Bên cạnh đó, việc chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thihành pháp luật khiến cho công ty khó khăn khi ký kết, thực hiện cũng như giải quyếttranh chấp phát sinh từ hợp đồng
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 5
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 7
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 8
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 10
1.1.1 Khái niệm hợp đồng 10
1.1.3 Khái niệm hàng hóa 10
1.1.3 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá 10
1.1.4 Khái niệm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.1.5 Khái niệm vi phạm hợp đồng 11
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật 11
1.2.1.1Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.2.1.2 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.2.1.3 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 12
1.2.2 Nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 13
1.2.2.1 Nội dung pháp luật về kí kết 13
1.2.2.1.1 Chủ thể 13
1.2.2.1.2 Hình thức kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa 14
1.2.2.1.3 Nguyên tắc kí kết hợp đồng 14
1.2.2.1.4 Đề nghị kí kết hợp đồng 14
1.2.2.1.5 Chấp nhận đề nghị kí kết hợp đồng 15
1.2.2.2 Nội dung pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 16
1.2.2.2.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá 16
1.2.2.2.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa 16
1.2.2.2.3 Thực hiện các điều khoản 17
1.2.2.2.4 Quyền của bên bán 18
1.2.2.2.5 Quyền của bên mua 18
1.2.2.2.6 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng 19
1.2.2.2.7 Giải quyết tranh chấp 20
1.3 Nguyên tắc điều chỉnh về kí kết và thực hiện hợp dồng mua bán hàng hóa 22
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 23
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 23
2.1.1 Tổng quan về công ty trách nhiệm hữu hạn dệt may Hưng Thịnh 23
2.1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của công ty TNHH Dệt may Hưng Thịnh 23
Trang 22.1.1.2 Ngành nghề kinh doanh của công ty 23
2.2 Thực trạng các qui phạm pháp luật điều chỉnh về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 26
2.2.1 Ưu điểm 26
2.2.2 Nhược điểm 29
2.3 Thực trạng thực hiện các qui phạm pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 30
2.3.1 Thực tiễn kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh 30
2.3.1.1 Căn cứ kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá 30
2.3.1.2 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa 31
2.3.1.3 Phương thức và trình tự ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá 32
2.3.2 Thực tiễn thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh 33
2.3.2.1 Thực hiện hợp đồng 33
2.3.2.1.1Thực hiện nội dung về đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa 33
2.3.2.1.2 Thực hiện nội dung thời gian, địa điểm giao nhận hàng hóa 33
2.3.2.1.3 Thực hiện nội dung về giá cả, phương thức thanh toán .34
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 34
2.4.1 Thuận lợi 34
2.4.2 Những khó khăn của công ty 35
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 37
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa .37
3.2 Một số kiến nghị 39
3.2.1.Kiến nghị về phía nhà nước nhằm hoàn thiện pháp luật 39
3.2.1.1 Nhà nước cần ban hành một hệ thống pháp luật văn bản pháp lý thống nhất, ổn định và minh bạch .39
3.2.1.2 Cần nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 40
3.2.1.3 Nâng cao vị thế của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa .41
3.2.2 Kiến nghị về phía doanh nghiệp 41
3.2.2.1 Về công tác soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hoá 41
3.3 Những vấn đề đặt ra 43
KẾT LUẬN 44
Trang 3WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhắc đến hoạt động kinh doanh thương mại ta không thể không nhắc đến hoạt độngmua bán hàng hóa Mua bán hàng hóa là hoạt động đặc trưng cơ bản của kinh doanhthương mại Hợp đồng mua bán hàng hóa chính là cách thức để hoạt động này được diễn
ra, nó thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong quan hệ mua bán Hợp đồngđược đảm bảo thực hiện nhờ vào nhiều yếu tố như sự chấp hành của các bên đối với cácđiều khoản đã thỏa thuận hay hợp đồng đó có vi phạm lợi ích của người khác, lợi íchchung của xã hội hay không Pháp luật với vai trò là khung định ra những nguyên tắc cơbản cho mọi hoạt động trong xã hội, cũng điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hoạtđộng thiết yếu này
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói chung cũngnhư Việt Nam nói riêng, đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức kinhdoanh phát triển Tuy nhiên, để bắt kịp với tốc độ phát triển đó thì doanh nghiệp cần cậpnhật hệ thống pháp lý một cách nhanh và chính xác nhất Bởi đây cũng là một trongnhững yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp Môi trườngpháp luật có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ nếu doanh nghiệptuân thủ đúng và đầy đủ các quy định có liên quan mà nhà nước ban hành Hệ thống phápluật đã mở ra một sân chơi chung cho các doanh nghiệp lớn – nhỏ, trong và ngoài nước.Trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt , doanh nghiệp cần nắm vững và tuân thủpháp luật Điều này một mặt giúp cho doanh nghiệp tự tin phát triển bản thân doanhnghiệp mình vừa giúp tránh khỏi được những rắc rối mà đối thủ cạnh tranh gây phiềnnhiễu và bảo vệ quyền lợi của chính mình.Tồn tại song song với sự phát triển mạnh mẽ
về kinh tế thì các quy định về hoạt động của doanh nghiệp cũng ngày càng được hoànthiện nhằm mục đích tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, giúp các doanhnghiệp thuận lợi hơn trong sự phát triển sự nghiệp của mình Bên cạnh đó, với mỗi doanhnghiệp tùy thuộc và loại hình doanh nghiệp, nghành nghề kinh doanh mà các quy phạmpháp luật điều chỉnh cũng khác nhau
Kiến thức pháp lý của cán bộ, nhân viên còn hạn chế nên chưa nắm được đầy đủquyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với công ty
Công tác quản lý còn nhiều bất cập, các chức năng của từng bộ phận chưa thực sự
cụ thể, rõ ràng Nhiều khi chồng chéo gây nên chậm chạp trong quá trình xử lý công việc
Do trong Công ty không có phòng pháp chế nghiên cứu về pháp luật nên nhữngvướng mắc, hạn chế của pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty chưa được giải đáp Việc ký kết các hợp đồng có yếu tố nước ngoài còn rất hạn chế về
số lượng Hợp đồng giữa công ty và đối tác còn sơ sài, chưa chặt chẽ, chưa tính đến hậuquả cũng như phương hướng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra
Việc áp dụng luật pháp trong công ty còn nhiều bất cập, thiếu sót như người sửdụng lao động áp dụng xử lý người lao động còn tùy tiện và không hợp lý Về phía ngườilao động thì kiến thức hiểu biết về pháp luật chưa cao, ý thức kỷ luật kém dẫn đến những
Trang 5tổn thất không đáng có cho công ty Hơn thế nữa các quy định thường xuyên có sự thayđổi đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự am hiểu pháp luật nếu muốn gặp rủi ro về pháp lýhay mất cơ hội kinh doanh.
Việc soạn thảo hợp đồng của công ty với đối tác không được chặt chẽ và vẫn có kẽ
hở nên khi có xảy ra tranh chấp với khách hàng là khó tránh khỏi vì vậy công ty nên tạocho mình một mẫu hợp đồng sẵn và rà soát lại các nội dung trong hợp đồng để tránh khỏinhững tranh chấp không đang có khi xảy ra mâu thẫn với khác hàng
Mặc dù, môi trường pháp lý đã tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp nhưng dopháp luật còn thiếu ổn định khiến doanh nghiệp gặp không ít khó khăn đặc biệt là khi kýkết hợp đồng Bên cạnh đó, việc chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thihành pháp luật khiến cho công ty khó khăn khi ký kết, thực hiện cũng như giải quyếttranh chấp phát sinh từ hợp đồng
Qua quá trình thực tập tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh, em nhận thấy rằnghoạt động mua bán hàng hóa là một trong những lĩnh vực hoạt động phát triển nhất tạicông ty và cũng là lĩnh vực có nhiều nhuững ấn đề pháp lý trong thực tiễn giao kết vàthực hiện các hợp đồng kinh doanh thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóanói riêng.việc áp dụng pháp luật về hợp đồng đối với loại hợp đồng này chưa thật sự đầy
đủ và đúng đắn nên đã dẫn đến tranh chấp giữa các bên Sau một thời gian tìm hiểu vềcông ty và tìm hiểu về thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng tại công ty cùng vớikiến thức được trang bị ở nhà trường em nhận thấy rằng hợp đồng là một công cụ pháp lýkhông thể thiếu của hoạt động mua bán hàng hóa Nó giúp các bên dẫn chiếu đến khi mộttrong hai bên không thực hiện nghĩa vụ, nhờ đó mà bảo vệ được quyền và lợi ích hợppháp của các bên Buộc các bên tham gia hoạt động mua bán hàng hóa phải thực hiệnđúng nghĩa vụ của mình Vì vậy em đã chọn đề tài: “một số vấn đề pháp lý về kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa- thực tiễn áp dụng tạ công ty TNHH dệt mayHưng Thịnh” để làm bài kháo luận của mình
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Hiện nay vấn đề liên quan đến lĩnh vực kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hànghóa đã có rất nhiều những ông trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, nổi bật lànhững công trình sau:
- Tiểu luận: “Một số giải pháp hạn chế rủi ro cho các doanh nghiệp Việt Nam trongviệc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa”
Tác giả: Chu Ngọc Anh, lớp cao học quản trị kinh đoanh K6.2, trường đại họcNgoại Thương Hà Nội Do TS Tăng Văn Nghĩa hướng dẫn Nội dung của bài tiểu luậnnày tác giả mong muốn phần nào giúp các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu tránh đượcnhững rủi ro trong quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa, đảmbảo được mục đích kinh doanh và lợi nhuận
nghiep-viet-nam-trong-viec-ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-mua-ban-quoc-te-hang-
http://123doc.org/document/946950-mot-so-giai-phap-han-che-rui-ro-cho-cac-doanh-hoa.htm
Trang 6- Luận văn: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đàm phán, kí kết và thực hiện hợpđồng nhập khẩu thiết bị tại công ty cổ phần vật tư bưu điện” Tác giả: Nguyễn Thị HồngOanh Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các hoạt động kinh doanh nhậpkhẩu của công ty sau đó phân tích quá trình đàm phán, kí kết và thực hiện hợp đồng nhậpkhẩu thiết bị của công ty để tìm ra những mặt phù hợp và mặt chưa phù hợp của công ty.http://123doc.org/document/28451-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-dam-phan-ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-thiet-bi-tai-cong-ty-co-phan-vat-tu-buu-dien-potmasco-pdf.htm
- Khóa luận: “Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHHNhất Nước” Tác giả Mai Thị Thương, lớp luật kinh doanh 48, trường đại học Kinh TếQuốc Dân Tác giả trong tiểu luận này tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợpđồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty Từ đó, tìm ra những vấn đề còntồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về hợpđồng mua bán hàng hóa, đồng thời đưa ra một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quảtrong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
tai-cong-ty-tnhh-nhat-nuoc.htm
http://123doc.org/document/317931-giao-ket-va-thuc-hien-hop-dong-mua-ban-hang-hoa Khóa luận tốt nghiệp của tác giả: Đặng Văn Vũ, khoa luật kinh tế, trường đại họcKinh Tế Quốc Dân, do TS.Đỗ Kim Hoàng hướng dẫn thực tập Đề tài của tác giả là:
“thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩuhàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình” Trong đề tài này tác giảnghiên cứu khái quát những vấn đề pháp lý chung về kí kết và thực hiện hợp đồng nhậpkhẩu hàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình, để tìm hiểu nhữngvấn đề thuận lợi và khó khăn, nguyên nhân tồn tại những khó khăn trong việc kí kết vàthực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa tại công ty
ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-hang-hoa-tai-cong-ty-co-phan-vat-tu-bao-ve-thuc-vat-hoa-binh.htm
http://123doc.org/document/2058783-thuc-trang-va-giai-phap-nham-nang-cao-hieu-qua Đề tài khóa luận: “Cơ sở pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuất- xuất nhập khẩu NinhBình”.tác giả: Đặng Thị Xuyên, khoa luật, trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, doTS.Nguyễn Hợp Toàn hướng dẫn khóa luận Đề tài đề cập đến những vấn đề pháp luật vềhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, theo quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế.Thông qua thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuất- xuất nhập khẩu Ninh Bình đểđưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình này tại công ty nói riêng vàcác doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu nói chung
mua-ban-hang-hoa-quoc-te-va-thuc-tien-ap-dung-tai-cong-ty-co-phan-sx-xnk-ninh-binh-
Trang 7- Tài liệu báo cáo: “Phạm vi áp dụng và không áp dụng của công ước viên 1980 vềhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” Tác giả: TS.Nông Quốc Bình, giảng viên khoapháp luật quốc tế, trường đại học Luật Hà Nội
- Tạp chí luật học số 10/2011
dung-cua-cong-uoc-vien-1980-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-pptx.htm
http://123doc.org/document/1040272-tai-lieu-bao-cao-pham-vi-ap-dung-va-khong-ap Bài viết của tác giả: PTS Đinh Ngọc Hiện, đề tài : “Giải quyết tranh chấp kinh tếtại tòa án Việt Nam”
- Bài viết của tác giả: PTS Dương Thanh Mai, đề tài: “Hòa giải trong giải quyếttranh chấp kinh tế tại Việt Nam hiện nay”
- Tác giả: Nguyễn Đình Thơ, đề tài : “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật trọng tàithương mại đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”
- Tạp chí nhà nước và pháp luật (năm 2008)
- Tác giả: Phạm Quý Tỵ, đề tài: “Một số ý kiến về dự thảo luật trọng tài thươngmại”
- Tạp chí nghiên cứu Lập Pháp (năm 2009)
Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này đã chứng tỏ tầm quan trọng của kí kết và thựchiện hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên các quy định pháp luật về kí kết và thựchiện hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn còn nhiều bất cập chưa được hoàn thiện Vì vậyviệc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa làđiều tất yếu Do đó một trong những điểm thành công trong các đề tài nghiên cứu đó làphát hiện ra được những bất cập còn thiếu sót, những mặt còn hạn chế Từ đó đưa ranhững giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Nhận thấy được vai trò quan trọng trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng tronghoạt dộng mua bán hàng hóa nên em đã chọn đề tài “một số vấn đề pháp lý về kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH dệt mayHưng Thịnh” để tìm hiểu và nghiên cứu Qua việc lựa chọn đề tài này, em muốn tậptrung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn ápdụng tại công ty Từ đó, tìm ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằmgóp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời emcũng đưa ra một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quả trong sản xuất và kinh doanhhàng hóa
Trên cơ sở lý luận và pháp luật điều chỉnh về các vấn đề liên quán đến kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa để hiểu rõ hơn vai trò và pháp luật điều chỉnh về kí
Trang 8kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Đưa ra những điểm còn bất cập, hạn chế cần khắc phục để tìm hướng giải quyếttrong vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
+ Đề tài tập trung nghiên cứu chế độ pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng muabán hàng hóa Lấy xuất phát điểm là lời chào hàng, chấp nhận lời chào hàng, trình tự kíkết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa từ đó liên hệ thực tiễn tại công ty TNHHdệt may Hưng Thịnh
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
+ Làm rõ hơn các lý luận pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa+ Phân tích thực trạng kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công tyTNHH dệt may Hưng Thịnh
+ Trên cơ sở lý luận và thực trạng của công ty, đưa ra các giải pháp nhằm hoànthiện hơn cho việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Thời gian từ khi Bộ Luật Dân Sự 2005, Luật Thương Mại 2005, những quy định
về kí kết và thực hiện hợp đồng Được ban hành và có hiệu lực không gian: đi sâu vàonghiên cứu một số vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tạicông ty TNHH dệt may Hưng Thịnh
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: dựa vào các khái niệm nêu trong bài để hiểu rõ hơn về kíkết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Phân tích rõ vai trò để làm nổi bật lên tâmquan trọng của kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Từ đó đánh giá các kếtquả đạt được và hạn chế để đưa ra các giải pháp giải quyết
- Phương pháp liệt kê: liệt kê các hệ thống và các văn bản có liên quan để làm căn
cứ cho lý luận
- Phương pháp thu thập số liệu của công ty: năm bắt được các số liệu sản xuất trongcông ty để biết được tình hình hoạt động kinh doanh của công ty đang phát triển hay bịsuy giảm
- Phương pháp suy luận
- Phương pháp quan sát và xem xét quá trình làm việc của các nhân viên trong côngty
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài lời mở đầu, mục lục Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu của
Trang 9khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thựchiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 10CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổihoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể
1.1.2 Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con ngườithông qua trao đổi, mua bán
Theo Luật thương mại 2005, hàng hóa được định nghĩa “bao gồm tất cả các loạiđộng sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; các vật gắn liền với đất đai” (khoản
2 điều 3 Luật thương mại 2005) Hàng hóa là đối tượng mua bán phải không thuộc danhmục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (Nghị định 59/2006/NĐ- CPngày 12/06/2006) Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh
có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của pháp luật về mua bán các loạihàng đó
1.1.3 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầutiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thể thuộccác thành phần kinh tế khác nhau
Hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai văn bảnpháp luật quan trọng là Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 Hoạt động muabán hàng hoá có thể được xem là một dạng cụ thể của hoạt động mua bán tài sản Theoquy định của Điều 428 BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồng mua bántài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bênmua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Theođiều 163 Bộ luật Dân sự thì tài sản bao gồm : vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tàisản
Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa màchỉ đưa ra khái niệm về hoạt động mua bán hàng hoá Mua bán hàng hóa được định nghĩatheo Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005 là hoạt động thương mại, theo đó bên bán cónghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bênmua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏathuận Hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 có thể là hàng hóa hiện đangtồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất độngsản được phép lưu thông thương mại Từ hai định nghĩa trên có thể thấy hợp đồng muabán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 là một dạng cụ thể của hợp đồngmua bán tài sản
Trang 11Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng “ Hợp đồng mua bán hàng hoá là
sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua vànhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng vàtrả tiền cho bên bán theo thời hạn, sốlượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”
1.1.4 Khái niệm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Sau khi hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết và đáp ứng đầy đủ các điều kiệnpháp luật quy định thì hợp đồng phải được thực hiện và các điều khoản của hợp đồng cóhiệu lực bắt buộc đối với các bên
Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá là việc bên bán và bên mua tiến hành cácnghĩa vụ mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng các quyền tươngứng của bên kia theo như nội dung đã thỏa thuận cam kết trong hợp đồng
1.1.5 Khái niệm vi phạm hợp đồng
Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi mà các bên vi phạm những điều quy định đã được thỏa thuận và những quy định pháp luật theo điều 320 của Luật Thương mạinăm 2005
Chế định trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng có vai trò bảo đảm, củng cố kỷ luậthợp đồng, phòng ngừa vi phạm pháp luật về hợp đồng, tăng cường ý thức trách nhiệmcủa các bên trong việc thực hiện cam kết: Khi các bên tự nguyện giao kết hợp đồng thì họ
sẽ bị ràng buộc bởi chính những cam kết đó, ngay cả khi một bên không có lợi ích phátsinh; những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng đều
bị đe dọa phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm hợp đồng; việc áp dụng trách nhiệmhợp đồng với các chế tài như buộc thực hiện hợp đồng, phạt hợp đồng, bồi thường thiệthại… chính là những biện pháp bảo hộ pháp lý đảm bảo , củng cố kỷ luật hợp đồng
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1.1Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 1.2.1.2 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Luật Thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trongthương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự
để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Điều 428 Bộ Luật Dân sựnăm 2005 , hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán cónghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản vàtrả tiền cho bên bán Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trongtương lai, và các vật gắn liền với đất Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹphơn tài sản Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụthể của hợp đồng mua bán tài sản Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóatrong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đíchsinh lời Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ yếu nào là tùy thuộc vàoquy định của pháp luật từng quốc gia Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng
Trang 12mua bán có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏa thuận các nội dung quan trọng củahợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy
ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Luật Thương mại Việt Nam không quy định hợpđồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội dung bắt buộc nào Tuy nhiên, ta có thể thấyrằng, một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận về đốitượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm nhận giao hàng.Pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là tập hợp cácquy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, nhằmđiều chỉnh các mối quan hệ giữa bên bán và bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hóanhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động muabán hàng hóa trong thương mại
1.2.1.3 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tếhàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để traođổi, để bán trên thị trường Mục đích của sản xuất trong kinh tế hàng hóa không phải đểthỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán, tức để thỏamãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất và lưu thônghàng hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thông qua cơ chế thịtrường Cơ chế thị trường chính là một tổ chức kinh tế, trong đó người sản xuất và ngườitiêu dung chịu sự tác động chi phối lẫn nhau của nền kinh tế thị trường.Thông qua cáchoạt động trao đổi mua bán, thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh
tế Thị trường cung cấp thông tin cần thiết cho nhà kinh doanh và tạo yếu tố cạnh tranhlàm động lực cho sự phát triển sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượngsản phẩm Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường là tự do trao đổicác sản phẩm hàng hóa giữa người mua và người bán Người bán bao giờ cũng muốn bángiá cao, người mua muôn mua giá thấp Như vậy, hợp đồng về bản chất là sự thỏa thuận,thống nhất ý chị giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng theo nguyên tắc tư do, tự nguyện
và bình đẳng, không trái pháp luật
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý
là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợpđồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trongquan hệ mua bán hàng hóa Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởi hợp đồnggiữa các bên và quy định của pháp luật Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chungcủa hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền vànghĩa vụ trong quan hệ mua bán Để đảm bảo lợi ích của cả người bán và người muaviệc xác lập những quy tắc chung trong quá trình mua bán ký kết hợp đồng, thực hiệnhợp đồng là yếu tố rất quan trọng Do vậy việc thiết lập luật về hợp đồng mua bán trởthành yếu tố tiên quyết nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế được phát triển ổn định và bềnvững
Trang 131.2.2 Nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Nội dung pháp luật về kí kết
1.2.2.1.1 Chủ thể
Chủ thể là thương nhân
Để xác định một thoả thuận có phải là một HĐMBHH hay không thì việc trước tiên
là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải là tư nhân hay không, sau đómới xét đến đối tượng của hợp đồng Thường nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thànhlập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập và có đăng
ký kinh doanh
LTM năm 2005 cũng thừa nhận thương nhân thông qua việc không đặt điều kiệnđăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận nhưng đốivới trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọihoạt động của mình Quy định này đã được giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế
là người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có được coi làthương nhân không Những quy định này lại có phần không rõ ràng vì nó không giới hạntrách nhiệm của thương nhân trong phạm vi hoạt động thương mại Vì vậy một tổ chức,
cá nhân trước khi đăng ký kinh doanh tiến hành các hành vi không nhằm mục đích sinhlợi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm như với thương nhân
Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp tác vì tuy được thừa nhận làchủ thể của luật dân sự, có quyền hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, cáthể song hộ gia đình, tổ hợp tác không phải tổ chức kinh tế, cũng chẳng phải là cá nhân.Thương nhân gồm có thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài có thể là cánhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác việc xác định tư cách thương nhân nước ngoài phảicăn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch Thương nhân nướcngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của phápluật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận (Khoản 1, Điều 16- LTMnăm 2005)
Thương nhân là cá nhân
Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có năng lực hành vi dân sựđầy đủ theo quy định của pháp luật và hoạt động thương mại một cách độc lập, thườngxuyên như một nghề nghiệp Cá nhân cũng có thể trở thành tư nhân ngay cả khi hoạtđộng thương mại một cách độc lập thường xuyên như một nghề nghiệp mà chưa ĐKKD Thương nhân là cá nhân sẽ bao gồm: Cá nhân kinh doanh; Doanh nghiệp tư nhân
Trong lĩnh vực hoạt động thương mại do thương nhân phải chịu trách nhiệm đầy đủ
về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau dây sẽ không được công nhận
là thương nhân: Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lựchành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Người đang bị truy cứu tráchnhiệm hình sự, người đang phải chấp nhận hình phạt tù; Người đang trong thời gian bịtoà án tước quyền nghề vì các tội, buôn bán hàng cấm, kinh doanh trái phép… và các tội
Trang 14khác theo quy định của pháp luật.
Thương nhân là tổ chức
Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức, là chủ yếu củaHĐMBHH Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp nhằm mục đích hoạt động thươngmại một cách độc lập, thường xuyên và có ĐKKD sẽ được coi là thương nhân Một tổchức được công nhân là pháp nhân khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84- BLDS
năm 2005 Không phải tất cả những tổ chức được coi là pháp nhân đều có thể trở thành
thương nhân mà chỉ có pháp nhân nào là tổ chức kinh doanh được thành lập để hoạt độngthương mại mới trở thành thương nhân Pháp nhân là tổ chức kinh tế gồm: Doanh nghiệpNhà nước; Hợp tác xã; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; Doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài; Các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện theo quy định là thươngnhân Theo quy định của LTM năm 2005 hộ gia đình và tổ hợp tác không được xếp là tổchức hay cá nhân
Chủ thể không phải là thương nhân.
Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhânkhông phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với thương nhân.Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập vàthường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần điều kiện nói trên khác với bên làthương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực vì hành
vi để tham gia giao kết và thực hiện HĐMBHH theo quy định của pháp luật Đó có thể là
cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng
có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập và thường xuyênnhư một nghề
1.2.2.1.2 Hình thức kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết bằng văn bản giữa thương nhân vớithương nhân, giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương nhân nhằmmục đích mua bán, trao đổi hàng hóa
Trang 15người chào hàng".
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng đã được quyđịnh rõ tại Khoản 1 - Điều 390 BLDS Đơn chào hàng về bản chất là một đề nghị giao kếthợp đồng, là việc một bên bày tỏ ý chí của mình muốn giao kết hợp đồng mua bán hànghóa với một người cụ thể và chịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đã được xácđịnh cụ thể đó Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời,nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị
mà không được giao kết thì phải bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh Như vậy, chàohàng là một đề nghị giao kết hợp đồng, có nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hànghóa, được chuyển cho một hoặc nhiều nguời nhất định, có giá trị trong một thời gian nhấtđịnh Tuy không quy định cụ thể về nội dung chủ yếu của đơn chào hàng, nhưng có thểhình dung được rằng bên đề nghị giao kết hợp đồng phải nêu ra trong đề nghị của mìnhnhững nội dung chủ yếu như đối với nội dung của hợp đồng dân sự: đối tượng, giá cả,phương thức thanh toán…Như vậy có thể coi các nội dung chủ yếu của hợp đồng muabán hàng hóa cũng chính là nội dung chủ yếu của đơn chào hàng Những nội dung của đềnghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng để bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể hìnhdung được ngay và hiểu được mong muốn giao kết hợp đồng của bên đề nghị giao kếthợp đồng Khi đó bên đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu sự ràng buộc bởi những nộidung đã đề nghị và không được thay đổi nội dung đó nếu bên được đề nghị đã đồng ý
1.2.2.1.5 Chấp nhận đề nghị kí kết hợp đồng
Chấp nhận đề ghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyển chobên đề nghị về việc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong đề nghị giao kết hợpđồng Về vấn đề này Điều 18 công ước viên 1980 cũng quy định rõ:" Tuyên bố, hànhđộng nào đó của người được chào hàng thể hiện sự đồng ý với đơn chào hàng được gọi
là việc chấp nhận Thái độ im lặng hoặc không hành động không phải khác là việc chấpnhận đơn chào hàng" Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi đó
là hành vi, hành động mang tính tích cực của đối tác trong giao dịch mua bán hàng hoá.Không thể coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khinghi giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi họ không có biểu hiện nào bênngoài để cho người đề nghị biết là mình đồng ý với toàn bộ đề nghị giao kết hợp đồngthời hạn trách nhiệm của bên đề nghị bắt đầu từ thời điểm đề nghị giao kết hợp đồngđược chuyển đi cho bên được đề nghị đến hết thời hạn ghi trong đề nghị giao kết hợpđồng
Tuy nhiên, để tạo mọi khả năng để các bên có thể tiến tới giao kết hợp đồng muabán hàng hoá các bên có thể tiến hành hành động khác khi nhận được chấp nhận đề nghịquá giới hạn Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được thông báo chấpnhận đề nghị sau khi hết thời hạn chờ trả lời thì lời đề nghị đó được coi như là đề nghịmới của bên chậm trả lời: Nghĩa là đã xuất hiện một đề nghị giao kết hợp đồng mới từphía đối tác của người đã đề nghị và người đã đề nghị nếu tiếp tục chấp nhận thì trở thànhngười chấp nhận đề nghị Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đếnchậm vì lý do khách hàng, mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì
Trang 16thông báo chấp nhận giao kết này vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lờingay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị giao kết hợp đồng.
Trong trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có điềukiện sửa đổi, bổ sung một trong những nội dung của đề nghị thì hành vi đó được coi là từchối đề nghị và hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới Như vậy, nếu bên được
đề nghị sửa đổi, bổ sung đề nghị không làm thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giaokết hợp đồng thì hành vi đó cũng không được coi là chấp nhận đề nghị, mà được coi là đềnghị giao kết hợp đồng mới Nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng được sửa đổi, bổsung có thể là điều kiện về giá, thanh toán, chất lượng, số lượng, địa điểm thời gian giaohàng…
1.2.2.2 Nội dung pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.2.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá
Sau khi hợp đồng được ký kết và có hiệu lực, các bên phải thực hiện nghĩa vụ đãcam kết phát sinh từ hợp đồng Khi thực hiện hợp đồng các bên phải tuân theo nguyên tắcsau (quy định tại Điều 412 Bộ luật dân sự 2005):
Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thờihạn, phương thức và các thỏa thuận khác;
Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên,đảm bảo tin cậy lẫn nhau;
Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi íchhợp pháp của người khác
1.2.2.2.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì mà các bên thoả thuận và pháp luật quyđịnh đối với một hợp đồng Mét HĐMBHH sẽ có giá trị pháp lực khi thoả mãn tối thiểunhững điều kiện về nội dung mà pháp luật quy định Khi thiếu một trong những nội dung
đó thì hợp đồng không thể phát sinh hiệu lực Trong thực tế, hậu quả xấu đã xảy ra xuấtphát từ điểm các bên trong hợp đồng không quy định rõ ràng hoặc đầy đủ những nộidung của hợp đồng dẫn tới có tranh chấp xảy ra các bên sẽ không có chứng cứ hoặcchứng cứ không rõ ràng và những thiệt hại không cần thiết có thể xảy ra đối với tất cả cácbên và không thể lường trước được
LTM năm 2005 đã không quy định về nội dung HĐMBHH Trên cơ sở việc xác lậpmối quan hệ với BLDS, khi xem xét vấn đề nội dung của HĐMBHH chúng ta có thể dựatrên các quy định của BLDS, Theo đó trong HĐMBHH, các bên có thể thoả thuận vềnhững nội dung sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không đượclàm
- Số lượng, chất lượng
- Giá, phương thức thanh toán
Trang 17- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.
- Quyền, nghĩa vụ của các bên
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Các nội dung khác
1.2.2.2.3 Thực hiện các điều khoản
Thực hiện nội dung về đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa.
Điều khoản về đối tượng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa.Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty rất lưu ý đến điều khoản này, thực hiện giaohàng đầy đủ số lượng, trọng lượng hàng hóa theo đơn vị đo lường mà hai bên đã thỏathuận Trong hầu hết các hợp đồng mua bán hàng hóa mà công ty ký kết, khi thực hiệnđiều khoản này, nếu bên nhận hàng kiểm tra thấy chất lượng hàng không phù hợp vớihợp đồng thì yêu cầu bên kia giao hàng đúng chất lượng đồng thời bồi thường thiệt hạinếu có Trường hợp giao hàng không đúng số lượng thì bên mua nhận và chỉ thanh toántheo số hàng đã nhận và yêu cầu giao tiếp hàng thiếu Còn nếu sản phẩm có lỗi (dù là bênmua nhận thấy trước lúc nhận hàng hay sau) thì công ty vẫn nhận lại những hàng hóa đó
để sửa chữa cho bên mua, nhằm giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài và tạo uy tín trong kinhdoanh
Thực hiện nội dung thời gian, địa điểm giao nhận hàng hóa.
Đối với hầu hết hợp đồng mua hàng hóa của công ty, thì địa điểm nhận hàng đềuquy định tại kho của công ty Còn đối với hợp đồng bán hàng hóa thì địa điểm giao hàngtại kho bãi của bên mua đối với hợp đồng có số lượng lớn và địa điểm giao hàng là khobãi của công ty đối với hợp đồng có số lượng ít
Thực hiện nội dung về thời điểm giao nhận hàng thì tùy theo thỏa thuận trong từnghợp đồng cụ thể giữa công ty với bạn hàng Tuy nhiên, điều khoản này chủ yếu là thựchiện theo quy định trong Luật Thương mại 2005:
Nếu hai bên thỏa thuận thời gian giao hàng một cách cụ thể trong hợp đồng thì phảigiao hàng đúng thời điểm đó
Nếu bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhậnhàng hoặc không nhận hàng
Nếu bên bán giao hàng sau thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền:
Không nhận sản phẩm, phạt vi phạm nếu có thỏa thuận và bồi thường thiệt hạinhư không thực hiện hợp đồng Hoặc nhận sản phẩm, phạt vi phạm nếu có thỏa thuận vàđòi bồi thường thiệt hại
Trong hợp đồng bán hàng hóa, nếu công ty giao hàng đúng như thời hạn mà bênmua không nhận hàng thì công ty lưu kho sản phẩm và có quyền yêu cầu bên mua trả chiphí bảo quản, lưu kho
Thực hiện nội d ung về giá cả, phương thức thanh toán.
Trang 18Giá cả do bên bán đưa ra và bên mua xem xét để đi đến thỏa thuận giao kết hợpđồng Giá cả được công ty tính trên cơ sở giá thành sản xuất sản phẩm và giá của hànghóa cùng loại trên thị trường So với các mặt hàng cùng loại trên thị trường thì các sảnphẩm của công ty kinh doanh đều là hàng có chất lượng cao do vậy công ty có lợi thế cao
và có lượng khách hàng khá lớn
Thanh toán được coi như là khâu kết thúc thực hiện một hợp đồng mua bán Phươngthức thanh toán thường đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng Đại đa số hợp đồngmua bán hàng hóa trong công ty đều dùng phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặcchuyển khoản Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, công ty và khách hàng thường thỏa thuậnthanh toán trước khoảng 30% giá trị hợp đồng, nhưng chỉ áp dụng đối với khách hàngmới hoặc hợp đồng có giá trị lớn Còn phần lớn, trong hợp đồng đều quy định bên muathanh toán 100% giá trị hàng khi bên bán thực hiện thực việc giao hàng cho bên muacùng hóa đơn tài chính hợp lệ Trong thực tế thì có thể khi đã nhận hàng rồi nhưng bênmua vẫn chưa thanh toán hết tiền cho bên bán Theo quy định của pháp luật, trong trườnghợp đó bên bán có quyền lấy tiền lãi với thời gian chậm thanh toán đó, tuy nhiên, để giữmối làm ăn lâu dài, công ty thường không lấy lãi mà chỉ nhắc nhở để yêu cầu bên muathanh toán
1.2.2.2.4 Quyền của bên bán:
Theo Điều 306 Luật thương mại, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán cóquyền nhận tiền hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng Khi bên mua chậm thanh toán thìbên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạntrung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừtrường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Đồng thời, nếu bên bánchậm nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thì bên bán cóquyền ngừng giao hàng hoặc yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại, ngoài ra bên bán còn
có thể áp dụng các hình thức chế tài khác như: buộc thực hiện hợp đồng, phạt vi phạm,hủy bỏ hợp đồng
1.2.2.2.5 Quyền của bên mua
Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ điển hình, trong đó, quyền củabên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Do đó, quyền của bên muachính là những điều khoản mà bên bán có nghĩa vụ thực hiện như đã đề cập ở phần nghĩa
vụ của bên bán Ngoài ra, theo quy định tại Điều 51 Luật thương mại thì bên mua cóquyền ngừng thanh toán tiền hàng trong các trường hợp:
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối;
- Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì cóquyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợpđồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phùhợp đó
Trang 191.2.2.2.6 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
Việc xác lập và thực hiện các hợp đồng trước hết là dựa vào sự tự giác của các bênnhưng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch đều có thiện chí trongviệc thực hiện hợp đồng một cách nghiêm chỉnh Do vậy trong hợp đồng thường có điềukhoản thỏa thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng để đảm bảo độ tin cậy chocác bên đồng thời giúp các bên có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng.Theo Điều 318 BLDS, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: Cầm
cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp Tuy nhiên, tronghợp đồng mua bán hàng hóa, không áp dụng biện pháp bảo đảm bằng ký cược hay biệnpháp bảo đảm bằng tín chấp Bởi vì ký cược là biện pháp để bảo đảm trả lại tài sản thuêtrong hợp đồng cho thuê tài sản, còn tín chấp là biện pháp mà do Tổ chức chính trị xã hộiđứng ra bảo đảm cho hộ gia đình nghèo vay tiền tại Ngân hàng hoặc Tổ chức tín dụng
Cầm cố tài sản
Theo quy định tại Điều 326 BLDS năm 2005 thì cầm cố tài sản là việc trao độngsản thuộc quyền sở hữu của mình cho phía bên kia trong quan hệ hợp đồng, để giữ gìnlàm tin và bảo đảm tài sản trong trường hợp vi phạm hợp đồng đã được ký kết Việc cầm
cố phải được lập thành văn bản riêng, có xác nhận của cơ quan công chứng hay cơ quan
có thẩm quyền đăng ký kinh doanh (trong trường hợp mà không có cơ quan công chứng).Người thực hiện việc giữ vật bị cầm cố phải bảo đảm giữ nguyên giá trị của vật đó,không được chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho người khác trong thời gian văn bản cầm
cố có hiệu lực
Thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bảođảm tài sản cho việc thực hiện hợp đồng đã ký kết.Tài sản có thể là động sản, bất độngsản hay giá trị tài sản khác Hình thức thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản hayghi trong hợp đồng chính, phải có xác nhận của cơ quan công chứng hoặc cơ quan cóthẩm quyền đăng ký kinh doanh Trong thời hạn văn bản thế chấp có hiệu lực người thếchấp tài sản có nghĩa vụ phải bảo đảm giữ nguyên giá trị của tài sản thế chấp; khôngđược chuyển dịch sở hữu hay tự động chuyển giao tài sản đó cho người khác trong thờigian văn bản thế chấp đó có hiệu lực Bên cạnh đó, nếu bên nhận thế chấp giữ giấy tờ vềtài sản thế chấp thì sẽ phải trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp đó cho bên thế chấp khi chấmdứt thế chấp
Đặt cọc
Đặt cọc là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, được định nghĩatại Điều 358 BLDS năm 2005 ‘Ðặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiềnhoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trongmột thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự” Khi tiến hành đặt cọcthì phải lập thành văn bản ghi rõ các vấn đề như đối tượng, giá trị bằng tiền hay tài sảnđặt cọc, thời hạn đặt cọc trong văn bản Trong trường hợp, hợp đồng dân sự được giao
Trang 20kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiệnnghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tàisản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thựchiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tươngđương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Ký quỹ
Theo khoản 1 Điều 360 BLDS thì ký quỹ cũng là một biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ đối với các bên, nó được thực hiện thông qua ngân hàng – nơi nhận tài sản đểbảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho một bên trong hợp đồng Ngân hàng sẽ được bên cóquyền yêu cầu thanh toán hay bồi thường thiệt hại (sau khi đã trừ đi chi phí dịch vụ ngânhàng) do bên có nghĩa vụ gây ra khi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ
Bảo lãnh
Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhậnbảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khiđến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.Tài sản bảo lãnh phải ngang bằng hoặc lớn hơn giá trị phần nghĩa vụ được cam kết thựchiện Ngoài sự xác nhận của cơ quan công chứng nhà nước thì phải có thêm sự chứngthực của cơ quan ngân hàng, nơi người bảo lãnh mở tài khoản hay thực hiện các giaodịch khác chứng nhận về mức giá trị tài sản, hay về khoản tiền có trong tài khoản đưa rabảo lãnh mới chính thức công nhận có sự bảo lãnh tài sản cho người có nghĩa vụ tài sảntrong hợp đồng Việc xử lý, hủy bỏ hay chấm dứt việc bảo lãnh được quy định tại cácĐiều 369, 370 và 371 BLDS 2005
1.2.2.2.7 Giải quyết tranh chấp
Thương lượng giữa các bên:
Khi xảy ra tranh chấp, phương thức đầu tiên mà các bên thường hay lựa chọn nhất
là thương lượng Phương thức này thể hiện được bản chất của giao kết hợp đồng là sựthỏa thuận giữa các bên Nó cũng là phương thức nhanh gọn và đảm bảo lợi ích của cácbên được hài hòa hơn Thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùngvới quá trình tố tụng tại Trung tâm trọng tài hoặc Tòa án
Đối với thương lượng độc lập: Nghĩa vụ của các bên phải tiến hành trong quá trìnhthương lượng được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp Do đó các bênphải tiến hành như là một điều khoản trong hợp đồng Kết quả thương lượng được coinhư một thỏa thuận mới về vấn đề tranh chấp, các bên phải đảm bảo được sự tự nguyệntrong thỏa thuận theo quy định của pháp luật
Đối với thương lượng được tiến hành theo thủ tục trọng tài hoặc Tòa án thì theo yêucầu của các bên, trọng tài viên, thẩm phán có thể ra văn bản công nhận kết quả thỏa thuậncủa các bên sau quá trình thương lượng Văn bản này có giá trị như một quyết định củaTrọng tài hay Tòa án
Trang 21Hòa giải giữa các bên.
Hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất riêng tư, trong đó có hòagiải viên là người thứ ba làm trung gian giúp các bên đạt được sự thỏa thuận Với phươngthức này, các bên có thể giải quyết tranh chấp một cách thân thiện và có thể tiếp tục giữvững mối quan hệ trong kinh doanh; hạn chế tối đa sự hao phí thời gian và tiền của vàoviệc giải quyết tranh chấp nếu nó được tiến hành theo thủ tục tố tụng trọng tài hoặc tòaán; ngoài ra, nó không phải là quá trình tố tụng công khai nên đảm bảo giữ vững đượccác bí mật trong thương mại mà các bên không muốn cho người ngoài biết Giữ vững uytín và danh dự cho các bên
Do bản chất của hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận nên kết quả thỏa thuận không
có tính chất bắt buộc thi hành cao như giải quyết tại Trung tâm trọng tài hay Tòa án
Giải quyết tại Trung tâm trọng tài
Cũng như hai phương thức giải quyết trên thì phương thức giải quyết tranh chấp tạiTrung tâm trọng tài được các bên lựa chọn bởi những ưu điểm của phương thức này cóthể được kể đến đó là: Đỡ tốn kém về thời gian bởi đây là phương thức giquyết tại Tòa
án Và nó cũng đảm bảo tính khách quan, trung lập của trọng tài Phán quyết của trọng tài
có hiệu lực thi hành bởi nó được Tòa án công nhận và cho thi hành qua một thủ tục tưpháp Ngoài ra phương thức này cũng đảm bảo bí quyết kinh doanh của các bên vì nókhông phải là phương thức giải quyết công khai như giải quyết tại Tòa án
Để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và được giải quyết tại Trung tâm trọng tài thìphải có đủ các điều kiện sau:
+ Tranh chấp phải phát sinh từ hoạt động thương mại thương mại Các hoạt độngthương mại được liệt kê ở Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài năm 2003
+ Trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có Thỏa thuận trọng tài (Khoản 1Điều 3 Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày 25/02/2003)Nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài mà khi xảy ra tranh chấp lại có thỏathuận trọng tài thì cũng được áp dụng hình thức này, tuy nhiên phải thỏa thuận giải quyếttại trọng tài trước khi các bên khởi kiện lên trung tâm trọng tài
+ Người ký kết thỏa thuận trọng tài có năng lực ký kết theo quy định của pháp luật
Đó là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có thẩm quyền ký kết thỏa thuận
đó Tuy nhiên trong trường hợp nếu người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền
ký kết và khi phát sinh tranh chấp mà một bên có yêu cầu tòa án giải quyết, thì tòa án yêucầu người có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài cho biết ý kiến bằng văn bản họ cóchấp nhận thỏa thuận trọng tài đó hay không Nếu họ chấp nhận thì trường hợp này thỏathuận trọng tài không vô hiệu và vụ tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọngtài theo thủ tục chung
+ Bên ký kết thỏa thuận trọng tài không bị lừa dối, bị đe dọa
+ Thỏa thuận trọng tài phải quy định rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài cóthẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp, nếu không quy định rõ thì sau đó phải có thỏa thuận