Khóa luận một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với chữ cái ở trường mầm non trung du và miền núi huyện thọ xuân, thanh hóa6. Cấu trúc của khoá luận.Khoá luận có cấu trúc gồm 3 phần:A – Phần mở đầu.B – Phần nội dung nghiên cứu.C – Phần kết luận luận.Ở mỗi phần có các mục nội dung như sau:A – Phần mở đầu.1. Lý do chọn đề tài.2. Lịch sử vấn đề.3. Mục đích nghiên cứu.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.5. Phương pháp nghiên cứu.6. Cấu trúc của khoá luận.B – Nôi dung nghiên cứu.Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.1.Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp dạy trẻ ở trường mầm non.2.Đặc điểm tư duy và ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 56 tuổi.Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động làm quen chữ cái theo hướng đổi mới ở các trường mầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân.1.Vài nét về các trường mầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân.2.Thực trạng tổ chức hoạt động LQCC theo hướng đổi mới.Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động LQCC theo hướng đổi mới.1.Biện pháp.2.Thực nghiệm sư phạm.
Trang 1Đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng làm quen với chữ cái O trường mầm non trung du và miền núi huyện Thọ Xuân
PHẦN A: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dạy trẻ làm quen với chữ viết là một trong những nội dung quan trọng chotrẻ lúc mẫu giáo lớn Đối với trẻ mẫu giáo lớn, làm quen với chữ viết giúp trẻbước đầu nhận biết được các chữ cái và phát âm chuẩn các chữ cái trong các từtrọn vẹn, phát triển ở trẻ ở khả năng, so sánh và phát triển ngôn ngữ, khi trẻ đãthuộc và phát âm chuẩn các chữ cái thi trẻ sẽ dễ dàng làm quen với cách tô và viếtchữ dể chuẩn bị vào lớp 1 Ngoài ra việc cho trẻ làm quen với chữ viết còn pháttriển tư duy trực quan hành động, tư duy trực quan hình tượng và đặc biệt là pháttriển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Khi trẻ làm quen với chữ viết, các cơ ngón tay,
cơ bàn tay của trẻ phải hoạt động nhiều hơn, qua đó cũng phát triển cơ thể trẻ.Việc hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi “làm quen chữ cái” là cơ hội tốt đểsớm hình thành ở trẻ những năng lực hoạt động ngôn ngữ thái độ, phát triển trítuệ và kĩ năng làm quen với chữ cái Qua đó giáo dục tình cảm và phát triển tưduy mở rộng vốn hiểu biết của trẻ góp phần vào việc phát triển nhân cách toàndiện, chuẩn bị cho trẻ hành trang “ tiếng Việt” vững chắc để trẻ bước vào lớp 1.Trẻ mẫu giáo khi bước vào trường phổ thông là một bước ngoặt lớn và việcquan trọng nhất là ở đây ai sẽ là người giúp trẻ vượt qua những khó khăn đó?Không ai khác chính là các giáo viên mầm non, phụ huynh và bản thân trẻ Ởmẫu giáo trẻ đang quen với vui chơi là hoạt động chủ đạo, nhưng khi trẻ vào tiểuhọc thì học tập lại đóng vai trò chủ đạo nên việc cho trẻ làm quen với chữ cái ởtrẻ mẫu giáo không phải là đưa chương trình tiếng Việt của lớp 1 vào dạy mà ởđây trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi được sử dụng các yếu tố vui chơi và các nhiệm vụ họctập sáng tạo thông qua các hoạt động học tập
Ngoài ra, một số phụ huynh vẫn còn quan niệm đơn giản rằng, để chuẩn bịtốt môn tiếng Việt ở bậc tiểu hoc, chỉ cần dạy chữ trước cho trẻ mầm non, nghĩa
Trang 2là dạy trước chương trình lớp 1 Đó là cách suy nghĩ hết sức thiển cận, chỉ nhìnthấy ngọn mà chưa nhìn tới “gốc” Nhưng vấn đề quan trọng là vun đắp cho cáigốc khoẻ thì cây mới có thể phát triển nhanh, tươi tốt và vững chắc sau này.Việc biết đọc, biết viết bao hàm nghĩa sâu rộng hơn nhiều, biểu hiện ở các nănglực như đọc, viết nhanh, thành thạo, mạch lạc logic với các loại văn bản khácnhau, hiểu sâu ngôn ngữ nghĩa đen, nghĩa bóng Chính vì vậy nó đòi hỏi sự họctập rèn luyện suốt đời.
Để chuẩn bị cho trẻ cái “gốc” mạnh khoẻ, làm cơ sở cho suốt cuộc đời họctập sau này của trẻ, giáo viên mầm non cần thay đổi quan niệm nhận thức, cũngnhư thực hành việc dạy hằng ngày Cốt lõi của sự thay đổi này là: gắn việc dạytrẻ làm quen chữ cái với sự phát triển tự nhiên, xuất phát từ môi trường sốngthực, gần gũi và có ý nghĩa với trẻ Việc dạy trẻ LQCC phải là hoạt động tạodựng thú vị chứ không áp đặt, hướng tới xây dựng nhu cầu hứng thú thực sự củabản thân trẻ với việc làm quen chữ cái
Các trường mầm non khu vực trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân đã vàđang thực hiện đổi mới hình thức, phương pháp dạy trẻ LQCC nhằm nâng caohiệu quả học tập cua trẻ Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế Những hạn chếtrong việc tổ chức đổi mới phương pháp dạy trẻ LQCC do những nguyên nhânkhác nhau: Do thiếu thốn về cơ sở vật chất, do nhận thức của giáo viên chuađúng, do sự phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh chưa chặt chẽ…
Để nâng cao chất lương tổ chức hoạt động LQCC cho trẻ mẫu giáo, cần cónhững biện pháp hữu hiệu dựa trên các điều kiện thực tế như: Chương trìnhLQCC, khả năng và hứng thú học tập của trẻ, sự đồng thuận giữa giáo viên vàphụ huynh trong việc dạy trẻ LQCC theo hướng đổi mới…
Từ những lý do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài: “ Một số biện phápnâng cao chất lượng tổ chức hoạt đông LQCC ở các trường mầm non trung du
và vùng núi huyện Thọ xuân
2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Công tác tổ chức hoạt đông LQCC theo hướng đổi mới ở trường mầm non
là vâns đề được nhiều tác giả nghiên cứu trong nước quan tâm Các tác giả đã
Trang 3nghiên cứu ở nhiều góc độ, mức độ khác nhau Nhìn chung về mặt lý luận thì cơbản đã được giải quyết khá đầy đủ Các tác giả đã khẳng định được vai tro to lớncủa công tác tổ chức hoạt động dạy trẻ LQCC theo hướng đổi mới ở trườngmầm non, điển hinh như:
- Nguyễn Xuân Khoa Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫugiáo NXB ĐHQG.HN.1999 là một công trình nghiên cứu đã chỉ ra nhữngphương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Đặc biệt là nghiên cứu vềviệc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết ở trường phổ thông
- Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức Phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi NXB ĐHQG.HN.2001 Giáo trình đãnghiên cứu về đặc điểm ngữ âm của trẻ mẫu giáo; đặc điểm vốn từ của trẻ; đặcđiểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ…
- Đặng Thu Quỳnh Trò chơi với chữ cái và phat triển ngôn ngữ NXBGD.Bao gồm các trò chơi về chữ cái để giúp trẻ LQCC và giúp phát triển ngônngữ cho trẻ
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chăm sóc giáo dục trẻ dưới 6 tuổi, Hà Nội,1989
Công tác tổ chức hoạt động dạy trẻ LQCC theo hướng đổi mới ở các trườngmầm non là một nội dung quan trọng được đề cập đến trong các tài liệu nói trên.Ngoài ra không ít các bài báo đã bàn về thực tế vấn đề này
Ở trường ĐH Hồng Đức, các đề tài nghiên cứu về vấn đề này còn ít
Quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy rằng: Công tác tổ chức hoạt độngLQCC theo hướng đổi mới ở các trường mầm non trung du và vùng núi huyệnThọ Xuân còn chưa được đề cập đến Vì thế, chúng tôi mong muốn góp phầntìm hiểu vấn đề này nhằm đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng tổ chứchoạt động này và để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, đặt nền tảng chocác bậc giáo dục cao hơn
3 Mục đích nghiên cứu.
Trang 4Tìm hiểu thực tiễn, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động LQCC theohướng tích hợp chủ đề ở các trường mầm non trung du và vùng núi huyện ThọXuân Trên cơ sở đó, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chưc hoạt độngLQCC theo hướng tích hợp chủ đề ở các trường mâm non trung du và vùng núihuyện Thọ Xuân.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
a đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động LQCC ở cáctrường mầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân
b Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về công tác tổ chức hoạt động LQCC ở các trường mầmnon khu vực trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân
5 Phương pháp nghiên cứu.
a Phương pháp nghiên cứu lí luận
Bao gồm việc đọc sách, phân tích tổng hơp lí thuyết và nghiên cứu nhữngtài liệu có liên quan đến công tác tổ chức hoạt động LQCC, qua đó bổ sung chovấn đề nghiên cứu Từ đó giải quyết nhiệm vụ: Hệ thống hoá những vấn đề líluận có liên quan đến tổ chức hoạt động LQCC ở các trường mầm non khu vựctrung du và vùng núi huyện Thọ Xuân- làm sáng tỏ cơ sở lí luận của đề tài
b Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng anket
Chúng tôi sử dụng hệ thống câu hỏi để điều tra về công tác tổ chức hoạtđộng LQCC ở các trường mầm non khu vực trung du và vùng núi huyện ThọXuân
* Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát sư phạm là phương pháp mà chúng tôi sử dụng để tìm hiểu nhữngbiểu hiện bề ngoài của đối tượng nghiên cứu
* Phương pháp thống kê:
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu đã thu thập được
Trang 5*Phương pháp phân tích, đánh giá:
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích, đánh giá kết quả củacông tác tổ chức hoạt động LQCC ở các trường mầm non khu vực trung du vàvùng núi huyện Thọ Xuân
6 Cấu trúc của khoá luận.
Khoá luận có cấu trúc gồm 3 phần:
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc của khoá luận
B – Nôi dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
1 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp dạy trẻ ở trường mầm non
2 Đặc điểm tư duy và ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động làm quen chữ cái theo hướng đổimới ở các trường mầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân
1 Vài nét về các trường mầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân
2 Thực trạng tổ chức hoạt động LQCC theo hướng đổi mới
Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động LQCC theohướng đổi mới
1 Biện pháp
2 Thực nghiệm sư phạm
Trang 6C – Kết luận và một số đề xuất.
1 Kết luận
2 Một số đề xuất
Trang 7B – Nội dung nghiên cứu.
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
1 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp dạy trẻ ở trường mầm non.
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục trẻ ở trường mầm non.
a mục tiêu giáo dục mầm non.
Mục tiêu giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm,trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị chotrẻ vào lớp 1
Hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực vàphẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứatuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việchọc ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
b Yêu cầu về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục trẻ ở trường mầm non.
b.1.Yêu cầu về nội dung giáo dục mầm non
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ
dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữ các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấptiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộcsống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập với cuộc sống
- Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hoà giữa nuôi dưỡng,chăm sóc và giáo duc; giúp trẻ em phát triển cân đối cơ thể, khoẻ mạnh, nhanhnhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêumến, lễ phép với ông bà,cha mẹ, thầy cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thậtthà, mạnh dạn, tự tin, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học.b.2 Yêu cầu về phương pháp và hình thức giáo dục mầm non
- Đối với giáo dục nhà trẻ, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếpthường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó của người lớn với trẻ;
Trang 8chú ý đặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tạo chotrẻ có cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện cho trẻ được tíchcực hoạt động, giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kích thích sựphát triển các giác quan và các chức năng tâm sinh lý; tạo môi trường giáo dụcgia đình gần gũi, giúp trẻ thích nghi với nhà trẻ.
- Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện chotrẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hìnhthức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi màhọc, học mà chơi”.Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kíchthích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khuvực hoạt động một cách vui vẻ Kết hợp hài hoà giữa giáo dục trẻ trong nhómbạn với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của tưng trẻ để có phương phápgiáo dục phù hợp Tổ chức hợp lý các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhómnhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm lớp, với khả năng của từng trẻ vàvới điều kiện thực tế
1.2 Dạy trẻ làm quen với chữ cái theo hướng đổi mới.
Cho trẻ làm quen với chữ viết theo cách tiếp cận tích hợp (ngôn ngữ trọnvẹn) nghĩa là:
- Tất cả các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều phát triển và có mối quan hệqua lại với nhau, không dạy ngôn ngữ một cách riêng rẽ mà được tích hợp trongcác hoạt động nhằm thúc đẩy tất cả các nhu cầu của trẻ bằng cách giúp trẻ pháttriển trí tuệ, hiểu biết về xã hội tình cảm và thể chất…
- Ngôn ngữ tiếp nhận bao gồm kĩ năng nghe và đọc
- Ngôn ngữ biểu đạt có liên quan đến kĩ năng nói và viết
- Cho trẻ làm quen với chữ viết theo cách tiếp cận ngôn trọn vẹn là cho trẻđược hoạt động và bị thu hút vào hoạt động đa giác quan Khi dạy trẻ theo cáchtiếp cần này,giáo viên cần tổ chức các hoạt động LQCC dựa trên những kinhnghiệm của trẻ,kết hợp các giác quan với các bộ phận trên cơ thể của trẻ để pháthuy tối đa khả năng của trẻ
Trang 9- Có thể tổ chức các hoạt động: Mô phỏng hình dáng chữ cái bằng các bộphận trên cơ thể trẻ; “chỉ và nói” – trẻ chỉ vào một bức tranh hoặc một đồ vật màtrẻ thích để kể chuyện, bàn luận, đưa ra các câu hỏi, ý tưởng,…
Làm quen chữ viết bao gồm những nội dung sau:
- dạy trẻ làm quen với 29 chữ cái tiếng Việt ở trong các từ, cụm từ dướihình thức trò chơi: Cần mở rộng các hoạt động hứng thú, gần gũi với trẻ khiLQCC như: Viết tên trẻ lên trang giấy và đọc, tìm chữ cái trong tên của mìnhhoặc các đồ vật, khai thác hoạt động LQCC từ tên của trẻ
- dạy trẻ làm quen với việc đọc, viết:
+ Tiếp tục xây dựng môi trường chữ viết phong phú, phù hợp với chủ điểm:Trẻ nhận thức về chữ viết trong môi trường một cách từ từ, dần dần Cần tạo racác từ, cụm từ, cấu trúc câu có ý nghĩa đối với cá nhân trẻ
Ví dụ: Tên của trẻ, tên đồ vật, trnh ảnh hấp dẫn…
+ Hiểu mối liên quan giữa lời nói và chữ viết: Trước khi học đọc trẻ phảihiểu mối liên quan giữa lời nói và chữ viết Khi được nghe đọc sách nhiều lần vàthấy những lời nói viết ra được ghi lại trên tranh vẽ, trên tờ giấy to treo tường,trẻ bắt đầu ý thức được rằng chữ viết có ý nghĩa và giữa lời nói với chữ viết cómối liên quan với nhau
+ Nhận biết hướng của chữ viết: Trước khi học đọc, học viết, trẻ cần nhận
ra việc đọc, viết thoe hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới khi quan sát côđọc, viết các dòng chữ trong truyện tranh chữ to, trên bảng hoặc trên chữ to treotường
+ Phát triển vốn từ thị giác: Trước khi học đọc trẻ cần được luyện tập các từthị giác Trẻ nhận biết các từ khi nhìn thấy các chữ xung quanh Trẻ bắt đầumuốn biết chữ viết đó nói cái gì, đọc như thế nào Khi nhận ra các nhãn mác dán
ở các đồ vật quen thuộc hoặc các biển hiệu khi đi dạo chơi, ở trẻ đã phát triểnvốn từ thị giác Vốn từ thị giác của trẻ được phát triển vào giai đoạn cuối tuổimâu giáo Đó là những từ có ý nghĩa đối với trẻ Những từ này có thể đươc viếtlên những tấm thẻ Trẻ có thể sử dụng nhưng tấm thẻ đó để sao chép từ
Trang 10+ Dạy trẻ cầm sách, mở sách, lật trang khi xem sách và bảo quản sách.+ Hình thành thái độ yêu thích đối vơi việc đọc sách tranh truyện: Chuẩn bịcho trẻ việc học đọc không chỉ liên quan đến việc phát triển các kỹ năng mà còncần đến vệc hình thành ở trẻ thái độ yêu thích đối với việc đọc sách tranh truyện.Trẻ bắt đầu hứng thú với việc đọc sách khi nghe và quan sát người khác đọcsách Trẻ còn phát triển hứng thú khi hiểu rằng có thể biết nhiều điều hoặc tạo racái gì đó từ việc giải mã được các chữ viết.
2 Đặc điểm tư duy và ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
2.1 Đặc điểm tư duy.
Đặc điểm nổi bật của tư duy ở lứa tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi là tư duy trựcquan cụ thể Khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế Vì vậy, chương trình “làmquen với chữ cái” phải cụ thể hoá nội dung dạy bằng đồ vật, tranh ảnh, động tác,giọng nói… nhằm làm phong phú biểu tượng của trẻ, thiết lập mối liên tưởnggiữa nội dung tranh vẽ với tín hiệu từ ngữ, chữ cái đi kèm
Chẳng hạn, dạy trẻ làm quen với chữ cái “a”, nếu cô chỉ đưa ký hiệu chữcái “a” đơn thuần để giới thiệu và dạy trẻ “làm quen” thì sẽ không dem lại hiệuquả giáo dục bằng cách cô dung bức tranh vẽ “quả na” có từ “quả na” đi kèm đểgiới thiệu và dạy trẻ làm quen với chữ “a” Bằng cách dạy này, tranh “quả na” là
hệ thống tín hiệu thứ nhất, từ “quả na” là hệ thống tín hiệu thứ hai Sự kết hơpgiữa hai hệ thống tín hiệu này được lăp đi lặp lại, giúp trẻ thiết lập được mối liên
hệ thần kinh tạm thời trên vỏ não Từ đó trẻ dễ dàng nhận ra ký hiệu chữ cái.Trẻ mẫu giáo chưa biết phân tích tổng hợp, chưa biết một sự vật bao gồmnhiều bộ phận kết hợp lại thành một tổng thể, chưa xác định được vị trí, quan hệgiữa bộ phận này với bộ phận kia trong một sự vật Do đó, cách nhìn nhận sự vậtcủa trẻ là theo lối trực giác toàn bộ, có nghĩa là trước một sự vật nào đó trẻ nhận
a ngay, chớp lấy rất nhanh một hình ảnh tổng thể chưa phân chia ra thành các bộphận Đó là cách nhìn của trẻ
Chẳng hạn, giữa nhiều chiếc xe đạp, trẻ nhận ran gay chiếc xe đạp của mẹ
Vì sao? Trẻ không giải thích nổi, dựa trên cơ sở phân tích nào là cái yên có đặc
Trang 11điểm như thế này, cái khung có đặc điểm như thế kia Để tổng hợp lại thànhchiếc xe đạp của mẹ.
Do trực giác toàn bộ nên trẻ không phân biệt đươc một số hình dạng tương
tự nhưng có một vài chi tiết khác nhau khiến chúng khác hẳn nhau dưới con mắtngười lớn Chẳng hạn, trẻ khó phân biệt được sự khác nhau giữa chữ O và chữ Choặc giữa các chữ l – h – b – k, d- q – b
Dần dần ở trẻ tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh đã giúp trẻ nhậnđược mặt chữ cái, sắp xếp chữ cái theo từng nhóm chữ có hình dạng, nét chữgiống nhau và khác nhau để trẻ tập cách so sánh và tự rút ra kết luận
Tư duy của trẻ gắn với yếu tố tình cảm, hành động, suy nghĩ theo hứng thútrước mắt Trẻ ghi nhớ chủ yếu những gì gây hứng thú hoặc những gì gây ấntượng mạnh Một bức tranh màu sắc tươi sáng, một câu thơ êm ái, nhẹ nhàng,một câu truyện hấp dẫn đều gây hứng thú cho trẻ Trẻ thích chơi những trò chơingôn ngữ qua những bài đồng dao, câu đố…
Vì vậy, khi dạy trẻ LQCC, mốn trẻ ghi nhớ mặt chữ, cách phát âm, cách tôchữ… giáo viên mầm non phải tổ chức giờ học phù hợp với yêu cầu giáo dục vàhứng thú của trẻ Ngoài việc dùng đồ vật thật, tranh ảnh… để hướng dẫn trẻLQCC, giáo viên cần cho trẻ hoạt động với đồ vật, đồ chơi đẹp, hấp dẫn Khidùng lời nói, giáo viên cần chú ý cách diễn đạt hấp dẫn, tình cảm Điều đó giúptrẻ có những cảm xúc mạnh mẽ, những ấn tượng sâu sắc đối với hoạt độngLQCC – một hoạt động mang tính chất “học mà chơi, chơi bằng học”
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ.
2.2.1 Đặc điểm ngữ âm.
Ở thời kỳ tuổi mẫu giáo trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu,
âm cuối, âm đệm, thanh điệu dần được định vị Trẻ phát âm đúng hết các âm vịcủa tiếng mẹ đẻ, kể cả các âm, các vần khó (iêu, ươn, uông) Trẻ đã biết điềuchỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp để phù hợp với từng hoàncảnh, lời nói của trẻ đã rõ rang, dứt khoát hơn
Trang 12Tuy vậy, ở lứa tuổi này, trẻ nhỏ vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm, cònnhầm lẫn khi phát âm một vài phụ âm và nguyên âm (x – s, ch – t,… ươ, uô, ie)
và thanh điệu (hỏi, ngã) Mỗi trẻ thường hay nói sai một âm hoạc một thanhriêng Điều này cũng thể hiện những đặc điểm riêng ở từng trẻ trong quá trìnhphát âm
Khi nói trẻ 3-4 tuổi hay nói chậm và kéo dài giọng, đôi khi còn ậm ừ, ê, anói không liên tục, không mạch lạc Trẻ 4-5 tuổi ít ê a, ậm ừ hơn, song các trẻvẫn phát âm sai thanh ngã, âm đệm và âm cuối
Trẻ 5-6 tuổi do phạm vi tiếp xúc rộng hơn, vốn từ và sự hiểu biết của trẻgiàu va phong phú hơn nên các trẻ phát âm đúng hơn, phát âm được cả những
âm khó (loanh quanh, nghênh ngang) Đến cuối 6 tuổi, về cơ bản trẻ đã phát âmđúng, trừ một vài trường hợp trẻ phát âm sai do các lí do: Khuyết tật bẩm sinhcủa cơ quan phát âm, do ảnh hưởng của môi trường sống (những người xungquanh trẻ phát âm sai dẫn đến trẻ bắt trước và phát âm theo)
Trẻ 5 tuổi có thể sử dụng được từ 2500 – 2600 từ, còn trẻ 6 tuổi có khoảng 3000– 4000 từ, trong đó tính từ và các loại từ khác đã chiếm một tỷ lệ tương đối cao
* Khả năng hiểu nghĩa từ và sử dụng của trẻ 5 tuổi:
- Danh từ: Danh từ chiếm số lượng nhiều nhất, gồm những loại sau:
Danh từ gọi tên những đồ vật trong gia đình: Bàn, ghế, bát, đĩa, đồng hồ ;
Trang 13Danh từ chỉ thức ăn, nước uống: Bánh mì, trứng, sữa,…;
Danh từ chỉ các con vật: Chim, gà, chó,…;
Danh từ chỉ các người thân, người xung quanh: Ông, bà, chị, anh, em;
Danh từ chỉ các hiện tượng xã hội: Đám cưới, ngày tết,…;
Danh từ chỉ các hiện tượng tự nhiên: Nắng, mưa,…
- Động từ: Trẻ mẫu giáo 5 tuổi đã phân biệt dược nghĩa của các động từ gầnnghĩa nhau Thí dụ: Động từ “băm” và “chặt” (khi băm thì phải nhẹ nhàng, khichặt thì phải mạnh và nhanh hơn) Trẻ cũng có thể hiểu được một từ có thể cónhiều nghĩa khác nhau Thí dụ: Đánh đổ, đánh má hồng, đánh móng chân…
- Tính từ: Trẻ đã sử dụng được một số loại tính từ sau đây:
Tính từ chỉ tính chất sự vật: Nóng, lạnh, khô, héo,…;
Tính từ chỉ sắc thái tình cảm: đau đớn, vui mừng…;
Tính từ chỉ màu sắc: Xanh, đỏ, đen…
- Đại từ: Trẻ mẫu giáo 5 tuổi đã biết xưng hô đúng với các đối tượng gầngũi: Em, tôi, tớ, mình, người ta…
- Số từ: Nói chung trẻ 5 tuổi đã biết từ số 1 đến số 10 và sử dụng từ khôngxác định: Bao nhiêu, vài, những, các,…;
- Hư từ: Trẻ đã sử dụng chính xác hơn các phó từ (à, nhỉ, nhé…) Tuy vậy,đối với một số hư từ, trẻ vẫn sử dụng chưa thật chính xác
2.2.3 Khả năng sử dụng các kiểu câu theo cấu trúc ngữ pháp.
Trong khi kể chuyên, trẻ mẫu giáo thường hay sử dụng các loại câu đadạng: các loại câu đơn mở rộng, câu đơn có các thành phần đẳng lập và câughép.Trẻ hay sử dung câu đơn mở rộng
Trong kể chuyện sáng tạo, trẻ hay sử dụng câu ghép hơn Hình thức câughép phổ biến là gồm 2 câu đơn.Trong các câu ghép thường gặp có câu ghépnhân quả, các dạng câu ghép mục đích trẻ sử dụng ít hơn
Trẻ biết sử dụng câu ghép đẳng lập câu ghép chính phụ Tuy số câu ghépxuất hiện trong kể chuyện sáng tạo có nhiều hơn Nhưng nhìn chung trong khi
kể chuyện trẻ ít sử dụng câu ghép
Trang 14Khối lượng câu đơn mở rộng và câu ghép trong chuyện là tương đối lớn Số
từ trong câu khi kể chuyện sáng tạo là lớn nhất: 8,4 từ/câu (kể chuyện lại là 6,4từ/câu, kể chuyện theo tranh là 7,1 từ/câu) Số từ trung bình trong câu khi kể lạichuyện là thấp nhất
Bên cạnh những ưu điểm, trẻ mẫu giáo 5 tuổi còn gặp rất nhiều khó khănkhi kể chuyện:
- Các hình thức câu ghép còn nghèo nàn Trẻ hay mắc lỗi khi nói các câughép có cấu trúc phức tạp
- Trẻ hay mắc lỗi khi kể đoạn đối thoại làm cho nội dung của chuyện khôngđược rõ rang và tính biêur cảm của chuyện chưa cao
- Các phương tiện liên kết trong chuyện (các từ nối, các từ liên kết) còn ítgặp làm cho chuyện kể thiếu sự liên kết chặt chẽ
Trẻ mẫu giáo lớn rất ít khi sử dụng một câu một từ mà thường sử dụng cácloại câu:
Các câu phức chính phụ của trẻ đã có các từ chi quan hệ Ý của câu đượcdiễn đạt rõ ràng mạch lạc hơn
Trang 15Tuy đã có bước tiến khá xa trong việc sử dung các loại câu so với tuổi nhàtrẻ nhưng trẻ em tuổi mẫu giáo vẫn còn những hạn chế: Từ dùng trong câu nhiềukhi không chính xác, khi thừa, khi thiếu, vị trí sắp xếp các từ trong câu cũngchưa đúng nên câu dài mà nghĩa lại tối.
2.2.4 Khả năng diễn đạt mạch lạc.
Ở mẫu giáo lớn, trẻ tích cực tham gia trò chuyện với người lớn, với bạnhơn Trẻ có thể đàm thoại về những gì đã biết hoặc dã được nghe, được đọc từtrước Trẻ có thể tranh luận, đưa ra ý kiến của mình Tư duy của trẻ phát triểnhơn; trẻ có thể nhận biết được những dấu hiệu, đặc điểm đặc trưng, có thể đưa ranhững phân tích đầy đủ về sự vật, hiện tượng Bằng ngôn ngữ, trẻ co thể diễnđạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, sự hiểu biết của mình Trẻ biết xây dựng câuchuyện tương đối liên tục, rõ ràng, phong phú theo đề tài cho sẵn hoặc kểchuyện theo tranh, đồ chơi, đồ vật Nhưng trẻ vẫn cần có mẫu câu của cô giáo
Trang 16Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động làm quen chữ cái theo hướng đổi mới ở các trường mầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân.
1 Vài nét về các trường mầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân.
1.1 Những tác động của điều kiện tự nhiên - xã hội với chất lượng giáo dục mâm non.
Huyện Thọ Xuân nằm chuyển tiếp giữa đồng bằng và vùng núi phía TâyThanh Hoá với toạ độ địa lí từ 19 độ 50’ đến 20 độ 00’ vĩ độ Bắc và 105 độ 25’ đến
105 độ 30’ kinh độ Đông Huyện Thọ Xuân có tổng diện tích tự nhiên là 30.010,14
ha Trên địa bàn huyện có 38 xã và 3 thị trấn, trong đó có 5 xã miền núi
Thọ Xuân là huyện đồng bằng bán sơn địa, vị trí chuyển tiếp giữa cáchuyện đồng bằng và từ Tây Bắc xuống Đông Nam Địa hình Thọ Xuân đượcchia thành hai vùng cơ bản: Trung du và vùng đồng bằng
Trong đề tài về một số biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt độngLQCC, chúng tôi đã chọn tìm hiểu và nghiên cứu thực tế ở các trường mầm nonthuộc khu vực trung du và miền núi huyện Thọ Xuân
Vùng trùng trung du và miền núi huyện Thọ Xuân, gôm 13 xã nằm về phíaTây Bắc và Tây Nam của huyện Đây là vùng đồi thoải có độ cao từ 15m –150m, thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâmnghiệp,…Vùng này được chia thành 2 tiểu vùng: Tiểu vùng đồi núi thấp baoquanh phía Tây Bắc của huyện,gồm 6 xã: Thọ Lập, Xuân Thiên, Xuân Châu,Quảng Phú, Thọ Minh, Xuân Lai – địa hịnh có độ cao từ 15m – 150m; tiểu vùngđồi bao quanh phía Tây Nam của huyện co 7 xã: Thọ Lập, Thọ Xương, XuânPhú, Xuân Thắng, Xuân Bái, Xuân Sơn và thị trấn Lam Sơn – địa hình có độ cao
từ 20m – 150m Địa hình phức tạp, có nhiều đồi thấp, bát úp, xen kẽ với đấttrồng lúa
Về chất lượng dân số Do thực hiện chương trình phổ cập giáo dục và chămsóc sức khoẻ nhân dân nên chất lượng dân số của huyện không ngừng đượcnâng cao;
Trang 17Về phân bố dân cư: Không đồng đều, chủ yếu là nông thôn, dân số thànhthị chỉ chiếm số ít Điều đó cho thấy mức độ đô thị hoá, phát triển công nghiệp
1.2 Vài nét về các lớp mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non trung du
và vùng núi huyện Thọ Xuân.
Khu vực trung du va vùng núi huyện Thọ Xuân gồm có 13 xã.Ở mỗi xã đều
có ít nhất một trường mầm non nằm ở trung tâm của xã Có một số xã có cảtrường mầm non nằm ở làng, ở thôn Tên của mỗi trường mầm non được theotên của mỗi xã hoặc mỗi làng mà trường đóng, chẳng hạn: Trường mầm non xãQuảng Phú đóng ở trung tâm xã Quảng Phú; trường mầm non xã Thọ Lập đóngtrên địa bàn xã Thọ Lập; trường mầm non xã Xuân Thiên…
Các trường mầm non khu vực trung du và miền núi huyện Thọ Xuân có tất
cả 29 lớp mẫu giáo 5-6 tuổi, tổng số trẻ có khoảng 870 trẻ
Về đội ngữ giáo viên, nhìn chung đều có kinh nghiệm về mặt chuyên mônnghiệp vụ Trình độ đạt chuẩn trở lên (trung cấp trở lên) Đa số các giáo viênđều có lòng yêu nghề mến trẻ, có sự nhiệt tình trong công việc và luôn có ý thứchoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Về phụ huynh trẻ, nhận thức của nhiều phụ huynh về vấn đề dạy trẻ LQCCđang còn rất hạn chế nên chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc phối kết hợpcùng với giáo viên và nhà trường trong công tác tổ chức hoạt động LQCC theohướng đổi mới Phụ huynh trẻ ở các trường chủ yếu là làm nghề nông nghiệp vàbuôn bán nhỏ lẻ nên không ít phụ huynh chưa nhận thức được hết tầm quan
Trang 18trọng của độ tuổi mẫu giáo, còn xem nhẹ việc học ở độ tuổi này Cho con nghỉhọc còn tuỳ tiện đi muộn về sớm, chưa chịu khó bày thêm cho con ở nhà; một sốphụ huynh lại nôn nóng trong việc học chữ của con em mình nên đã bày dạytrước, tập viết trước dẫn đến việc tiêp thu bài của tiết học không đồng đều, trẻ tỏ
ra kiêu căng vì mình đã biết rồi nên không còn chú ý đến tiết học Còn khi viết,
do phụ huynh bày trước ở nhà nhưng sai nét chữ cho trẻ
Hơn nữa, trẻ nông thôn rất nhút nhát, chưa mạnh dạn Có những trẻ còn nóingọng nói lắp, nhận thức của trẻ chênh lệch nhau nên việc truyền thụ kiến thứcgặp rất nhiều khó khăn Trẻ đến lớp chưa được thường xuyên, đang còn nghỉhọc nhiều nên việc tiếp thu kiến thức chưa tốt
Ảnh hưởng từ những thực tế như trên đã gây khó khăn trong việc truyền thụkiến thức của giáo viên và khả năng tiếp thu của trẻ
2 Thực trạng tổ chức hoạt động LQCC theo hướng đổi mới.
Những năm gần đây, nghành học mầm non triển khai rộng rãi đổi mới hìnhthức và phương pháp giáo dục trẻ Các hoạt động ở trường mầm non,trong đó cóhoạt đông LQCC, tạo cho trẻ những tiền đề cần thiết trước khi vào trường phổthông
2.1 Nhận thức của giáo viên về đổi mơi việc dạy trẻ LQCC theo hướng đổi mới.
Tìm hiểu thực tế ở các trường mầm non trung du va vùng núi huyện ThọXuân, có thể thấy:
Nhà trường và các giáo viên ở các trường mầm non đã nhận thức rất rõ tầmquan trọng của công tác tổ chức hoạt động dạy trẻ LQCC Hầu hết các giáo viênđều cho rằng công tác này là rất cần thiết
Các trường mầm non đã thực hiện giáo dục trẻ theo chủ đề, chủ điểm, gồm:
- Chủ đề trường mầm non;
- Chủ đề gia đình;
- Chủ đề phương tiện và luật lệ giao thông;
- Chủ đề thế giới động vật;
Trang 19- Chủ đề thế giới thực vật;
- …
Từ việc nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác này, các giáo viênmầm non ở các trường luôn cố gắng trong công tác tổ chức hoạt động LQCCtheo hướng đổi mới
Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 16 giáo viênđứng lớp; 8 lớp mẫu giáo 5-6 tuổi; 20 giáo án làm quen chữ cái Qua việc điềutra, khảo sát thực tế chúng tôi thu được số liệu cụ thể về các mặt như sau:
- Quan niệm về vấn đề tích hợp theo chủ đề:
+ Tích hợp càng nhiều càng tốt: 0%
+ Chỉ cần có tích hợp là được: 5%
+ Tích hợp vừa phải, đúng lúc, đúng chỗ, góp phần nâng cao hiệu quả giờhọc: 95%
- Quan niệm về vấn đề tổ chức các hoạt động trải nghiệm:
+ Càng nhiều hoạt động trải nghiệm càng tốt: 2%
+ Lựa chọn các hoạt động trải nghiệm phù hợp; huy động được nhiều trẻtham gia: 98%
- Cách tổ chức hướng dẫn:
+ Coi trẻ là trung tâm của hoạt động học tập: 97%
+ Giáo viên đóng vai trò chính trong quá trình diễn ra hoạt động LQCCnhằm truyền thụ kiến thức một cách tốt nhất: 3%
Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan và chủ quan làm cho công tácgiáo dục nói chung và công tác tổ chức hoạt động dạy trẻ LQCC theo hướng đổimới nói riêng gặp nhiều khó khăn, tồn tại những hạn chế nhất định Vẫn còn một
số giáo viên ở các trường chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác dạytrẻ LQCC theo hướng đổi mới, chưa thực hiện nội dung dạy trẻ LQCC theohướng đổi mới một cách thường xuyên, lại có những giáo viên còn cho rằngcách thức dạy trẻ LQCC theo hướng đổi mới là phải dạy dần từ thấp đến cao và
Trang 20trong suốt thời kỳ trẻ tuổi mẫu giáo Như vậy là không phù hơp với đăc điểmtâm sinh lý của trẻ.
Từ kết quả điều tra được, có thể thấy: Đa số các giáo viên đều có quan niệmđúng đắn về công tác tổ chưc hoạt động LQCC như: Có tới 95% giáo viên quanniệm về vấn đề tích hợp theo chủ đề là tích hợp vưa phải, đúng lúc, đúng chỗ,góp phần nâng cao hiệu quả giờ học; 98% quan niệm về vấn đề tổ chức các hoạtđộng trải nghiệm là lưa chọn các hoạt động trải nghiệm phù hợp, huy động đượcnhiều trẻ tham gia; 97% giáo viên cho rằng cách tổ chức, hướng dẫn hoạt độngdạy trẻ LQCC theo hướng đổi mới là phải coi trẻ là trung tâm của hoạt động họctập Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những quan niệm sai lệch, thiếu khoa học như:5% quan niệm về vấn đề tích hợp chủ đề là chỉ cần có tích hợp là được; 2% giáoviên quan niệm về vấn đề tổ chức các hoạt động trải nghiệm là tổ chức càngnhiều các hoạt động trải nghiệm càng tốt; 3% giáo viên cho rằng cách tổ chức,hướng dẫn trẻ LQCC là giáo viên đóng vai trò chính trong quá trình diễn ra hoạtđộng LQCC nhằm truyền thụ kiến thức một cách tốt nhất được biết những quanniệm chưa đúng đắn đó thường tồn tại ở những giáo viên lớn tuổi đa số chỉ cótrình độ trung cấp
Việc nhận thức đúng đắn về công tác tổ chức hoạt động dạy trẻ LQCC theohướng đổi mới là rất quan trọng song việc thực hiện các hoạt động đó như thếnào? Chất lượng ra sao? Là vấn đề vô cùng cần thiết Vấn đề này được thể hiện
ở mục 2.2 sau đây
2.2 Chất lượng tổ chức hoạt động dạy trẻ LQCC.
2.2.1 Về việc lựa chọn kiến thức tích hợp trong giờ LQCC.
Nhìn chung, đa số các giáo viên đã biết cách lựa chọn các kiến thức tích hợpvào trong giờ LQCC, biết lồng ghép những môn học khác một cách phù hợp và đãphát huy hứng thú, khuyến khích trẻ tích cực chủ động say mê trong tiêt học
Qua quan sát, điều tra thực tế cho thấy: Trong các tiết học, đa số các giáo viên
đã biết kết hợp nhuần nhuyễn các bộ môn khác vào tiết học LQCC, phù hợp vớichủ điểm Ngôn ngữ dẫn dắt của giáo viên thu hút được sự chú ý của trẻ
Trang 21Kiến thức văn học, được tích hợp trong giờ LQCC khá thường xuyên, trong
10 tiết LQCC mà chúng tôi được dự thì có đến 8 tiết giáo viên mầm non sử dụngkiến thức văn học, chiếm 80% số tiết Bởi vì, nó phù hợp với bộ môn chữ cái, và
vì đây là bộ môn mà Bộ Giáo dục chọn làm chuyên đề mũi nhọn cùng lúc vớichữ cái Các thể loại thường được sử dụng trong các tiết học LQCC mà các giáoviên ở các trường sử dụng là: Truyện, thơ ca, hò, vè, câu đố,…
Âm nhạc là một bộ môn tích hợp thường được giáo viên sử dụng trong cácgiờ LQCC 100% các tiết dạy trẻ LQCC mà chúng tôi được dự ở các trườngmầm non trung du và vùng núi huyện Thọ Xuân thì giáo viên đều lồng ghép âmnhạc vào, bởi vì âm nhạc có tính chất vui tươi, nhộn nhịp, không gây sự nhàmchán cho trẻ Hơn nữa còn gây được hứng thú và thu hút được trẻ vào tiết học.Môn môi trường xung quanh cũng thường gặp ở tiết LQCC Tất cả các giáoviên đều cho rằng: Muốn cho trẻ LQCC một cách hiệu quả phải có tranh ảnh,
mô hình vật thật có chứa các chữ cái mà cô định cho trẻ làm quen Chính vì thế
mà trong các tiết LQCC thì các giáo viên đã sử dụng đồ dùng trực quan vào dạytrẻ LQCC
Kiến thức bộ môn Tạo Hình cũng được giáo viên lựa chọn tích hợp trong tổchức hoạt động LQCC Có đến 50% số tiết LQCC mà chúng tôi được dự thì cácgiáo viên đã lồng ghép kiến thức Tạo Hình vào tiết dạy
Ngoài ra, còn đưa bộ môn Làm quen với toán vào giờ học LQCC và thườngxuyên được các giáo viên sử dụng dưới hình thức trò chơi
Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan, những khó khăn về điều kiện
cơ sở vật chất…mà việc lựa chọn, lồng ghép tích hợp các kiến thức trong giờLQCC còn tồn tại những hạn chế nhất định
Bên cạnh những giáo viên biết lựa chọn kiến thức, lồng ghép vào tiếtLQCC một cách nhuần nhuyễn, thì vẫn còn một số giáo viên sử dụng kiến thứctích hợp chưa phù hợp, chưa hiệu quả thể hiện ở chỗ chưa có sự linh hoạt sángtạo, chưa nhanh nhẹn trong giao tiếp ứng xử với trẻ nên chưa tạo được hứng thú
Trang 22cho trẻ trong tiết LQCC Được biết nguyên nhân của sự chưa phù hợp chưa hiệuquả là nằm ở một số giáo viên lâu năm chỉ có trình độ trung cấp.
Một số giáo viên, tuy có thường xuyên tích hợp văn học nhưng vẫn chưađược phong phú về các loại bài Một bài thơ, bài ca dao, một câu truyện hay mộtcâu đố mà giáo viên sử dụng gây hứng thú để dạy trẻ làm quen với một nhómchữ cái thì thường bị sử dụng lặp lại các lớp khác khi dạy trẻ làm quen cũng vớinhóm chữ cái đó Bởi vì, trong khi giáo viên lên kế hoạch cho một tiết LQCC thìmột số giáo viên thường sao chép giáo án của nhau mà không có sự tìm tòi, sángtạo thêm
Âm nhạc có tính chất vui nhộn dễ gây hứng thú cho trẻ nhưng khi giáo viên
sử dụng thì lại chưa phát huy được hết tác dụng của âm nhạc trong tiết LQCC
Do năng khiếu của một số giáo viên còn hạn chế, hát chưa chuẩn giai điệu củabài hát, chưa khớp nhạc, nhiều khi còn bị sai lời, cử chỉ điệu bộ còn vụng về…Các đồ dùng trực quan trong tiết LQCC chưa được phong phú, đa dạng.Tranh ảnh, mô hình vật thật chưa đẹp, chưa thu hút được trẻ Do giáo viên chưachuẩn bị chu đáo trước mỗi giờ dạy trẻ làm quen chữ cái, chưa chịu khó đầu tưthời gian cho việc chuẩn bị đồ dùng dạy học…; bộ môn tạo hình không đượcgiáo viên sử dụng nhiều trong tiết LQCC khiến giờ học chưa được phong phú vềkiến thức Do tạo hình là một bộ môn có tính chất trầm tĩnh vì thế nếu giáo viênkhông biết khéo léo sử dụng thì dễ gây nhàm chán cho trẻ; bộ môn toán thườngđược tích hợp dưới hình thức trò chơi nhưng các trò chơi hay bị lặp đi lặp lạigiống nhau giữa các lớp và trong tiết LQCC, gây sự nhàm chán đối với trẻ.Những hạn chế như trên vẫn tồn tại là do vốn kiến thức của một số giáoviên còn hạn chế, chư vững về trình độ chuyên môn; được biết những hạn chế
đó thường nằm ở những giáo viên công tác lâu năm và chỉ có trình độ trung cấp
2.2.2 Chất lượng tổ chức hoạt động dạy trẻ LQCC.
2.2.2.1 Hoạt động gây hứng thú
Quá trình điều tra thực tế, cho thấy: Các giáo viên mầm non đã sử dụng rấtnhiều cách gây hứng thú khi dạy trẻ LQCC, các cách gây hứng thú chủ yếu giáo
Trang 23viên đã sử dụng là: Sử dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, mô hình vật thật…),
kể chuyện, đọc thơ, hát, sử dụng câu đố…hoặc gây hứng thú bằng trò chơi.Chúng tôi tiến hành khảo sát hoạt động gây hứng thú ở 10 tiết dạy trẻLQCC và thu được kết quả như sau:
- Âm nhạc được sử dụng trong cả 10 tiết, chiếm 100% số tiết dạy
- Tổ chức trò chơi đều có trong tất cả các tiêt Theo kiểu dạy trẻ LQCCnhưng được tổ chức dưới hình thức trò chơi, chiếm 100%
- Có 8 tiết giáo viên sử dụng cách gây hứng thú bằng việc trò chuyện,chiếm 80%
Khi sử dụng các hoạt động gây hứng thú vào dạy trẻ LQCC đã thu hút được
sự chú ý của trẻ làm cho hiệu quả giờ dạy được nâng cao
Tuy nhiên, các hoạt động gây hứng thú mà các giáo viên sử dụng cguwa đadạng, còn mang tính chất dập khuôn, máy móc Các hoạt động cứ lặp đi lặp lại ởcác tiết học, không còn sự mới mẻ để hấp dẫn trẻ Dãn đến việc trẻ bị nhàmchán, phân tán sự chú ý, không còn hứng thú với tiết học và làm giảm hiệu quảcủa hoạt động dạy trẻ LQCC Và trong một số tiết dạy, giáo viên chuẩn bị đồdùng trực quan chưa chu đáo (chưa đầy đủ, chưa đẹp mắt, chưa phù hợp…) đãlàm giảm hứng thú của trẻ
2.2.2.2 Hoạt động dạy trẻ làm quen với chữ cái trong nhóm
Trong hoạt động dạy trẻ làm quen với các chữ cái trong nhóm thì tất cả cácgiáo viên đều thực hiện theo đúng quy trình, đúng phương pháp: Cho trẻ làmquen với từng chữ cái một qua tranh ảnh, vật thật có gắn từ chữ cái cần làmquen; qua thẻ chữ rời; qua cách phát âm; qua so sánh 2 chữ cái
Tuy nhiên các giáo viên chỉ chú ý đến hoạt động gây hứng thú ban đầutrước khi vào hoạt động dạy trẻ LQCC trong nhóm mà ít khi chú ý đến việc gâyhứng thú trước mỗi lúc giới thiệu từng chữ cái làm cho tiết học trở nên khôcứng Hoặc cách gây hứng thú giống nhau, lặp đi lặp lại trước mỗi chữ cái gây
ra sự nhàm chán cho trẻ
2.2.2.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm và sáng tạo