1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy

53 1,7K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 101,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó cũng nhằm xác định và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cácbên khi tham gia hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, chúng ta nên tìm hiểu rõ hơn vìquyền và nghĩa vụ của các bên trong hợ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm qua Nhà nước ta đã cónhững thay đổi lớn về chính sách và pháp luật, đặt biệt là pháp luật liên quan tới hoạtđộng kinh tế đối ngoại trong đó có pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế Sự thay đổi này đã mang lại nhiều thành quả đáng kể cho các doanh nghiệptrong nước, trong đó phải kể đến công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy

Nhận thức vai trò quan trọng về mặt pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế trong doanh nghiệp, em đã chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy.” làm khóa luận tốt nghiệp của mình đề tài gồm ba chương:

- Chương 1: Một số lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

-  Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy

-  Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

Trong thời gian thực tập tại CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI HOÀNG HUY,

em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám đốc cũng như các anh chị trongcông ty, học hỏi được nhiều điều từ tác phong làm việc đến các kinh nghiệm thực tế.Thời gian vừa qua, không dài nhưng em cũng học hỏi được rất nhiều, được vận dụngnhững kiến thức mà em đã học ở trường Đại học Thương Mại Em xin gửi lời cảm ơnđến Ban giám đốc và các anh chị cán bộ, công nhân viên của công ty tại Hà Nội

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy cô trong khoa Kinh tế - Luật trườngđại học Thương Mại, đặc biệt là Th.S Nguyễn Thanh Hương đã trực tiếp hướng dẫn

em trong thời gian qua Chúc thầy cô và các anh chị của công ty công tác tốt và luônthành công

Trong quá trình viết bài, em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhậnđược sự góp ý của thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN 6

2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 6

3 XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

4 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

4.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

4.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 7

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

6. KẾT CẤU KHÓA LUẬN 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 11

1.Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 11

1.1 Khái niệm, đặc điểm 11

1.2 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.: 13

2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 14

2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 14

2.2 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15

2.2.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa 15

2.2.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15

2.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15

2.2.4 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 16

2.2.5 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 19

2.2.5.1 Đề nghị giao kết hợp đồng 19

2.2.5.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 20

2.2.5.3 Thời điểm giao kết hợp đồng 20

2.2.6 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng 21

2.2.7 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 22

Trang 3

2.2.7.1 Nguyên tắc thực hiện 22

2.2.7.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa 22

2.2.7.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua 25

2.2.8 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 26

2.2.8.1 Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 26

2.2.8.2 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 28

2.2.8.3 Miễn trách nhiệm hợp đồng 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI HOÀNG HUY 31

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 31

2.1.1 Các nhân tố chủ quan 31

2.1.1.1. Tiềm lực doanh nghiệp 31

2.1.1.2. Hệ thống thông tin 31

2.1.1.3. Nghiên cứu và phát triển 31

2.1.2   Các nhân tố khách quan 32

2.1.2.1 Yếu tố chính trị - luật pháp 32

2.1.2.2  Yếu tố kinh tế 32

2.1.2.3.  Yếu tố khoa học công nghệ 32

2.1.2.4 Yếu tố khách hàng 33

2.2 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Hoàng Huy 33

2.2.1 Giao kết hợp đồng 33

2.2.1.1 Lựa chọn khách hàng làm chủ thể giao kết 33

2.2.1.2 Hình thức của hợp đồng 33

2.2.1.3 Mục đích, nội dung của hợp đồng 34

2.2.2 Tổ chức thực hiện hợp đồng 36

2.2.2.1 Giao hàng 36

2.2.2.2 Kiểm tra hàng hoá trước khi xuất và khi nhận hàng để hạn chế rủi ro 36

2.2.2.3 Chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá 37

Trang 4

2.2.2.4 Làm thủ tục thanh toán và thanh lý hợp đồng 37

2.2.3 Giải quyết tranh chấp phát sinh 38

2.3 Đánh giá chung về thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàn hóa quốc tế tại công ty Hoàng Huy 39

2.3.1 Những điều kiện thuận lợi của công ty 39

2.3.2 Những bất cập còn tồn tại 41

2.3.2.1 Những bất cập về mặt quy định pháp luật 41

2.3.2.2 Những bất cập trong việc áp dụng quy định của pháp luật 42

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN 43

3.1 Về phía nhà nước 43

3.1.1 Nâng cao hiệu lực của pháp luật về hợp đồng mua bán ngay từ khâu lập pháp 43

3.1.2 Xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 44

3.2 Về phía công ty 47

3.2.1 Phát huy vai trò của hợp đồng mua bán hàng hoá từ khâu giao kết hợp đồng 47

3.2.2 Thực hiện hợp đồng 50

KẾT LUẬN 52

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MBHHQT: mua bán hàng hóa quốc tế

HĐMBHHQT: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.Công ty TNHH: công ty trách nhiệm hữu hạn.BLDS: bộ luật dân sự

Luật TM: luật Thương mại

Trang 6

1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN

Trong thời đại mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, ngoại thương là mộttrong những động lực quan trọng để phát triển quốc gia nói chung và kinh tế nói riêng.Đồng thời, với sự phát triển của “toàn cầu hóa”, việc buôn bán quốc tế ngày càng mởrộng, phát triển cả về số lượng và chất lượng Chính vì thế, việc nghiên cứu, tìm hiểu

và nắm rõ kiến thức về mua bán hàng hóa quốc tế trở nên hết sức quan trọng và cầnthiết, đó không chỉ nhằm làm cho việc trở nên dễ dàng, mà nó còn giúp phòng ngừanhững rủi ro không đáng có khi tham gia hội nhập Mặt khác, vì hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế là một hợp đồng liên quan tới yếu tố nước ngoài nên việc giao kếthợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ liên quan tới việc hợp tác mua bán với cácnước khác nhau Vì vậy việc tham gia thực hiện chúng là một vấn đề không đơn giản.Nắm được vấn đề đó, nhằm tạo lập một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh phù hợp vớipháp luật quốc tế Bên cạnh đó cũng nhằm xác định và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cácbên khi tham gia hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, chúng ta nên tìm hiểu rõ hơn vìquyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Tuy nhiên,quy định của chúng ta về vấn đề này còn rất chung chung, thiếu sự rõ ràng và chưađảm bảo thực thi trên thực tế, từ đó chưa thực sự bảo vệ được quyền lợi các bên khitham gia giao kết hợp đồng Trong khi đó, ở một chuẩn mực nhất định, đứng ở góc độbản chất của một quan hệ hợp đồng thì đây là việc chúng ta cần nắm rõ để hoàn thiệnhơn nữa hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Chính vì thế, về vấn đề này rất cần cómột sự nghiên cứu toàn diện và hệ thống Với suy nghĩ đó, nên tôi quyết định chọn đề

tài: “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy.”

2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có một

số công trình nghiên cứu như: Các bài viết của Đỗ Minh ánh về mua bán hàng hóaquốc tế trong luật Thương mại, một số bài viết của hãng luật Minh Khuê về vấn đềsoạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa, điều kiện chuyên chở và bảo hiểm trong hợpđồng ma bán hàng hóa quốc tế hay của ThS Vũ Ngọc Minh về pháp luật Việt Nam vềhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế…Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một côngtrình, bài viết nghiên cứu nào mang tính tổng thể và đề cập đến vấn đề về hợp đồng

Trang 7

mua bán hàng hoá quốc tế Do vậy, đề tài nghiên cứu này về cơ bản là mới, chưa đượcnghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện.

Đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa các kếtquả nghiên cứu của các công trình đã được đưa ra nhằm nghiên cứu một các tổng thể,toàn diện vấn đề này trong lý luận và thực tiễn

3 XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

Căn cứ vào tính cấp thiết đã nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài“Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - thực tiễn áp dụng tại công

ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy.” làm đề tài nghiên cứu khóa luận Đề tài tập

trung nghiên cứu các vấn đề sau:

-  Chương 1: Một số lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

-  Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy

-  Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

4 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

4.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

-  Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vàảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại HoàngHuy

-  Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế

+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 đến nay

4.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.

Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài: Mục đích chính của đề tài là tiếpcận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật về quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và thựctiễn áp dụng các quy định này, để từ đó phát hiện những tính bất hợp lý và bất cập củacác quy định này Qua đó đề xuất một vài giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của

Trang 8

luật Với mục tiêu trên đề tài xác định nhiệm vụ là: Nghiên cứu một cách có hệ thốngcác quy định hiện hành của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế Nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy định này, đồngthời có sự so sánh giữa các quy định của luật và thực tiễn thực hiện cũng như giữa cácquy định của Việt Nam với các nước về cùng một vấn đề Từ đó phát hiện ra nhữngthiếu sót, bất cập trong các quy định của luật về vấn đề này Đề xuất phương hướnghoàn thiện, thu hẹp dần khoảng cách khác biệt giữa pháp luật quốc gia với pháp luậtcác nước.

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả dùng phương pháp định tính để nghiên cứu đề tài Cụ thể là:

* Công ty Hoàng Huy có hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa thiết bị

âm thanh, nhạc cụ từ các hãng sản xuất nước ngoài về phân phối, buôn bán trong nướcnên cũng bị chi phối bởi hệ thống công ước mà Việt Nam là thành viên Chẳng hạn,Công ước Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT

về hợp đồng thương mại quốc tế 2004

Trang 9

* Phỏng vấn nhân viên kinh doanh, nhân viên chứng từ, nhân viên phòng điềuhành khai thác để biết những thủ tục, quy trình của các hoạt động mua bán hàng hóa

mà công ty cung cấp

-  Về cách thức xử lý dữ liệu:

+ Đối với dữ liệu sơ cấp: Tác giả phân tích nguồn dữ liệu sơ cấp bằng cách sửdụng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành và tra cứu các cách giải thích nhữngthuật ngữ chuyên ngành trên mạng, cụ thể là tra cứu định nghĩa trên Wikipedia – 1trang cung cấp kiến thức được rất nhiều người tin dùng và thường xuyên được cậpnhật, sửa đổi, bổ sung

+ Đối với dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được so sánh tác giả tập hợp từ nhiềunguồn khác nhau và tất cả đều được tác giả so sánh với thực tiễn hoạt động của công tyTNHH Thương Mại Hoàng Huy Sau đó dựa trên tình hình thực tế của công ty mà tácgiả quyết định lấy dữ liệu nào gần nhất với hoạt động kinh doanh của đơn vị làm dữliệu trong bài nghiên cứu của mình

6. KẾT CẤU KHÓA LUẬN.

Ngoài phần mục lục, tóm lược, lời cảm ơn, danh mục từ viết tắt, danh mục tàiliệu tham khảo, thì khóa luận có kết cấu như sau:

-  Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bánhàng hóa quốc tế

+ Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: hợp đồng mua bán hànghóa, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

+ Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế và điều chỉnh hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại HoàngHuy nói riêng

+ Ý nghĩa, vai trò của các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế đối với hoạt động mua bán của các doanh nghiệp thương mại ViệtNam nói chung và với công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy nói riêng

-  Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy

+ Tổng quan về tình hình kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt độngmua bán hàng hóa quốc tế của doanh nghiệp

Trang 10

+ Thực trạng pháp luật quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Các vănbản pháp luật quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực trạng thực hiệncác quy định đó ở công ty TNHH Thương Mại Hoàng Huy.

+ Đánh giá

-  Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

+ Dựa trên những nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài cùng với những

kiến thức đã học từ đó đưa ra những quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật quy

định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

+ Kiến nghị những giải pháp về hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

Trang 11

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1.Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1 Khái niệm, đặc điểm.

Cùng với sự phát triển thương mại quốc tế các giao dịch quốc tế ngày càng trởnên đa dạng, đặc biệt là các quan hệ HĐMBHHQT

Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giaohàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua cónghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏathuận.1 Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế là dạng hợp đồng được các bên chủ thể của quan hệthương mại quốc tế sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất trong các hoạt độngthương mại của mình

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của hợpđồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài) Ngoài nhữngđặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế còn có tính quốc tế (yếu tố nước ngoài)

Theo Điều 1 Công ước LaHay 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình thì:

“Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó các bên

ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa được chuyển từ nước nàysang nước khác hoặc việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết đượcthiết lập ở các nước khác nhau”

Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Công ước Viên 1980, gián tiếp định nghĩa: “Công ước này áp dụng đối với những hợpđồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốcgia khác nhau”

-Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến với nhiều tên gọinhư là: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (theo Công ước Viena 1980), hợp đồngxuất nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương (theo Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp, nay là Bộ Công thương), hợp đồng mua

Trang 12

bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài (Luật thương mại 1997) và “Mua bán hànghoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, táixuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thựchiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lýtương đương”2.

Như vậy có thể hiểu, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ýchí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà thông qua

đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể

đó với nhau

Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng muabán hàng hóa có những đặc điểm nhất định xuất phát từ bản chất thương mại của hành

vi mua bán hàng hóa tương tự hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung

Thứ nhất: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân Theo Khoản 1-Điều 6-Luật Thương mại năm 2005 “thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Thương nhân có thể là thương

nhân việt nam hoặc thương nhân nước ngoài Ngoài ra các tổ chức cá nhân không phải

là thương nhân cũng co thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

và khi chủ thể lựa chọn Luật Thương mại để áp dụng thì hoạt động của các bên chủ thểtrong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật Thương mại

Thứ hai: Về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được thiết lập

theo hình thức mà hai bên thể hiện sự thỏa thuận mua bán hàng hóa giữa các bên hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được thể hiện dưới hình thức bằng lời nói hoặcbằng văn bản hoặc bằng một hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong trường hợpnhất định pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng mua bán hàng hóa bằnghình thức văn bản

Thứ ba: Về đối tượng: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có đối tượng là hàng

hóa Theo LTM năm 2005, thì hàng hóa bao gồm: “a, tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b, Những vật gắn liền vớ đất đai” (Khoản 2-

Điều 3- LTM năm 2005) Với cách hiểu về hàng hóa như vậy, hàng hóa là đối tượng

Trang 13

mua bán có thể là hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bấtđộng sản đươch phép lưu thông trong thương mại.

Thứ tư: Về nội dung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thể hiện quyền và

nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụnhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán Hành vi của các bên trong hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế có tính chất hành vi thương mại Mục đích thông thường của các bên

là lợi nhuận

1.2 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.:

Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì các bên có thể thoả thuận ápdụng, có thể là luật của Việt Nam hay luật của phía đối tác hay cũng có thể là luật củamột nước thứ ba

Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại:

- Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá

- Hợp đồng mua bán hàng hoá không qua sở giao dịch hàng hoá

Cần lưu ý đối với loại hợp đồng mua bán qua cơ sở giao dịch hàng hoá rằng:

+ Thứ nhất hàng hoá giao dịch tại cơ sở giao dịch phải thuộc danh mục hàng hoá

giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá do bộ trưởng bộ thương mại quyết định

+ Thứ hai, theo Điều 69 của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân môi giới

qua sở giao dịch về hàng hoá chỉ được phép hoạt động tại sở giao dịch hàng hoá khiđáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật; thương nhân mua bán qua sởgiao dịch hàng hoá chỉ được phép thực hiện các hoạt động mua giới mua bán qua sởgiao dịch hàng hoá và không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hóaqua sở giao dịch hàng hoá

+ Thứ ba, Điều 70 của Luật Thương mại năm 2005, các hành vi bị cấm đối với

thương nhân môi giới hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá: Lôi kéo khách hàng ký kếthợp đồng bằng cách hứa bồi thường toàn bộ hoặc một phần thiệt hại phát sinh hoặcđảm bảo lợi nhuận cho khách hàng Chào hàng hoặc mua giới mà không có hợp đồngvới khác hàng Sử dụng giá giả tạo hoặc các biện pháp gian lận khác khi môi giới chokhách hàng Từ chối hoặc tiến hành chậm trễ một cách bất hợp lý việc môi giới cáchợp đồng theo các nội dung đã thoả thuận với khách hàng

Trang 14

2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, để Việt Nam có điều kiện cần để gia nhậpWTO thì pháp luật của chúng ta buộc phải thay đổi theo hướng phù hợp với nhữngquốc gia phát triển trên thế giới và do đó luật thương mại 2005 đã ra đời các doanhnghiệp có nhiều cơ hội hơn trên thị trường quốc tế

Cần phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá, mua bán hàng hóa quốc tế với cáchợp đồng khác, ví dụ như thuê mua tài sản, dịch vụ gắn liền với hàng hoá, gia cônghàng hoá… Mua bán hàng hoá khác với quan hệ thuê mua tài sản Khi thuê tài sản,quyền sử dụng và chiếm hữu được chuyển cho người thuê nhưng quyền sở hữu lạikhông được người cho thuê chuyển giao cho người đi thuê Mua bán hàng hoá khácvới các dịch vụ giao nhận hàng hoá, vì người giao nhận hàng hoá chỉ thực hiện chứcnăng trung gian

Vậy, cần có những quy đinh, văn bản quy phạm quy định đối với vấn đề hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế

Theo phân loại thì hợp đồng mua bán hàng hóa cần chịu sự điều chỉnh của cácvăn bản quy phạm pháp luật sau:

Tại Điều 3 khoản 2 LTM 2005: “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể

cả bất động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai” Cũng tạiĐiều 3 Luật này có quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đócác bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhậnthanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữuhàng hoá theo đúng thoả thuận”

Việc mua bán hàng hoá được thực hiện trên cơ sở hợp đồng Pháp luật Việt Namkhông đưa ra khái niệm cụ thể nào về hợp đồng mua bán hàng hoá mà lại đưa ra kháiniệm chung về hợp đồng mua bán tài sản tại Điều 428 BLDS 2005: “Hợp đồng muabán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản chobên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”

2.2 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 15

2.2.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa.

Chủ thể của HĐMBHHQT có thể là thể nhân, pháp nhân có sự khác nhau vềquốc tịch, nơi cư trú, trụ sở thương mại ở những nước khác nhau Do đó pháp luật cácnước khác nhau cũng có những quy định khác nhau về tư cách của chủ thể khi thamgia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế dễ dẫn đến những xung đột, phát sinh tranhchấp

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng tương tự như hợp đồng mua bán hànghóa, là được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân hoặc một trong hai bênphải là thương nhân Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân baogồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cáchđộc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh Tổ chức kinh tế được thành lập hợppháp nhằm mục đích hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và cóđăng kí kinh doanh sẽ được coi là thương nhân Thương nhân là chủ thể hợp đồng muabán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài Ngoàichủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thểtrở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Khác với bên là thương nhân, bênkhông phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi để tham giagiao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật

2.2.2 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng hóa Hàng hóa lànhững sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏamãn nhu cầu của con người Hàng hóa có thể là vật, là sức lao động của con người, làcác quyền tài sản Dưới góc độ kinh tế, hàng hóa được phân thành tài sản hữu hình vàtài sản vô hình Dưới góc độ pháp luật, hàng hóa được phân thành động sản và bấtđộng sản

2.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Hình thức của HĐMBHHQT, tùy theo từng hệ thống pháp luật khác nhau mà cónhững quy định khác nhau về cách xác định hình thức HĐMBHHQT như thế nào làhợp pháp Pháp luật của Đức yêu cầu phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện về hình thức

để bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống bất ngờ,cũng như để hạn chế phương pháp chứng cứ; ở một số nước theo hệ thống luật Anh -

Trang 16

Mỹ (Common law) thì hình thức văn bản bắt buộc đối với các hợp đồng có giá trị;ngược lại một số nước theo hệ thống luật lục địa (Civil law) như Pháp, Thụy Sỹ thì tự

do ký kết hợp đồng là nguyên tắc cơ bản, chỉ cần sự thỏa thuận ý chí chung của cácbên đã được coi là đủ điều kiện để hình thành nên hợp đồng mà không cần quy địnhbắt buộc là bằng hình thức gì

Mặc dù được soạn thảo bằng văn bản hay những thỏa thuận bằng lời nói thì hìnhthức hợp đồng đều đóng vai trò “hòn đá tảng” cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh -thương mại của mỗi bên chủ thể Thực tế cho thấy đã có nhiều trường hợp các bên đãgiao kết hợp đồng với nhau và đã tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại,song khi có tranh chấp nhỏ xảy ra thì một trong các bên lợi dụng tính thiếu chặt chẽcủa hợp đồng để thu lợi riêng cho mình, làm thiệt hại cho các bên đối tác Hình thứccủa HĐMBHHQT còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứxác nhận các quan hệ kinh doanh thương mại đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đóxác định trách nhiệm pháp lý khi có tranh chấp xảy ra

Như vậy, hình thức hợp đồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cácHĐMBHHQT Doanh nhân Việt Nam khi ký kết hợp đồng, đặc biệt là HĐMBHHQTthì dấu hiệu hình thức có tính bắt buộc các bên phải tuân thủ Bởi, khi có sự vi phạm

về hình thức hợp đồng thì hợp đồng có thể bị tuyên hủy do vô hiệu hoặc nếu các bênkhông có sự hiểu biết về pháp luật của đối tác quy định về hình thức của loại hợp đồngmình giao kết sẽ dẫn đến phát sinh tranh chấp, gây ra những thiệt hại không mongmuốn

2.2.4 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập quyền

và nghĩa vụ của họ trong việc mua bán Do đó, nội dung của hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế trước hết là những điều khoản do các bên thỏa thuận Các bên có quyềnquyết định nội dung của hợp đồng Bởi vì quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan

hệ hợp đồng phát sinh chủ yếu từ những điều khoản mà các bên thỏa thuận đó Cácbên thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng càng rõ ràng bao nhiêu thì càng thuậnlợi trong việc thực hiện hợp đồng bấy nhiêu

+ Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điềukhoản mà các bên thỏa thuận với nhau Nội dung của hợp đồng trước hết là những điều

Trang 17

khoản mà các bên phải thỏa thuận được với nhau Trên cơ sở các quy định của BLDS

và LTM, xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thươngmại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa baogồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giaonhận hàng

+ Đối tượng của hợp đồng: Trong mua bán hàng hoá quốc tế, đối tượng của

hợp đồng là một hàng hoá nhất định đây là điều khoán cơ bản của một hợp đồng muabán hàng hóa, mà khi thiếu nó hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không thể hìnhthành được do người ta không thể hình dung được các bên tham gia hợp đồng nhằmmục đích gì, trao đổi cái gì Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đượcxác định thông qua tên gọi của hàng hoá Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếcác bên có thể gi rõ tên hàng bằng tên thông thường tên thương mại… để tránh có sựhiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng

+ Số lượng hàng hoá: Điều khoản về số lượng hàng hoá xác định về mặt

lượng đối với đối tượng của hợp đồng Các bên có thể thoả thuận và ghi trong hợpđồng về một số lượng hàng hoá cụ thể hoặc số lượng được xác định bằng đơn vị đolường theo tập quán thương mại như chiếc, bộ, tá, mét, mét vuông, mét khối hay bằngmột đơn vị nào khác tuỳ theo tính chất của hàng hoá

+ Chất lượng hàng hoá: Chất lượng hàng hoá giúp xác định chính xác đối

tượng của hợp đồng, cái mà người mua biết tường tận với những yêu cầu được tínhnăng, tác dụng, quy cách, kích thức, công suất, hiệu quả… xác định cụ thể chất lượngcủa sản phẩm thường cũng là cơ sở để xác định giá cả một cách tốt nhất Trách nhiệmcủa các bên thường khác nhau tương ứng với mỗi phương pháp xác định chất lượngđược thoả thuận Thông thường có các biện pháp xác định chất lượng như dựa vàomẫu hàng, dựa vào các tiêu chuẩn, dựa vào mô tả tỉ mỷ, dựa vào nhãn hiệu hàng hoáhoặc điều kiện kỹ thuật…

+ Giá cả hàng hoá: Các bên có quyền thoả thuận giá cả và phải được ghi cụ

thể trong hợp đồng hoặc nếu không ghi cụ thể thì phải xác định rõ phương hướng xácđịnh giá, vì đây là điều khoản quan trọng trong các cuộc thương lượng để đi đến kýđến hợp đồng Để mang lại lợi ích cho cả hai bên, các bên cũng có thể thoả thuận vớinhau lựa chọn hình thức giảm giá phù hợp gi trong hợp đồng

Trang 18

+ Phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán là các cách thức mà

bên mua và bên bán thoả thuận, theo đó bên mua phải thanh toán cho bên bên bán tiềnhàng đã mua theo một phương thức nhất định Có nhiều phương thức thanh toánnhưng việc lựa chọn phương thức nào cũng xuất phát từ nhu cầu của người bán là thutiền nhanh đầy đủ và yêu cầu của người mua là nhận được hàng đúng số lượng, chấtlượng, thời hạn như đã thoả thuận và không có rủi ro trong thanh toán Việc chọnphương thức thanh toán trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thoả thuận giữacác bên

+ Thời gian và địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng:

Thời gian thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phải hoàn thànhnghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng, đúng địa điểm đã thoả thuậntrong hợp đồng Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng thời gian, địa điểm và trảtiền cho bên bán Các bên có thể thoả thuận với nhau sao cho hợp lý căn cứ vào tìnhhình thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên Địa điểm giao hàng có thể do hai bênthoả thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên Trongmua bán hàng hoá, việc giao nhận hàng hoá có thể được thực hiện trực tiếp đối vớingười mua hoặc thông qua người thứ ba Vì vậy các bên phải thoả thuận rõ thời hạn vàđịa điểm, từ đó xác định quyền và nghĩa vụ mỗi bên cũng như xác định rủi ro mà mỗibên phải gánh chịu

Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan hệhợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bên không chỉchịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà còn chịu sự ràng buộcbởi những quy định của pháp luật Như vậy, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế không chỉ là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cảnhững điều khoản do các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật cácbên có nghĩa vụ phải thực hiện

2.2.5 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 19

việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên

đề nghị đối với bên đã xác định được cụ thể”.

Đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương có thể do bến bán hoặcbên mua đưa ra BLDS cũng như Luật Thương mại 2005 không quy định về hình thứccủa đề nghị hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định về hình thứccủa hợp đồng mua bán theo Điều 24 Luật Thương mại để xác định hình thức của đềnghị hợp đồng theo đó đề nghị hợp đồng có thể dược thể hiện bằng văn bản, lời nóihoặc hành vi cụ thể hoặc kết hợp giữa các hình thức này

Đề nghị hợp đồng được gửi đến cho một hay nhiều chủ thể đã xác định Đề nghị

đó phải được gửi đích danh và nội dung của đề nghị đó phải rõ ràng, có ý định đặtquan hệ mua bán hàng hóa thực sự Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng mua bánthông thường được bên đề nghị ấn định Trường hợp bên đề nghị không ấn định thờiđiểm có hiệu lực của đề nghị hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từkhi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó Trong thời hạn đề nghị hợp đồng có hiệulực, nếu bên được đề nghị thông báo chấp nhận vô điều kiện đề nghị hợp đồng thì hợpđồng mua bán hàng hóa được hình thành và có giá trị ràng buộc các bên Nếu các bênkhông thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng thì phải chịu các hình thức chế tài do viphạm hợp đồng

Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợpđồng trong các trường hợp: bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổihoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị; điều kiện thay đổihoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên dề nghị có nêu rõ về việc đượcthay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Nếu bên đề nghị thay đổi nộidung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới (Điều 392 BLDS năm 2005)

Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau: bên nhậnđược đề nghị trả lời không chấp nhận; hết thời hạn trả lời chấp nhận; thông báo về việcrút lại đề nghị có hiệu lực; thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; theo thỏathuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghịtrả lời

2.2.5.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 20

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyểncho bên đề nghị việc chấp thuận toàn bộ nội dung đã nêu trong đề nghị giao kết hợpđồng Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi đó là hành độngmang tính tích cực của đối tác trong giao dịch mua bán hàng hóa Thời hạn trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng được xác định tùy từng trường hợp Khi bên đề nghị có ấnđịnh thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận thì chỉ hiệu lực khi được thực hiện trongthời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được sự chấp nhận đề nghị khi đãhết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do kháchquan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấpnhận giao kêt hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngaykhông đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị Khi các bên trực tiếp tiếp vớinhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên đềnghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏathuận về thời hạn trả lời.

Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợpđồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trảlời chấp nhận giao kết hợp đồng

2.2.5.3 Thời điểm giao kết hợp đồng.

Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩa quantrọng trong việc khẳng định sự tồn tại của hợp đồng, là cơ sở để xác định phát sinhquyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa Về nguyên tắcchung, hợp đồng mua bán được giao kết vào thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận.Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán theo Điều 404 BLDS

Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểmgiao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác(điều 405 BLDS)

2.2.6 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

Luật thương mại không quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực của hợp đồngmua bán hàng hóa Căn cứ vào các quy định của từ Điều 122 đến Điều 135 BLDS, hợpđồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi đủ các điều kiện sau:

Trang 21

Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực chủ thể để

thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn, các chủ thể tham gia hợp đồng muabán chủ yếu là thương nhân Khi tham gia hợp đồng mua bán với mục đích lợi nhuận,các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng kí kinh doanh hợp pháp đối với hànghóa được mua bán Còn trong trường hợp mua bán hàng hóa có điều kiện thì cácthương nhân phải đáp ứng theo quy định của pháp luật

Thứ hai, người giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải là người đại

diện hợp pháp của các bên Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diệntheo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Khi xác định thẩm quyền giao kết hợpđồng mua bán theo Điều 145 BLDS, người không có quyền đại diện giao kết, thựchiện sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên hợp đồng được đại diện, trừtrường hợp được người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp thuận

Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa không vi phạm

điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội Hàng hóa là đối tượng của hợpđồng mua bán phải là hàng hóa được kinh doanh hợp pháp theo quy định của phápluật

Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giao kết không trái với các

nguyên tắc ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật Theo quy định của BLDS,việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán phải tuân theo các nguyên tắc:

tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng,thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng (Điều 389 BLDS)

Thứ năm, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Để hợp đồng

mua bán có hiệu lực, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được xác lập theonhững hình thức được pháp luật thừa nhận Theo Điều 24 Luật Thương mại 2005, hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc đượcxác lập bằng hành vi cụ thể

2.2.7 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

2.2.7.1 Nguyên tắc thực hiện.

Theo quy định của BLDS, việc thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế nói riêng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: Thực hiện đúng

Trang 22

hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thứcgiao nhận hàng, thanh toán và các thỏa thuận khác; thực hiện hợp đồng một cách trungthực, theo tinh thần hợp tác và có lợi cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; khôngđược xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ich hợp phápcủa người khác.

2.2.7.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa

a, Nghĩa vụ của bên bán.

Bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo thỏa thuận.

Dù trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế các bên có thỏa thuận như thế nàothì giao hàng vẫn là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán trong hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế Thỏa thuận về điều kiện giao nhận hàng hóa nhằm mục đích xác địnhtrách nhiệm và chi phí giao hàng của các bên như đối với vận tải, bảo hiểm hàng hóa,thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu, gánh chịu rủi ro Theo quy định của LTM 2005,bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chấtlượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Trườnghợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quantheo quy định của pháp luật

Thứ nhất, hàng hóa phải được giao đúng đối tượng và chất lượng Đối tượng và

chất lượng hàng hóa là những nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế Bên bán phải thực hiện giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theo đúng thỏathuận và quy định của pháp luật

Thứ hai, hàng hóa phải giao đúng số lượng Bên bán phải giao hàng hóa đúng số

lượng như đã thỏa thuận Nếu giao hàng thiếu, bên bán đã vi phạm hợp đồng, bên bánphải giao đủ số lượng và phải chịu trách nhiệm về việc giao thiếu đó Nếu trường hợpbên bán giao thừa hàng thì bên mua có quyền từ chối hoặc chấp nhận số hàng thừa đó.Nếu người mua từ chối nhận phần hàng hóa giao thừa, người bán phải nhận lại số hàngthừa và chịu mọi chi phí liên quan Trường hợp bên mua chấp nhận số hàng thừa thìphải thanh toán số hàng này theo giá do các bên thỏa thuận

Thứ ba, hàng hóa phải được giao cùng với chứng từ liên quan đến hàng hóa theo

quy định tại Điều 42 Luật Thương mại 2005 Nếu chỉ giao hàng mà không giao các

Trang 23

chứng từ liên quan, làm cho người mua chưa sử dụng hoặc định đoạt được hàng hóa

đó thì có thể coi như bên bán chưa giao hàng

Thứ tư, hàng hóa phải giao đúng thời hạn theo quy định tại Điều 37 Luật Thương

mại 2005 Khi bên bán thông báo thời điểm giao hàng cho bên mua thì thời điểm đótrở thành thời điểm giao hàng cố định và bên bán phải thưc hiện việc giao hàng tại thờiđiểm đó như đã thông báo

Thứ năm, hàng hóa phải giao đúng địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng (khoản

1 Điều 35 Luật Thương mại) Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giao hàngthì địa điểm giao hàng được xác định như theo khoản 2 Điều 35

Bên bán có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện để bên mua kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng.

Kiểm tra hàng hóa trước khi giao là rất cần thiết đối với việc mua bán hàng hóatrong thương mại Theo Điều 44 LTM, trường hợp có thỏa thuận về quyền kiểm trahàng hóa của bên mua, thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua có điều kiện tiến hànhviệc kiểm tra Nếu bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa theo thỏa thuận,thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng Sau khi kiểm tra hàng, nếu phát hiệnhàng hóa không phù hợp với hợp đồng, bên mua phải thông báo cho bên bán một thờihạn hợp lý Nếu bên mua không thực hiện việc thông báo này, bên bán sẽ không phảichịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa, trừ trường hợp các khiếmkhuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện phápthông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng khôngthông báo cho bên mua

Bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa cho bên mua.

Để có thể chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa cho bên mua, tạo điều kiện chobên mua có thể tự do định đoạt đối với hàng hóa được mua theo hợp đồng, bên bánphải đảm bảo hàng hóa không có bất cứ “khuyết tật pháp lý” nào theo quy định tạiĐiều 45, Điều 46 Luật Thương mại

Theo Điều 62 Luật Thương mại năm 2005, quyền sở hữu được chuyển từ bênbán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao, trừ trường hợp phápluật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác Trong trường hợp các bênkhông có thỏa thuận, quyền sở hữu hàng hóa cũng có thể được chuyển giao từ bên bán

Trang 24

sang bên mua ở những thời điểm khác nhau, tùy theo tính chất của hàng hóa vàphương thức mua bán.

Đối với hàng hóa mua bán là động sản, thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyểngiao từ bên bán sang bên mua khi bên bán giao hàng cho bên mua Đối với hàng hóamua bán là bất động sản, việc giao nhận hàng hóa được thực hiện thông qua việc giaonhận chứng từ về hàng hóa, thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho bên muakhi bên bán hoàn tất việc chuyển giao các chứng từ về hàng hóa đó cho bên mua Đốivới hàng hóa mua bán mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu thì sở hữuhàng hóa được chuyển giao cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục chuyểnđăng kí quyền sở hữu đối với hàng hóa từ người bán sang người mua hay đăng kíquyền sở hữu đối với hàng hoá cho bên mua

Trường hợp hàng hóa không dịch chuyển khi giao nhận và cũng không có chứng

từ về hàng hóa, quyền sở hữu hàng hóa được coi như là đã chuyển giao tại địa điểm vàthời gian hợp đồng có hiệu lực

Trường hợp mua bán hàng hóa theo phương thức mua sau khi sử dụng thử, thìtrong thời hạn dùng thử, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên bán Tuy nhiên, trong thờihạn dùng thử, quyền sở hữu hàng hóa của bên bán bị hạn chế, bên bán không đượcbán, tặng cho, cho thuê, rao đổi, thế chấp, cầm cố hàng hóa khi bên mua chưa trả lại.Trường hợp hàng hóa được mua bán theo phương thức trả chậm, trả dần, thì bênbán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với hàng hóa đã giao cho đến khi bênmua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 461 Bộ luật Dân sự)

Rủi ro đối với hàng hóa.

Về nguyên tắc chung, việc xác định trách nhiệm chịu rủi ro đối với hàng hóatrước hết cần căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Trường hợp cácbên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật từ Điều 57 đến Điều 61LTM 2005 Ngoài ra, trong các trường hợp khác, rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hànghóa được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt củabên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng Bên mua không chịu rủi

ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa, nếu hàng hóa không được xác định rõ ràngbằng kí hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không đượcxác định bằng bất kì cách thức nào

Trang 25

Bảo hành.

Bên bán có nghĩa vụ bảo hành hàng hóa theo hợp đồng hoặc theo quy định củapháp luật Bảo hành hàng hóa là việc bên bán phải chịu trách nhiệm về chất lượnghàng hóa sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua, trong một thời hạn nhất định Việcbảo hành được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Theo Điều

49 LTM 2005, trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu tráchnhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận Bên bán phảithực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuận khác

2.2.7.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua.

Bên mua hàng có nghĩa vụ nhận hàng.

Nhận hàng là nghĩa vụ cơ bản của bên mua (Điều 56 Luật Thương mại năm2005) Nhận hàng là việc bên mua công nhận nghĩa vụ giao hàng của bên bán, tức làbên mua đã nhận hàng về mặt pháp lý Bên mua hàng có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏathuận Khi nhận hàng, bên mua phải thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bángiao hàng Cần lưu ý, việc nhận hàng tại thời điểm giao hàng không đồng nghĩa vớiviệc nguời mua đã chấp nhận hàng hóa được giao mà mới chỉ là tiếp nhận hàng về mặtthực tế Khi bên bán đã sẵn sàng giao hàng đúng hợp đồng, mà bên mua không tiếpnhận thì bên mua vi phạm hợp đồng và phải chịu các biện pháp chế tài theo thỏa thuậnhoặc theo quy định của pháp luật

Bên mua có nghĩa vụ thanh toán.

Thanh toán là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồngmua bán hàng hóa Bên mua có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng theo thỏa thuận vàcác bên có thỏa thuận về phương thức, thời hạn và thời điểm thanh toán Trường hợpcác bên không có thỏa thuận về những nội dung cụ thể liên quan đến việc thanh toán,thì áp dụng quy định của pháp luật về địa điểm thanh toán theo Điều 54 Luật Thươngmại năm 2005 , thời hạn thanh toán theo Điều 55 Luật Thương mại năm 2005 Bênmua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng, trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏngsau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hưhỏng do lỗi của bên bán gây ra Khi người mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì người

Trang 26

bán cũng có thể căn cứ vào Điều 308, Điều 310 và Điều 312 Luật Thương mại năm

2005 để tạm ngừng giao hàng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng.Theo Điều 52 Luật Thương mại năm 2005, trường hợp không có thoả thuận vềgiá hàng hoá, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất

kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hànghoá đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bánhàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnhhưởng đến giá

Trường hợp bên mua chậm thanh toán tiền hàng và các chi phí hợp lý khác thìbên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất cơbản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểmthanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoạc pháp luật có quy định khác (Điều

306 LTM)

Nếu không có thỏa thuận khác, bên mua có quyền ngừng thanh toán tiền muahàng trong những trường hợp sau đây: Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừadối; bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp; bênmua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng; trườnghợp tạm ngừng thanh toán vì hàng hóa là đối tượng của tranh chấp hoặc hàng hóa giaokhông phù hợp với hợp đồng mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gâythiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài kháctheo quy định của pháp luật

2.2.8 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa

2.2.8.1 Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Có hành vi vi phạm hợp đồng.

Khi các bên đã kí kết hợp đồng và khi hợp đồng đã có hiêu lực thì các bên phảithực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng Nếu các bên không thực hiện hoặcthực hiên không đúng các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng là vi phạm hợp đồng Hành

vi vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa

vụ phát sinh từ hợp đồng Các bên trong quan hệ hợp đồng không chỉ phải thực hiệnđúng các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà còn phải thực hiện đúng các nghĩa vụphát sinh từ những quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng đó Hành vi vi

Ngày đăng: 13/05/2015, 08:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w