Nội dung Giai đoạn áo và hịa bình” Mặt trận Nhân dân phản đế Đơng Dương Mặt trận Dân chủ Đơng Dương - Hợp pháp, nửa hợp pháp - Cơng khai, nửa cơng khai Chủ trương của Đảng ta trong thời
Trang 1GIÁO ÁN DỰ THI
TRƯỜNG THCS NGUYỄN THỊ MINH KHAI
GV: NGUYỄN THỊ HOÀI NGỌC
MÔN LỊCH SỬ
Trang 2KIỂM TRA BÀI CŨ
trong thời kì đấu tranh dân chủ công khai 1936 -1939
Trang 3Nội dung Giai đoạn
áo và hịa bình”
Mặt trận Nhân dân phản đế Đơng Dương (Mặt trận Dân chủ Đơng Dương)
- Hợp pháp, nửa hợp pháp
- Cơng khai, nửa cơng khai
Chủ trương của Đảng ta trong thời kì đấu tranh dân chủ công khai 1936 -1939:
Trang 4KIỂM TRA BÀI CŨ
Câu 2: Trình bày ý nghĩa lịch sử của phong trào dân chủ công khai
1936 -1939
Trang 6I TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ ĐÔNG DƯƠNG:
Trang 7Thiên hoàng Hirôhito Adolf Hitler
Trang 8Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện (Hà Nội) - Ảnh: Võ An Ninh
Trang 9Bia tưởng niệm nạn nhân chết đói tại đường
Kim Ngưu (Hà Nội) - Ảnh: Q.T
Trang 10II NHỮNG CUỘC NỔI DẬY ĐẦU TIÊN:
1 Khởi nghĩa Bắc Sơn (27 - 9 - 1940)
2 Khởi nghĩa Nam Kì (23 - 1 - 1940)
3 Binh biến Đô Lương (13 - 1 - 1941)
Trang 11– 27/9/1940 : nhân dân Bắc Sơn đã tước khí giới của quân Pháp, thành lập chính quyền cách mạng và đội du kích Bắc Sơn.
– Nhật – Pháp thỏa hiệp, Pháp tập trung lực lượng đàn áp nhân dân Bắc
Lực lượng ta rút vào rừng thành lập đội
du kích Bắc Sơn
- Nhật đánh vào Lạng Sơn, Pháp thua chạy rút qua châu Bắc Sơn.
- Đảng Bộ Bắc Sơn lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa
Trang 13Vũ khí của đội du kích
Bắc Sơn dùng
Trang 14– Nhiều nơi lập được chính quyền – Pháp đàn áp dã man
_ Lần đầu tiên xuất hiện lá cở
đỏ sao
– 11/1940 : Pháp bắt lính người Việt đến biên giới Campuchia - Thái Lan nên
binh lính và nhân dân Nam
Kỳ rất bất bình
- Tình thế rất cấp bách, Đảng bộ Nam Kỳ quyết định khởi nghĩa.
– Lệnh khởi nghĩa đã ban hành nhưng kế hoạch bị lộ: Xứ
ủy bị bắt, Pháp chủ động đối phó.
– Đêm 22 rạng 23/11/1940, khởi nghĩa vẫn bùng
nổ ở hầu khắp các tỉnh Nam Kỳ
Trang 15Lược đồ khởi nghĩa Nam Kì
Trang 16Nguyễn Thị Minh Khai sinh năm 1911 Quê ở phường
Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Sinh ở Vinh (Nghệ An) Năm 1927 gia nhập hội Hưng Nam (sau đổi thành Tân Việt) Năm 1935, học trường Đại học Phương Đông ở Liên
Xô Đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương, tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản Đầu năm 1937 về
nước, được chỉ định làm Bí thư Thành ủy sài Gòn và Ủy viên
xứ ủy Nam Kì Năm 1940 bị địch bắt tại Sài Gòn, bị kết án tử hình, bị bắn ở Hóc Môn ngày 28/8/1941 Khi còn trong lao tù của giặc Pháp, bà đã làm mấy câu thơ nói lên ý chí cách
mạng của người cộng sản:
“ Vững chí bền gan ai hỡi ai
Kiên tâm vững dạ mới anh tài
Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
Trang 17LÁ CỜ ĐỎ SAO VÀNG LẦN ĐẦU TIÊN XUẤT HIỆN
Trang 18và 10 người
bị xử tử.
Binh lính người Việt ở Nghệ An bất bình về việc
họ bị Pháp điều sang biên giới Lào – Thái Lan làm bia đỡ đạn.
13/1/1941: Đội Cung chỉ huy binh lính chiếm đồn Chợ Rạng, đến tối, chiếm đồn Đô Lương rồi kéo về Vinh nhưng bị Pháp đánh bại.
Trang 19Lược đồ binh biến Đô Lương
Trang 20* Nguyên nhân thất bại:
-Do thực dân Pháp còn mạnh, lực lượng cách mạng chưa được tổ chức và chuẩn bị kĩ lưỡng.
- Nổ ra chưa đúng thời cơ và chưa chín muồi.
* Ý nghĩa lịch sử:
+ Nêu cao tinh thần yêu nước bất khuất của dân tộc ta.
+ “Đó là tiếng súng báo hiệu của cuộc khởi nghĩa toàn quốc”
* Bài học kinh nghiệm:
- Bài học về khởi nghĩa vũ trang, xây dựng lựu lượng vũ trang và chiến tranh du kích, trực tiếp về chuẩn bị cho
Trang 21CỦNG CỐ
Trang 22Nêu nguyên nhân bùng nổ và ý nghĩa lịch sử của hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì và binh biến Đô Lương.
Trang 23Lược đồ khởi nghĩa Bắc Sơn
Trang 25Lược đồ binh biến Đô Lương
Trang 26HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ:
Học bài cũ theo câu hỏi SGK Soạn bài mới theo các câu hỏi cuối bài 22 Sưu tầm một số thơ ca tố cáo tội ác của thực dân Pháp và quân phiệt Nhật đối với nhân dân ta thời kì này