1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa- thực tiễn áp dụng tạ công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh

48 928 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 432,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, việc chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiếtthi hành pháp luật khiến cho công ty khó khăn khi ký kết, thực hiện cũng như giảiquyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

LỜI MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 6

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 8

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 11 1.1 Một số khái niệm cơ bản về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 11

1.1.1 Khái niệm hợp đồng 11

1.1.2 Khái niệm hàng hóa 11

1.1.3 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá 11

1.1.4 Khái niệm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 12

1.1.5 Khái niệm vi phạm hợp đồng 12

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 12

1.2.1 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 12

1.2.1.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 12

1.2.1.2 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 13

1.2.2 Nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 14

1.2.2.1 Nội dung pháp luật về kí kết 14

1.2.2.1.1 Chủ thể 14

1.2.2.1.2 Hình thức kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa 16

1.2.2.1.3 Nguyên tắc kí kết hợp đồng: 16

1.2.2.1.4 Đề nghị kí kết hợp đồng 16

1.2.2.1.5 Chấp nhận đề nghị kí kết hợp đồng 17

1.2.2.2 Nội dung pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 17

1.2.2.2.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá 17

1.2.2.2.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa 18

1.2.2.2.3 Thực hiện các điều khoản 18

1.2.2.2.4 Quyền của bên bán: 20

1.2.2.2.5 Quyền của bên mua 20

Trang 2

1.2.2.2.6 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng 20

1.2.2.2.7 Giải quyết tranh chấp 22

1.3 Nguyên tắc điều chỉnh về kí kết và thực hiện hợp dồng mua bán hàng hóa 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 25

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 25

2.1.1 Tổng quan về công ty trách nhiệm hữu hạn dệt may Hưng Thịnh 25

2.1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của công ty TNHH Dệt may Hưng Thịnh 25

2.1.1.2 Ngành nghề kinh doanh của công ty 25

2.2 Thực trạng các qui phạm pháp luật điều chỉnh về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 28

2.2.1 Ưu điểm 28

2.2.2 Nhược điểm 31

2.3 Thực trạng thực hiện các qui phạm pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 33

2.3.1 thực tiễn kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh 33

2.3.1.1 Căn cứ kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá 33

2.3.1.2 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa 34

2.3.1.3 Phương thức và trình tự ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá 34

2.3.2 Thực tiễn thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh 35

2.3.2.1 Thực hiện hợp đồng 35

2.3.2.1.1Thực hiện nội dung về đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa 35

2.3.2.1.2 Thực hiện nội dung thời gian, địa điểm giao nhận hàng hóa 36

2.3.2.1.3 Thực hiện nội dung về giá cả, phương thức thanh toán 36

2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 37

2.4.1 Thuận lợi 37

2.4.2 Những khó khăn của công ty 38

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 40

VẤN ĐỀ VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 40 3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 40

3.2 Một số kiến nghị 42

3.2.1.Kiến nghị về phía nhà nước nhằm hoàn thiện pháp luật 42

3.2.1.1 Nhà nước cần ban hành một hệ thống pháp luật văn bản pháp lý thống nhất,

Trang 3

ổn định và minh bạch 42

3.2.1.2 Cần nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 43

3.2.1.3 Nâng cao vị thế của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa 44

3.2.2 Kiến nghị về phía doanh nghiệp 44

3.2.2.1 Về công tác soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hoá 44

3.3 Những vấn đề đặt ra 46

KẾT LUẬN 48

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TNHH : Trách nhiệm hữu hạnHĐMBHH : Hợp đồng mua bán hàng hóaĐKKD : Đăng ký kinh doanh

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhắc đến hoạt động kinh doanh thương mại ta không thể không nhắc đến hoạtđộng mua bán hàng hóa Mua bán hàng hóa là hoạt động đặc trưng cơ bản của kinhdoanh thương mại Hợp đồng mua bán hàng hóa chính là cách thức để hoạt động nàyđược diễn ra, nó thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong quan hệ muabán Hợp đồng được đảm bảo thực hiện nhờ vào nhiều yếu tố như sự chấp hành củacác bên đối với các điều khoản đã thỏa thuận hay hợp đồng đó có vi phạm lợi ích củangười khác, lợi ích chung của xã hội hay không Pháp luật với vai trò là khung định ranhững nguyên tắc cơ bản cho mọi hoạt động trong xã hội, cũng điều chỉnh những vấn

đề liên quan đến hoạt động thiết yếu này

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói chungcũng như Việt Nam nói riêng, đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chứckinh doanh phát triển Tuy nhiên, để bắt kịp với tốc độ phát triển đó thì doanh nghiệpcần cập nhật hệ thống pháp lý một cách nhanh và chính xác nhất Bởi đây cũng là mộttrong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp Môitrường pháp luật có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ nếu doanhnghiệp tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định có liên quan mà nhà nước ban hành Hệthống pháp luật đã mở ra một sân chơi chung cho các doanh nghiệp lớn – nhỏ, trong vàngoài nước Trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt , doanh nghiệp cần nắm vững

và tuân thủ pháp luật Điều này một mặt giúp cho doanh nghiệp tự tin phát triển bảnthân doanh nghiệp mình vừa giúp tránh khỏi được những rắc rối mà đối thủ cạnh tranhgây phiền nhiễu và bảo vệ quyền lợi của chính mình.Tồn tại song song với sự pháttriển mạnh mẽ về kinh tế thì các quy định về hoạt động của doanh nghiệp cũng ngàycàng được hoàn thiện nhằm mục đích tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh,giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong sự phát triển sự nghiệp của mình Bên cạnh

đó, với mỗi doanh nghiệp tùy thuộc và loại hình doanh nghiệp, nghành nghề kinhdoanh mà các quy phạm pháp luật điều chỉnh cũng khác nhau

Kiến thức pháp lý của cán bộ, nhân viên còn hạn chế nên chưa nắm được đầy đủquyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với công ty

Công tác quản lý còn nhiều bất cập, các chức năng của từng bộ phận chưa thực

sự cụ thể, rõ ràng Nhiều khi chồng chéo gây nên chậm chạp trong quá trình xử lýcông việc

Do trong Công ty không có phòng pháp chế nghiên cứu về pháp luật nên nhữngvướng mắc, hạn chế của pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty chưa được giải đáp Việc ký kết các hợp đồng có yếu tố nước ngoài còn rấthạn chế về số lượng Hợp đồng giữa công ty và đối tác còn sơ sài, chưa chặt chẽ, chưa

Trang 6

tính đến hậu quả cũng như phương hướng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.

Việc áp dụng luật pháp trong công ty còn nhiều bất cập, thiếu sót như người sửdụng lao động áp dụng xử lý người lao động còn tùy tiện và không hợp lý Về phíangười lao động thì kiến thức hiểu biết về pháp luật chưa cao, ý thức kỷ luật kém dẫnđến những tổn thất không đáng có cho công ty Hơn thế nữa các quy định thườngxuyên có sự thay đổi đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự am hiểu pháp luật nếu muốn gặprủi ro về pháp lý hay mất cơ hội kinh doanh

Việc soạn thảo hợp đồng của công ty với đối tác không được chặt chẽ và vẫn có

kẽ hở nên khi có xảy ra tranh chấp với khách hàng là khó tránh khỏi vì vậy công ty nêntạo cho mình một mẫu hợp đồng sẵn và rà soát lại các nội dung trong hợp đồng đểtránh khỏi những tranh chấp không đang có khi xảy ra mâu thẫn với khác hàng

Mặc dù, môi trường pháp lý đã tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp nhưng dopháp luật còn thiếu ổn định khiến doanh nghiệp gặp không ít khó khăn đặc biệt là khi

ký kết hợp đồng Bên cạnh đó, việc chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiếtthi hành pháp luật khiến cho công ty khó khăn khi ký kết, thực hiện cũng như giảiquyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng

Qua quá trình thực tập tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh, em nhận thấyrằng hoạt động mua bán hàng hóa là một trong những lĩnh vực hoạt động phát triểnnhất tại công ty và cũng là lĩnh vực có nhiều nhuững ấn đề pháp lý trong thực tiễn giaokết và thực hiện các hợp đồng kinh doanh thương mại nói chung và hợp đồng mua bánhàng hóa nói riêng.việc áp dụng pháp luật về hợp đồng đối với loại hợp đồng này chưathật sự đầy đủ và đúng đắn nên đã dẫn đến tranh chấp giữa các bên Sau một thời giantìm hiểu về công ty và tìm hiểu về thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng tại công

ty cùng với kiến thức được trang bị ở nhà trường em nhận thấy rằng hợp đồng là mộtcông cụ pháp lý không thể thiếu của hoạt động mua bán hàng hóa Nó giúp các bêndẫn chiếu đến khi một trong hai bên không thực hiện nghĩa vụ, nhờ đó mà bảo vệ đượcquyền và lợi ích hợp pháp của các bên Buộc các bên tham gia hoạt động mua bánhàng hóa phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Vì vậy em đã chọn đề tài: “một sốvấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa- thực tiễn áp dụng tạcông ty TNHH dệt may Hưng Thịnh” để làm bài kháo luận của mình

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Hiện nay vấn đề liên quan đến lĩnh vực kí kết và thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa đã có rất nhiều những ông trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau,nổi bật là những công trình sau:

- Tiểu luận: “Một số giải pháp hạn chế rủi ro cho các doanh nghiệp Việt Namtrong việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa”

Tác giả: Chu Ngọc Anh, lớp cao học quản trị kinh đoanh K6.2, trường đại học

Trang 7

Ngoại Thương Hà Nội Do TS Tăng Văn Nghĩa hướng dẫn Nội dung của bài tiểuluận này tác giả mong muốn phần nào giúp các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu tránhđược những rủi ro trong quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hànghóa, đảm bảo được mục đích kinh doanh và lợi nhuận.

doanh-nghiep-viet-nam-trong-viec-ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-mua-ban-quoc-te-hang-hoa.htm

http://123doc.org/document/946950-mot-so-giai-phap-han-che-rui-ro-cho-cac Luận văn: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đàm phán, kí kết và thực hiệnhợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty cổ phần vật tư bưu điện” Tác giả: Nguyễn ThịHồng Oanh Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các hoạt động kinh doanhnhập khẩu của công ty sau đó phân tích quá trình đàm phán, kí kết và thực hiện hợpđồng nhập khẩu thiết bị của công ty để tìm ra những mặt phù hợp và mặt chưa phù hợpcủa công ty

ket-va-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-thiet-bi-tai-cong-ty-co-phan-vat-tu-buu-dien-potmasco-pdf.htm

http://123doc.org/document/28451-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-dam-phan-ky Khóa luận: “Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công tyTNHH Nhất Nước” Tác giả Mai Thị Thương, lớp luật kinh doanh 48, trường đại họcKinh Tế Quốc Dân Tác giả trong tiểu luận này tập trung nghiên cứu một số vấn đềpháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty Từ đó, tìm ranhững vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiệnpháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời đưa ra một số đề xuất giúp công tynâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.http://123doc.org/document/317931-giao-ket-va-thuc-hien-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-tai-cong-ty-tnhh-nhat-nuoc.htm

- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả: Đặng Văn Vũ, khoa luật kinh tế, trường đạihọc Kinh Tế Quốc Dân, do TS.Đỗ Kim Hoàng hướng dẫn thực tập Đề tài của tác giảlà: “thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kí kết và thực hiện hợp đồng nhậpkhẩu hàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình” Trong đề tài nàytác giả nghiên cứu khái quát những vấn đề pháp lý chung về kí kết và thực hiện hợpđồng nhập khẩu hàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình, để tìmhiểu những vấn đề thuận lợi và khó khăn, nguyên nhân tồn tại những khó khăn trongviệc kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa tại công ty

hieu-qua-ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-hang-hoa-tai-cong-ty-co-phan-vat-tu-bao-ve-thuc-vat-hoa-binh.htm

Trang 8

http://123doc.org/document/2058783-thuc-trang-va-giai-phap-nham-nang-cao Đề tài khóa luận: “Cơ sở pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuất- xuất nhập khẩu NinhBình”.tác giả: Đặng Thị Xuyên, khoa luật, trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, doTS.Nguyễn Hợp Toàn hướng dẫn khóa luận Đề tài đề cập đến những vấn đề pháp luật

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, theo quy định của pháp luật Việt Nam và quốc

tế Thông qua thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuất- xuất nhập khẩu NinhBình để đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình này tại công tynói riêng và các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu nói chung

dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-va-thuc-tien-ap-dung-tai-cong-ty-co-phan-sx-xnk-ninh-binh-doc.htm

http://123doc.org/document/15229-co-so-phap-ly-ve-giao-ket-va-thuc-hien-hop Tài liệu báo cáo: “Phạm vi áp dụng và không áp dụng của công ước viên 1980

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” Tác giả: TS.Nông Quốc Bình, giảng viênkhoa pháp luật quốc tế, trường đại học Luật Hà Nội

- Tạp chí luật học số 10/2011

khong-ap-dung-cua-cong-uoc-vien-1980-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-pptx.htm

http://123doc.org/document/1040272-tai-lieu-bao-cao-pham-vi-ap-dung-va Bài viết của tác giả: PTS Đinh Ngọc Hiện, đề tài : “Giải quyết tranh chấp kinh

tế tại tòa án Việt Nam”

- Bài viết của tác giả: PTS Dương Thanh Mai, đề tài: “Hòa giải trong giải quyếttranh chấp kinh tế tại Việt Nam hiện nay”

- Tác giả: Nguyễn Đình Thơ, đề tài : “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật trọngtài thương mại đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”

- Tạp chí nhà nước và pháp luật (năm 2008)

- Tác giả: Phạm Quý Tỵ, đề tài: “Một số ý kiến về dự thảo luật trọng tài thươngmại”

- Tạp chí nghiên cứu Lập Pháp (năm 2009)

Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này đã chứng tỏ tầm quan trọng của kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên các quy định pháp luật về kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn còn nhiều bất cập chưa được hoàn thiện Vìvậy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hànghóa là điều tất yếu Do đó một trong những điểm thành công trong các đề tài nghiêncứu đó là phát hiện ra được những bất cập còn thiếu sót, những mặt còn hạn chế Từ

đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa

Trang 9

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Nhận thấy được vai trò quan trọng trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng tronghoạt dộng mua bán hàng hóa nên em đã chọn đề tài “một số vấn đề pháp lý về kí kết

và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH dệtmay Hưng Thịnh” để tìm hiểu và nghiên cứu Qua việc lựa chọn đề tài này, em muốntập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thựctiễn áp dụng tại công ty Từ đó, tìm ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giảipháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa,đồng thời em cũng đưa ra một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quả trong sảnxuất và kinh doanh hàng hóa

Trên cơ sở lý luận và pháp luật điều chỉnh về các vấn đề liên quán đến kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa để hiểu rõ hơn vai trò và pháp luật điều chỉnh

về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Đưa ra những điểm còn bất cập, hạn chế cần khắc phục để tìm hướng giải quyếttrong vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

+ Đề tài tập trung nghiên cứu chế độ pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa Lấy xuất phát điểm là lời chào hàng, chấp nhận lời chào hàng, trình

tự kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa từ đó liên hệ thực tiễn tại công tyTNHH dệt may Hưng Thịnh

- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

+ Làm rõ hơn các lý luận pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa+ Phân tích thực trạng kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công tyTNHH dệt may Hưng Thịnh

+ Trên cơ sở lý luận và thực trạng của công ty, đưa ra các giải pháp nhằm hoànthiện hơn cho việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Thời gian từ khi Bộ Luật Dân Sự 2005, Luật Thương Mại 2005, những quyđịnh về kí kết và thực hiện hợp đồng Được ban hành và có hiệu lực không gian: đisâu vào nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích: dựa vào các khái niệm nêu trong bài để hiểu rõ hơn về

kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Phân tích rõ vai trò để làm nổi bật lêntâm quan trọng của kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Từ đó đánh giácác kết quả đạt được và hạn chế để đưa ra các giải pháp giải quyết

Trang 10

- Phương pháp liệt kê: liệt kê các hệ thống và các văn bản có liên quan để làmcăn cứ cho lý luận.

- Phương pháp thu thập số liệu của công ty: năm bắt được các số liệu sản xuấttrong công ty để biết được tình hình hoạt động kinh doanh của công ty đang phát triểnhay bị suy giảm

- Phương pháp suy luận

- Phương pháp quan sát và xem xét quá trình làm việc của các nhân viên trongcông ty

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp phỏng vấn

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Ngoài lời mở đầu, mục lục Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu củakhóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thựchiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợpđồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1 Một số khái niệm cơ bản về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thayđổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể

1.1.2 Khái niệm hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của conngười thông qua trao đổi, mua bán

Theo Luật thương mại 2005, hàng hóa được định nghĩa “bao gồm tất cả các loạiđộng sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; các vật gắn liền với đất đai”(khoản 2 điều 3 Luật thương mại 2005) Hàng hóa là đối tượng mua bán phải khôngthuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (Nghị định59/2006/NĐ- CP ngày 12/06/2006) Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế kinhdoanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của phápluật về mua bán các loại hàng đó

1.1.3 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá

Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầutiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thểthuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai văn bảnpháp luật quan trọng là Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 Hoạt độngmua bán hàng hoá có thể được xem là một dạng cụ thể của hoạt động mua bán tài sản.Theo quy định của Điều 428 BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồngmua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sảncho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bênbán Theo điều 163 Bộ luật Dân sự thì tài sản bao gồm : vật, tiền, giấy tờ có giá và cácquyền tài sản

Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa

mà chỉ đưa ra khái niệm về hoạt động mua bán hàng hoá Mua bán hàng hóa được địnhnghĩa theo Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005 là hoạt động thương mại, theo đóbên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhậnthanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữuhàng hóa theo thỏa thuận Hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 có thể

là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể làđộng sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại Từ hai định nghĩa trên

có thể thấy hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 là

Trang 12

một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản.

Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng “ Hợp đồng mua bán hàng hoá

là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua

và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng vàtrả tiền cho bên bán theo thời hạn,

số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”

1.1.4 Khái niệm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Sau khi hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết và đáp ứng đầy đủ các điềukiện pháp luật quy định thì hợp đồng phải được thực hiện và các điều khoản của hợpđồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên

Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá là việc bên bán và bên mua tiến hành cácnghĩa vụ mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng các quyềntương ứng của bên kia theo như nội dung đã thỏa thuận cam kết trong hợp đồng

1.1.5 Khái niệm vi phạm hợp đồng

Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi mà các bên vi phạm những điềuquy định đã được thỏa thuận và những quy định pháp luật theo điều 320 của LuậtThương mại năm 2005

Chế định trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng có vai trò bảo đảm, củng cố kỷ luậthợp đồng, phòng ngừa vi phạm pháp luật về hợp đồng, tăng cường ý thức trách nhiệmcủa các bên trong việc thực hiện cam kết: Khi các bên tự nguyện giao kết hợp đồng thì

họ sẽ bị ràng buộc bởi chính những cam kết đó, ngay cả khi một bên không có lợi íchphát sinh; những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợpđồng đều bị đe dọa phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm hợp đồng; việc áp dụngtrách nhiệm hợp đồng với các chế tài như buộc thực hiện hợp đồng, phạt hợp đồng, bồithường thiệt hại… chính là những biện pháp bảo hộ pháp lý đảm bảo , củng cố kỷ luậthợp đồng

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.1 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa.

1.2.1.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa

Luật Thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trongthương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân

sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Điều 428 Bộ Luật Dân

sự năm 2005 , hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bênbán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhậntài sản và trả tiền cho bên bán Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hìnhthành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và

Trang 13

có phạm vi hẹp hơn tài sản Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thươngmại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Điểm phân biệt giữa hợp đồngmua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản khác là: đối tượnghàng hóa, và mục đích sinh lời Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủyếu nào là tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia Việc pháp luật quyđịnh nội dung của hợp đồng mua bán có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏathuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện vàphòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng LuậtThương mại Việt Nam không quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nộidung bắt buộc nào Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng, một hợp đồng mua bán hàng hóathông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng, chất lượng, giá cả, phươngthức thanh toán, thời hạn và địa điểm nhận giao hàng.

Pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là tập hợpcác quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận,nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa bên bán và bên mua trong hợp đồng mua bánhàng hóa nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạtđộng mua bán hàng hóa trong thương mại

1.2.1.2 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa.

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh

tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong đó sản phẩm sản xuất ra đểtrao đổi, để bán trên thị trường Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hóa khôngphải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán,tức để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xã hội

Trong nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất và lưuthông hàng hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thông qua cơ chếthị trường Cơ chế thị trường chính là một tổ chức kinh tế, trong đó người sản xuất vàngười tiêu dung chịu sự tác động chi phối lẫn nhau của nền kinh tế thị trường.Thôngqua các hoạt động trao đổi mua bán, thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triểncủa nền kinh tế Thị trường cung cấp thông tin cần thiết cho nhà kinh doanh và tạo yếu

tố cạnh tranh làm động lực cho sự phát triển sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, nângcao chất lượng sản phẩm Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường

là tự do trao đổi các sản phẩm hàng hóa giữa người mua và người bán Người bán baogiờ cũng muốn bán giá cao, người mua muôn mua giá thấp Như vậy, hợp đồng về bảnchất là sự thỏa thuận, thống nhất ý chị giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng theonguyên tắc tư do, tự nguyện và bình đẳng, không trái pháp luật

Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp

lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của

Trang 14

hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa

vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởihợp đồng giữa các bên và quy định của pháp luật Hợp đồng mua bán hàng hóa có bảnchất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtcác quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Để đảm bảo lợi ích của cả người bán

và người mua việc xác lập những quy tắc chung trong quá trình mua bán ký kết hợpđồng, thực hiện hợp đồng là yếu tố rất quan trọng Do vậy việc thiết lập luật về hợpđồng mua bán trở thành yếu tố tiên quyết nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế đượcphát triển ổn định và bền vững

1.2.2 Nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.2.1 Nội dung pháp luật về kí kết

1.2.2.1.1 Chủ thể

Chủ thể là thương nhân

Để xác định một thoả thuận có phải là một HĐMBHH hay không thì việc trướctiên là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải là tư nhân hay không,sau đó mới xét đến đối tượng của hợp đồng Thường nhân bao gồm tổ chức kinh tếđược thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độclập và có đăng ký kinh doanh

LTM năm 2005 cũng thừa nhận thương nhân thông qua việc không đặt điều kiệnđăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận nhưngđối với trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm

về mọi hoạt động của mình Quy định này đã được giải quyết những vấn đề đặt ratrong thực tế là người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì cóđược coi là thương nhân không Những quy định này lại có phần không rõ ràng vì nókhông giới hạn trách nhiệm của thương nhân trong phạm vi hoạt động thương mại Vìvậy một tổ chức, cá nhân trước khi đăng ký kinh doanh tiến hành các hành vi khôngnhằm mục đích sinh lợi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm như với thương nhân

Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp tác vì tuy được thừa nhận làchủ thể của luật dân sự, có quyền hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh,

cá thể song hộ gia đình, tổ hợp tác không phải tổ chức kinh tế, cũng chẳng phải là cánhân Thương nhân gồm có thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài có thể

là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác việc xác định tư cách thương nhân nước ngoàiphải căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch Thương nhânnước ngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận (Khoản 1, Điều 16-LTM năm 2005)

Trang 15

Thương nhân là cá nhân

Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt động thương mại một cách độc lập,thường xuyên như một nghề nghiệp Cá nhân cũng có thể trở thành tư nhân ngay cảkhi hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên như một nghề nghiệp màchưa ĐKKD

Thương nhân là cá nhân sẽ bao gồm: Cá nhân kinh doanh; Doanh nghiệp tưnhân

Trong lĩnh vực hoạt động thương mại do thương nhân phải chịu trách nhiệm đầy

đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau dây sẽ không được côngnhận là thương nhân: Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất nănglực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Người đang bị truy cứutrách nhiệm hình sự, người đang phải chấp nhận hình phạt tù; Người đang trong thờigian bị toà án tước quyền nghề vì các tội, buôn bán hàng cấm, kinh doanh trái phép…

và các tội khác theo quy định của pháp luật

Thương nhân là tổ chức

Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức, là chủ yếu củaHĐMBHH Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp nhằm mục đích hoạt độngthương mại một cách độc lập, thường xuyên và có ĐKKD sẽ được coi là thương nhân.Một tổ chức được công nhân là pháp nhân khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều

84- BLDS năm 2005 Không phải tất cả những tổ chức được coi là pháp nhân đều có

thể trở thành thương nhân mà chỉ có pháp nhân nào là tổ chức kinh doanh được thànhlập để hoạt động thương mại mới trở thành thương nhân Pháp nhân là tổ chức kinh tếgồm: Doanh nghiệp Nhà nước; Hợp tác xã; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổphần; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Các tổ chức kinh tế khác có đủ điềukiện theo quy định là thương nhân Theo quy định của LTM năm 2005 hộ gia đình và

tổ hợp tác không được xếp là tổ chức hay cá nhân

Chủ thể không phải là thương nhân.

Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhânkhông phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với thương nhân.Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập vàthường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần điều kiện nói trên khác với bên làthương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực vìhành vi để tham gia giao kết và thực hiện HĐMBHH theo quy định của pháp luật Đó

có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách phápnhân, cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập vàthường xuyên như một nghề

Trang 16

1.2.2.1.2 Hình thức kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết bằng văn bản giữa thương nhân vớithương nhân, giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương nhânnhằm mục đích mua bán, trao đổi hàng hóa

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng đã đượcquy định rõ tại Khoản 1 - Điều 390 BLDS Đơn chào hàng về bản chất là một đề nghịgiao kết hợp đồng, là việc một bên bày tỏ ý chí của mình muốn giao kết hợp đồng muabán hàng hóa với một người cụ thể và chịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đãđược xác định cụ thể đó Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thờihạn trả lời, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bênđược đề nghị mà không được giao kết thì phải bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh.Như vậy, chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng, có nội dung chủ yếu của hợpđồng mua bán hàng hóa, được chuyển cho một hoặc nhiều nguời nhất định, có giá trịtrong một thời gian nhất định Tuy không quy định cụ thể về nội dung chủ yếu của đơnchào hàng, nhưng có thể hình dung được rằng bên đề nghị giao kết hợp đồng phải nêu

ra trong đề nghị của mình những nội dung chủ yếu như đối với nội dung của hợp đồngdân sự: đối tượng, giá cả, phương thức thanh toán…Như vậy có thể coi các nội dungchủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa cũng chính là nội dung chủ yếu của đơn chàohàng Những nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng để bên được đề nghịgiao kết hợp đồng có thể hình dung được ngay và hiểu được mong muốn giao kết hợpđồng của bên đề nghị giao kết hợp đồng Khi đó bên đề nghị giao kết hợp đồng phảichịu sự ràng buộc bởi những nội dung đã đề nghị và không được thay đổi nội dung đónếu bên được đề nghị đã đồng ý

Trang 17

1.2.2.1.5 Chấp nhận đề nghị kí kết hợp đồng

Chấp nhận đề ghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyểncho bên đề nghị về việc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong đề nghị giao kếthợp đồng Về vấn đề này Điều 18 công ước viên 1980 cũng quy định rõ:" Tuyên bố,hành động nào đó của người được chào hàng thể hiện sự đồng ý với đơn chào hàngđược gọi là việc chấp nhận Thái độ im lặng hoặc không hành động không phải khác làviệc chấp nhận đơn chào hàng" Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ cógiá trị khi đó là hành vi, hành động mang tính tích cực của đối tác trong giao dịch muabán hàng hoá Không thể coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời

đề nghị trong khi nghi giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi họ không

có biểu hiện nào bên ngoài để cho người đề nghị biết là mình đồng ý với toàn bộ đềnghị giao kết hợp đồng thời hạn trách nhiệm của bên đề nghị bắt đầu từ thời điểm đềnghị giao kết hợp đồng được chuyển đi cho bên được đề nghị đến hết thời hạn ghitrong đề nghị giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, để tạo mọi khả năng để các bên có thể tiến tới giao kết hợp đồng muabán hàng hoá các bên có thể tiến hành hành động khác khi nhận được chấp nhận đềnghị quá giới hạn Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được thôngbáo chấp nhận đề nghị sau khi hết thời hạn chờ trả lời thì lời đề nghị đó được coi như

là đề nghị mới của bên chậm trả lời: Nghĩa là đã xuất hiện một đề nghị giao kết hợpđồng mới từ phía đối tác của người đã đề nghị và người đã đề nghị nếu tiếp tục chấpnhận thì trở thành người chấp nhận đề nghị Trong trường hợp thông báo chấp nhậngiao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách hàng, mà bên đề nghị biết hoặc phải biết

về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết này vẫn có hiệu lực, trừtrường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đềnghị giao kết hợp đồng

Trong trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng cóđiều kiện sửa đổi, bổ sung một trong những nội dung của đề nghị thì hành vi đó đượccoi là từ chối đề nghị và hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới Như vậy, nếubên được đề nghị sửa đổi, bổ sung đề nghị không làm thay đổi cơ bản nội dung của đềnghị giao kết hợp đồng thì hành vi đó cũng không được coi là chấp nhận đề nghị, màđược coi là đề nghị giao kết hợp đồng mới Nội dung của đề nghị giao kết hợp đồngđược sửa đổi, bổ sung có thể là điều kiện về giá, thanh toán, chất lượng, số lượng, địađiểm thời gian giao hàng…

1.2.2.2 Nội dung pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.2.2.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá

Sau khi hợp đồng được ký kết và có hiệu lực, các bên phải thực hiện nghĩa vụ đãcam kết phát sinh từ hợp đồng Khi thực hiện hợp đồng các bên phải tuân theo nguyên

Trang 18

tắc sau (quy định tại Điều 412 Bộ luật dân sự 2005):

Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại,thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác;

Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên,đảm bảo tin cậy lẫn nhau;

Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợiích hợp pháp của người khác

1.2.2.2.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa

Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì mà các bên thoả thuận và pháp luật quyđịnh đối với một hợp đồng Mét HĐMBHH sẽ có giá trị pháp lực khi thoả mãn tốithiểu những điều kiện về nội dung mà pháp luật quy định Khi thiếu một trong nhữngnội dung đó thì hợp đồng không thể phát sinh hiệu lực Trong thực tế, hậu quả xấu đãxảy ra xuất phát từ điểm các bên trong hợp đồng không quy định rõ ràng hoặc đầy đủnhững nội dung của hợp đồng dẫn tới có tranh chấp xảy ra các bên sẽ không có chứng

cứ hoặc chứng cứ không rõ ràng và những thiệt hại không cần thiết có thể xảy ra đốivới tất cả các bên và không thể lường trước được

LTM năm 2005 đã không quy định về nội dung HĐMBHH Trên cơ sở việc xáclập mối quan hệ với BLDS, khi xem xét vấn đề nội dung của HĐMBHH chúng ta cóthể dựa trên các quy định của BLDS, Theo đó trong HĐMBHH, các bên có thể thoảthuận về những nội dung sau đây:

- Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc khôngđược làm

- Số lượng, chất lượng

- Giá, phương thức thanh toán

- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng

- Quyền, nghĩa vụ của các bên

- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

- Phạt vi phạm hợp đồng

- Các nội dung khác

1.2.2.2.3 Thực hiện các điều khoản

Thực hiện nội dung về đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa.

Điều khoản về đối tượng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa.Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty rất lưu ý đến điều khoản này, thực hiệngiao hàng đầy đủ số lượng, trọng lượng hàng hóa theo đơn vị đo lường mà hai bên đãthỏa thuận Trong hầu hết các hợp đồng mua bán hàng hóa mà công ty ký kết, khi thựchiện điều khoản này, nếu bên nhận hàng kiểm tra thấy chất lượng hàng không phù hợpvới hợp đồng thì yêu cầu bên kia giao hàng đúng chất lượng đồng thời bồi thường thiệt

Trang 19

hại nếu có Trường hợp giao hàng không đúng số lượng thì bên mua nhận và chỉ thanhtoán theo số hàng đã nhận và yêu cầu giao tiếp hàng thiếu Còn nếu sản phẩm có lỗi(dù là bên mua nhận thấy trước lúc nhận hàng hay sau) thì công ty vẫn nhận lại nhữnghàng hóa đó để sửa chữa cho bên mua, nhằm giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài và tạo uytín trong kinh doanh.

Thực hiện nội dung thời gian, địa điểm giao nhận hàng hóa.

Đối với hầu hết hợp đồng mua hàng hóa của công ty, thì địa điểm nhận hàng đềuquy định tại kho của công ty Còn đối với hợp đồng bán hàng hóa thì địa điểm giaohàng tại kho bãi của bên mua đối với hợp đồng có số lượng lớn và địa điểm giao hàng

là kho bãi của công ty đối với hợp đồng có số lượng ít

Thực hiện nội dung về thời điểm giao nhận hàng thì tùy theo thỏa thuận trongtừng hợp đồng cụ thể giữa công ty với bạn hàng Tuy nhiên, điều khoản này chủ yếu làthực hiện theo quy định trong Luật Thương mại 2005:

Nếu hai bên thỏa thuận thời gian giao hàng một cách cụ thể trong hợp đồng thìphải giao hàng đúng thời điểm đó

Nếu bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhậnhàng hoặc không nhận hàng

Nếu bên bán giao hàng sau thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền:

Không nhận sản phẩm, phạt vi phạm nếu có thỏa thuận và bồi thường thiệt hạinhư không thực hiện hợp đồng Hoặc nhận sản phẩm, phạt vi phạm nếu có thỏa thuận

và đòi bồi thường thiệt hại

Trong hợp đồng bán hàng hóa, nếu công ty giao hàng đúng như thời hạn mà bênmua không nhận hàng thì công ty lưu kho sản phẩm và có quyền yêu cầu bên mua trảchi phí bảo quản, lưu kho

Thực hiện nội dung về giá cả, phương thức thanh toán.

Giá cả do bên bán đưa ra và bên mua xem xét để đi đến thỏa thuận giao kết hợpđồng Giá cả được công ty tính trên cơ sở giá thành sản xuất sản phẩm và giá của hànghóa cùng loại trên thị trường So với các mặt hàng cùng loại trên thị trường thì các sảnphẩm của công ty kinh doanh đều là hàng có chất lượng cao do vậy công ty có lợi thếcao và có lượng khách hàng khá lớn

Thanh toán được coi như là khâu kết thúc thực hiện một hợp đồng mua bán.Phương thức thanh toán thường đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng Đại đa sốhợp đồng mua bán hàng hóa trong công ty đều dùng phương thức thanh toán bằng tiềnmặt hoặc chuyển khoản Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, công ty và khách hàngthường thỏa thuận thanh toán trước khoảng 30% giá trị hợp đồng, nhưng chỉ áp dụngđối với khách hàng mới hoặc hợp đồng có giá trị lớn Còn phần lớn, trong hợp đồngđều quy định bên mua thanh toán 100% giá trị hàng khi bên bán thực hiện thực việc

Trang 20

giao hàng cho bên mua cùng hóa đơn tài chính hợp lệ Trong thực tế thì có thể khi đãnhận hàng rồi nhưng bên mua vẫn chưa thanh toán hết tiền cho bên bán Theo quyđịnh của pháp luật, trong trường hợp đó bên bán có quyền lấy tiền lãi với thời gianchậm thanh toán đó, tuy nhiên, để giữ mối làm ăn lâu dài, công ty thường không lấy lãi

mà chỉ nhắc nhở để yêu cầu bên mua thanh toán

1.2.2.2.4 Quyền của bên bán:

Theo Điều 306 Luật thương mại, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán cóquyền nhận tiền hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng Khi bên mua chậm thanh toánthì bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quáhạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậmtrả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Đồng thời, nếubên bán chậm nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thìbên bán có quyền ngừng giao hàng hoặc yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại, ngoài

ra bên bán còn có thể áp dụng các hình thức chế tài khác như: buộc thực hiện hợpđồng, phạt vi phạm, hủy bỏ hợp đồng

1.2.2.2.5 Quyền của bên mua

Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ điển hình, trong đó, quyền củabên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Do đó, quyền của bên muachính là những điều khoản mà bên bán có nghĩa vụ thực hiện như đã đề cập ở phầnnghĩa vụ của bên bán Ngoài ra, theo quy định tại Điều 51 Luật thương mại thì bênmua có quyền ngừng thanh toán tiền hàng trong các trường hợp:

- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối;

- Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì cóquyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;

- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợpđồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự khôngphù hợp đó

1.2.2.2.6 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng

Việc xác lập và thực hiện các hợp đồng trước hết là dựa vào sự tự giác của cácbên nhưng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch đều có thiện chítrong việc thực hiện hợp đồng một cách nghiêm chỉnh Do vậy trong hợp đồng thường

có điều khoản thỏa thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng để đảm bảo độ tincậy cho các bên đồng thời giúp các bên có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của hợpđồng Theo Điều 318 BLDS, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự baogồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp.Tuy nhiên, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, không áp dụng biện pháp bảo đảm bằng

ký cược hay biện pháp bảo đảm bằng tín chấp Bởi vì ký cược là biện pháp để bảo đảm

Trang 21

trả lại tài sản thuê trong hợp đồng cho thuê tài sản, còn tín chấp là biện pháp mà do Tổchức chính trị xã hội đứng ra bảo đảm cho hộ gia đình nghèo vay tiền tại Ngân hànghoặc Tổ chức tín dụng.

Cầm cố tài sản

Theo quy định tại Điều 326 BLDS năm 2005 thì cầm cố tài sản là việc trao độngsản thuộc quyền sở hữu của mình cho phía bên kia trong quan hệ hợp đồng, để giữ gìnlàm tin và bảo đảm tài sản trong trường hợp vi phạm hợp đồng đã được ký kết Việccầm cố phải được lập thành văn bản riêng, có xác nhận của cơ quan công chứng hay

cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh (trong trường hợp mà không có cơ quancông chứng) Người thực hiện việc giữ vật bị cầm cố phải bảo đảm giữ nguyên giá trịcủa vật đó, không được chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho người khác trong thời gianvăn bản cầm cố có hiệu lực

Thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bảođảm tài sản cho việc thực hiện hợp đồng đã ký kết.Tài sản có thể là động sản, bất độngsản hay giá trị tài sản khác Hình thức thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản hayghi trong hợp đồng chính, phải có xác nhận của cơ quan công chứng hoặc cơ quan cóthẩm quyền đăng ký kinh doanh Trong thời hạn văn bản thế chấp có hiệu lực ngườithế chấp tài sản có nghĩa vụ phải bảo đảm giữ nguyên giá trị của tài sản thế chấp;không được chuyển dịch sở hữu hay tự động chuyển giao tài sản đó cho người kháctrong thời gian văn bản thế chấp đó có hiệu lực Bên cạnh đó, nếu bên nhận thế chấpgiữ giấy tờ về tài sản thế chấp thì sẽ phải trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp đó cho bênthế chấp khi chấm dứt thế chấp

Đặt cọc

Đặt cọc là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, được địnhnghĩa tại Điều 358 BLDS năm 2005 ‘Ðặt cọc là việc một bên giao cho bên kia mộtkhoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặtcọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự” Khitiến hành đặt cọc thì phải lập thành văn bản ghi rõ các vấn đề như đối tượng, giá trịbằng tiền hay tài sản đặt cọc, thời hạn đặt cọc trong văn bản Trong trường hợp, hợpđồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọchoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết,thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhậnđặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tàisản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác

Trang 22

Ký quỹ

Theo khoản 1 Điều 360 BLDS thì ký quỹ cũng là một biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ đối với các bên, nó được thực hiện thông qua ngân hàng – nơi nhận tàisản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho một bên trong hợp đồng Ngân hàng sẽ đượcbên có quyền yêu cầu thanh toán hay bồi thường thiệt hại (sau khi đã trừ đi chi phídịch vụ ngân hàng) do bên có nghĩa vụ gây ra khi không thực hiện hay thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ

Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhậnbảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khiđến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ Tài sản bảo lãnh phải ngang bằng hoặc lớn hơn giá trị phần nghĩa vụ được cam kếtthực hiện Ngoài sự xác nhận của cơ quan công chứng nhà nước thì phải có thêm sựchứng thực của cơ quan ngân hàng, nơi người bảo lãnh mở tài khoản hay thực hiện cácgiao dịch khác chứng nhận về mức giá trị tài sản, hay về khoản tiền có trong tài khoảnđưa ra bảo lãnh mới chính thức công nhận có sự bảo lãnh tài sản cho người có nghĩa

vụ tài sản trong hợp đồng Việc xử lý, hủy bỏ hay chấm dứt việc bảo lãnh được quyđịnh tại các Điều 369, 370 và 371 BLDS 2005

1.2.2.2.7 Giải quyết tranh chấp

Thương lượng giữa các bên:

Khi xảy ra tranh chấp, phương thức đầu tiên mà các bên thường hay lựa chọnnhất là thương lượng Phương thức này thể hiện được bản chất của giao kết hợp đồng

là sự thỏa thuận giữa các bên Nó cũng là phương thức nhanh gọn và đảm bảo lợi íchcủa các bên được hài hòa hơn Thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiếnhành cùng với quá trình tố tụng tại Trung tâm trọng tài hoặc Tòa án

Đối với thương lượng độc lập: Nghĩa vụ của các bên phải tiến hành trong quátrình thương lượng được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp Do đócác bên phải tiến hành như là một điều khoản trong hợp đồng Kết quả thương lượngđược coi như một thỏa thuận mới về vấn đề tranh chấp, các bên phải đảm bảo được sự

tự nguyện trong thỏa thuận theo quy định của pháp luật

Đối với thương lượng được tiến hành theo thủ tục trọng tài hoặc Tòa án thì theoyêu cầu của các bên, trọng tài viên, thẩm phán có thể ra văn bản công nhận kết quảthỏa thuận của các bên sau quá trình thương lượng Văn bản này có giá trị như mộtquyết định của Trọng tài hay Tòa án

Hòa giải giữa các bên.

Hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng tư, trong đó cóhòa giải viên là người thứ ba làm trung gian giúp các bên đạt được sự thỏa thuận Vớiphương thức này, các bên có thể giải quyết tranh chấp một cách thân thiện và có thểtiếp tục giữ vững mối quan hệ trong kinh doanh; hạn chế tối đa sự hao phí thời gian và

Trang 23

tiền của vào việc giải quyết tranh chấp nếu nó được tiến hành theo thủ tục tố tụngtrọng tài hoặc tòa án; ngoài ra, nó không phải là quá trình tố tụng công khai nên đảmbảo giữ vững được các bí mật trong thương mại mà các bên không muốn cho ngườingoài biết Giữ vững uy tín và danh dự cho các bên.

Do bản chất của hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận nên kết quả thỏa thuậnkhông có tính chất bắt buộc thi hành cao như giải quyết tại Trung tâm trọng tài hayTòa án

Giải quyết tại Trung tâm trọng tài

Cũng như hai phương thức giải quyết trên thì phương thức giải quyết tranh chấptại Trung tâm trọng tài được các bên lựa chọn bởi những ưu điểm của phương thức này

có thể được kể đến đó là: Đỡ tốn kém về thời gian bởi đây là phương thức giquyết tạiTòa án Và nó cũng đảm bảo tính khách quan, trung lập của trọng tài Phán quyết củatrọng tài có hiệu lực thi hành bởi nó được Tòa án công nhận và cho thi hành qua mộtthủ tục tư pháp Ngoài ra phương thức này cũng đảm bảo bí quyết kinh doanh của cácbên vì nó không phải là phương thức giải quyết công khai như giải quyết tại Tòa án

Để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và được giải quyết tại Trung tâm trọng tài thìphải có đủ các điều kiện sau:

+ Tranh chấp phải phát sinh từ hoạt động thương mại thương mại Các hoạt độngthương mại được liệt kê ở Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài năm 2003

+ Trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có Thỏa thuận trọng tài (Khoản 1Điều 3 Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày 25/02/2003)Nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài mà khi xảy ra tranh chấp lại có thỏathuận trọng tài thì cũng được áp dụng hình thức này, tuy nhiên phải thỏa thuận giảiquyết tại trọng tài trước khi các bên khởi kiện lên trung tâm trọng tài

+ Người ký kết thỏa thuận trọng tài có năng lực ký kết theo quy định của pháp luật

Đó là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có thẩm quyền ký kết thỏathuận đó Tuy nhiên trong trường hợp nếu người ký thỏa thuận trọng tài không cóthẩm quyền ký kết và khi phát sinh tranh chấp mà một bên có yêu cầu tòa án giảiquyết, thì tòa án yêu cầu người có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài cho biết ýkiến bằng văn bản họ có chấp nhận thỏa thuận trọng tài đó hay không Nếu họ chấpnhận thì trường hợp này thỏa thuận trọng tài không vô hiệu và vụ tranh chấp sẽ thuộcthẩm quyền của Hội đồng trọng tài theo thủ tục chung

+ Bên ký kết thỏa thuận trọng tài không bị lừa dối, bị đe dọa

+ Thỏa thuận trọng tài phải quy định rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài cóthẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp, nếu không quy định rõ thì sau đó phải có thỏathuận bổ sung

+ Thỏa thuận trọng tài phải được lập theo hình thức do pháp luật quy định:

“Thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của

Trang 24

các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản” ( Điều 9 Pháp lệnh trọng tài thương mại).

Giải quyết tại Tòa án

Tòa án là cơ quan chủ yếu giải quyết các tranh chấp, bất đồng không những chỉtrong hoạt động kinh doanh thương mại mà còn các lĩnh vực khác trong đời sống xãhội Mỗi lĩnh vực đều có một tòa chuyên trách cho lĩnh vực đó giải quyết Đối với lĩnhvực kinh doanh thương mại thì tòa kinh tế sẽ chịu trách nhiệm giải quyết Những tranhchấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy địnhtại Điều 29 Bộ Luật tố tụng dân sự Để được giải quyết theo phương thức này thìkhông nhất thiết các bên phải thỏa thuận trước đó sẽ giải quyết tại Tòa án Khi có tranhchấp xảy ra, nguyên đơn có quyền khởi kiện ra Tòa án nếu các bên không có thỏathuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Với phương thức giải quyết này ta có thể thấy được những ưu điểm đó là phánquyết của Tòa án có tính cưỡng chế thi hành cao Tuy nhiên phương pháp này lại làphương pháp giải quyết công khai nên bất lợi cho các bên, đặc biệt là những lĩnh vựckinh doanh cần phải giữ bí mật cho bí quyết kinh doanh của mình Ngoài ra, khi đãgiải quyết được tranh chấp thì các bên khó có thể giữ được mối quan hệ trong kinhdoanh như trước đây đã từng có

1.3 Nguyên tắc điều chỉnh về kí kết và thực hiện hợp dồng mua bán hàng hóa Nguyên tăc bình đẳng:

Quan hệ hợp đồng là quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng với nhau Các chủ thể

có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng Các bên tựnguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng, bảo đảm nội dung của quan hệ đó thểhiện được sự tương ứng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp cho các bên Kháiniệm về sự tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng dẫn đến thái độ thiện chí,hợp tác, trung thực và ngay thẳng giữa các bên

Nguyên tắc tự do kinh doanh, kí kết, giao kết hợp đồng

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận ý chí của các bên tham gia kí kếtlàm phát sinh các nghĩa vụ pháp lý, do đó việc kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa phảidựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên Việc bày tỏ ý chí thể hiện trên ba khia cạnh: tự

do chon đối tác kinh doanh, tự do xác lập nội dung giao kết và tự do lựa chọn hìnhthức giao kết Về nội dung hợp đồng, nguyên tắc tự do giao kết cho phép các bên tự dothỏa thuận các điều khoản về nội dung của hợp đồng, nhưng để nội dung hợp đồng cóhiệu lực pháp luật thì những điều khoản nội dung của hợp đồng không được trái phápluật và đạo đức xã hội

Ngày đăng: 13/05/2015, 08:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty - một số vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa- thực tiễn áp dụng tạ công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh
ng Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w