụng thuốc không đảm bảo thời gian cách ly diễn ra rất phổbiến Qua kiểm tra việc sử dụng thuốc BVTV của 4.600 hộ nông dân phát hiện cóđến 59,8% hộ vi phạm chủ yếu là không đảm bảo thời gian cách ly chiếm đến20,7% (Hữu Điền, 2008) Theo kết quả điều tra thực tế tại xã Kiến An, huyện ChợMới, tỉnh An Giang cho thấy trước lúc thu hoạch 4 – 5 ngày nông dân vẫn sử dụngthuốc để trừ sâu trong khi trên nhãn chai ghi thời gian cách lý là 7 ngày Điều nàyrất nguy hiểm vì thời gian quá ngắn không đủ để thuốc phân hủy nên còn tồn tạitrong rau nếu những sản phẩm này được xuất bán ra thị trường sẽ ảnh hưởng xấuđến sức khỏe của con người
Theo Bảo Trung (2008), cho biết ngành BVTV đã kiểm tra 10.028 hộ nôngdân trồng rau, phát hiện 3.515 hộ vi phạm, chủ yếu là không đảm bảo thời giancách ly có 844 hộ, sử dụng thuốc không đúng nồng độ và kỹ thuật 1.267 hộ Nhìnchung, thực trạng lạm dụng thuốc BVTV và sử dụng thuốc sai qui định đang diễn
ra rất phổ biến và theo nhiều chiều hướng khác nhau
Liều lượng sử dụng thuốc vượt quá mức cho phép
Liều lượng là lượng thuốc cần dùng cho một đơn vị diện tích (đơn vị kg.ha
-1, L.ha-1) (Võ Tòng Xuân và Huỳnh Văn Thòn, 2004)
Hiện nay, trong quá trình sản xuất nông dân thường sử dụng thuốc khôngđúng theo khuyến cáo và chi dẫn ghi trên nhãn thuốc, họ chỉ dùng thuốc theo kinhnghiệm vượt quá chỉ định cho phép sử dụng gấp nhiều lần và số lần phun thuốc rấtnhiều lần Theo Thanh Hà (2008), cho biết có tới 70 – 80% hộ trồng rau phuntrung bình từ 8 – 12 lần thuốc BVTV trên 1 vụ trồng rau Cụ thể: số lần phun
Trang 15thuốc trên rau muống là 2 – 5 lần.vụ-1, cây đậu 8 – 15 lần, rau cải củ 3- 4 lần, càchua 3 – 10 lần, bắp cải 8 – 12 lần, mướp đắng 6 – 7 lần, dưa chuột 6 – 10 lần, dưahấu 6 – 15 lần Qua đó thấy được sự lạm dụng thuốc BVTV quá mức là nguyênnhân chính dẫn đến dư lượng thuốc BVTV trên rau ảnh hưởng xấu đến uy tính vàchất lượng của vùng trồng rau, sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe của người tiêudùng.
Nông dân hiểu biết về bệnh hại còn thấp
Theo kết quả khảo sát hiện trạng và biện pháp xử lý rác thải BVTV trên raumàu tại tiểu vùng III xã Kiến An, 2008 cho thấy nông dân luôn sử dụng thuốcBVTV quá liều lượng so với nhãn thuốc chiếm tới 96,7% hộ nông dân khi sử dụngthuốc, trong đó có 66,67% hộ nông dân sử dụng gấp 2 – 3 lần liều lượng so vớinhãn thuốc và 30% hộ sử dụng gấp 4 – 5 lần so với nhãn thuốc và chỉ có 3,33% hộnông dân sử dụng đúng liều lượng so với nhãn thuốc Hầu hết nông dân trongvùng có trình độ còn hạn chế, nhận thức không đồng đều nên việc hướng dẫnchuyển giao kỹ thuật gặp nhiều khó khăn trở ngại Phần lớn nông dân chỉ áp dụngcác biện pháp thủ công trong việc phòng trừ sâu hại Họ chưa nắm rõ được từngloại dịch hại nên khi dùng thuốc để diệt sâu bệnh họ chỉ dùng theo kinh nghiệmcủa mình hoặc được những nông dân khác truyền miệng Do vậy, mặc dù cùngmột loại thuốc đó người này sử dụng có hiệu quả nhưng người kia lại dùng không
có tác dụng nguyên nhân chính là do loại thuốc đó, hoạt chất đó không phù hợpkhông kháng được sâu bệnh mà cây trồng của họ nhiễm phải và khi không thấyđược hiệu quả thì tất nhiên là họ phải sử dụng loại thuốc khác, khi đó lượng thuốc
họ vừa sử dụng trước đó chưa kịp phân hủy còn tồn dư lại trên cây trồng Qua mộtthời gian thì dư lượng thuốc BVTV ngày càng tăng lên khi họ thu hoạch thì vôtình họ đã đem thực phẩm bị nhiễm độc tiêu thụ trên thị trường
Muốn khắc phục được tình trạng này thì cần phải tổ chức thường xuyên cáclớp tập huấn triển khai những kỹ thuật trong sử dụng thuốc BVTV để nông dânnắm chắc được những kỹ thuật này thì hiệu quả sử dụng thuốc của họ sẽ dần được
Trang 16hoàn thiện Cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong công tác thanhtra liên ngành (Sở Y tế; Sở Khoa học công nghệ; Sở công an; trung tâm kiểm địnhthuốc BVTV) quản lý lưu thông thuốc BVTV trên thị trường về nhãn hàng hóa,các tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, kiểm tra điều kiện sản xuất kinh doanh, tàiliệu quảng cáo, hội thảo Xây dựng và thực hiện kiểm tra đột xuất và thườngxuyên.
Thị trường thuốc BVTV đa dạng khó quản lý
Theo Kim Oanh (2008), chỉ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thị trường thuốcBVTV đã rất phong phú và đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau, không chỉđược kinh doanh trong các đại lý cấp 1, cấp 2, mà còn ở những cửa hàng buôn bánnhỏ lẻ bán theo mùa vụ Việc đăng ký kinh doanh thuốc BVTV đòi hỏi người chủcửa hàng phải có chứng nhận chuyên môn tuy nhiên không phải chủ cửa hàng nàocũng đã từng được tập huấn, có trình độ chuyên môn, nhiều chủ cửa hàng thậm chíchỉ mới học hết tiểu học Điều này rất không tốt, khi vào mùa vụ nông dân đến cửahàng mua thuốc chủ cửa hàng giới thiệu thuốc nào cũng đặc hiệu trị được nhiềuloại sâu hại mà giá thành lại rẻ Tâm lý của người nông dân thích rẻ nên mua vềdùng kết quả là không diệt được sâu hại mà còn phải tốn tiền của và công sức đểphun xịt thêm lần nữa Như vậy, vô tình người nông dân đã gieo vào đất lượngthuốc trừ sâu dư thừa làm tăng dư lượng thuốc BVTV trong đất làm ảnh hưởngxấu đến tính chất đất, gián tiếp ảnh hưởng đến sức sinh trưởng và phát triển củacây trồng
III.Các chất độc tích lũy trong các cây nông nghiệp và tác hại:
Rau xanh là thức ăn hằng ngày và rất cần thiết cho cơ thể con người, nhưngnếu trong rau xanh có hàm lượng kim loại nặng vượt mức giới hạn thì sẽ làm ảnhhưởng đến sức khoẻ con người Khi nghiên cứu kim loại nặng có trong rau xanh ởđịa bàn thuộc ngoại ơ thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) để biết mức độ kim loạinặng hiện diện trong rau
III.1.Giới thiệu: