Do đó, công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư cần phảiđược xem xét, nghiên cứu lại một cách đầy đủ và toàn diện để thích hợp với thực tạichung của nền kinh tế và điều kiện riêng của N
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả
Các số liệu trong công trình nghiên cứu xuất phát từ tình hình thực tế của đơn
vị nghiên cứu, nếu sai tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Nga
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này tác giả đã nhận được sựgiúp đỡ tận tình của nhiều tổ chức và cá nhân.Cho phép tác giả được bày tỏ lòngcảm ơn sâu sắc tới:
- PGS,TS Lê Hoàng Nga người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giảtrong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Lãnh đạo Trường Đại học Thương Mại cùng toàn thể các Thầy giáo, Cô giáocủa trường đã tận tình giảng dạy, động viên và giúp đỡ tác giả về mọi mặt trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu luận văn này
- Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình, cán bộ bộ phận Quản lýtín dụng và các cán bộ mà tác giả đến tiếp xúc phỏng vấn và thu thập số liệu
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2015
Học viên Nguyễn Thị Nga
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
g
Trang 5MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử ra đời của ngân hàng thương mại (NHTM) gắn liền với quá trình pháttriển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, trước hết nó đáp ứng các nhu cầu về vốncủa các cá nhân và tập thể.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cácNHTM ngày càng xâm nhập sâu sắc hơn vào mọi hoạt động của nền kinh tế, trởthành một trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế
Trong các hoạt động của NHTM thì hoạt động tín dụng là một trong nhữnghoạt động cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trong đối với sự tồn tại và phát triển của mỗingân hàng Để nâng cao chất lượng hoạt động cho vay, một trong những vấn
đề mà Ngân hàng đặc biệt quan tâm là thẩm định phương án hoặc dự án vayvốn của khách hàng Trong hoạt động cho vay, Ngân hàng luôn mong muốnkhách hàng hoàn trả đầy đủ nợ vay theo đúng hạn đã thỏa thuận trong hợpđồng tín dụng Nhằm tránh sai lầm trong quyết định đầu tư của Ngân hàng,việc thẩm định dự án đầu tư của khách hàng vay vốn là một khâu quan trọngtrong hoạt động cho vay của Ngân hàng
Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế đang phát triển theo cơ chế thịtrường, điều này có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp, dẫn đến việc quản lý kinh doanh của các NHTM cũng phải thay đổi và hoànthiện lại Cũng như các ngân hàng khác, Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh
Ba Đình còn đang phải đối mặt với những thay đổi trong bối cảnh cạnh tranh khiếncho các quyết định cho vay của Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình
có thể thiếu sự chính xác Do đó, công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư cần phảiđược xem xét, nghiên cứu lại một cách đầy đủ và toàn diện để thích hợp với thực tạichung của nền kinh tế và điều kiện riêng của Ngân hàng TMCP Quân Đội – chinhánh Ba Đình từ đó đảm bảo an toàn vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàngcũng như đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp
Xuất phát từ những đòi hỏi cấp thiết đó, được sự hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tìnhcủa các thầy cô và tập thể các cán bộ Phòng Quản lý tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Trang 6Quân Đội – chi nhánh Ba Đình, tôi quyết định chọn đề tài: “Thẩm định tài chính
dự án đầu tư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – chi nhánh Ba Đình ” để nghiên cứu
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án trong chovay dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình
- Tác phẩm: “Lập thẩm định và quản trị dự án đầu tư” tác giả Ts Phạm XuânGiang, Nhà xuất bản Tài Chính năm 2010 Tác phẩm trình bày những kiến thức cănbản trong việc lập dự án, thẩm định, lựa chọn dự án để đầu tư
- Tác phẩm: “Thẩm định tài chính dự án” của tác giả PGS.TS Lưu ThịHương, Nhà xuất bản Tài Chính năm 2004 Tác phẩm hướng dẫn chi tiết phươngpháp và cách thẩm định tài chính của dự án đầu tư
Tuy nhiên các tác phẩm này chưa tập trung vào việc thẩm định tài chính dự
án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Qua tìm hiểu của tác giả, chưa
có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân
Trang 7hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình, chính vì vậy tác giả chọn đề tài nàyvới mong muốn có thể góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu
tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm định tài chínhtrong cho vay dự án đầu tư của Ngân hàng Thương Mại, chủ yếu là cho vay trung
và dài hạn đối với Doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: nghiên cứu thực trạng công tác thẩm định tài chính trong cho vay dự
án đầu tư của ngân hàng thương mại
Về mặt không gian: khảo sát thực trạng công tác thẩm định tài chính trong cho vay dự
án đầu tư của Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình
Về mặt thời gian: các số liệu và tình hình về hoạt động thẩm định tài chính trongcho vay dự án đầu tư của ngân hàng, được khảo sát trong giai đoạn 2012 – 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến trongnghiên cứu khoa học về kinh tế như: Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích vàtổng hợp với các phương pháp nghiên cứu tình huống
Về thu thập dữ liệu: luận văn tốt nghiệp sử dụng hai nguồn dữ liệu đó là dữ
liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp: được tìm kiếm từ hai nguồn.
Dữ liệu bên trong: dữ liệu thu thập được lấy từ nguồn nội bộ ngân hàng như:các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng, các hồ sơ thẩmđịnh dự án đầu tư của khách hàng, văn bản hướng dẫn quy trình tín dụng của Ngânhàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình tại phòng Hỗ trợ và phòng Dịch vụKhách hàng của Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình
Dữ liệu bên ngoài tham khảo các tài liệu cũng như website bên ngoài liên quanđến đề tài như: báo điện tử, báo đầu tư
Trang 86 Kết cấu sơ bộ
Ngoài phần mở đầu, kết luận văn gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư
của Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP
Quân Đội – chi nhánh Ba Đình trong giai đoạn 2012 – 2014
Chương III: Giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính dự án
đầu tư tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Ba Đình
Trang 9CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỘI DUNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắnliền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Sự phát triển của hệ thống ngân hàngthương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triểncủa nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giaiđoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện
và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được Thông qua hoạt độngtín dụng thì NHTM tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngânhàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi cho ngân hàng
NHTM là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Hiện nay rấtnhiều tổ chức tài chính như: các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty bảohiểm, quỹ tương trợ đang cung cấp các dịch vụ của ngân hàng Các Ngân hàng hiệnnay cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ: bất động sản, môi giới chứngkhoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương trợ…để cạnh tranh vớicác tổ chức tài chính phi ngân hàng
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội Nhà nước CHXHCNViệt Nam ban hành ngày 16/06/2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011) đưa
ra khái niệm về ngân hàng thương mại: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Ngân hàng thương mại xét trên phương diện những loại hình dịch vụ được
cung cấp là: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ
Trang 10thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
(Nguồn: TS Nguyễn Minh Kiều (2013), Giáo trình Tín dụng và Thẩm định tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất bản Tài chính).
1.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nộidung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền để cấp tín dụng và cung ứng cácdịch vụ thanh toán Theo điều 98, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốchội Nhà nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 16/06/2010 (có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/2011)quy định thì hoạt động của NHTM có thể chia thành ba nhóm chủyếu:
Hoạt động huy động vốn: Là hoạt động tạo vốn cho NHTM, hoạt động huy
động vốn đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngânhàng Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy độngdưới hình thức tiền gửi (nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiếtkiệm…), phát hành các giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, tráiphiếu…) Nguồn vốn huy động được tiến hành cho vay phục vụ nhu cầu phát triểnsản xuất, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân và nhànước.Hoạt động huy động vốn ngày càng được các NHTM mở rộng mang lại lợinhuận cho ngân hàng
Hoạt động cho vay và đầu tư: Hoạt động cho vay và đầu tư của ngân hàng
đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng các khoản vốn đã huy động được nhằmmục đích thu lợi nhuận.Đây là hoạt động trực tiếp mang lại lợi nhuận cho cácNHTM, hoạt động cho vay và đầu tư hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của NHTM, quyếtđịnh năng lực cạnh tranh của NHTM trên thị trường
Hoạt động khác: Theo Mục 2, điều 98, Luật các tổ chức tín dụng số
47/2010/QH12 do Quốc hội Nhà nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày16/06/2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011) quy định các hoạt động khác
do NHTM cung cấp bao gồm:
Trang 11- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
- Cung ứng các phương tiện thanh toán
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm: séc, lệnh chi, ủynhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chihộ
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác saukhi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
- Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính, các dịch vụ quản lý,bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn
-Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua bán, hợp nhất, sáp nhập doanhnghiệp và tư vấn đầu tư
- Mua bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Doanh nghiệp
- Dịch vụ môi giới tiền tệ
- Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khácliên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuậnbằng văn bản
Các hoạt động cơ bản của NHTM có mối quan chặt chẽ với nhau.Các hoạtđộng này tác động trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển và tạo uy tín cho NHTM Trong
ba hoạt động cơ bản trên của NHTM hoạt động cho vay là hoạt động đặc trưng củaNHTM mang lại lợi nhuận cao và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho NHTM
1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Theo điều mục 16, điều 4, Chương I của Luật các tổ chức tín dụng số47/2010/QH12 do Quốc hội Nhà nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày16/06/2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011) quy định: “ Cho vay là mộthình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng mộtkhoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận vớinguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Trang 12Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng vàphong phú với nhiều hình thức khác nhau.Việc áp dụng từng loại cho vay tùy thuộcvào đặc điểm kinh tế của đối tượng vay Có nhiều tiêu thức phân loại cho vay, theođiều 8 của văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN ngày 22/05/2014 của Thống đốcNHNN quy định về hoạt động cho vay của ngân hàng theo thời hạn cho vay baogồm 3 loại sau:
• Cho vay ngắn hạn: Là những khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng
• Cho vay trung hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 thángđến 60 tháng
• Cho vay dài hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trởlên
Cho vay ngắn hạn thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưuđộng.Cho vay trung hạn và dài hạn nhằm tài trợ để đầu tư xây lắp, đầu tư mua sắmmáy móc thiết bị, đầu tư vào các loại tài sản cố định khác và thường được thực hiệnthông qua các dự án
Cho vay theo dự án đầu tư là việc ngân hàng quyết định cho khách hàng vaymột khoản tiền dựa trên cơ sở phương án đầu tư dự tính sẽ mang lại thu nhập Khithực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thể hiện rõ chức năng là trung gian tàichính trong hoạt động đầu tư, ngân hàng đóng vai trò là nhà đầu tư Cho vay theo
dự án đầu tư được áp dụng trong lĩnh vực cho vay trung và dài hạn
Các dự án vay vốn có đặc điểm chung là có mức vay vốn lớn, thời hạn vay dài, có
độ rủi ro cao hơn Do đó, ngân hàng cần phải xem xét kỹ lưỡng thực hiện thẩm định dự
án, đặc biệt là thẩm định về mặt tài chính trước khi ra quyết định cho vay
1.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại.
1.2.1 Tổng quan về dự án đầu tư
1.2.1.1 Khái niệm
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định”.
Trang 13Ở Việt Nam, khái niệm Dự án đầu tư được hiểu: “ Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định”.
• Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết
có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả
và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
• Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhaunhằm đạt được những mục đích đã đề ra thông qua nguồn lực đã xác định như vấn
đề thị trường, sản phẩm, công nghệ, kinh tế , tài chính…
Vậy, Dự án đầu tư phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào đểthu được đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể Đầu vào là lao động, nguyênvật liệu, đất đai, tiền vốn… Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầuvào Sử dụng đầu vào được hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biệnpháp tổ chức quản trị và các luật lệ…
Dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì Dự án đầu tư cũng gồm những thànhphần chính sau:
+ Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽmang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho chủ đầu tư nói riêng + Các kết quả: Đó là những kết quả có định lượng được tạo ra từ các hoạtđộng khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của
dự án
+ Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự
án để tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biểu và trách nhiệm của các bộphận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án
+ Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu cácnguồn lực về vật chất, tài chính và con người Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lựcnày chính là vốn đầu tư cho các dự án
Trang 14+ Thời gian: Độ dài thực hiện Dự án đầu tư cần được cố định.
Dự án đầu tư được xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn.Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó vừa độc lập tương đối với nhau tạothành chu trình của dự án Chu trình của dự án được chia làm 3 giai đoạn: Giaiđoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành kết quả Giaiđoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giai đoạnsau, đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư
Đối với chủ đầu tư và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của chutrình dự án là rất quan trọng Nhưng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi người cómối quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau Chủ đầu tưphải nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự.Đó là điều kiện để đảm bảo đầu
tư đúng cơ hội và có hiệu quả
1.2.1.2 Phân loại dự án đầu tư
Theo mục tiêu đầu tư
- Đầu tư hình thành doanh nghiệp: Bao gồm các khoản đầu tư ban đầu để thành lập
doanh nghiệp
- Đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh: Là toàn bộ các khoản đầu tư nhằm mở rộng
thêm các phân xưởng mới hay các đơn vị trực thuộc
- Đầu tư chế tạo sản phẩm mới: Là khoản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản
phẩm, tạo điều kiện phát triển lâu dài cho doanh nghiệp
- Đầu tư thay thế, hiện đại hóa máy móc: Là khoản đầu tư thay thế hoặc đổi mới các
trang thiết bị cho phù hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhằm duy trì hoặc tăng khảnăng sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp
- Đầu tư ra bên ngoài: Là sự đầu tư góp vốn thực hiện liên doanh dài hạn với các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, đầu tư về tài sản tài chính khác
Theo lĩnh vực hoạt động
- Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
- Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ( kỹ thuật và xã hội )
………
Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Chẳng hạn các
Trang 15dự án đầu tư phát triển khoa học và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, đến lượt mình các dự án đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoahọc kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác.
1.2.2 Cho vay dự án đầu tư
nợ Đồng thời việc cho vay đòi hỏi sự tham gia của một số tổ chức tài chính khácnhằm chia sẻ rủi ro Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh giữacác ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác ngày càng gay gắt Vì thế, để Ngânhàng thắng trong cuộc cạnh tranh giành khách hàng này, ngân hàng sẽ phải tính đếnbiện pháp cho vay mà không cần bảo lãnh Nhưng đây là một vấn đề rất khó khăn
và nan giải
Vậy để ngân hàng vừa tăng được khả năng cạnh tranh mà vẫn bảo đảm cho khoảnthu nhập xứng đáng và bảo đảm an toàn vốn thì ngân hàng phải có những dự án tốt.Ngày nay, trong quản trị hoạt động Ngân hàng thương mại, các ngân hàng đều chútrọng tới việc làm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra với các dự án cho vay đầu tư.Quá trình cho vay của một dự án thường gồm nhiều khâu: từ thẩm định, xét duyệt,quyết định cho vay tới kiểm tra sử dụng vốn vay và theo dõi, xử lý thu hồi nợ saukhi cho vay Trong đó, các Ngân hàng thương mại thường xem giai đoạn trước khicho vay - giai đoạn phân tích tín dụng, thẩm định dự án - là quan trọng nhất Kếtquả của khâu này sẽ mang tính quyết định đối với một khoản cho vay Đặc biệt,thẩm định dự án chính là khâu mà ngân hàng phải quan tâm hàng đầu để đảm bảo
Trang 16tránh được các rủi ro của một khoản cho vay, tạo sự an toàn và lành mạnh tronghoạt động của ngân hàng.
1.2.2.2 Phân loại cho vay dự án đầu tư
Phân loại theo thời gian cho vay
- Cho vay trung hạn: các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến
60 tháng
- Cho vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên
Phân loại cho vay theo tài sản đảm bảo
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là hình thức cho vay của ngân hàng trong đókhách hàng dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc của bên thứ ba để đảm bảonghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay không có tài sản đảmbảo cho nghĩa vụ trả nợ của ngân hàng Trong hình thức cho vay này ngân hàngthường dựa vào uy tín của khách hàng để cấp tín dụng hoặc các trường hợp kháctheo qui định của pháp luật
1.2.2.3 Quy trình cho vay dự án đầu tư
Bất cứ một dự án đầu tư nào kể từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc đều phải trải qua
03 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầutư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư có quy trình như sau:
Giai đoạn 2: Giai đoạn đầu tư
Sau khi ra Quyết định đầu tư, công việc tiếp theo là cụ thể hoá nguồn vốn, hìnhthành vốn đầu tư và triển khai dự án đầu tư
Giai đoạn đầu tư có quy trình như sau:
Giai đoạn 3: Giai đoạn đi vào hoạt động
Trang 17Đây là giai đoạn đưa dự án đầu tư vào vận hành để sản xuất sản phẩm và đưa ratiêu thụ trên thị trường.
1.2.3 Thẩm định tài chính dự án đầu tư
1.2.3.1.Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án đầu tư là rà soát, đánh giá một cách khoa học vàtoàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của Ngân hàng Thẩm địnhtài chính dự án đầu tư tạo cơ sở cho việc xác định số tiền cho vay, thời gian chovay, dự kiến tiến độ giải ngân, khả năng trả nợ, phương thức thu nợ hợp lý, các điềukiện cho vay từ đó tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động có hiệu quả đồng thờiđảm bảo mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng
Trong hoạt động của ngân hàng, trước khi cho vay dự án, các Ngân hàng quantâm tới khả năng sinh lời của dự án cũng như khả năng trả nợ để ra quyết định chovay Để đảm bảo tính khả thi của dự án cho vay, các NHTM cần phải thẩm định dự
án một cách kỹ lưỡng đặc biệt là thẩm định khía cạnh tài chính của dự án Thẩmđịnh tài chính dự án là một nội dung rất quan trọng trong thẩm định dự án, thẩmđịnh tài chính là căn cứ quan trọng để NHTM quyết định cấp vốn cho dự án Dự ánđạt được hiệu quả tài chính và có độ an toàn cao về mặt tài chính là dự án có khảnăng trả nợ vay Thẩm định tài chính dự án sẽ giúp các ngân hàng đưa ra đượcquyết định đúng đắn, đảm bảo nguyên tắc an toàn và có lợi cho cả khách hàng cũngnhư ngân hàng
Như vậy, “Thẩm định tài chính dự án đầu tư là quá trình Ngân hàng rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án”, (Nguồn: PGS TS Thái Bá Cẩn (2011),
Giáo trình Thẩm định tài chính dự án đầu tư, Nhà xuất bản Giáo dục)
1.2.3.2 Cơ sở pháp lý thẩm định tài chính dự án đầu tư
Theo:“Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm theo Nghị định củaChính phủ số 52/1999/NĐ-CP, ngày 08/07/1999
Trang 18Theo: “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng” ban hành kèmtheo Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN ngày 30/09/1998 của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Việt Nam.
Theo Nghị định của Chính phủ số 12/2000/NĐ-CP, ngày 05/05/2000 về: “Sửa đổi,
bổ sung một số điều của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, ban hành kèm theoNghị định của Chính phủ số 52/1999/NĐ-CP, ngày 08/07/1999”
Theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, sửa đổi ngày 20/05/1998
Theo Nghị định của Chính phủ số 51/1999/NĐ-CP, ngày 08/07/1999 về: “Quy địnhchi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước” (sửa đổi), số 03/1998/QH10.Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ngày 12/11/1996; Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ngày 09/06/2000( Sửa đổi từ:
1987, 1990,1992 )
Theo Nghị định của Chính phủ số 24/2000/NĐ-CP, ngày 31/07/2000 về: “Quy địnhchi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, ngày 17/06/2010
Theo thông tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư số 12/2000/TT-BKH, ngày 15/09/2000về: “Hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”
Theo Nghị định số 59/CP, ngày 03/10/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế quản
lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước
Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC, ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính vềban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
Thông tư số 45/2013/TT-BTC, ngày 25/04/2013 của Bộ trưởng Bộ tài chính vềhướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định, thay thế choQuyết định số 206/2003/QĐ-BTC
Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC, ngày 25/10/2000 của Bộ trưởng Bộ tài chính vềchế độ Báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Quyết định số 1141-TC/QĐ/CCĐKT, ngày 01/02/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chínhban hành chế độ kế toán đối với doanh nghiệp
Trang 19Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính banhành chế độ kế toán đối với doanh nghiệp.
Thông tư số 200/2014/QĐ-BTC, ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ tài chính banhành chế độ kế toán đối với doanh nghiệp thay thế cho Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC
Các văn bản khác có liên quan…
Các văn bản trên đây được thay đổi, bổ sung theo từng thời điểm nhất định tùy theotừng thời kỳ Do đó khi tiến hành thẩm định tài chính dự án đầu tư phải căn cứ vàotính hiệu lực của các văn bản có liên quan để thẩm định
1.2.3.3 Tài liệu thẩm định tài chính dự án đầu tư
Tài liệu phục vụ cho thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán 2 thời kỳ (thường là quý) gần nhất so với thời điểm vay vốn
- Báo cáo kết quả kinh doanh 2 thời kỳ (thường là quý) gần nhất so với thời điểmvay vốn
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính có liên quan
- Báo cáo lợi nhuận giữ lại
- Báo cáo kiểm toán
- Bảng ước tính sản lượng năm
- Bảng dự trù doanh thu lãi lỗ năm
- Bảng tính chi phí nguyên liệu
- Phương án/Kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính từ 2 – 3 năm
- Bảng kê các loại công nợ tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
- Các hợp đồng kinh tế (về hàng hóa, xuất nhập khẩu, cung ứng dịch vụ…)
Trang 20- Kế hoạch vay trả, nguồn trả nợ.
- Hồ sơ khác có liên quan đến khoản vay (Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, dự toán chiphí hoạt động được duyệt…)
1.2.3.4 Các phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư
Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp thẩmđịnh khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và nguồn thông tinđáng tin cậy Việc thẩm định tài chính trong cho vay dự án có thể tiến hành theonhiều phương pháp khác nhau trong quá trình thẩm định, tuỳ thuộc vào nội dung vàyêu cầu đối với dự án Sau đây là những phương pháp thẩm định thường gặp nhất
Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủyếu của dự án được so sánh bởi các dự án đã và đang xây dựng, đang hoạt động.Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do nhà nước quyđịnh hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được
- Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệquốc gia, quốc tế
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đang đòi hỏi
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư…
- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiềnlương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật chính thứchoạc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư
Trang 21- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo hiệnhành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.
- Các chỉ tiêu mới phát sinh…
Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu dùng đểtiến hành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thểcủa từng dự án và doanh nghiệp Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơ quanchuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược).Tránh khuynh hướng so sánhmáy móc, cứng nhắc, dập khuôn
Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình
tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho kết luậnsau
- Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát các nội dung cơbản thể hiện tính pháp lý, tính phù hợp, tính hợp lý của dự án Thẩm định tổng quátcho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của dự ántrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xác định các căn cứ pháp lýcủa dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ máy quản lý dự án dự kiến
- Thẩm định chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan, khoa học, chi tiếttừng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả, tính hiệnthực của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật công nghệ, môitrường, kinh tế… phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời
kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ýhay sửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được Khi tiến hành thẩm định chi
Trang 22tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể bác bỏ toàn
bộ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tàichính của dự án Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc
có thẩy xảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những yếu tố
đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện cụthể, ở đây ta nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quảcủa dự án để xem xét Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp cónhiều bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ an toàncao Trong trường hợp ngược lại thì cần phải xem xét lại khả năng phát sinh bất trắc
đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu để khắc phục hay hạn chế
Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểmtra cung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của côngnghệ, thiết bị, nguyên liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính khả thi của
dự án
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự ánđến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinhngoài ý muốn chủ quan Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người ta thường dựđoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính thích hợp,hạn chế thấp nhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có liênquan đến dự án
Trang 23Một số loại rủi ro bắt buộc phải có biện pháp xử lý như: đấu thầu, bảo hiểmxây dựng, bảo lãnh hợp đồng Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro quen thuộcnhất là bảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và
uy tín, thế chấp tài sản.Để tránh tình trạng thế chấp tài sản nhiều lần khi vay vốnnên thành lập Cơ quan đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm
1.2.3.5 Quy trình và nội dung thẩm định tài chính dự án
a Thẩm định tổng mức vốn đầu tư, cơ cấu vốn và nguồn vốn
Tổng mức vốn đầu tư của dự án
Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập
và đưa dự án vào hoạt động Tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩarất quan trọng đối với tính khả thi của dự án.Nếu vốn đầu tư quá thấp thì dự ánkhông thực hiện được và ngược lại, nếu dự tính quá cao thì sẽ không phản ánhchính xác hiệu quả tài chính của dự án Tổng mức vốn đầu tư của dự án được chiathành 3 phần : Vốn đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ), vốn lưu động ban đầu (chỉtính cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên), và vốn đầu tư dự phòng
Vốn đầu tư vào TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan đến việc hìnhthành tài sản cố định từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư vàgiai đoạn kết thúc xây dựng dự án, cụ thể:
- Chi phí chuẩn bị (chi phí trước vận hành): Là những chi phí dùng để soạnthảo nghiên cứu lập hồ sơ dự án đầu tư
- Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng cũng như các kết cấu hạ tầng
- Chi phí mua máy móc thiết bị, dụng cụ sản xuất, phương tiện vận tải
- Chi phí chuyển giao công nghệ (trong trường hợp trả gọn 1 lần)
- Chi phí đào tạo cán bộ
Trang 24- Vốn lưu thông: sản phẩm dở dang, tồn kho, thành phẩm tồn kho, hàng hóabán chịu, vốn bằng tiền, chi phí tiếp thị…
- Vốn đầu tư dự phòng: Hiện nay giá xăng dầu, điện thường xuyên có sự biếnđộng dẫn đến các nhân tố giá cả nguyên vật liệu xât dựng, giá thuê nhân công, máythi công thường biến đổi Bên cạnh đó, trong quá trình thi công công trình có thểgặp phải những rủi ro về kỹ thuật hoặc nảy sinh các chi phí bất thường Chính vìvậy, cần phải dự trù một khoản dự phòng vốn đầu tư để sẵn sàng ứng phó với nhữngbất trắc có thể sảy ra Khoản dự phòng này thường được tính theo một tỷ lệ phẩmtrăm trên tổng vốn đầu tư vào TSCĐ và vốn lưu động ban đầu, phần lơn trường hợpđược quy định từ 5 – 10% trên tổng hai thành phần vốn trên
Tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với tínhkhả thi của dự án vì vốn đầu tư được dự trù quá thấp thì dự án có thể bị đổ vỡ vìcông trình không thực hiện được, nếu vốn đầu tư dự trù quá cao tiền vay nợ nhiềuảnh hưởng tới khả năng sinh lời của dự án Do đó, nhân viên thẩm định cần phảixem xét đánh giá tổng vốn đầu tư của dự án đã được tính toán hợp lý với thực tếhay chưa Tổng mức vốn đầu tư cần phải được tính toán hợp lý đảm bảo mục tiêu
dự kiến ban đầu của dự án đầu tư làm cơ sở để xác định mức tài trọ của ngân hàng
Cơ cấu vốn
Nguồn vốn tài trợ cho dự án được hình thành từ nhiều nguồn: nguồn vốn chủ
sở hữu, nguồn vốn huy động và đi vay: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại,phát hành trái phiếu…
Nếu khả năng huy động vốn lớn hơn hoặc bằng nhu cầu vốn sử dụng thì dự ánđược chấp nhận Nếu khả năng huy động vốn nhỏ hơn nhu cầu vốn sử dụng thì phảigiảm quy mô của dự án Để so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho
dự án từ các ngồn về số lượng và tiến độ thông qua lập bảng cần đối vốn đầu tư.Việc xác định tiến độ thực hiện, nhu cầu vốn làm cơ sở cho việc dự kiến tiến độ giảingân, tính toán lãi vay trong thời gian thi công và xác định thời gian trả vay
Nguồn vốn đầu tư
Mức cho vay
của ngân = đầu tư củaTổng vốn - Nguồn vốn chủsở hữu của chủ - Các nguồnvốn khác
Trang 25hàng dự án đầu tư
Dựa trên tổng mức vốn đầu tư của dự án được duyệt, nhân viên thẩm định cầnphải rà soát lại từng loại nguồn vốn tham gia tài trợ cho dự án, đánh giá khả năngtham gia của từng loại nguồn vốn, từ kết quả phân tích tình hình tài chỉnh của chủđầu tư để đánh giá khả năng tham gia cuả nguồn vốn chủ sở hữu Nhân viên thẩmđịnh phải cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư và khả năng tham gia tài trợ của cácnguồn vốn dự kiến để đánh giá tính khả thi của các nguồn vốn thực hiện dự án
b Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận và dòng tiền của dự án
Thẩm định doanh thu
Doanh thu của dự án bao gồm:
- Doanh thu từ sản phẩm chính = Số lượng x Đơn giá
- Chi phí hoạt động tài chính
Tổng chi phí của dự án = Tổng giá thành dự án
Thẩm định lợi nhuận
Trên cơ sở thẩm định doanh thu và chi phí của dự án, lợi nhuận hàng năm của
dự án được tính theo công thức sau:
Lợi nhuận
trước thuế
trong kỳ =
Doanh thutrong kỳ -
Trang 26Dòng tiền của dự án (Cash flow) được hiểu là các khoản chi và thu được kỳvọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án.
Dòng tiền ròng (Net cash flow) hàng năm của dự án được xác định là chênhlệch giữa dòng tiền thu và dòng tiền chi hàng năm của dự án
Dòng tiền phải được quy về một mốc thời gian để so sánh vì tiền có giá trị vềthời gian Dòng tiền thường được giả định là xuất hiện vào cuối mỗi năm, theo lýthuyết thì dòng tiền hàng ngày là chính xác nhất, tuy nhiên cách ước tính như vậytốn kém chi phí mà kết quả cũng không chính xác hơn dòng tiền hàng năm
Nguyên tắc xác định dòng tiền
- Dòng tiền phù hợp
Dòng tiền phù hợp (dòng tiền chênh lệch) là một sự thay đổi trong tổng dòngtiền trong tương lai của doanh nghiệp, dòng tiền phù hợp được coi là hệ quả trựctiếp của việc thực hiện dự án Các dòng tiền không liên quan đến dự án thì khôngphải là dòng tiền phù hợp
- Loại bỏ chi phí chìm
Chi phí chìm là chi phí đã sảy ra và không thể thay đổi được bất kỳ quyết địnhnào trong hiện tại và tương lai, chi phí chìm không thể bù đắp dù dự án có đượcchấp thuận hay không Bởi tính không thể thay đổi nên nó không phải là chi phíkhác biệt Theo nguyên tắc về quyết định khi cân nhắc, so sánh chi phí, chỉ có chiphí khác biệt là chi phí quan trọng trong việc ra quyết định nên chi phí chìm có thể
bỏ qua
- Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là một khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựachọn Nó được vận dụng rất rộng rãi và thường xuyên trong nền kinh tế Chi phí cơhội dựa trên cơ sở là nguồn lực khan hiếm nên buộc chúng ta phải thực hiện sự lựachọn, thực hiện sự đánh đổi, để nhận được một lợi ích nào đó buộc chúng ta phảiđánh đổi hoặc bỏ qua một chi phí nhất định cho nó Như vậy chi phí cơ hội của mộtphương án được lựa chọn là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiệnsựa lựa chọn đó (và là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này mà không chọn
Trang 27phương án khác) Do quy luật về sự khan hiếm nên luôn tồn tại những sự đánh đổikhi thực hiện các sự lựa chọn Hay nói cách khác chi phí cơ hội luôn tồn tại.
- Đầu tư tài sản lưu động ròng
Tài sản lưu động ròng = Tổng tài sản lưu động - Nợ ngắn hạnNhu cầu vốn từ bên ngoài để tài trợ tài sản lưu động (TSLĐ) thường nhỏ hơn
sự tăng lên của TSLĐ TSLĐ ròng không được khấu hao và được thu hồi khi dự ánkết thúc Bởi vậy, khi tiến hành một dự án mới cần đầu tư thêm TSLĐ ròng trongnhững năm đầu và thu hồi khi kết thúc dự án
- Phân bổ chi phí quản trị chung
Chi phí quản trị chung là những chi phí hoạt động không liên quan trực tiếptới bất cứ sản phầm hay dịch vụ cụ thể nào của doanh nghiệp Những chi phí nàybao gồm: chi phí quản lý, các chi phí hành chính, chi phí thuê văn phòng, chi phíđiện nước…Tất cả các chi phí chung được phẩn bổ cho các bộ phận hay sản phẩmtheo những tiêu thức nhất định như: doanh thu, sản lượng hay giờ máy chạy…Trênphương diện quản trị tài chính, những chi phí này phân bổ và hạch toán vào một dự
án nếu chúng phát sinh là do hệ quả trực tiếp của dự án đó Cách tốt nhất để xácđịnh có nên tính một khoản chi phí quản trị chung cho một dự án hay không là hãyđánh giá những chi phí quản trị tăng thêm, hay sự chênh lệch của những chi phí nàytrước và sau thời điểm có dự án mới
Dự án có thể được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, nợ hoặc thông qua thuê tài sản,hoặc kết hợp giữa các hình thức trên Với mỗi hình thức tài trợ việc xác định dòngtiền cần có những điều chỉnh nhất định
Đối với dự án được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì dòng tiền ròng hàng nămđược xác định như sau:
Dòng tiền ròng = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao
Đối với dự án được tài trợ bằng nợ và vốn chủ sở hữu thì dòng tiền ròng hàngnăm được xác định như sau:
Nếu thanh toán theo năm cố định
Dòng tiền ròng = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao - Trả vốn vay
Trang 28Nếu thanh toán dưới hình thức trả lãi hàng năm và gốc trả vào năm cuối của
dự án
Dòng tiền ròng = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao
Đối với dự án được tài trợ bằng vốn vay thì dòng tiền ròng hằng năm được xácđịnh như sau:
Dòng tiền ròng = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao - Trả gốc hàng nămĐối với dự án, tài sản cố định được hình thành thông qua thuê tài sản thì dòngtiền ròng hàng năm được xác định như sau:
Vốn đầu tư vào TSLĐ ban đầu sẽ được thu hồi khi dự án kết thúc Vì vậy,dòng tiền ròng năm cuối cùng sẽ được cộng thêm vốn lưu động ban đầu
Tài sản cố định khi thanh lý sẽ được tính là thu nhập từ hoạt động khác vàphải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nên được tính trong lợi nhuận sau thuế củanăm tiến hành thanh lý
Do đó, dòng tiền ròng hoạt động năm cuối của dự án phải được bổ sung (nếucó): dòng tiền ròng thu được từ thanh lý tài sản cố định và giá trị tài sản lưu độngròng thu hồi được
c Thẩm định lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu chính là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đốivới một dự án, lãi suất chiếu khấu là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việcxác định giá trị hiện tại ròng của dự án (NPV)
Lãi suất chiết khấu được hiểu là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dự án đượcquy về hiện tại để xác định giá trị hiện tại ròng của dòng tiền Lãi suất chiết khấucủa dự án chính là chi phí vốn của dự án đó Nếu thực hiện dự án nhà đầu tư sẽ bỏqua lợi tức kỳ vọng của dự án khác có cùng mức rủi ro Việc bỏ qua các hình thứcđầu tư khác để tập trung theo đuổi một dự án, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một mức lãi suấtchiếu khấu (tỷ lệ sinh lời) cần thiết đối với dự án đó Vì lãi suất chiết khấu và NPV
có quan hệ tỷ lệ nghịch nên nhà đầu tư thường xác định lãi suất chiếu khấu nhỏ dẫnđến NPV lơn để làm tăng hiệu quả tài chính của dự án
Trang 29Trường hợp dự án được tài trợ bằng nợ thì lãi suất chiếu khấu được xác địnhnhư sau:
Lãi suất chiết khấu = Chi phí nợ sau thuế = (1-T)Kd
Trong đó:
- Kd: Lãi vay trước thuế
- T: thuế suất thuế TNDN
Trường hợp dự án được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, vận dụng mô hìnhCAPM lợi tức kỳ vọng của cổ phiếu được xác định như sau:
Lãi suất chiết khấu = Chi phí trung bình của vốn =
: Hệ số beta của cố phiếu
Trường hợp dự án được tài trợ bằng vốn chủ sở hữ và nợ, lãi suất chiết khấucủa dự án là chi phí trung bình của vốn (WACC )
Lãi suất chiếu khấu = WACC = Kd
Trang 30d Thẩm định các chỉ tiêu tài chính của dự án
Chỉ tiêu giá trị hiện ròng (NPV – Net Present value)
NPV là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trongtừng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hóa ở mốc 0 NPV cóthể mang giá trị dương, âm hoặc bằng không.Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biếnnhất trong thẩm định tài chính dự án
Công thức tính NPV được xác định như sau:
-k : Lãi suất chiếu khấu, giả sử là khổng đổi trong các năm
Nếu NPV > 0, dự án không những bù đắp đủ vốn đầu tư bỏ ra mà còn tạo ralợi nhuận, lợi nhuận tạo ra còn được xem xét trên cở sở giá trị thời gian của tiền.Nếu NPV < 0, dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư bỏ ra, đem lại thua lỗ chochủ đầu tư
Nếu NPV = 0, dự án tạo ra lợi nhuận chỉ đủ mức trang trải chi phí vốn đầu tư
bỏ ra ban đầu
NPV phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư Do đó, dự án chỉ được chấpnhận nếu có NPV dương Trường hợp nếu có nhiều dự án nhưng phải chọn một,chọn dự án có NPV dương và lớn nhất
NPV tính đến giá trị thời gian của tiền nên việc sử dụng chỉ tiêu NPV thì kếtquả mang lại khá chính xác.NPV cho biết lợi nhuận của dự án đầu tư và giúp chủđầu tư tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiện, chỉ tiêu NPV cũng có những hạn chế nhưNPV không cho biết tỷ lệ sinh lợi tính bằng tỷ lệ % nên không thuận tiện cho việc
so sánh cơ hội đầu tư, NPV không quan tâm đến sự khác biệt và thời gian hoạt động
Trang 31của các dự án nên việc lựa chọn dự án có NPV lớn nhất không chính xác, lãi suấtchiết khấu áp dụng cho cách tính NPV không thay đổi qua tất cả các năm thực hiện
dự án nhưng tỷ lệ chiết khấu luôn thay đổi theo sự thay đổi của các yếu tố kinh tế
-xã hội
Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR – Internal rate of return)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biết của lãi suất chiết khấu ở đóNPV bằng không
Cách xác định IRR hay dùng là thử và điều chỉnh Lần lượt thử các giá trị củalãi suất chiết khấu làm cho NPV bằng không, chọn lãi suất chiết khấu nào có giá trịNPV gần 0 nhất thì đó chính là IRR.Cách xác định IRR mất nhiều thời gian và côngsức , do vạy người ta hay sử dụng phần mềm máy tính chuyên biệt để tiết kiệm thờigian và chi phí Phương pháp này sẽ cho kết quả chính xác
IRR còn được xác định dựa trên phương pháp nội suy, chọn hai giá trị của lãisuất chiết khấu sao cho một giá trị lãi suất chiết khấu làm cho NPV dương, một giátrị lãi suất chiết khấu làm cho NPV âm IRR chính xác là giá trị nằm giữa hai giá trịvừa chọn, làm cho NPV bằng không Công thức tính IRR được xác định như sau:
2 1
1 2 1
NPV NPV
k k NPV
+
−
Chọn hai giá trị lãi suất chiết khấu hơn kém nhau không quá 5% để tăng độchính xác tính IRR trong công thức trên
Dự án sẽ được chấp nhận khi có IRR lớn hơn lãi suất chiết khấu Nếu có nhiều
dự án chọn một thì dự án cho giá trị IRR dương lớn nhất và lớn hơn lãi suất chiếtkhấu sẽ được chọn
IRR phản ánh tỷ suất hoàn vốn của dự án, dựa trên giả định các dòng tiền thuđược trong các năm tái đầu tư với lãi suất bằng lãi suất chiết khấu Tuy nhiên, lãisuất chiết khấu sẽ thay đổi trong các năm, lãi suất chiết khấu thể hiện chi phí cơ hộicủa chủ đầu tư trong từng năm thay đổi Đây chính là nhược điểm lớn nhất của tỷsuất hoàn vốn nội bộ Do vậy, chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh(MIRR) được sử dụng để khắc phục nhược điểm này của IRR
Trang 32MIRR giả thiết rằng các dòng tiền của dự án được tái đầu tư với lãi suất bằngchi phí vốn MIRR được tính bằng cách giải phương trình sau:
COF
0 ( 1 )
=
∑ +
0
1
) 1
(
) 1 (
Trong đó:
- COFt
: Dòng tiền ra năm thứ t
- CIFt
: Dòng tiền vào năm thứ t
- k: lãi suất chiết khấu
MIRR chỉ chỉ tiêu chính xác hơn và đáng tin cậy hơn về khả năng sinh lời thựccủa dự án so với IRR
Chỉ tiêu sinh lợi (PI – Profit index)
Chỉ tiêu sinh lợi là chỉ số phản ảnh khả năng sinh lợi của dự án, chỉ tiêu sinhlợi tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu
tư bỏ ra ban đầu Công thức tính PI được xác định như sau:
PI = 0
1 ( 1 )
CF k
Trang 33Thời gian hoàn vốn đầu tư là thời gian để chủ đầu tư thu hồi được số vốn đãđầu tư vào dự án Công thức tính PP được xác định như sau:
PP = n + Số vốn đầu tư còn lại cần được thu hồi
Dòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn
PP phản ánh thời gian thu hồi vốn đầu tư vào dự án, PP cho biết sau bao lâuthì dự án thu hồi đủ vốn đầu tư Do vậy, PP cho biết khả năng tạo thu nhập của dự
án từ khi thực hiện cho đến khi thu hồi đủ vốn Ngân hàng chấp nhận dự án có thờigian hoàn vốn ngắn hơn trong thời hạn cho phép
Ưu điểm lớn nhất của PP là mang tính thực tết cao, PP là căn cứ để ra quyếtđịnh đầu tư, PP giảm thiểu rủi ro vì số liệu trong những năm đầu của dự án bao giờcũng đạt độ tin cậy cao hơn
Chỉ tiêu lợi nhuận kế toán bình quân (APP– Average Payment Period)
Lợi nhuận kế toán bình quân là lợi nhuận kế toán thuần túy bình quân trongcác năm của dự án Đây là chỉ tiêu được sử dụng kết hợp với NPV Cách tính APPđược xác định như sau:
APP = (Doanh thu – chi phí – Thuế TNDN)nTrong đó:
- n: Số năm thực hiện dự án
APP phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận về mặt kế toán trong các năm thựchiện dự án APP cho biết dự án tạo ra bao nhiêu lợi nhuận bình quan trong các nămcủa dự án APP càng cao thì dự án càng mang lại nhiều thu nhập cho chủ đầu tư.Nếu có nhiều dự án thì dự án có APP cao nhất sẽ được chấp nhận Tuy nhiên, lưu ýAPP nên được sử dụng kết hợp với NPV
Chỉ tiêu điểm hòa vốn (BP–Break Point)
Điểm hòa vốn là mức sản lượng mà tại đó nhà đầu tư thu hồi vốn đầu tư Cáchtính BP được xác định như sau:
( P – AVC )
Trang 34tế thấp hơn so với lợi tức dự kiến Các kết quả của dự án đầu tư phụ thuộc vào các
sự kiện bất định trong tương lai Tính bất định và rủi ro của dự án xảy ra khi mà tạimột thời điểm bất kỳ của dự án, dự án có thể tạo ra nhiều hơn một giá trị duy nhất
Vì vậy, khi phân tích dự án cần xem xét tất cả những khả năng mà dự án cóthể gặp phải Thông qua thẩm định rủi ro của dự án, giúp chủ đầu tư có cái nhìntổng quan và sâu sắc hơn về khả năng thu lợi nhuận từ dự án, cũng như các tínhhuống bất trắc có thể xảy ra đối với dự án để có biện pháp phòng ngừa, đảm bảokhả năng sinh lợi của dự án
Phương pháp phổ biến để phân tích rủi ro của dự án là phương pháp phân tích
độ nhạy và phân tích tình huống
Trang 35sử thực hiện chậm trễ có nghĩa là trong điều kiện đã có đầu tư nhưng dự án hoạtđộng chậm vì lý do khách quan nào đó Phân tích độ nhạy là một kỹ thuật phân tíchrủi ro dự án tương đối giản đơn Tuy nhiên, nhược điểm chính của kỹ thuật nàychưa tính đến xác suất có thể xảy ra của các biến rủi ro và nó cũng không thể đánhgiá được cùng một lúc sự tác động của tất cả các biến rủi ro đến dự án.
số khả năng kết hợp có thể sảy ra giữa các biến của dự án
1.2.4 Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại.
Thẩm định dự án nói chung, thẩm định tài chính dự án đầu tư nói riêng có vaitrò rất quan trọng trong việc ra quyết định cho vay của NHTM Thẩm định tài chính
Trang 36dự án đầu tư được cho là có chất lượng khi nó đáp ứng tốt nhất những yêu cầu củangân hàng về nội dung quy trình thẩm định có khoa học và hợp lý không, thời gianthẩm định nhanh hay chậm, chi phí cao hay thấp, việc lựa chọn phương pháp thẩmđịnh có phù hợp với dự án hay không, mức độ đáp ứng yêu cầu về tính chính xáccủa thẩm định…
Một dự án đạt hiệu quả về mặt tài chính khi dự án đã được thẩm định phải cókhả năng trả nợ đúng theo dự kiến, thời gian thẩm định nhanh, chi phí hợp lý, rủi rothấp, có hiệu quả về mặt xã hội, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Một dự án thẩmđịnh kém về mặt tài chính không những khiến cho ngân hàng không thu được vốn,suy giảm lợi nhuận mà còn có khả năng bị phá sản Do đó, thẩm định tài chính dự
án đầu tư rất quan trọng và cần thiết đối với các ngân hàng Nâng cao chất lượngthẩm định tài chính dự án đầu tư là nhiệm vụ của mỗi ngân hàng
Thẩm định tài chính dự án đầu tư trên các phương diện kinh tế, kỹ thuật, xãhội, thị trường….NHTM sẽ có cái nhìn tổng quan, sâu sắc hơn về dự án đầu tư, pháthiện những hạn chế của dự án mà chủ đầu tư không lường được hết hay cố tính che giấu,
đo lường và dự báo được những tình huống đã xảy ra khi triển khai thực hiện dự án vàkhi đưa dự án vào vận hành, khai thác Trên cơ sở đó đưa ra những quyết định cho vayhay từ chối, các biện pháp tài trợ hiệu quả và thu hồi cả gốc lẫn lãi đúng hạn Trong nộidung thẩm định dự án đầu tư thì phương diện tài chính đóng vai trò quan trọng nhất vàđược coi là có chất lượng khi nó đạt được những tiêu thức sau:
• Kết quả thẩm định tài chính dự án đầu tư phải đưa ra được kết luận đúng về tính khảthi, tính hiệu quả về mặt tài chính của dự án, khả năng trả nợ và những rủi ro có thểsảy ra…Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể đưa ra những quyết định tài trợ đúng đắn
• Kết quả thẩm định tài chính dự án đầu tư giúp cán bộ thẩm định có cơ sở để thamgia góp ý, tư vấn cho chủ đầu tư, tạo tiền đề để đảm bảo hiệu quả cho vay, thu hồiđược nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn và giảm thiểu rủi ro
• Kết quả thẩm định tài chính dự án đầu tư phải giúp ngân hàng xác định được số tiềncho vay, dự kiến tiến độ giải ngân, kế hoạch trả nợ cũng như các điều kiện cho vaykhác nhằm đảm bảo khách hàng hoạt động có hiệu quả và đảm bảo mục tiêu chovay của ngân hàng
Trang 371.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại.
Thẩm định tài chính dự án đầu tư phục thuộc vào nhiều nhân tố Đề có đượckết quả tốt nhất về thẩm định tài chính dự án đầu tư, cần phải nghiên cứu các nhân
Nguồn thông tin phục vụ cho quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư đượckhai thác từ: Các chính sách của Nhà nước, các thông tin thống kê về các chỉ tiêutrung bình ngành phục vụ cho việc xếp loại chủ đầu tư và dự án xin vay vốn Cácthông tin này, các cán bộ thẩm định có thể tìm hiểu từ các nguồn:
+ Thông tin sơ bộ từ hồ sơ dự án
+ Thông tin do các cán bộ thẩm định tự thu thập, điều tra và tổng hợp được
từ việc phỏng vấn chủ đầu tư, kiểm tra thực tế dự án hay khai thác thông tin từ trungtâm phòng ngừa rủi ro của Ngân hàng Nhà Nước
+ Thông tin từ các tổ chức tín dụng khác có quan hệ với khách hàng, thôngtin từ báo chí, internet và các cơ quan quản lý khác
Thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời là một nhân tố quan trọng đảm bảo chocông tác thẩm định tài chính dự án đầu tư đảm bảo được tính chính xác, từ đó giúp
dự án hoạt động có hiệu quả và có khả năng trả nợ cho ngân hàng
Nhận thức, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ thẩm định
Trang 38Đội ngũ cán bộ thẩm định là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượngthẩm định tài chính dự án đầu tư Nếu đội ngũ cán bộ thẩm định có năng lực chuyênmôn tốt, thực hiện tốt quy trình nghiệp vụ thẩm định thì kết quả thẩm định tài chính
dự án đầu tư đáng tin cậy Nếu đội ngũ cán bộ thẩm định còn non kém về trình độ
và kinh nghiệm sẽ dẫn tới những quyết định sai lầm khi cho vay của ngân hàng, gâytổn thất nghiêm trọng cho ngân hàng
Tư cách đạo đức của các cán bộ thẩm định của ngân hàng cũng ảnh hưởngrất lớn đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư Nếu các cán bộ thẩm định cốtình che giấu những điểm thiếu hiệu quả, chưa hợp lí của dự án cũng gây ra nhữngảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả thẩm định
Do tính phức tạp và phạm vi liên quan của dự án, cán bộ thẩm định nói chung
và cán bộ thẩm định tài chính dự án đầu tư nói riêng không những có kiến thứcchuyên sâu mà còn phải có hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức tốt
Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư
Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư là cơ sở cho cán bộ thẩm định căn
cứ vào đó để tiến hành thẩm định tài chính dự án, vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đếnnội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư Một quy trình thẩm định đầy đủ, phùhợp, mang tính khách quan, khoa học là cơ sở đảm bảo thẩm định tài chính dự án cóchất lượng
Vì vậy mới có thể xác định được chính xác hiệu quả tài chính của dự án, giúpcho việc ra quyết định cho vay của NHTM Nếu quy trình thẩm định tài chính dự ánđầu tư không đầy đủ, phù hợp sẽ có tác động tiêu cực đến nội dung thẩm định tàichính dự án, làm sai lệch các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính, từ đó không thểphòng ngừa hết được các rủi ro
Trang thiết bị công nghệ
Trang thiết bị công nghệ là nhân tố ảnh hưởng tới thời gian và độ chính xáccủa kết quả thẩm định tài chính dự án đầu tư Với trang thiết bị hiện đại, việc thu
Trang 39thập và xử lý các thông tin sẽ được tiến hành một cách nhanh chóng và chính xác,các cơ hội đầu tư sẽ được nắm bắt kịp thời.
Trang thiết bị công nghệ hiện đại cung cấp cho các cán bộ thẩm định nhữngcông cụ hữu hiệu, từ việc tính toán đến việc phát hiện sớm những rủi ro có thể xảy
ra đối với dự án đầu tư Hơn nữa, trang thiết bị công nghệ hiện đại sẽ đảm bảo chocông tác thẩm định tài chính dự án đầu tư có thể tiến hành một cách chính xác vànhanh chóng, tiết kiệm được thời gian
Tổ chức công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư
Thẩm định tài chính dự án đầu tư được tiến hành theo nhiều giai đoạn nên tổchức công tác thẩm định có ảnh hưởng không nhỏ tới thẩm định tài chính dự án đầu
tư Nếu công tác này được tổ chức một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân côngtrách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, có kiểm tra giám sát chặt chẽ, kết quả thẩmđịnh tài chính dự án đầu tư sẽ cao
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách của Nhà nước
Các văn bản pháp lý, chính sách quản lý của Nhà nước đều có tác động đếnchất lượng thẩm định tài chính dự án cũng như kết quả hoạt động của dự án Trongmôi trường pháp lý ổn định với các chính sách đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc
tế, ngân hàng sẽ dễ dàng đưa ra những quy định cụ thể, hướng dẫn các quy trìnhnghiệp vụ cho nhân viên của mình
Khi có sự thay đổi về chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ, luật pháp củaNhà nước đối với các dự án đầu tư hay sự thay đổi trong quy hoạch của địa phươngcũng gây ra những ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án đầu tư, kéo theo là ảnh hưởngđến quá trình thực hiện dự án và hiệu quả, khả năng trả nợ của dự án Chính vì thế,công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng cũng chịu sự ảnh hưởngrất mạnh mẽ
Trang 40Vấn đề đặt ra là các cán bộ thẩm định phải nghiên cứu kĩ và phải biết dự báo
và cập nhật liên tục những thay đổi trong các chính sách kinh tế chính trị của Nhànước, đặt dự án đầu tư trong chu kì phát triển của nền kinh tế để có được những dựkiến chính xác về doanh thu, chi phí, khả năng tiêu thụ của sản phảm dự án…từ đó
có được những tính toán chính xác về hiệu quả dự án
Đạo đức kinh doanh của khách hàng
Những tài liệu mà chủ đầu tư cung cấp là những căn cứ để ngân hàng đánhgiá, thẩm định tài chính Tuy nhiên, nhiều chủ đầu tư vì lợi ích riêng đã cố tình cheđậy những chi tiết mà ngân hàng thấy khó khăn khi cho vay Do đó, dẫn tới cán bộthẩm định có thể đưa ra những đánh giá phân tích không đúng với thực tế Nhữngđánh giá phân tích không đúng với thực tế trong quá trình thẩm định tài chính dự ánđầu tư có thể là do:
+ Phẩm chất đạo đức của người đi vay: Khi lập hồ sơ vay vốn hay trong quátrình cung cấp thông tin cho ngân hàng, các chủ đầu tư đã cố tình cung cấp thôngtin sai, giả mạo hồ sơ, hối lộ các cán bộ thẩm định
+ Trình độ lập và thực hiện dự án của người đi vay: mặc dù khi thẩm định tàichính dự án đầu tư, các cán bộ thẩm định của ngân hàng đã tính đến các yếu tố rủi
ro, phân tích độ nhạy của dự án đưa đến kết quả dự án khả thi, có thể cho vay Songtrong quá trình thực hiện đầu tư, chủ đầu tư không có khả năng thích ứng và xử lítrước những thay đổi, rủi ro xảy ra dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đến hiệuquả dự án.Vì thế chủ đầu tư không có khả năng trả nợ cho ngân hàng Khi đó, sailầm lại được quy kết cho công tác thẩm định.Hoặc cán bộ thẩm định phải mất nhiềuthời gian và công sức để kiểm chứng tính xác thực của thông tin, gây chậm trễ vàtốn kém trong quá trình thẩm định