Lượng CTRSH còn lại chưa được thu gom đã gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí, làm giảm chất lượng môi trường sống, gây khó khăn cho công tác xử lý CTRSH và đ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
–––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN MINH TUẤN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành : Quản lý Kinh tế
Mã số : 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ NGỌC VÂN
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tự thực hiện Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Phạm Thị Ngọc Vân - người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, Khoa sau Đại học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên là cơ sở đào tạo Thạc sỹ, cùng sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô Khoa sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Sở Xây dựng, Sở Tài Nguyên & Môi trường, Chi cục Thống kê TP Thái Nguyên, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài nguyên & Môi trường, Công ty CP Môi trường & Công trình đô thị TN và các tổ chức, cá nhân có liên quan đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp nơi tôi công tác đã ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, những người than và bạn bè luôn động viên, ủng hộ giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn
TP Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Minh Tuấn
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU GOM VÀ XỬ LÝ CTRSH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 42
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Thái Nguyên 42
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.3 Đánh giá về công tác quản lý thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn TP Thái Nguyên 683.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thu gom CTRSH tại các hộ gia đình trên địa bàn TP Thái Nguyên 72Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU GOM VÀ
XỬ LÝ CTRSH TRÊN ĐỊA BÀN TP THÁI NGUYÊN 784.1 Định hướng quản lý thu gom và xử lý CTRSH 784.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 80KẾT LUẬN 88TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các nguồn phát sinh CTR đô thị
Bảng 1.2 Thành phần CTR đô thị phân theo nguồn gốc phát sinh
Bảng 1.3 Thành phần CTR đô thị theo tính chất vật lý
Bảng 1.4 Nguồn nhân lực và thiết bị hỗ trợ trong việc phân loại,
lưu giữ CTR tại nguồn
Bảng 1.5 Các loại thùng chứa sử dụng với các hệ thống thu gom
khác nhau
Bảng 3.1 Thành phần CTRSH tại TP Thái Nguyên năm 2012
Bảng 3.2 Khối lượng CTRSH phát sinh qua 3 năm từ 2011 đến 2013 Bảng 3.3 Kết quả thu gom CTRSH của các Đội VSMT phường, xã
năm 2013
Bảng 3.4 Kinh phí từ ngân sách nhà nước chi cho dịch vụ thu gom,
vận chuyển và xử lý CTRSH thành phố giai đoạn 2010-2013 Bảng 3.5 Số lượng hội nghị phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan
đến CTRSH do Phòng QLĐT tổ chức giai đoạn 2010-2013 Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm giai đoạn 2010-2013
Bảng 3.7 Chi phí công cụ, dụng cụ lao động năm 2012
Bảng 3.8 Tổng hợp chi phí thu gom năm 2012
Bảng 3.9 Kinh phí vận chuyển CTRSH năm 2012
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Những hợp phần chức năng của một hệ thống quản lý CTR
Sơ đồ 3.1 Vị trí thành phố Thái Nguyên
Sơ đồ 3.2 Quy trình thu gom và xử lý CTRSH tại TP Thái Nguyên
Sơ đồ 3.3 Hệ thống quản lý CTRSH tại thành phố Thái Nguyên
Biểu đồ 01 Tỷ lệ các thành phần trong CTRSH tại TP Thái Nguyên
Biểu đồ 02 Kinh phí từ ngân sách nhà nước chi cho dịch vụ thu gom,
vận chuyển và xử lý CTRSH thành phố giai đoạn 2010-2013
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch của tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích là gần 190 km², dân số trên 30 vạn người, là đô thị có mật độ dân cư tương đối lớn, tốc độ đô thị hóa cao, được xác định là đầu tàu, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Thái Nguyên Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước, kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói chung, TP Thái Nguyên nói riêng đang có những bước phát triển nhanh chóng, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 25 triệu đồng (năm 2007) lên 48 triệu đồng (năm 2012), đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Bên cạnh sự phát triển kinh tế xã hội thì quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng đặt ra nhiều vấn đề về môi trường, đặc biệt
là vấn đề quản lý thu gom và xử lý CTRSH
Theo thống kê của cơ quan chức năng, hiện nay bình quân mỗi ngày lượng CTRSH phát sinh tại TP Thái Nguyên là 163,9 tấn Tỷ lệ CTRSH được
tổ chức thu gom hiện chỉ đạt gần 80% Lượng CTRSH còn lại chưa được thu gom đã gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí, làm giảm chất lượng môi trường sống, gây khó khăn cho công tác xử lý CTRSH
và đặc biệt là ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người dân trên địa bàn TP
Theo dự báo, lượng CTRSH thải ra môi trường sẽ ngày càng tăng, do vậy nếu không được thu gom, xử lý kịp thời và không có những biện pháp quản lý hữu hiệu thì CTRSH sẽ ảnh hưởng rất lớn đến con người và môi trường sống Trong khi đó, công tác quản lý thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn TP chưa được quan tâm đúng mức Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể quản lý tốt việc thu gom và xử lý CTRSH phát sinh trên địa bàn TP nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe con người Từ đó, có thể hình thành một hệ thống quản lý, kiểm soát CTRSH phù hợp, hiệu quả và hướng cộng đồng đến
Trang 10mục tiêu xây dựng một đô thị xanh, sạch, đẹp Để góp phần giải quyết những
vấn đề nêu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng cường quản lý
thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn TP Thái Nguyên thời gian qua, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn TP trong thời gian tới
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu gom
và xử lý CTRSH trên địa bàn TP Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu:
Nghin cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn TP Thái Nguyên Chủ thể nghiên cứu là các đối tượng có liên quan đến việc thu gom và xử lý CTRSH như các cơ quan, đơn vị, hộ gia đình, các cơ quan quản lý (như UBND TP, các phòng, ban, đơn vị, UBND các phường, xã ), các đơn vị trực tiếp thực hiện thu gom và xử lý CTRSH và các đối tượng khác có liên quan
Trang 11b) Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
Trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
- Về thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu, viết đề tài: Từ tháng 11 năm 2013
+ Số liệu thu thập phục vụ nghiên cứu: Từ năm 2011 đến hết năm 2013
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thu gom và xử lý CTRSH trên địa bàn TP Thái Nguyên ở 2 góc độ: góc độ quản lý nhà nước và góc độ quản lý kỹ thuật
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn là công trình khoa học, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu để chính quyền TP Thái Nguyên tham khảo khi xây dựng các chương trình, kế hoạch nhằm nâng cao năng lực quản lý môi trường TP nói chung, quản lý CTRSH trên địa bàn TP nói riêng
Ngoài ra, luận văn còn có giá trị thiết thực để vận dụng, áp dụng cho các đô thị khác có cùng đặc điểm, điều kiện như TP Thái Nguyên
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu gom và xử lý
chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trang 12Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Theo Từ điển môi trường và phát triển bền vững, CTR là toàn bộ vật liệu rắn hoặc có một phần là chất rắn mà người sở hữu không còn coi là có giá trị để giữ lại
Theo quan điểm hiện đại, CTR đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là CTR đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận một thứ mà Thành phố phải có trách nhiệm thu gom và xử lý
Như vậy CTR bao gồm các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa
1.1.1.2 Nguồn gốc phát sinh CTR
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của CTR là cơ sở quan trọng để thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý CTR
Trang 13Các nguồn chủ yếu phát sinh ra CTR đô thị bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt);
- Từ các trung tâm thương mại;
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng;
- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay;
- Từ các hoạt động công nghiệp;
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị;
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của TP CTR đô thị được xem như là chất thải cộng đồng, ngoại trừ các chất thải trong quá trình chế biến tại các khu công nghiệp và chất thải công nghiệp Các loại chất thải sinh ra từ các nguồn này được trình bày ở Bảng 1.1
Bảng 1.1: Các nguồn phát sinh CTR đô thị
Nguồn
phát sinh
Các hoạt động và vị trí phát sinh chất thải
Loại CTR
Nhà ở Những nơi ở riêng của một
hay nhiều gia đình Những căn hộ thấp, vừa và cao tầng,
Chất thải thực phẩm, giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, hàng dệt, đồ gia, chất thải vườn, đồ gỗ, thủy tinh, hộp thiếc, nhôm, kim loại khác, tàn thuốc, rác đường phố, chất thải đặc biệt (dầu, lốp xe, thiết bị điện, ), chất sinh hoạt nguy hại Thương mại Cửa hàng, nhà hàng, chợ,
văn phòng, khách sạn, dịch vụ, cửa hiệu in,
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ, chất thải thực phẩm, thủy tinh, kim loại, chất thải đặc biệt, chất thải nguy hại,
Trang 14Cơ quan Trường học, bệnh viện,
nhà tù, cơ quan nhà nước,
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, chất thải thực phẩm, thủy tinh, kim loại, chất thải đặc biệt, chất thải nguy hại,
Xây dựng
và phá dỡ
Nơi xây dựng mới, sửa đường, san bằng các công trình xây dựng, vỉa hè hư hại
Chất thải đặc biệt, rác đường phố, vật xén ra từ cây, chất thải từ các công viên, bãi tắm và các khu vực tiêu khiển khác
Trạm xử lý,
lò thiêu đốt
Quá trình xử lý nước, nước thải và chất thải công nghiệp Các chất thải được
Trang 15Bảng 1.2: Thành phần CTR đô thị phân theo nguồn gốc phát sinh
Công viên và các khu vực tiêu khiển 1.5 – 3 2.0
Trang 171.1.1.4 Tốc độ phát sinh CTR
Việc tính toán tốc độ phát thải rác là một trong những yếu tố quan trọng trong việc quản lý rác thải bởi vì từ đó người ta có thể xác định được lượng chất thải phát sinh trong tương lai ở một khu vực cụ thể có kế hoạch quản lý
từ khâu thu gom, vận chuyển đến xử lý
Phương pháp xác định tốc độ phát thải rác cũng gần như phương pháp xác định tổng lượng rác Người ta sử dụng một số loại phân tích sau đây để định lượng rác thải ra ở một khu vực:
1.1.2 Tác động của ô nhiễm môi trường do CTR
1.1.2.1 Tác động của CTR đối với môi trường
a) Ô nhiễm môi trường không khí
CTR, đặc biệt là CTR sinh hoạt, có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4 - 63.8%, CO2 - 33.6%, và một số khí khác) Trong đó, CH4 và CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khuchôn lấp
Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi theo mùa Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt
độ tăng, lượng khí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông Đối với các bãi chôn lấp, ước tính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một sự tác động nào
Trang 18Khi vận chuyển và lưu giữ CTR sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong CTR: Amoni có mùi khai, phân có mùi hôi, Hydrosunfur mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin mùi cá ươn, Diamin mùi thịt thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi
ốc đặc trưng
Bên cạnh hoạt động chôn lấp CTR, việc xử lý CTR bằng biện pháp đốt cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu CTR có thể bao gồm các hợp chất chứa clo, flo, lưu huỳnh và nitơ, khi đốt lên làm phát thải một lượng không nhỏ các chất khí độc hại hoặc có tác dụng ăn mòn Mặt khác, nếu nhiệt
độ tại lò đốt rác không đủ cao và hệ thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến cho CTR không được tiêu hủy hoàn toàn làm phát sinh các khí oxit cacbon, oxit nitơ, dioxin và furan bay hơi là các chất rất độc hại đối với sức khỏe con người Một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại (như thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi trường Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thường là lý do khiếu nại của cộng đồng vì
dễ nhận biết bằng mắt thường, nhưng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều hính là các hợp chất (như kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí
b) Ô nhiễm môi trường nước
CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO (lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước) CTR hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, có mùi khó chịu
Thông thường các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thống đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý
Trang 19trước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng
Sự xuất hiện của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể
Tại các bãi chôn lấp CTR, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân súc vật, các thức ăn thừa ; chất thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm) Nếu không được thu gom xử lý sẽ thâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng
c) Ô nhiễm môi trường đất
Các CTR có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy
cơ tiềm tàng đối với môi trường Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp, bê-tông trong đất rất khó bị phân hủy Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Các chất thải có thể gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất
Tại các bãi rác, bãi chôn lấp CTR không hợp vệ sinh, không có hệ thống xử lý nước rác đạt tiêu chuẩn, hóa chất và vi sinh vật từ CTR dễ dàng thâm nhập gây ô nhiễm đất
CTR đặc biệt là chất thải nguy hại, chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim loại nặng, phóng xạ nếu không được xử lý đúng cách, chỉ chôn lấp như rác
thải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao (Nguồn: Báo cáo Môi trường quốc gia 2011) [14]
Trang 201.1.2.2 Tác động của CTR đối với sức khỏe người dân
Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải
Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác Một nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ người ốm và mắc các bệnh như tiêu chảy, da liễu, hô hấp tại khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn hẳn so với khu vực không chịu ảnh hưởng
Các bãi chôn lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề này Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ, có thể
là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người (lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như AIDS, ) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân, Một vấn đề cần được quan tâm là, do chiếm tỷ lệ lớn trong những người làm nghề nhặt rác, phụ nữ và trẻ em đã trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
Hai thành phần CTR được liệt vào loại cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm cũng như trong mô tế bào động vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong môi trường gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người như vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh; tác động lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế hệ thứ ba [14]
1.1.2.3 Tác động của CTR đối với kinh tế - xã hội
Trang 2118 USD/tấn CTR dựa trên các tính toán cơ bản về tổng vốn đầu tư, chi phí vận hành, chi phí quản lý, khấu hao, lạm phát, v.v
Hàng năm ngân sách của các địa phương phải chi trả một khoản khá lớn cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR Chi phí xử lý CTR tuỳ thuộc vào công nghệ xử lý: Mức chi phí xử lý cho công nghệ hợp vệ sinh là 115.000đ/tấn - 142.000đ/tấn và chi phí chôn lấp hợp vệ sinh có tính đến thu hồi vốn đầu tư 219.000 - 286.000đ/tấn (TP Hồ Chí Minh tổng chi phí hàng năm cho thu gom, vận chuyển, xử lý CTR sinh hoạt khoảng 1.200 - 1.500 tỷ VNĐ) Chi phí xử lý đối với công nghệ xử lý rác thành phân vi sinh khoảng 150.000đ/tấn - 290.000đ/tấn (TP Hồ Chí Minh 240.000đ/tấn; TP Huế đang đề nghị 230.000đ/tấn; TP Thái Bình 190.000đ/tấn, Bình Dương 179.000đ/tấn) Chi phí đối với công nghệ chế biến rác thành viên đốt được ước tính khoảng
230.000đ/tấn - 270.000đ/tấn (Cục Hạ tầng kỹ thuật - Bộ Xây dựng, 2010)
Chỉ tính riêng chi phí vận hành lò đốt CTR y tế đối với các bệnh viện
có lò đốt, mỗi tháng bệnh viện tuyến trung ương chi phí trung bình khoảng 26 triệu đồng, bệnh viện tuyến tỉnh 20 triệu đồng, bệnh viện huyện 5 triệu đồng Đối với các bệnh viện thuê Trung tâm thiêu đốt chất thải y tế vận chuyển và đốt rác, chi phí khoảng 7.500 đồng/kg
Chi phí vận hành lò đốt cho xử lý chất thải cho cụm bệnh viện là khoảng 10.000 - 15.000 đồng/kg CTR y tế nguy hại Đối với một số bệnh viện
đa khoa lớn, chi phí cho xử lý CTR y tế lên tới 100 triệu đồng/tháng
b) Ảnh hưởng của CTR đến du lịch và nuôi trồng thuỷ sản
Việc xả rác bừa bãi, quản lý CTR không hợp lý còn gây ô nhiễm môi trường tại các địa điểm danh lam thắng cảnh, các khu di tích lịch sử văn hoá
và các địa điểm du lịch, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển du lịch
Các địa danh thu hút khách du lịch như chùa Hương, vịnh Hạ Long, các bãi biển, cũng đang gặp phải vấn đề ô nhiễm môi trường do tình trạng xả rác thải bừa bãi
Trang 22Phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống đang là một hướng phát triển kinh tế được nhiều địa phương lựa chọn Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường tại chính các làng nghề đã gây cản trở lớn tới các hoạt động phát triển du lịch làng nghề, làm giảm lượng khách du lịch, dẫn đến giảm nguồn thu từ hoạt động này tại các địa phương có làng nghề
Các bãi trung chuyển rác lộ thiên và bãi chôn lấp rác không đảm bảo vệ sinh thường xuyên gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản
c) Xung đột môi trường do CTR
Xung đột môi trường xảy ra trong xã hội khi vấn đề bảo vệ môi trường
và phát triển kinh tế chưa dung hòa được với nhau Trong những năm
, trong khi
đó, lợi ích kinh tế vẫn được đặt lên
Trong quản lý CTR, xung đột môi trường chủ yếu phát sinh do việc lưu giữ, vận chuyển, xả thải chôn lấp CTR không hợp vệ
Trong quá trình hoạt động, sản xuất, các làng nghề sản sinh nhiều CTR gây ảnh hưởng tới môi trường không những tại nơi diễn ra các hoạt động sản xuất mà còn ảnh hưởng tới các vùng lân cận Chính vì vậy, tại đây đã nảy sinh nhiều vấn đề xung đột môi trường Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội trong làng nghề, giữa cộng đồng làm nghề và không làm nghề, giữa các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và hoạt động nông nghiệp, giữa hoạt động sản xuất và mỹ quan, văn hoá,
- Xung đột giữa các nhóm xã hội trong làng nghề do CTR
Đây là loại xung đột phổ biến nhất Sự hình thành các cơ sở sản xuất nghề nằm trong các khu dân cư, đặc thù hơn là tổ chức sản xuất ngay tại trong
Trang 23nhà mình Các loại CTR phát sinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ xung quanh, gây ra những xung đột, dẫn đến những khiếu kiện
- Xung đột giữa các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hoạt động nông nghiệp
Trong khi các cộng đồng làm nghề công nghiệp, thủ công nghiệp thu được lợi nhuận từ hoạt động sản xuất của mình thì các cộng đồng sản xuất nông nghiệp bị tác động của ô nhiễm môi trường làm cho năng suất cây trồng giảm, vật nuôi chết và mất đất sản xuất nông nghiệp
Dạng xung đột này xảy ra ở hầu hết các làng sản xuất gạch, ngói, gốm sứ, Song song với sự phát triển của làng nghề, diện tích dành cho hoạt động sản xuất của làng nghề ngày càng được mở rộng thì diện tích nông nghiệp lại càng ngày bị thu hẹp Xung đột xảy ra khi người sản xuất khai thác đất sét từ các ruộng lúa, rồi các loại phế phẩm từ gạch ngói, xỉ than lại bị thải bỏ xuống các ruộng đồng khiến cho ruộng sản xuất nông nghiệp trở thành bãi rác
- Xung đột giữa hoạt động sản xuất và mỹ quan, văn hoá
Việc thải bỏ CTR của làng nghề không đúng cách và tùy tiện dẫn đến mất mỹ quan, văn hóa Làng trống da Lâm Yên (Đại Lộc, Quảng Nam) với CTR như rẻo da thừa, lông, mỡ gây mùi hôi thối khó chịu cho dân trong làng [14]
1.1.3 Lý luận chung về quản lý CTR
1.1.3.1 Khái niệm về quản lý CTR
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về Quản lý CTR, Hoạt động quản lý CTR “Bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý CTR; đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR; phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người”
Mục đích của việc quản lý CTR là bảo vệ sức khỏe cộng đồng; bảo vệ môi trường; sử dụng tối đa nguồn phế liệu; tái chế và sử dụng tối đa rác hữu
cơ và giảm thiểu rác ở các bãi chôn lấp
Trang 241.1.3.2 Nguyên tắc quản lý CTR
Việc quản lý CTR phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
a) Tổ chức, cá nhân xả thải hoặc có hoạt động làm phát sinh CTR phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTR
b) Chất thải phải được phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế, tái
sử dụng, xử lý và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản xuất năng lượng
c) Ưu tiên sử dụng các công nghệ xử lý CTR khó phân huỷ, có khả năng giảm thiểu khối lượng chất thải được chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai
d) Nhà nước khuyến khích việc xã hội hoá công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý CTR
1.1.3.3 Yêu cầu của việc quản lý CTR
Thu gom và xử lý chất thải dưới bất cứ hình thức nào thì cũng phải đạt được hiệu quả Để có cơ sở đánh giá chất lượng, hiệu quả của hoạt động thu gom và xử lý chất thải chúng ta phải có những tiêu chí đánh giá
Về cơ bản, các tiêu chí đánh giá có thể được xem xét trên các khía cạnh sau đây:
+ Tiêu chí kỹ thuật: Được xác định trên cơ sở khối lượng chất thải
được thu gom chiếm tỷ lệ bao nhiêu % so với khối lượng chất thải phát sinh hàng ngày; Tỷ lệ phân loại chất thải tại nguồn, mức độ thu gom chất thải độc hại và khả năng đảm bảo về mặt kỹ thuật của quy trình thu gom chất thải trên địa bàn quản lý Thu gom và vận chuyển hết phế thải là yêu cầu đầu tiên, cơ bản của việc xử lý phế thải nhưng hiện nay còn là vấn đề khó khăn cần phải khắc phục Phải đảm bảo việc thu gom, xử lý có hiệu quả theo nguồn kinh phí nhỏ nhất mà lại thu được kết quả cao nhất Bảo đảm sức khoẻ cho đội ngũ công nhân trực tiếp tham gia vào quá trình thu gom và xử lý phế thải Đưa được các máy móc công nghệ, kỹ thuật và các trang thiết bị xử lý phế thải tiên tiến của Thế giới vào ứng dụng và sử dụng ở trong nước
Trang 25+ Tiêu chí về môi trường: Phải đảm bảo được yêu cầu hạn chế tối đa
lượng chất thải tồn đọng – nghĩa là phải thu gom và vận chuyển tối đa lượng chất thải phát sinh để xử lý kịp thời, có như vậy mới giảm và ngăn chặn được tình trạng bốc mùi gây ô nhiễm không khí và nguồn nước, hạn chế tối đa khả năng lây lan truyền bệnh qua nguồn rác thải … đảm bảo cảnh quan đô thị Đảm bảo tính toán được hiện tượng phát tác chất thải ra môi trường, hiện tượng xử lý không đạt tiêu chuẩn gây ô nhiễm lần hai
+ Tiêu chí về xã hội: Một trong những tiêu chí xã hội được quan tâm
hàng đầu là được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân trên địa bàn tổ chức thu gom và xử lý chất thải Làm sao thu hút được càng đông lực lượng đủ mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là sự tham gia của phụ nữ vào công tác thu gom và đảm bảo giải quyết lao động dư dôi trên địa bàn tham gia vào các quá trình thu gom và xử lý rác thải
+ Tiêu chí về mặt kinh tế tài chính: Đây là tiêu chí hết sức quan trọng
để đánh giá hoạt động thu gom và xử lý chất thải đạt hiệu quả hay không Cùng một kinh phí đầu tư như nhau mà phương thức thu gom, xử lý nào đạt hiệu quả thu gom tối đa nhất, đảm bảo vệ sinh môi trường nhất, thu hút được đông đảo lực lượng lao động xã hội tham gia một cách tự nguyện nhất và đạt quy trình kỹ thuật tốt nhất thì phương thức quản lý chất thải đó có hiệu quả nhất, do đó ảnh hưởng tốt nhất và kéo theo đó là mức độ thu phí đạt tỷ lệ cao nhất (tận thu được tối đa phí vệ sinh do dân và các doanh nghiệp đóng góp) Thu phí dựa theo nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải trả phí để khắc phục, cải thiện nó
+ Tiêu chí về thể chế trong việc thu gom chất thải: Tiêu chí này đánh
giá hiệu quả của sự phối hợp giữa các đơn vị làm công tác thu gom và xử lý phế thải với các tổ chức chính quyền và nhà nước trong việc quản lý chất thải trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động thu gom và xử lý chất thải Hay, những cơ chế ràng buộc, kìm hãm hoặc khuyến khích sự tham gia của các cá nhân, tổ chức khác trong hoạt động thu gom và xử lý chất thải
Trang 26+ Tiêu chí về con người: Đây là nhân tố rất quan trọng có tính quyết
định đến chất lượng của hoạt động quản lý nói chung và công tác quản lý chất thải nói riêng Vì vậy, quan tâm đến nhân tố con người là nền tảng của mọi thành công trong mọi lĩnh vực đòi hỏi phải đầu tư đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất và tư cách đạo đức tốt đồng thời tuyển chọn, đào tạo lực lượng lao động tiên tiến, kỹ thuật cao, có lòng yêu nghề Có như vậy mới tạo tiền đề và cơ sở để nâng cao
chất lượng hoạt động thu gom và xử lý chất thải
1.1.3.4 Quản lý kỹ thuật CTR
a) Hệ thống quản lý kỹ thuật CTR
Các hợp phần trong hệ thống quản lý kỹ thuật CTR được minh họa ở
Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Những hợp phần chức năng của một hệ thống quản lý CTR
(Nguồn: Nguyễn Danh Sơn, 2004)
Nguồn phát sinh
Phân loại, lưu giữ tại nguồn
Xử lý hợp vệ sinh
Thu gom
Tái chế Trung chuyển,
vận chuyển
Trang 27CTR (rác thải) từ nguồn phát sinh trước khi thu gom sẽ được chủ nguồn thải hoặc công nhân vệ sinh môi trường phân loại và lưu giữ tại nguồn Mục đích của giai đoạn này là phân loại được các loại rác thải nhằm thu hồi lại các thành phần có ích trong rác thải mà chúng ta có thể sử dụng được, hạn chế việc khai thác các tài nguyên sơ khai, giảm bớt khối lượng rác thải phải vận chuyển và xử lý
Những loại rác thải sau khi phân loại nếu không còn giá trị thu hồi thì
sẽ được thu gom lại vận chuyển đến nơi xử lý hợp vệ sinh
Với những loại rác thải vẫn còn có giá trị sử dụng thì sẽ được đưa vào
xử lý, tái chế Đây là một việc làm có ý nghĩa rất lớn tới kinh tế - xã hội và môi trường Tiếp tục quá trình này, những loại rác thải bị loại bỏ cuối cùng sẽ được đem đi xử lý hợp vệ sinh
Các giai đoạn trong hệ thống quản lý rác thải đòi hỏi phải được diễn ra liên tục và là một chu trình khép kín Có như vậy mới đảm bảo được tính hiệu quả trong công tác quản lý rác thải
b) Phân loại, lưu giữ CTR tại nguồn
Phân loại CTR tại nguồn bao gồm hoạt động nhặt, tập trung và phân loại CTR để lưu giữ, chế biến chất rắn trước khi được thu gom Trong phân loại, lưu giữ CTR tại nguồn các loại nhà ở và công trình phân loại dựa vào số tầng Ba loại thường được sử dụng nhất là:
Trang 28Bảng 1.4: Nguồn nhân lực và thiết bị hỗ trợ trong việc phân loại,
lưu giữ CTR tại nguồn
Nguồn Người chịu trách nhiệm Thiết bị hỗ trợ
Khu dân cư
Thấp tầng Dân thường trú, người
thuê nhà
Các vật chứa gia đình, thùng chứa lơn, xe đẩy rác nhỏ
Trung tầng Người thuê nhà, nhân
viên phục vụ, người coi nhà, nững người thu gom theo hợp đồng
Các máng đổ rác trọng lực, các băng chuyền chạy bằng khí nén, máy năng, xe thu gom
Cao tầng Người thuê nhà, nhân viên
phục vụ, người coi nhà
Các máng đổ rác trọng lực, các băng chuyền chạy bằng khí nén, máy năng, xe thu gom
Thương mại Nhân viên, người gác cổng Các xe thu gom có bánh lăn,
các thùng chứa, máy nâng, băng chuyền chạy bằng khí nén
Công nghiệp Nhân viên, người gác cổng Các xe thu gom có bánh lăn,
các thùng chứa, máy nâng, băng tải
Khu vực
ngoài trời
Người chủ khu vực, các nhân viên đô thị
Các thùng chứa có nắp che gay nắp đậy
Trang 29c) Thu gom CTR
* Một số khái niệm:
Thu gom chất thải là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà máy, các công sở, hộ gia đình hay từ những điểm thu gom khác, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển tiếp, trung chuyển hay chôn lấp
Dịch vụ thu gom rác thải thường có thể chia ra thành các dịch vụ” sơ cấp” và “ thứ cấp” Sự phân biệt này phản ánh yếu tố là ở nhiều khu vực, việc thu gom phải đi qua một quá trình hai giai đoạn: thu gom rác từ các nhà ở và thu gom rác tập trung về chỗ chứa trung gian rồi từ đó lại chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay bãi chôn lấp Giai đoạn thu gom sơ cấp ảnh hưởng trực tiếp đến người dân cũng như đối với mỹ quan đô thị và hiệu quả của các công đoạn sau đó
Thu gom sơ cấp (thu gom ban đầu) là cách mà theo đó rác thải được thu gom từ nguồn phát sinh ra nó( nhà ở hay những cơ sở thương mại) và chở đến các bãi chứa chung, các địa điểm hoặc bãi chuyển tiếp Thường thì các hệ thống thu gom sơ cấp ở các nước đang phát triển bao gồm những xe chở rác nhỏ, xe hai bánh kéo bằng tay để thu gom rác và chở đến các bãi chứa chung hay những điểm chuyển tiếp
Thu gom thứ cấp bao hàm không chỉ việc gom nhặt các CTR từ những nguồn khác nhau mà còn cả việc chuyên chở các chất thải đó tới địa điểm xử
lý Việc dỡ đổ các xe rác cũng được coi là một phần của hoạt động thu gom rác thứ cấp Như vậy thu gom thứ cấp là cách thu gom các loại CTR từ từ các điểm thu gom chung ( điểm cẩu rác) trước khi vận chuyển chúng theo từng phần hoặc cả tuyến thu gom đến một trạm chung chuyển, một cơ sở xử lý hay bãi chôn lấp bằng các loại phương tiện chuyên dụng có động cơ
Do vậy, thu gom sơ cấp sẽ được cần đến trong mọi hệ thống quản lý thu gom và vận chuyển, còn thu gom thứ cấp lại phụ thuộc vào các loại xe cộ thu gom được lựa chọn hay có thể có được và vào hệ thống và các phương tiện vận chuyển tại chỗ
Trang 30Khi thu gom rác thải từ các nhà ở hay công sở thường ít chi phí hơn so với việc quét dọn chúng từ đường phố đồng thời cần phải có những điểm chứa
ở những khoảng cách thuận tiện cho những người có rác và chúng cần được quy hoạch, thiết kế sao cho rác thải được đưa vào thùng chứa đựng đúng vị trí tạo điều kiện thuận lợi cho thu gom thứ cấp
* Các phương thức thu gom:
Thu gom định kỳ tại từng hộ gia đình: trong hệ thống này các xe thu gom chạy theo một quy trình đều đặn, theo tần suất đã được thoả thuận trước (2-3 lần/ tuần hay hàng ngày) Có nhiều cách áp dụng khác nhau nhưng điểm chung là mỗi gia đình được yêu cầu phải có thùng rác riêng trong nhà và mang đến cho người thu gom rác vào những địa điểm và thời điểm đã được qui định trước
Thu gom ven đường: trong một số trường hợp, chính quyền TP cung cấp những thùng rác đã được tiêu chuẩn hoá cho từng hộ gia đình Thùng rác này được đặc trước cửa nhà để công nhân vệ sinh thu gom lên xe rác Hệ thống thu gom này đòi hỏi phải thực hiện đều đặn và một thời gian biểu tương đối chính xác Nếu thùng rác không theo chuẩn thì sẽ có hiện tượng rác không
đổ được hết khỏi thùng (thí dụ như các loại giỏ, hộp carton…) Trong những điều kiện này, rác có thể bị gió thổi bay hay xúc vật làm vương vãi ra, do vậy làm cho quá trình thu gom chở thành kém hiệu quả Ở những nước có thu nhập thấp, hình thức thu gom bên lề đường không hoàn toàn phù hợp Một số vấn đề thường nảy sinh trong cách thu gom này, ví dụ những người nhặt rác
có thể sẽ đổ những thùng rác này ra để nhận trước, thùng rác có thể bị mất cắp, súc vật lật đổ hay bị vứt lại ở trên đương phố trong một thời gian dài
* Hệ thống thu gom và vận chuyển CTR
Hệ thống thu gom được chia thành 2 loại dựa theo kiểu vận hành gồm (1) hệ thống thùng di động, (2) hệ thống xe thùng cố định
- Hệ thống xe thung di động là hệ thống thu gom trong đó các thùng chứa đầy rác được chuyên chở đến bãi thải rồi đưa thùng không về vị trí tập kết rác ban đầu Hệ thống này phù hợp để vận chuyển CTR từ các nguồn tạo
Trang 31ra nhiều CTR, cũng có thể nhắt thùng rác đã đầy lên xe và thay bằng thùng rỗng tại điểm tập kết
- Hệ thống xe thùng cố định là hệ thu gom trong đó các thùng chứa đầy rác vẫn cố định đặc tại nơi tập kết rác, trừ một khoảng thơi gian rất ngắn nhất lên đổ rác vao xe thu gom (xe có thùng xung quanh làm thùng)
Những loại thùng chứa sử dụng cho các hệ thống thu gom khác nhau đƣợc trình bày ở Bảng 1.5
Bảng 1.5: Các loại thùng chứa sử dụng với các hệ thống thu gom khác nhau
- Thùng chứa đƣợc trang bị máy ép
- Hở kín phía trên có móc kéo
- Thùng kín có móc phía trên, trang bị máy ép
- Phía trên kín và bốc dỡ bên cạnh
-Thùng chứa đặc biệt để thu gom CTRSH
từ các nhà ở riêng lẻ
- Các thùng chứa nhỏ bằng nhựa dẻo hay kim loại mạ điện, các túi nhựa hay giấy có sẵn
6-12 12-50 15-40 20-40 15-40 20-40
1-8 0.23-0.45 (60-120gal) 0.08-0.21 (22-55gal)
(Nguồn: George Tchobanoglous, et al, Mc Graw-Hill Inc, 1993) [9]
Trang 32d) Xử lý CTR
Hiện nay trên thế giới, các nước đã có những quy trình công nghệ khác nhau để xử lý CTR đô thị Việc áp dụng công nghệ thích hợp cho mỗi nước tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế, tự nhiên và xã hội của các vùng đặc trưng thuộc quốc gia đó Mỗi công nghệ được áp dụng tuy có cùng mục đích là xử
lý CTR nhưng sẽ cho những hiệu quả khác nhau
* Xử lý CTR bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung thu gom vào nhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nylon, giấy, thủy tinh, plastic… đuợc thu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện với tỷ số nén rất cao
Các kiện rác đả ép nén này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn hoặc san lắp những vùng đất trũng sau khi được phủ lên lớp đất cát
Trên diện tích này, có thể sử dụng làm mặt bằng để xây dựng công viên, vườn hoa, các công trình xây dựng nhỏ và mục đích chính là làm giàm tối đa mặt bằng khu vực xử lý rác
* Ổn định CTR bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới, lần đầu tiên được áp dụng ở Hawai, Hoa
Kỳ tháng 02/1996 Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác thải đô thị thành các sản phẩm phục vụ xây dựng, làm vật liệu, năng lượng và sản phẩm nông nghiệp hữu ích
Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polyme hóa và sử dụng áp lực lớn để nén ép, định hình các sản phẩm
Công nghệ Hydromex có những ưu điểm như công nghệ tương đối đơn giản, chi phí đầu tư không lớn; xử lý được CTR và lỏng; trạm xử lý có thề di chuyển hoặc cố định; rác sau khi xử lý là bán thành phẩm hoặc là sản phẩm
Trang 33đem lai lợi ích kinh tế; có thể tái chế tận dụng lại chất thải, tiết kiệm diện tích đất làm bãi chôn lấp Tuy nhiên, công nghệ này chưa áp dụng rộng rãi trên thế giới nên chưa thể đánh giá hết được ưu khuyết điểm, các sản phẩm của Hydromex mới ở dạng trình diễn
- Giảm kích thước cơ học :
Giảm kích thước chất thải nhằm thu được chất thải có kích thước đồng nhất và nhỏ hơn so với kích thước ban đầu của chúng Cần lưu ý rằng giảm kích thước chất thải không có nghĩa là thể tích chất thải cũng giảm theo Trong một số trường hợp, thể tích chất thải sau khi giảm kích thước sẽ lớn hơn thể tích ban đầu của chúng
Trang 34* Xử lý hóa học
Các giải pháp xử lý hoá học thường được ứng dụng để xử lý CTR công nghiệp Các giải pháp xử lý hoá học hiện nay rất nhiều : oxy hoá, trung hoà, thuỷ phân, … chủ yếu để phá huỷ CTR hoặc làm giảm độc tính của các CTR nguy hại
Sử dụng vôi, kiềm làm giảm khả năng gây độc của các kim loại nặng
do tạo thành các hydroxit không hoà tan
Đối với các CTR tính axit có thể trung hoà bằng các chất kiềm và ngược lại
* Tái sử dụng/ Tái chế phế liệu
Tái chế hay tái sử dụng rác thải là một trong những lựa chọn hàng đầu của công việc quản lý CTR Những biện pháp này có thể giảm được việc thiếu diện tích đất dành cho bãi chôn lấp, tiết kiệm được năng lượng và tài nguyên thiên nhiên, cung cấp những sản phẩm hữu ích và đem lại các lợi ích về kinh tế
Ưu điểm chủ yếu của phương pháp này là: Loại trừ được 50% lượng rác sinh hoạt chứa chất hữu cơ là thành phần gây ô nhiễm môi trường; Sử dụng lại được 50% các chất hữu cơ có trong rác thải để chế biến phân bón theo hướng cân bằng sinh thái; Tiết kiệm đất sử dụng làm bãi chôn lấp, cải thiện điều kiện sống của cộng đồng; Vận hành đơn giản, dễ kiểm soát chất lượng sản phẩm, giá thành tương đối thấp Nhược điểm là: Mức tự động của
Trang 35công nghệ không cao; Việc phân loại chất thải vẫn phải bằng phương pháp thủ công nên dễ ảnh hưởng đến sức khoẻ người thực hiện; Nạp liệu thủ công nên năng suất thấp, pha trộn và đóng bao thủ công nên chất lượng không đều
* Đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại CTR nhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác Đây là giai đoạn ôxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của ôxy trong không khí, trong đó có rác thải nguy hại được chuyển thành khí và các CTR không cháy; các chất khí được làm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí còn CTR được chôn lấp
Xử lý rác bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu sử dụng công nghệ tiên tiến còn có ý nghĩa cao trong bảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử lý rác tốn kém nhất, so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí để đốt
1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần
Ưu điểm chủ yếu của phương pháp đốt: Xử lý triệt để các chỉ tiêu ô nhiễm của chất thải; Công nghệ này cho phép xử lý được toàn bộ chất thải đô thị
mà không cần nhiều diện tích đất làm bãi chôn lấp rác Nhược điểm chủ yếu là: Việc vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao; Giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao
* Chôn lấp
- Đổ rác thành đống hay bãi hở:
Đây là phương pháp xử lý cổ điển đã được con người áp dụng từ rất lâu đời Ngay cả trong thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại cách đây 500 năm trước công nguyên, người ta đã biết đổ rác bên ngoài tường các thành luỹ – lâu đài
và dưới hướng gió Cho đến nay phương pháp này vẫn được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những nhược điểm sau đây :
Trang 36+ Tạo cảnh quan khó coi, gây sự khó chịu cho mọi người khi nhìn chúng + Là môi trường thuận lợi cho các loài động vật gặm nhấm, các loại côn trùng, vi trùng gây bệnh sinh sôi nảy nở gây nguy hiểm đến sức khoẻ con người
+ Gây ô nhiễm môi trường nước và không khí
Là phương pháp xử lý rác đô thị rẻ tiền nhất, chỉ tốn chi phí cho công việc thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác, tuy nhiên chôn lấp rác đòi hỏi diện tích bãi thải lớn, không phù hợp cho những TP đông dân, quỹ đất khan hiếm
- Bãi chôn lấp hợp vệ sinh:
Phương pháp này được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng trong quá trình xử lý rác thải Như ở Hoa Kỳ có trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý bằng phương pháp này, và ở nhiều nước khác như Anh, Nhật Bản, … Đây là phương pháp xử lý rác thích hợp nhất trong điều kiện khó khăn về vốn đầu tư nhưng lại có mặt bằng rộng lớn và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường là thấp nhất
Trong bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, bên dưới thành đáy được phủ lớp chống thấm có lắp đặt hệ thống ống thu nước rò rỉ và hệ thống thu khí thải từ bãi rác Nước rò rỉ sẽ được thu gom và xử lý để đạt tiêu chuẩn quy định
Bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh hoạt động bằng cách : mỗi ngày trải một lớp mỏng rác, sau đó nén ép chúng lại, bằng các loại xe cơ giới, tiếp tục trải một lớp đất mỏng độ 25cm Công việc này cứ tiếp tục đến khi nào bãi rác đầy
Có thể nói rằng việc thực hiện bãi chôn lấp hợp vệ sinh có nhiều ưu điểm :
Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các loại côn trùng, gặm nhấm gây bệnh khó có thể sinh sôi nảy nở
Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngoài
ra giảm thiểu được mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường không khí
Góp phần làm giảm nạn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt
Trang 37 Các bãi chôn lấp khi được phủ đầy, chúng ta có thể xây dựng các công trình văn hoá – giáo dục, làm nơi sinh sống và phát triển các loại động thực vật, qua đó góp phần tăng cường tính đa dạng sinh học cho các đô thị
Chi phí điều hành các hoạt động của bãi chôn lấp không quá cao Tuy nhiên, việc hình thành các bãi chôn lấp hợp vệ sinh cũng có một số nhược điểm :
Các bãi chôn lấp đòi hỏi diện tích đất lớn, một TP đông dân có khối lượng rác thải càng nhiều thì diện tích bãi càng lớn Người ta ước tính một TP có quy mô 10.000 dân thì một năm phải thải ra một lượng rác có thể lấp đầy diện tích 1 ha với chiều sâu là 10feet(khoảng 3m)
Các lớp đất phủ ở các bãi chôn lấp thường hay bị gió thổi mòn và phát tán đi xa
Các bãi chôn lấp thường tạo ra khí Methane hoặc khí Hydrogen sulfide độc hại có khả năng gây cháy nổ hay gây gạt Tuy nhiên người ta có thể thu hồi khí Methane có thể đốt và cung cấp nhiệt cho 10.000 ngôi nhà/năm
1.1.3.5 Quản lý nhà nước đối với CTR ở Việt Nam
a) Hệ thống tổ chức và phân công trách nhiệm
- Ở Trung ương:
Ở cấp Trung ương, đã có sự phân công chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm đối với các bộ, ngành có liên quan đến công tác quản lý CTR Trong
đó, có 5 Bộ có trách nhiệm trực tiếp tham gia công tác quản lý CTR bao gồm:
Bộ Xây dựng, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ TN&MT
Bộ Xây dựng có trách nhiệm quy hoạch quản lý CTR cấp vùng, liên tỉnh, liên đô thị, vùng kinh tế trọng điểm; chủ trì phối hợp với các bộ, ngành khác trong việc xử lý CTR tại đô thị, khu sản xuất dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, làng nghề và khu dân cư nông thôn
Trang 38Bộ Công thương có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT và các quy định khác có liên quan đối với lĩnh vực công nghiệp (trong đó bao gồm cả vấn đề về CTR công nghiệp); thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, hoạt động khuyến công, khu - cụm - điểm công nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở các địa phương
Bộ Y tế có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý chất thải y tế Trách nhiệm của Bộ về quản lý chất thải chủ yếu là đánh giá tác động CTR đối với sức khoẻ con người, thanh tra, giám sát hoạt động xử lý chất thải bệnh viện
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT và các quy định có liên quan tới chất thải nông nghiệp; xây dựng và thực hiện các chương trình,
kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTR cho các điểm dân cư nông thôn và làng nghề
Bộ TN&MT là cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý và bảo vệ môi trường nói chung, chịu trách nhiệm chính quản lý CTNH và phối hợp với các
Bộ khác ban hành hướng dẫn, quy định, quy chuẩn về quản lý chất thải, xây dựng kế hoạch quản lý chất thải hàng năm và dài hạn, xây dựng chính sách và chiến lược, kế hoạch và phân bổ ngân sách nghiên cứu và phát triển cho các
dự án xử lý chất thải và phê duyệt báo cáo ĐTM
Các Bộ, ngành khác có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ trong công tác đầu
tư tài chính, xây dựng các cơ chế ưu đãi về kinh tế để thúc đẩy hoạt động quản phổ cập về quản lý chất thải (Bộ Thông tin và Truyền thông) hay phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức thẩm định công nghệ xử lý CTR mới được triển khai (Bộ Khoa học và Công nghệ)
Ngoài ra, các bộ quản lý chuyên ngành còn có trách nhiệm xây dựng định hướng xã hội hóa công tác quản lý CTR, hướng dẫn các tiêu chí về quy mô
tổ chức, tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động của các cơ sở thực hiện xã hội hóa
Trang 39Sở TN&MT: có vai trò quan trọng trong quản lý chất thải, về giám sát chất lượng môi trường, quản lý và thực hiện các chính sách và quy định về quản lý chất thải do Bộ TN&MT, UBND cấp tỉnh ban hành; phê duyệt báo cáo ĐTM cho các dự án xử lý chất thải; phối hợp với Sở Xây dựng xem xét
và lựa chọn các bãi chôn lấp rác thải, sau đó đề xuất với UBND tỉnh phê duyệt bãi chôn lấp phù hợp nhất Tuy nhiên, vai trò của Sở Xây dựng và Sở TN&MT trong quản lý CTR phụ thuộc vào tính chất và tổ chức của từng tỉnh, thành và giữa chúng có thể có khác biệt
Công ty Môi trường đô thị (URENCO): Ngoài các đơn vị quản lý nhà nước mang tính hành chính nói trên, Công ty môi trường đô thị là đơn vị dịch
vụ công của nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải ở tỉnh hoặc TP Và cũng tùy thuộc theo từng địa phương, URENCO có thể trực thuộc UBND tỉnh, UBND TP, Sở Xây dựng hoặc Sở TN&MT Điển hình như Hà Nội, Hải Phòng và Thừa Thiên - Huế, URENCO trực thuộc sự quản lý của Sở Xây dựng; tại Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, URENCO lại trực thuộc quyền quản lý của UBND TP,
Sở TN&MT quản lý theo ngành dọc về mặt chuyên môn
b) Nội dung quản lý nhà nước về CTR
Trang 40- Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về hoạt động quản lý CTR, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý CTR và hướng dẫn thực hiện các văn bản này
- Ban hành quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hoạt động quản lý CTR
- Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý CTR
- Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý CTR
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý CTR
c) Một số văn bản chính sách liên quan đến quản lý CTR
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
- Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính Phủ về việc quản lý CTR;
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với CTR;
- Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường
- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14//01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 81/2007/NĐ-CP7 ngày 23/05/2007 của Chính phủ về quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp