1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo thực tập: Thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam trong thời gian qua

64 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 424,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian thực tập tại Phòng Dịch Vụ, Cục Đầu tư nước ngoàithuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư, qua tham khảo và nghiên cứu tài liệu về lĩnhvực quảng cáo ở Việt Nam thời gian qua, em nhận th

Trang 1

Lời mở đầu

Hoạt động quảng cáo đã xuất hiện từ lâu trong đời sống kinh tế- xãhội của nhiều nước trên thế giới và phát triển theo nhịp độ của sự phát triểnkinh tế thị trường Ngày nay, quảng cáo đã trở thành một động lực quantrọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của hầu hết các nước trên thếgiới

Ở Việt Nam, quảng cáo hình thành và phát triển đồng thời với côngcuộc đổi mới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đãđóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Kể từ khi pháplện quảng cáo ra đời (30/11/2001), hoạt động quảng cáo đã có những chuyểnbiến rõ rệt và đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, bên cạnhnhững thành tựu đạt được, ngành quảng cáo của Việt Nam vẫn kém pháttriển, chưa tương xứng với tiềm năng và còn thua kém nhiều so với cácnước trong khu vực và trên thế giới Một trong những nguyên nhân chính là

do chóng ta thiếu vốn, công nghệ và một đội ngũ lao động chuyên nghiệp và

có kinh nghiệm

Trong thời gian thực tập tại Phòng Dịch Vụ, Cục Đầu tư nước ngoàithuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư, qua tham khảo và nghiên cứu tài liệu về lĩnhvực quảng cáo ở Việt Nam thời gian qua, em nhận thấy nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này đã góp phần không nhỏ vào sự tiến bộ

và phát triển của ngành quảng cáo nước nhà Tuy nhiên, quảng cáo là ngànhđược Nhà nước bảo hộ vì đây là một ngành công nghiệp dịch vụ non trẻ ởnước ta, nên trong thời gian qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàivào lĩnh vực này còn hạn chế Thời gian tới, khi Việt Nam gia nhập WTO,chóng ta sẽ dần phải dỡ bỏ sự bảo hộ này Xuất phát từ thực tiễn đó, emquyết định viết đề tài này với mục đích đưa ra một số giải pháp nhằm tăngcường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo ở nước tatrong giai đoạn 2006- 2010

Trang 2

Kết cấu đề tài của em gồm 3 phần chính:

Chương1.Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

vào lĩnh vưc quảng cáo ở nước ta.

Chương 2 Thực trạng thu hót FDI vào lĩnh vực quảng cáo ở Việt

Nam trong thời gian qua.

Chương 3 Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài

vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010.

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đÕn cô giáo Nguyễn Thị MinhTâm và chuyên viên Đỗ Văn Sử, phòng dịch vụ- Cục Đầu tư nước ngoài- Bộ

Kế hoạch và Đầu tư đã hướng dẫn và giúp em tận tình trong suốt quá trìnhlàm chuyên đề

Trang 3

Chương 1

Tổng quan về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1 Tổng quan về hoạt động đầu tư nước

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ).

Trong suốt 20 năm qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng

có vai trò quan trong trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia Hiệnnay FDI đã được công nhận một cách rộng rãi rằng nó có thể đem lại nhữnglợi thế quan trọng cho các nền kinh tế tiếp nhận nó Vì vậy, có rất nhiều cáchđịnh nghĩa về FDI, tuỳ theo góc độ tiếp cận của các nhà kinh tế

Theo UNCTAD: “FDI là sự đầu tư với một quan hệ dài hạn, phản ánhlợi Ých và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể thường trú trong một nềnkinh tế khác không phải là nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp chi nhánhhoặc cơ sở chi nhánh ở nước ngoài)”(-UNCTAD(2001):Báo cáo đầu tư thếgiới, Newyork và Geneva 2001, trang 291)

Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF):” FDI là một loại hìnhđầu tư quốc tế trong đó một tổ chức cư trú tại một nền kinh tế thu được lợiÝch lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Lợi Ých lâudài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời gian dài của một mối quan hệ giữa nhàđầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu

tư đối với doanh nghiệp này”

Theo điều 2, luật đầu tư nước ngoài năm 1996:” Đầu tư trực tiếp nướcngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiềnhoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định củaluật này”

1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Quá trình thu hút và quản lý vốn FDI trên thực tế diễn ra rất đa dạng,phức tạp và không ngừng biến đổi Nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợicho các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư, cũng như tạo điều kiện chocác nhà quản lý trong nước thực hiện tốt chức năng của mình, luật đầu tưnước ngoài đã quy định những hình thức dưới đây các nhà đầu tư nướcngoài được phép đầu tư vào Việt Nam:

Trang 4

1.1.2.1 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “Doanh nghiệp 100% vốnđầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100%vốn tại Việt Nam”

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hìnhthức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam

Vốn pháp định của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Ýt nhất phảibằng 30% vốn đầu tư Đối với những dự án xây dựng công trình kết cấu hạtầng, những dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồngrừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20%vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận Nhà đầu

tư nước ngoài tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, và

có thể thành lập Hội đồng quản trị phù hợp với điều lệ của doanh nghiệp.Người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp này là tổng giám đốc,trừ trường hợp điều lệ doanh nghiệp quy định khác

1.1.2.2 Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

“Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặcnhiều bên để tiến hành hoạt động đầu tư mà không thành lập pháp nhân”.(Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.)

Theo nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000, quy địnhchi tiết thi hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, những ngành nghề chỉđược phép thực hiện đầu tư nước ngoài theo hình thức hợp đồng hợp táckinh doanh là: xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thôngnội hạt

1.1.2.3 Doanh nghiệp liên doanh.

1.1.2.3.1 Khái niệm

“Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bênhợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp động liên doanh hoặc hiệpđịnh ký giữa chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và chính phủ nước ngoàihoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác vớidoanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhàđầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh” (Luật đầu tư nước ngoàitại Việt Nam năm 1996)

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập dưới hình thức công tyTNHH, mang tư cách pháp nhân Việt Nam Mỗi bên liên doanh chịu trách

Trang 5

nhiệm trong phạm vi vốn cam kết góp vốn vào vốn pháp định của doanhnghiệp Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh Ýt nhất phải bằng 30%vốn đầu tư, đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu

tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn

tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không quá 20% vốn đầu tư được cơ quancấp giấy phép đầu tư chấp thuận

Doanh nghiệp liên doanh thành lập hội đồng quản trị để lãnh đạo công

ty với nhiệm kỳ không quá 5 năm Các bên cử người của mình tham gia hộiđồng quản trị ứng vời phần vốn góp trong vốn pháp định Tổng giám đốc làngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, trừ trường hợp điều lệdoanh nghiệp có quy định khác Tổng giám đốc hoặc phó tổng giám đốc thứnhất do bên liên doanh Việt Nam đề cử và phải là công dân Việt Namthường trú trên lãnh thổ Việt Nam

Lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp được phân chia theo tỷ lệ gópvốn trong phần vốn pháp định Doanh nghiệp liên doanh không được giảmvốn trong quá trình liên doanh, nếu tăng vốn phải làm bản giải trình lên Bộ

Kế hoạch và Đầu tư để xem xét giải quyết

1.1.2.3.2 Những thuận lợi và khó khăn khi thành lập doanh nghiệp liên doanh.

 Các doanh nghiệp liên doanh khi thành lập sẽ có những thuận lợi, đó là:Không bị hạn chế về lĩnh vực đầu tư, và được phép chuyển nhượngvốn sau khi đăng ký việc chuyển nhượng với cơ quan cấp giấy phép đầu tư

Các doanh nghiệp liên doanh thường dễ tìm địa điểm để xây dựng nhàxưởng do bên đối tác Việt Nam thường góp vốn bằng quyền sử dụng đất.Đồng thời bên Việt Nam hỗ trợ doanh nghiệp liên doanh trong việc tuyểndông lao động, tìm kiếm các nguồn nguyên liệu trong nước để cung cấp chodoanh nghiệp cũng như tìm thị trường tiêu thụ trong nước, còn bên nướcngoài có thể chủ động hơn trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh,

áp dụng và phát huy các công nghệ mới, các kinh nghiệm quản lý của mìnhtại Việt Nam

Và một ưu điểm của hình thức đầu tư này được các chủ đầu tư nướcngoài quan tâm đó là, rủi ro được chia sẻ giữa bên Việt Nam và bên nướcngoài

 Khi thành lập các doanh nghiệp liên doanh cũng gặp một số vấn đềkhó khăn, tồn tại, đó là:

Trang 6

Khả năng góp vốn bằng tiền mặt và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đạicủa bên Việt Nam rất hạn chế, điều này dẫn đến một số thiệt thòi cho bênViệt Nam trong việc đưa ra các quyết định quản lý điều hành hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp cũng như trong việc hưởng lợi nhuận.

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp liên doanh rủi ro cao, thuhồi vốn chậm Trong thực tế nhiều doanh nghiệp liên doanh kinh doanh thua

lỗ trong một thời gian dài, dẫn đến bên Việt Nam không chịu đựng đượcđành rút lui khỏi liên doanh, gây ra nhiều vấn đề bất cập sau đó

1.1.2.4.Các phương thức B.O.T - B.T.O - B.T.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, những phương thức nàykhông phải là các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài mà là các cách thứcthực hiện các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực kinhdoanh thích hợp mà chủ yếu là trong việc hiện đại hoá cơ sở hạ tầng của nềnkinh tế

1.1,2.4.1 Khái niệm.

Theo luật đầu tư nước ngoài năm 1996 của Việt Nam :

 “ Hợp đồng xây dựng-chuyển giao ( Build-Operatate-Transfer, B.O.T ) là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của ViệtNam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu

hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoàichuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam”

 “Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh ( Operatate, B.T.O) là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyềncủa Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạtầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình

Build-Transfer-đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tưquyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốnđầu tư và lợi nhuận hợp lý”

 “Hợp đồng xây dựng-chuyển giao ( Build-Transfer, B.T ) là vănbản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu

tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựngxong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước ViệtNam, Chính phủ Việt Nam tạo điệu kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thựchiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý”

Trang 7

1.1.2.4.2 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các phương thức đầu tư này.

 Khi đầu tư vào Việt Nam dưới các phương thức này, nhà đầu tưnước ngoài sẽ được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ Việt Nam về tiềnthuê đất, thuế, thời gian đầu tư, đồng thời nhà đầu tư nước ngoài cũng đượctạo điều kiện để thu hồi vốn nhanh và có lãi hợp lý

 Tuy nhiên nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vao Việt Nam dướinhững hình thức này thì cũng gặp những khó khăn, đó là: Nhà đầu tư nướcngoài chỉ được ký kết hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền củaViệt Nam để xây dựng các công trình hạ tầng của Việt Nam như đường, cầu,cảng, các công trình điện nước,… mà họ không được tự do lựa chọn đối tácđầu tư cũng như các ngành nghề

1.1.2.5 Khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao.

Theo luật ĐTNN tại Việt Nam, các khu công nghiệp, khu chế xuất vàkhu công nghệ cao không được coi là các hình thức đầu tư mà chúng chỉ cóthể được coi như những khu vực thu hút đầu tư nước ngoài Thực chất đây lànhững khu vực địa lý có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng và được hưởngcác ưu đãi về cơ chế, chính sách nhằm mục đích thu hút các nhà đầu ĐTNN

bỏ vốn vào thành lập các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực đó, sản xuấthàng hoá đế tiêu thụ ở thị trường trong nước cũng như nhằm xuất khẩu

Các quy định pháp lý của các hình thức này được nêu trong quy chếkhu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao, được ban hành theonghị định 36/CP của chính phủ vào ngày 24/4/1997

Tóm lại mỗi hình thức đầu tư ( liên doanh, 100% vốn nước ngoài, hợpđồng hợp tác liên doanh,… ) tuy có vị trí, đặc thù riêng, nhưng đều nằmtrong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch ngành và lãnh thổ,quy hoạch các sản phẩm quan trọng, và đó góp phần quan trọng trong tiếntrình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Do đó, ngoài các dự án khôngcấp phép đầu tư, các dự án do yêu cầu an ninh, quốc phòng, giữ gìn bản sắcdân tộc về văn hóa, thuần phong, mỹ tục và những dự án quốc kế dân sinhquan trọng, cần mở rộng danh mục các dự án cho phép nhà ĐTNN được chủđộng lựa chọn hình thức đầu tư xuất phát từ hiệu quả sản xuất kinh doanh.Đồng thời cần có những chính sách và tạo điều kiện cho các doanh nghiệpngoài quốc doanh liên doanh với nước ngoài Đa dạng hơn nữa hình thứcđầu tư để khai thác thêm kênh đầu tư mới như cho phép thành lập công ty cổ

Trang 8

phần có vốn ĐTNN, công ty hợp danh, ĐTNN theo hình thức mua lại và sápnhập ( M&A )… Do đó nền kinh tế sẽ ngày càng thu hút được nhiều hơn cácnguồn lực để phát triển đất nước.

1.1.3.Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hót FDI.

FDI là một hình thức vô cùng quan trọng góp phần phát triển kinh tếđất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Có rất nhiều yếu tố ảnhhưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến việc thu hót FDI của một quốc giatrong đó quan trọng nhất là các yếu tố dưới đây:

1.1.3.1 Thâm nhập thị trường.

Hỗu hết các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá thâm nhập thị trường nhưmột trong những nhân tố quan trọng nhất để mở rộng ra nước ngoài và quyếtđịnh địa bàn đầu tư Dân số, chất lượng hạ tầng giao thông và cơ sở hạ tầng,chính sách bảo hộ của một quốc gia, cũng như chính sách về xuất nhập khẩu

là những yếu tố quan trọng để nhà đầu tư nước ngoài quyết định thâm nhậpđầu tư ra nước ngoài Tóm lại,tính cạnh tranh về khía cạnh thâm nhập thịtrường vào một quốc gia được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá thôngqua quy mô thị trường và chi phí thâm nhập thị trường

Theo kết quả điều tra, về khía cạnh “thâm nhập thị trường”, Việt Namđược đánh giá kém hấp dẫn hơn ASEAN4 và Trung Quốc vì Việt Nam cóquy mô thị trường trong nước hẹp và chi phí thâm nhập thị trường khu vựccao

1.1.3.2.Chi phí kinh doanh.

Chi phí kinh doanh là một trong các yếu tố quan trọng được các nhàđầu tư nước ngoài quan tâm Chi phí kinh doanh bao gồm: chi phí viễnthông; chi phí vận tải; chi phí về lao động; chi phí điện, nước; chi phí thuêđất, văn phòng… Nừu một nước có chi phí kinh doanh thấp là địa điểm hấpdẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và ngược lại

Hầu hết các nhà ĐTNN đều chỉ ra rằng chi phí kinh doanh cao làđiểm bất lợi chính của Việt Nam Phân tích các chi phí tại Việt Nam đượcthực hiện trước đây cho thấy chi phí đầu tư và chi phí kinh doanh tại ViệtNam là tương đối cao so với ASEAN4 và Trung Quốc Theo kết quả điều tracác nhà ĐTNN, mặc dầu hệ thống hai giá không ảnh hưởng nhiều đến chiphí kinh doanh nhưng nó tạo ra Ên tượng đối xử không nhất quán (sự phânbiệt) đối với các ĐTNN Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trườngkinh doanh tại Việt Nam Ngoài ra, việc thiếu nguyên vật liệu, công nghiệp

Trang 9

hỗ trợ và hệ thống thuế nhập khẩu không hấp dẫn cũng được nhìn nhận làcác điểm yếu khác của Việt Nam, đông thời tạo ra chi phí kinh doanh cao.

Chi phí kinh doanh Việt Nam ,Trung Quôc, Thái lan, Philippin :

Chi phí và các nhân tố liên

quan đến kinh doanh

Việt Nam Trung

Quốc

Thái lan

Chất lượng lao động (không

Chi phí/chất lượng thuê

(tiền thuê đất trong KCN và

Nguồn: Ngân hàng thế giới.

1.1.3.3.Môi trường chính trị và xã hội.

Ổn định chính trị và xã hội là lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.Yếu tố này được thể hiện thông qua các khía cạnh như: chiến tranh, mâuthuẫn sắc téc, an ninh trật tự xã hội… Đây là yếu tố giúp nhà đầu tư nướcngoài thấy yên tâm khi chọn địa điểm đầu tư

Sau sự kiện 11/9 Việt Nam đã được tổ chức rủi ro kinh tế và chính trị(PERC) tại Hồng Kông xếp ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị

và xã hội So với các nước ASEAN4 và Trung Quốc, Việt Nam có Ýt vấn đề

Trang 10

liên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc hơn Sau khi đưa ra các chínhsách “đổi mới”, Việt Nam đã và đang được mức tăng trưởng GDP ổn định.

Sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang được duy trì và Việt Nam đượcđánh giá là nơi an toàn để đầu tư

1.1.3.4.Luật pháp.

Trước khi ra quyết định chọn địa điểm đầu tư, các nhà đầu tư nướcngoài luôn tìm hiểu trước các yếu tố luật pháp ở quốc gia sở tại Do vậy, đâycũng là yếu tố thể hiện tính cạnh tranh của môi trường đầu tư ở một quốcgia

Theo kết quả khảo sát, Việt Nam là nước mà các nhà đầu tư nướcngoài phải đối mặt với khá nhiều vấn đề trong kinh doanh hơn các nướckhác trong khu vực, như: kết quả của việc thiếu tính đồng bộ, không chắcchắn, thống nhất trong hệ thống thuế và pháp luật Mặc dù Việt Nam đã rất

nỗ lực trong quá trình cải thiện khung pháp lý của mình nhưng vẫn tồn tạinhiều khiếm khuyết

1.1.3.5.Cơ sở hạ tầng và các tiện Ých.

Những cơ sở hạ tầng và các tiện Ých được các nhà đầu tư nước ngoàiquan tâm đó là: hạ tầng giao thông vận tải (đường bộ, đường thủy…), mạnglưới viễn thông, điện, nước… Chất lượng và độ tin cậy của cơ sở hạ tầng vàcác tiện Ých là yếu tố thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài

Ở Việt Nam, chất lượng và độ tin cậy của cơ sở hạ tầng và các tiệnÝch thấp hơn tiêu chuẩn Mặc dù cải thiện mạnh mẽ trong hơn 10 năm quanhưng khả năng sẵn có và chất lượng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam vẫn dướimức trung bình trong khu vực và ASEAN4 Hơn hai phần ba các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải dung đường bộ để vận tải hàng hoácủa mình Cho đến nay, đầu tư vào cơ sở hạ tầng chủ yếu dựa vào ngân sáchnhà nước, bao gồm viện trợ ODA và các khoản vay ưu đãi Sự tham gia củakhối tư nhân vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn còn hạn chế và chủ yểutheo hình thức xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (trong lĩnh vực cung cấpđiện năng và nước) và hợp đồng hợp tác kinh doanh (trong ngành viễnthông) Quản lý và kinh doanh cơ sở hạ tầng tập trung vào một số Ýt cáctổng công ty nhà nước Điều này dẫn đến thiếu tính cạnh tranh, hoạt độngkinh doanh không hiệu quả Vì vậy trong tương lai, chóng ta cần khuyếnkhích sự tham gia của khối tư nhân trong cung cấp dịch vụ tiện Ých và cơ sở

Trang 11

hạ tầng, như vậy sẽ làm tăng chất lượng và giảm chi phí mà chúng là cácnhân tố chủ chốt thu hót FDI vào Việt Nam.

1.1.3.6 Thị trường lao động.

Tính cạnh tranh của thị trường lao động một quốc gia được thể hiện ởchi phí lao động và chất lượng lao động, bao gồm cả lao động phổ thông vàlao động chất lượng cao

Việt Nam là một quốc gia cã một lực lượng lao động hơn 40 triệungười, hang năm tăng thêm từ 1,1 đến 1,2 triệu người Chi phí lao độngtương đối thấp so với các nước khác trong khu vực Đây là điểm lợi thế củaViệt Nam Tuy nhiên, lực lượng nhân công qua đào tạo của Việt Nam lạitương đối thấp, chỉ gần 12% lực lượng nhân công Việt Nam được qua đàotạo Lực lượng nhân công không có chuyên môn kỹ thuật thì dư thừa trongkhi đó lại thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật Và việc yêu cầu cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải tuyển dụng lao động trongnước thông qua các cơ quan tuyển dụng được phép đã hạn chế tính linh hoạtcủa thị trường lao động của Việt Nam

Tóm lại, mặc dầu Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về đội ngũ nhâncông rẻ và trẻ nhưng chất lượng nhân công lao động vẫn thấp Tình trạngnày làm giảm tính cạnh tranh của Việt Nam trong các ngành công nghệ cao

1.1.3.7 Tham nhòng.

Bằng chứng có tính thực tiễn cho thấy rằng nạn tham nhũng thườngxuyên xảy ra và không thể lường trước được không những gây tổn hại đếnnền kinh tế của một quốc gia mà còn gây tổn hại đến quá trình đầu tư, gâytâm lý e ngại cho nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư ở một quốcgia

Theo kết quả điều tra về tham nhũng năm 1999 do tổ chức minh bạchQuốc tiến hành, Việt Nam có chỉ số 2,6 và xếp thứ 75 trong tổng số 99 nướcđược khảo sát (chỉ số tham nhòng do tổ chức này áp dụng chạy từ 10-“mức

độ trong sạch cao” đến 0-“mức độ tham nhòng cao”).Đến năm 2002, ViệtNam có chỉ số thấp ở mức 2,4 Những con số này đã cho thấy nạn thamnhũng ở Việt Nam được nhìn nhận là tăng trong vài năm qua Chính phủViệt Nam nhận thức được vấn đề tham nhũng và tác hại của nạn tham nhũnggây ra cho nền kinh tế quốc dân, do vậy đã ban hành nhiều biện pháp đểkhắc phục tình trạng này Tuy nhiên, nạn tham nhũng vẫn là một vấn đề

Trang 12

được bàn đến của Việt Nam và tiếp tục trở thành nhân tố không khuyếnkhích FDI vào Việt Nam

1.1.3.8 Khả năng sẵn có của các nhà cung cấp ở các nước nhận đầu tư về linh kiện và nguyên vật liệu.

Khi ra quyết định chọn địa điểm cũng như ngành nghề đầu tư, mộtyếu tè mà các nhà đầu tư nước ngoài rất chú ý đó là khả năng cung cấp linhkiện và nguyên vật liệu ở nước nhận đầu tư Nếu quốc gia nào có các nhàcung cấp linh kiện cũng như các nguyên vật liệu dồi dào với chi phí thấp, thì

sẽ có tính cạnh tranh cao trong việc thu hót FDI và ngược lại

Do ngành công nghiệp ở Việt Nam chưa phát triển, việc sử dụng linhkiện và nguyên vật liệu trong nước còn hạn chế Do chi phí nguyên vật liệutrong ngành sản xuất là nhân tố lớn nhất trong cấu thành chi phí, tình trạngkhông sẵn có các linh kiện và nguyên vật liệu trong nước dẫn đến chi phísản xuất cao và giảm lợi thế cạnh tranh của Việt Nam Ngoài ra, Việt Nam

có hệ thống thuế nhập khẩu bất hợp lý cũng góp phần làm cho chi phí linhkiện và nguyên vật liệu cao Theo kết quả điều tra, việc thiếu công nghiệp

hỗ trợ và nhà cung cấp trong nước là một trong những nguyên nhân chínhlàm số lượng lớn các nhà đầu tư tiềm năng không chọn đặt các cơ sở của họ

ở Việt Nam Thiếu các nhà cung cấp linh kiện và nguyên vật liệu trong nướclàm giảm lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các nước ASEAN4 vàTrung Quốc Tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn đối với Việt Nam khiViệt Nam cam kết đầy đủ theo AFTA vào năm 2005, như vậy Việt Namphải giảm thuế suất nhập khẩu xuống dưới 20% đối với 80% hàng hoá Do

đó, không có lợi về mặt kinh tế cho các nhà đầu tư nước ngoài thành lập các

cơ sở sản xuất ở Việt Nam

Tóm lại, tất cả các yếu tố trên đều góp phần quan trọng vào việc thuhót FDI của một quốc gia, do vậy nhằm tăng tính cạnh tranh trong việc thuhut FDI các nước cần phải có những chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy tínhcạnh tranh cho các yếu tố trên

1.1.4 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia đang phát triển.

Khủng hoảng nợ những năm 80 của thế kỉ XX khiến cho các nướcđang phát triển rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, để thoát khỏi tìnhtrạng đó các nước này đã thực hiện một loạt các biện pháp như: cải cáchkinh tế theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường, áp dụng chiến lược

Trang 13

công nghiệp hoá vào xuất khẩu… Nhưng do khủng hoảng nợ chồng chất,các nước đang phát triển không thể tiếp tục vay thêm từ các tổ chức quốc tế,

vì vậy họ phải nhìn vào nguồn vốn FDI Thực tế đã chứng minh đây là nhân

tố quan trọng để các nước đang phát triển thoát khỏi nợ nần và từng bướccông nghiệp hoá đất nước Nguồn vốn đầu tư trực tiếp này đã có vai tròquan trọng đối với các nước đang phát triển, cụ thể là:

1.1.4.1 FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu qủa các nguồn lực trong nước.

Hầu hết các nước đang phát triển đều thiếu vốn để công nghiệp hoá vàhiện đại hoá đất nước và nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng thúc đẩyquá trình này Đây là đồng vốn do nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý,

sử dụng và tự chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh của mình, vìvậy thông qua việc sử dụng nguồn vốn FDI, nhiều nguồn lực trong nước(lao động, đất đai, tài nguyên… ) được khai thác và đưa vào sử dụng tươngđối hiệu quả

1.1.4.2 Góp phần chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển.

Khi các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu hút vào các nướcđang phát triển, nhiều công nghệ mới, hiện đại đã du nhập vào các nước nàytrong tất cả các lĩnh vực: viễn thông, hoá chất, điện tử, tin học… đã gópphần nâng cao năng lực công nghệ của nền kinh tế, giải quyết những khókhăn mà các nước đang phát triển mắc phải như không đủ khả năng tàichính mua sắm trang thiết bị hiện đại, không đủ trình độ quản lý các thiết bịđó… Nhìn chung, trang thiết bị của khu vực FDI là trang thiết bị đồng bộ,thuộc loại phổ cập ở các nước trong khu vực Vấn đề bảo vệ môi trườngcũng được các doanh nghiệp FDI quan tâm Chính điều này đã tạo ra mộtbước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của một số ngành kinh tế mũinhọn của đất nước

1.1.4.3 Góp phần tạo việc làm mới và phát triển nguồn nhân lực cho nước sở tại.

Thu hút vốn FDI nhằm tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế và tạoviệc làm cho người lao động là xu hướng quan trọng của tất cả các nướcđang phát triển Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những chính sách cụ thể và biệnpháp khác nhau Kinh nghiệm chung của các nước là thu hót FDI phải dựa

Trang 14

trên cơ sở phát triển sản xuất, tạo việc làm cho người lao động mới tạo ra sựphát triển bền vững

Theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, các dự án FDI

sử dụng nhiều lao động được khuyến khích, nhất là trong lĩnh vực gia công,chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu như dệt may, giày dép, đầu tư vào KCN,KCX… Sè lao động trực tiếp trong khu vực FDI đã tăng lên nhanh chóngtheo từng năm: từ trên 22 vạn người vào năm 1996 lên 38 vạn người vàonăm 2000 ( tăng 72% so với năm trước) và từ 45 vạn người và năm 2001 lên

59 vạn người vào năm 2002 ( tăng 31% so với năm trước ) Đến nay, khuvực FDI đã thu hút trên 66 vạn lao động trực tiếp ( tăng 12% so với nămtrước ), vượt 10% so với dự kiến ban đầu

Đồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt động sảnxuất kinh doanh trên lãnh thổ các quốc gia đang phát triển, họ sẽ đưa cácchuyên gia giỏi, cũng như phương thức quản lý doanh nghiệp hiện đại vàchuyên nghiệp Như vậy, những người lao động cũng như các doanh nghiệpnước đó sẽ có điều kiện và cơ hội để học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn

kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp

1.1.4.4 Nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty trong nước.

Thông qua FDI, nhiều nguồn lực ở các quốc gia đang phát triển nhưlao động, đất đai, lợi thế địa lý kinh tế, tài nguyên… được phân bổ một cáchhợp lý hơn Qua đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp ở các nước này có thểhọc tập mô hình quản lý hiện đại, mở rộng mối liên kết kinh doanh vớidoanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp phụ trợ, phụ liệu Đồngthời, khu vực đầu tư nước ngoài cũng tạo sức Ðp thúc đẩy các doanh nghiệpnước sở tại cạnh tranh vươn lên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điềukiện giúp các doanh nghiệp này làm quen với phương thức làm ăn theo tiêuchuẩn quốc tế

1.1.4.5 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho các nước đang phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Thông qua nguồn vốn FDI các nước đang phát triển có thể tiếp tụcnhận kỹ thuật công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới để từ đó nâng cao trình

độ khoa học công nghệ từng bước công nghiệp hoá

Trang 15

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu

để có thể tăng trưởng nhanh là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triểnnhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong đó FDI chiểm tỷ lệ lớn tronggiá trị sản lượng công nghiệp và đầu tư xây dựng hạ tầng, từ đó từng bướcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.4.6 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng kim ngạch xuất khẩu thông qua hoạt động mở rộng thị trường của mình.

FDI có vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường các nướcđang phát triển Các doanh nghiệp có vốn FDI sẽ cung cấp hàng hoá, dịch

vụ mà sản xuất trong nước chưa đủ đáp ứng cả về số lượng và chất lượng, từ

đó mở rộng thị trường trong nước, đồng thời cũng góp phần to lớn thúc đẩyhoạt động xuất khẩu tại các nước này

1.1.4.7 Các dự án đầu tư trực tiÕp nước ngoài góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

Thông qua việc đánh thuế các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam, tiền thuê đất đai, mặt nước, mặt biển… các nước đang phát triển

đã thu được một lượng vốn đáng kể vào ngân sách nhà nước Mức đóng gópnày có xu hướng ngày càng tăng lên, tạo điều kiện cho các quốc gia đangphát triển tái đầu tư sản xuất

Việt Nam cùng với quá trình phát triển, mức đóng góp của khu vựcFDI vào ngân sách ngày càng tăng lên, góp phần nâng cao khả năng chủđộng của Chính phủ trong việc cân đối ngân sách

1.2 Sự cần thiết phải thu hót FDI vào lĩnh vực quảng cáo

1.2.1.Khái niệm và các phương tiện quảng cáo.

1.2.1.1 Khái niệm quảng cáo.

Hoạt động quảng cáo đã xuất hiện từ lâu trong đời sống kinh tế-xã hộicủa nhiều nước trên thế giới và phát triển theo nhịp độ của sự phát triển kinh

tế thị trường Ngày nay, quảng cáo đã trở thành một động lực quan trọngthúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của hầu hết các nước trên thế giới ởViệt Nam, quảng cáo hình thành và phát triển đồng thời với công cuộc đổimới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đóng gópđáng kể vào phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Để Quảng cáo Việt Namphát triển vững chắc đúng định hướng và tạo hành lang pháp lý cho hoạtđộng quảng cáo, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về “xây dựng và pháttriển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” đã đề ra nhiệm

Trang 16

vụ phải xây dựng luật quảng cáo Năm 2001, đáp ứng sự phát triển củaquảng cáo, tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực hoạt động này, Uỷ banThường vụ Quốc hội khoá X đã thông qua Pháp lệnh quảng cáo, sau đó làcác văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ và Bộ Văn hoá- Thông tin

Theo điều 4-chương I, pháp lệnh quảng cáo:” Quảng cáo là giới thiệuđến người tiêu dung về hoạt động kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, bao gồmdịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời”

1.2.1.2 Các phương tiện quảng cáo.

Ngay từ những năm cuối thập niên 80, hoạt động quảng cáo tại ViệtNam đã manh nha hình thành và trải qua một quá trình sơ khai từ khi cónhiều công ty nước ngoài lần lượt vào Việt Nam đầu tư kinh doanh Saungày Mỹ huỷ bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam vào đầu tháng 2/1994, nhữngđặc trưng về một nền công nghiệp quảng cáo đã hình thành với những thịphần ngày càng phát triển theo tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự phát triển củaquảng cáo trong giai đoạn này đáp ứng được sự đòi hỏi của sản xuất hanghoá, tính hấp dẫn của nền kinh tế mở, sự thúc bách của quá trình hội nhập.Những chiến dịch quảng cáo có quy mô bắt đầu nở rộ trên các phương tiệnthông tin đại chúng Người tiêu dùng thu nhận đầy đủ các loại thông tin vềchất lượng hàng hoá, sản phẩm và được sống với một thế giới công khaichọn lựa để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của mình Và nhưmột tất yếu, các phương tiện quảng cáo như báo chí, truyền hình, đài phátthanh, quảng cáo trên panô, áp phích… đã phát triển mạnh mẽ tạo nên sựcạnh tranh quyết liệt trong nền kinh tế thị trường Theo điều 9, chương IIcủa Pháp lện quảng cáo của Việt Nam, các phương tiện quảng cáo bao gồm:

1 Báo chí gồm báo in, bao hình, báo nói và báo điện tử

2 Mạng thông tin máy tính

3 Xuất bản phẩm gồm cả phim, ảnh, băng hình, đĩa hình, băng âmthanh và đĩa âm thanh

4 Chương trình hoạt động văn hoá, thể thao

5 Hội chợ, triển lãm

6 Bảng, biển, pa-nô, băng-rôn, màn hình đặt nơi công cộng

7 Vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước

8 Phương tiện giao thông, vật thể di động được

9 Hàng hoá

10 Các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật

Trang 17

Quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện truyền thông sẽ đến đượcđại đa số quần chúng Hình thức này thưòng lặp đi lặp lại khiến cho ngườixem nhớ được nội dung giới thiệu Vì lượng thời gian Ýt nên nội dungquảng cáo phải cô đọng súc tích, hình ảnh đẹp gây Ên tượng cho người xem.

Quảng cáo trên mạng máy tính và xuất bản phẩm trong thời gian quađang có chiều hướng phát triển theo sự phát triển nhanh chóng của mạnglưới internet Đây là những phương tiện quảng cáo có nhiều ưu điểm đối vớicác doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tài trợ các cuộc thi, các chương trình truyền hình… cũng là nhữnghình thức được các nhà sản xuất quan tâm đề cập tới Ngoài việc xây dựng,thiết kế chương trình sao cho thu hút sự quan tâm của khán giả thì việc lồngghép khéo léo những hình thức quảng cáo như: tặng thưởng, tờ rơi tờ gấp,băng rôn biểu ngữ quảng cáo… đòi hỏi những người thiết kế có sự quan tâmđặc biệt

Cùng quảng cáo sản phẩm trong một không gian rộng lớn là điều cácnhà sản xuất quan tâm trong xã hội hiện đại Hội trợ triển lãm là cơ hội đểcác doanh nghiệp tự giới thiệu mình trước công chúng

Hình thức quảng cáo trên các bảng, biển, panô, băng rôn, màn hìnhđặt nơi công cộng và các phương tiện quảng cáo ở ngoài trời khác, ngàycàng được phát triển đặc biệt là ở các đô thị lớn Đây là hình thức quảng cáotốn Ýt kinh phí, nhưng đem lại hiệu quả cao Tuy nhiên các nước cần có sựquy hoạch cụ thể trong hình thức quảng cáo này để nó phát triển một cáchquy củ, góp phần làm đẹp cảnh quan đô thị

1.2.2 Vai trò của ngành quảng cáo với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước.

Từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh

tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,kinh tế- xã hội nước ta đã có những chuyển biến rất mạnh mẽ Đời sống củađại bộ phận nhân dân được nâng cao Các hoạt động kinh tế- văn hoá- xã hộingày một phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ vật chất và cácgiá trị văn hoá, tinh thần của người lao động Công cuộc đổi mới đã tạo ra

cơ hội to lớn cho ngành quảng cáo hình thành và phát triển

Thông qua quảng cáo, người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm hàng hoá,dịch vụ phù hợp, góp phần kích thích sự phát triển của sản xuất đáp ứng nhu

Trang 18

cầu tiêu dùng, đẩy mạnh canh tranh, đổi mới sản phẩm hàng hoá, hạ giáthành… tạo điều kiện thúc đẩy nền sản xuất phát triển.

Quảng cáo đã đem lại việc làm cho hàng nghìn người, bao gồm nhữngngười làm quảng cáo chuyên nghiệp, đơn vị kinh doanh dịch vụ quảng cáo

và những người làm các công việc phụ trợ cho quảng cáo như hoạ sỹ, nhàquay phim, nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, thợ in, kỹ thuật viên, báo chí, xuấtbản, tiếp thị…

Nguồn thu từ quảng cáo đã hỗ trợ rất lớn trong việc đổi mới nâng caochất lượng các chương trình, đồng thời góp phần không nhỏ vào sự pháttriển của các phương tiện thông tin đại chúng

Dưới hình thức tài trợ cho các chương trình văn nghệ, thể thao, vuichơi giải trí, các doanh nghiệp đã đầu tư rất lớn về kinh phí để đưa thươnghiệu, nhãn hiệu hàng hoá của mình đến với người tiêu dùng Cũng nhờ sự tàitrợ đó, các chương trình nói trên được tổ chức thường xuyên hơn và chấtlượng cũng được nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức của côngchúng

Ngoài ra quảng cáo góp phần quan trọng vào hoạt động xúc tiếnthương mại của các doanh nghiệp, thông qua hoạt động quảng cáo, cácdoanh nghiệp thúc đẩy bán hàng, giới thiệu hình ảnh thương hiệu, sản phẩm,hoạt động của doanh nghiệp ra quốc tế và hoạt động hợp tác đầu tư

Một đóng góp thiết thực nữa của quảng cáo đối với xã hội là sự thamgia vào chương trình phục vụ lợi Ých xã hội Trong thời gian vừa qua,quảng cáo đã góp phần tích cực nâng cao ý thức của người dân về lợi Ýchcủa chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, phòng chống dịch bệnh,

vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, phòng chống HIV, AIDS, cứu trợnhân đạo…

Sự có mặt của quảng cáo với hình ảnh đẹp, lời lẽ văn minh, kỹ thuậthiện đại đã góp phần làm cho bộ mặt các đô thị của chúng ta trở nên đẹp vàhấp dẫn hơn

1.2.3 Sự cần thiết phải thu hót FDI vào lĩnh vực quảng cáo ở nước ta.

Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã sinh ra một ngành sảnxuất vật chất mới, đó là ngành dịch vụ quảng cáo Do vậy, sự phát triển củangành dịch vụ này gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế sinh ra nã Nhucầu quảng cáo của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, của các địa phương,

Trang 19

khu vực là rất lớn và thường xuyên tăng lên Hiện nay nhu cầu quảng cáotrên thị trường Việt Nam là 7000 tỷ đồng và tới năm 2020 có thể đạt 24000

tỷ đồng Với tổng mức nhu cầu như vậy đã làm cho thị trường này rất sôiđộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi dịch vụ quảng cáo đa dạng,phong phú với chất lượng cao Từ đó đòi hỏi các doanh nghiệp quảng cáophải thường xuyên đổi mới công nghệ, đẩy mạnh hoạt động sáng tạo ýtưởng, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ lao động… Mặc dù sốlượng các công ty quảng cáo của Việt Nam tăng lên một cách chóng mặt,cộng thêm sự đa dạng của chúng làm người ta lầm tưởng về một sự trưởngthành của các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam Trong khi đó, thực chấtcác doanh nghiệp quảng cáo của chúng ta vẫn chỉ đa phần là thực thi nhữngcông đoạn hết sức cụ thể hoặc thuần tuý kỹ thuật như quảng cáo tấm lớn,quảng cáo ngoài trời, thiết kế đồ hoạ, hay có những doanh nghiệp chỉchuyên trách dịch vụ quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện, hoặc môi giới tàitrợ và bản quyền truyền hình… Nguyên nhân nào đã dẫn đến sự kém pháttriển đó của các công ty quảng cáo Việt Nam? Đáp án cho câu hỏi này đó lànhững nguyên nhân do các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam thiếu vốn,thiếu công nghệ , thiếu kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vựcnày

Các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam hầu hết là các doanh nghiệpvừa và nhỏ, họ luôn thiếu vốn để đầu tư mở rộng doanh nghiệp cũng như đểmua các trang thiết bị, công nghệ tiên tiến để phục vô cho ngành nghề củamình

Ngoài ra, kinh nghiệm, uy tín và năng lực sáng tạo của các công tyquảng cáo trong nước cũng là điều đáng phải bàn Thiếu người quen việc,giỏi nghề, thiếu tài liệu giáo trình, sách báo chuyên ngành, thiếu trường,thiếu lớp, thiếu thầy và thiếu không gian học tập thực tế cho lớp trẻ… chính

là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến hệ quả là các nhà quảng cáo Việt Namchỉ có được một thị phần và vị trí khiêm tốn Theo kết qủa điều tra của báoNgười lao động (số ra ngày 28/1/2005) ở Việt Nam hiện có gần 2000 công

ty quảng cáo nội địa, tuy nhiên chỉ có khoảng 10 công ty trong số này thật

sự chuyên nghiệp và chỉ có 5 công ty mang tầm quốc tế Nếu tình bình quân(phần nhiều) mỗi công ty có 10 nhân viên thì nhân lực làm việc trong ngànhnày tại Việt Nam ước khoảng 20000 người, nhưng theo ý kiến của các nhàchuyên môn, nhìn từ góc độ thị trường và hệ thống đào tạo quảng cáo của ta

Trang 20

hiện nay thì đội ngũ làm quảng cáo chuyên nghiệp của Việt Nam chỉ chiếmmột tỷ lệ rất nhỏ trong con số trên.

Hệ quả của những thiếu hụt và yếu kém trên tất yếu dẫn đến cácdoanh nghiệp quảng cáo của Việt Nam chưa biết khai thác hết thị trườngtrong nước, các hợp đồng quảng cáo lớn không được dành cho họ và gầnnhư tất cả các công ty này chưa biết khai thác thị trường béo bở này ở nướcngoài

Trong khi đó, các công ty quảng cáo nước ngoài họ luôn có đầy đủcác nguồn lực mà chúng ta thiếu Họ có một nguồn vốn dồi dào, với mộtcông nghệ hiện đại và chuyên nghiệp, một trình độ chuyên môn sâu rộng vớimột bề dày kinh nghiệm lâu năm

Do vậy, để ngành quảng cáo trong nước thực sự phát triển trongtương lai, một chìa khoá hiệu quả nhất tháo gỡ những khó khăn của chúng ta

là chúng ta phải thu hót FDI vào lĩnh vực này thúc đẩy ngành này phát triển,cũng như để các công ty quảng cáo trong nước có điều kiện tìm hiểu, họchỏi xem những “gã khổng lồ” đó được sinh ra như thế nào và được nuôinấng ra sao để các doanh nghiệp trong nước có thể chuẩn bị để ngày một lớnmạnh

Ngoài những lý do trên, một lý do khách quan đươc đặt ra đòi hỏichúng ta phải thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triểnkinh tế- xã hội đất nước, đó là xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Và ngành quảng cáo cũng như các ngành khác, không thể đứng ngoài xuhướng chung này Mặt khác, những cam kết của Việt Nam trong quá trìnhđàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong lĩnh vực quảngcáo đã buộc Việt Nam phải chấp nhận tiến hành mở cửa với những quy địnhthay đổi về vốn đầu tư, hình thức đầu tư, phạm vi đầu tư cho các nhà đầu tưnước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam theo quy định quốc tế

Trang 21

vụ non trẻ này Trong những năm đầu khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệulực, Việt Nam chưa cho phép nhà đầu tư tham gia vào thị trường quảng cáo.Cho đến khi nghị định 194/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chínhphủ về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam và Thông tư 37/VHTT-

TT ngày 1 tháng7 năm 1995 hướng dẫn Nghị định 194/NĐ-CP được banhành, thì nhà đầu tư nước ngoài mới được đầu tư dưới hình thức hợp đồnghợp tác kinh doanh trong thời gian tối đa là 5 năm với doanh nghiệp quảngcáo Việt Nam

Cùng với sự phát triển của thị trường, tại Nghị định 24/2000/NĐ-CPngày 31 tháng 7 năm 2000 (Sau đây gọi tắt là “Nghị định 24/2000/NĐ-CP

Trang 22

về đầu tư nước ngoài”), Chính phủ đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài đượcđầu tư vào lĩnh vực dịch vụ quảng cáo theo hình thức liên doanh hoặc hợpđồng hợp tác kinh doanh, và thẩm quyền cấp giấy phép cho các dự án nàythuộc Thủ tướng Chính phủ.

Tiến thêm một bước nữa, tại Nghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19tháng 3 năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định 24/2000/NĐ-

CP, Chính phủ đã phân các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực quảngcáo thành hai nhóm: (i) dự án cung cấp dịch vụ quảng cáo gắn với phát hành

và (ii) dự án cung cấp dịch vụ quảng cáo không gắn với phát hành, theo đó:

-Về hình thức đầu tư: các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vựcquảng cáo phải thực hiện theo hình thức liên doanh hoặc hợp đồng hợp táckinh doanh

-Về thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư: các dự án cung cấp dịch vụquảng cáo có gắn với phát hành quảng cáo, thuộc nhóm A do Thủ tướngChính phủ xem xét quyết định Đối với các dự án chỉ đơn thuần cung cấpdịch vụ quảng cáo mà không có phương tiện phát hành, Bộ Kế hoạch vàĐầu tư sẽ quyết định trên cơ sở tham khảo ý kiến của các cơ quan liên quan,đặc biệt là cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hoá- thông tin Các dự

án này chưa được phân cấp cho địa phương Bên cạnh đó, về phạm vi hoạtđộng, các dự án cung cấp dịch vụ quảng cáo chỉ được phép thực hiện cáccông đoạn cho đến khi đăng ký lịch quảng cáo với các phương tiện thông tinđại chúng, mà chưa được phép trực tiếp ký hợp đồng với đơn vị này

Trong thực tiễn thực hiện, ranh giới giữa dự án quảng cáo với các dự

án khác như nghiên cứu thị trường, marketing… còn khó xác định Vì vậy,tại Nghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2003 quy định chi tiếtthi hành Pháp lệnh Quảng cáo (Sau đây gọi tắt là “Nghị định 24/2003/NĐ-

CP về quảng cáo”), Chính phủ đã định nghĩa: ”Quá trình hoạt động quảngcáo là việc thực hiện chiến lược tiếp thị, xúc tiến quảng cáo, tư vấn quảngcáo, thực hiện ý tưởng quảng cáo, phát hành quảng cáo, giới thiệu sản phẩmquảng cáo đến người tiêu dùng”, nghĩa là dự án được xác định là cung cấpdịch vụ quảng cáo khi bắt đầu thực hiện chương trình tiếp thị cho đến khigiới thiệu quảng cáo đến công chúng Điều này cũng có nghĩa là các dự ánnghiên cứu thị trường, lập kế hoạch tiếp thị, chiến lược phát triển sản phẩm

là những công đoạn trước của quá trình quảng cáo và do vậy không thuộcnhóm các dự án quảng cáo

Trang 23

Cho đến nay đã có thông tư của bộ văn hóa-thông tin sè BVHTT ngày 08/12/2005 sửa đổi, bổ sung một số quy định thông tư số43/2003/TT-BVHTT ngày 16/7/2003 của bộ văn hóa thông tin hướng dẫnthực hiện nghị định số 24/2003/NĐ-CP chi tiết pháp lệnh quảng cáo Nóichung, thông tư số 79/2005/TT-BVHTT đã có sửa đổi và bổ sung nhưngquy địnhvề đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo của nghị định số24/2003/NĐ-CP nhưng vẫn không có gì thay đổi.

79/2005/TT-2.1.2 Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực quảng cáo thời gian qua.

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở cửa thị trường là một yêucầu bức thiết khách quan Tuy nhiên, xét điều kiện và năng lực thực tế củadoanh nghiệp quảng cáo trong nước, Chính phủ đã xây dựng một lộ trình

mở cửa nhằm từng bước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vàothị trường, trong khi củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp trong nước Điều này được thể hiện rõ trong Hiệp định thương mạiViệt Nam- Hoa Kỳ và Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam-Nhật Bản

2.1.2.1 Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA)

Theo bảng lộ trình cam kết thương mại dịch vụ cụ thể (Phụ lục G,BTA), quy định hình thức cung cấp với các dịch vụ quảng cáo (trừ các dịch

vụ quảng cáo đối với mặt hàng rượu và thuốc lá) như sau:

Việt Nam đã cam kết cho phép các nhà đầu tư Hoa Kỳ tham gia vàothị trường quảng cáo ở Việt Nam theo hinh thức hợp đồng hợp tác kinhdoanh hoặc hình thức liên doanh với đối tác Việt Nam được phép kinhdoanh dịch vụ này Phần góp vốn của nhà đầu tư Hoa Kỳ không được phépvượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh Sau 5 năm kể từ ngày Hiệpđịnh có hiệu lực, giới hạn tỷ lệ góp vốn phía Hoa Kỳ là 51% vốn pháp định

và sau 7 năm giới hạn này sẽ bị loại bỏ

2.1.2.2 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam- Nhật Bản.

Theo mục 5 phụ lục II (Những lĩnh vực hoặc vấn đề ngoại trừ tại điều

2 và điều 4 của Hiệp định) của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tưViệt Nam- Nhật Bản, thoả thuận về các dịch vụ quảng cáo như sau: kế thừacam kết tại BTA và phù hợp với các quy định hiện hành, tại Hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam- Nhật Bản, Việt Nam đã cam kết

Trang 24

cho phép nhà đầu tư Nhật Bản được phép tham gia vào thị trường quảng cáothông qua hình thức liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh với đốitác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ quảng cáo ( không có cam kết

về giới hạn tỷ kệ góp vốn pháp định của bên nước ngoài)

2.2 Tình hình FDI vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam thời gian qua.

2.2.1.Tình hình chung

Sau 20 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đến cuốinăm 2007, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng,góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội Sau 20 năm,Việt Nam nhận được gần 98 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư với 9.500 dự án.Đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấulao động theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Đồng thời làcầu nối quan trọng giữa nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thúcđẩy phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và tạo điều kiện để Việt Nam chủđộng hội nhập ngày càng sâu hơn vào đời sống kinh tế thế giới

2.2.1.1 Tình hình ĐTNN vào nước ta năm 2006

Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006 cả nướcthu hút được gần 10 tỷ USD vốn đăng ký mới, tăng 45,1% so với cung kỳnăm trước, trong đó có khoảng 800 dự án được cấp mới, với tổng vốn đăng

ký trên 7,6 tỷ USD, tăng 60,8% so với cùng kỳ năm trước và 490 lượt dự ántăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với tổng số vốn tăng thêm khoảng 2,4 tỷUSD Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án trong năm 2006 đạt 9,4triệu USD/dự án, điều này chứng tỏ số lượng dự án có quy mô lớn đã tănglên

Bức tranh về đầu tư nước ngoài ở nước ta trong năm 2006 có màu sắcphong phú hơn với sự xuất hiện của một số dự án mới có quy mô lớn từ cáctập đoàn xuyên quốc gia Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, như dự án của công

ty thép Posco có vốn đầu tư 1,126 tỷ USD, dự án của Tập đoàn Intel vớitổng số vốn đầu tư 1 tỷ USD, dự án của Tập đoàn Tycoons với tổng số vốn

dr 556 triệu USD, dự án Hồ Tây vốn đầu tư 314,1 triệu USD, dự án WinvestInvestment với vốn đầu tư 300 triệu USD… Nhiều dự án được cấp phép đãtích cực triển khai thực hiện như các nhà máy của Công ty Hoya GlassDisle, Canon, Matsushita, Brothers, Honda… Ước tính vốn thực hiện trongnăm 2006 đạt khoảng 4,1 tỷ USD, tăng 24,2% so với năm 2005

Trang 25

Hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài tiếp tục khả quan Doanh thu của các doanh nghiệp đầu tư nướcngoài trong năm 2006 đạt 29,4 tỷ USD, tăng 31,3% so với cùng kỳ nămtrước, trong đó, giá trị xuất khẩu ( trừ dầu thô) đạt 14,6 tỷ USD, tăng 31,2%

so với cùng kỳ Nếu tính cả dầu thô thì giá trị xuất khẩu năm 2006 đạt 22,6

tỷ USD, chiếm 57% tổng giá trị xuất khẩu cả nước Giá trị sản xuất côngnghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,5%, cao hơn mức tăngsản xuất công nghiệp bình quân của cả nước (18,5%) Nhập khẩu của doanhnghiệp đầu tư nước ngoài trong năm 2006 đạt 16,35 tỷ USD, tăng 19,3% sovới năm 2005 Trong năm 2006, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nộpngân sách nhà nước đạt 1,26 tỷ USD, tăng17,3% so với cùng kỳ và tạo việclàm cho trên 1,12 triệu lao động trực tiếp, chưa kể hàng triệu lao động giántiếp khác

2.2.1.2 Tình hình FDI vào nước ta đến năm 2007

Năm 2007 là năm đạt kỷ lục về thu hút đầu tư nước ngoài của ViệtNam với tổng vốn đầu tư đăng ký là 21,3 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 8,03 tỷUSD

1 Tổng vốn thực hiện đã đạt hơn 8 tỷ USD (trong đó dầu khí đạt 2,89

tỷ USD), vượt 4 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (4,6 tỷ USD)

2 Tổng vốn đăng ký đạt 21,3 tỷ USD vượt 1 tỷ USD so với báo cáo

ban đầu (20,3 tỷ USD):

a) Theo ngành nghề: Trong năm 2007, vốn đầu tư đăng ký (cấp mới

và tăng vốn) tiếp tục tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 54,9%tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 44,5% Sốcòn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.[1]

b) Theo đối tác đầu tư: Trong năm 2007 có 55 quốc gia và vùng lãnh

thổ đầu tư tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu với

số vốn đăng ký (cấp mới và tăng vốn) 5,3 tỷ USD, chiếm 25,2% về tổng vốnđăng ký British Virgin Islands đứng thứ 2, chiếm 20,6%; Singapore đứngthứ 3, chiếm 12,04%; Đài Loan đứng thứ 4, chiếm 11,6%; Nhật Bản đứngthứ 5, chiếm 6,4%; Malaysia đứng thứ 6, chiếm 5,5% ; Trung Quốc đứngthứ 7, chiếm 2,6% (cộng cả Hồng Kông sẽ chiếm 5,5%) và Hoa Kỳ (không

Trang 26

tính các dự án đầu tư qua nước thứ 3) đứng thứ 8, chiếm 1,8%; Thái Lanđứng thứ 10 chiếm 1,3% tổng vốn đăng ký.

c) Về cơ cấu vùng: Trừ dầu khí, trong năm 2007 cả nước có 56 địa

phương thu hút được dự án ĐTNN, trong đó 10 địa phương dẫn đầu Đó là:

Hà Nội đứng đầu với số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốnđầu tư đăng ký; Đồng Nai đứng thứ 2, chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứngthứ 3, chiếm 10,6% ; Bình Dương đứng thứ 4, chiếm 10,5% về tổng vốn đầu

tư đăng ký; Phú Yên đứng thứ 5, chiếm 7,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu đứng thứ 6,chiếm 5,2%; Vĩnh phúc đứng thứ 7, chiếm 4,9%; Đà Nẵng đứng thứ 8,chiếm 4,4%; Long An đứng thứ 9 chiếm 3,8% và Hậu Giang đứng thứ 10,chiếm 2,9%

.3 Luỹ kế tình hình ĐTNN từ 1988 đến hết năm 2007 :

Tính đến hết năm 2007, cả nước có 8.684 dự án còn hiệu lực với tổngvốn đăng ký 85,05 tỷ USD, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạtgần 30 tỷ USD (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiệnđạt hơn 43 tỷ USD )

Phân theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng

lớn nhất chiếm 67% về số dự án và 60% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo

là lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,3% về số dự án và 34,3% (tăng từ mức 30,7%đến hết năm 2006) về số vốn đầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp

Phân theo hình thức đầu tư:- Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm

77,6% về số dự án và 61,6% về tổng vốn đăng ký; Liên doanh chiếm 18,8%

về số dự án và 28,8% về tổng vốn đăng ký Số còn còn lại đầu tư theo hìnhthức Hợp doanh, BOT, công ty cổ phần và công ty quản lý vốn

Phân theo nước: Đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư

tại Việt Nam, trong đó các nước châu á chiếm 66% tổng vốn đăng ký; cácnước châu Âu chiếm 29% tổng vốn đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 4%vốn đăng ký Riêng 4 nền kinh tế đứng đầu trong đầu tư vào Việt Nam theothứ tự: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Nhật Bản đã chiếm 55% tổngvốn đăng ký

Trang 27

Phân theo địa phương: Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã

hội thuận lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc vẫn

là những địa phương dẫn đầu thu hút ĐTNN, trong đó 5 địa phương dẫn đầutheo thứ tự như sau:

(1) TP Hồ Chí Minh chiếm 27,6% về số dự án và 20% tổng vốn đăng ký;(2) Hà Nội chiếm 11,6% về số dự án; 14,9% tổng vốn đăng ký;

(3) Đồng Nai chiếm 10,5% về số dự án; 13,7% tổng vốn đăng ký;

(4) Bình Dương chiếm 18,2% về số dự án; 10,0% tổng vốn đăng ký;

(5) Bà Rịa –Vũng Tàu chiếm 1,8% về số dự án; 7,2% tổng vốn đăng ký;

2.2.1.3 Tình hình ĐTNN vào nước ta đầu năm 2008

2.2.1.3.1 Tình hình chung:

Tình hình thực hiện sản xuất-kinh doanh :

Trong quý I năm 2008, các doanh nghiệp ĐTNN đã góp vốn đầu tưthực hiện trên 1,68 tỷ USD, tăng 24% so với vốn thực hiện của cùng kỳ nămtrước

Doanh thu của các doanh nghiệp ĐTNN trong qúy I năm 2008 ướctính đạt 7.600 triệu USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước; trong đó giátrị xuất khẩu ước đạt 5.398 triệu USD, tăng 20% so với cùng kỳ; nhập khẩuđạt 6100 triệu USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm trước, nộp ngân sách 355triệu USD, tăng 19% so với cùng kỳ

Trong tháng 3 năm 2008, khối doanh nghiệp ĐTNN đã thu hút thêmđược 12.000 lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực có vốn ĐTNNtính đến thời điểm này lên 1.172 nghìn lao động, tăng 13% so với cùng kỳnăm trước

Cấp mới :

Trang 28

Trong tháng 3/2008, cả nước có 75 dự án được cấp Giấy chứng nhậnđầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2.627 triệu USD, đưa tổng số dự áncấp mới trong quý I năm 2008 lên 147 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là5.156 triệu USD, bằng 36% số dự án và tăng 43% về vốn đăng ký so vớicùng kỳ năm trước

Vốn đăng ký cấp mới trong quý I năm 2008 tăng khá cao so với cùng

kỳ năm 2007 do có nhiều dự án lớn được cấp GCNĐT, trong đó có: dự ánCông ty TNHH Good Choice USA - Việt Nam của tập đoàn Good Choice –Hoa Kỳ đầu tư xây dựng khách sạn 5 sao, khu vui chơi giải trí, Èm thực tại Bà Rịa Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư là 1,299 tỷ USD; dự án Công tyTNHH trung tâm tài chính Việt Nam do tập đoàn Berjaya Leisure, Malaysiađầu tư, mục tiêu là kinh doanh bất động sản với tổng vốn đầu tư 930 triệuUSD; dự án Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực Việt – Nhật do 3Công ty của Nhật Bản làm chủ đầu tư, mục tiêu dự án là đầu tư xây dựngcao ốc văn phòng cho thuê, sản xuất phần mềm, cung ứng nguồn nhân lựcvới tổng vốn đầu tư là 610,3 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư vàphát triển Lập An của Singapore, đầu tư xây dựng khu khách sạn, du lịch 5sao, bán và cho thuê biệt thự, nhà ở tại Thừa Thiên Huế với tổng vốn đầu tư

là 298,4 triệu USD

- Về đối tác đầu tư, Hoa Kỳ là nhà đầu tư có số vốn đầu tư đăng ký

lớn nhất trong quý I năm 2008 với 8 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,31 tỷ USD(chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư đăng ký), do có dự án Công ty TNHH GoodChoice USA - Việt Nam nói trên Tiếp theo là Malaysia với 4 dự án, tổngvốn đầu tư là 1,26 tỷ USD, chiếm 24,6% tổng vốn đầu tư

- Về lĩnh vực đầu tư, trong quý I năm 2008, vốn đầu tư đăng ký tập

trung nhiều nhất trong lĩnh vực dịch vụ với hơn 4,6 tỷ USD vốn đầu tư,chiếm 89,9% tổng vốn đầu tư, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là các dự ánkinh doanh bất động sản, khách sạn Lĩnh vực công nghiệp chiếm 10% tổngvốn đầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư

- Về cơ cấu vùng, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước với 4 dự

án, tổng vốn đầu tư là 2,08 tỷ USD, chiếm 40,3% vốn đầu tư; tiếp theo là BàRịa – Vũng Tàu với 1 dự án, vốn đầu tư là 1,29 tỷ USD, chiếm 25,2% tổngvốn đầu tư đăng ký; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2, chiếm 24,1% và Thừa

Trang 29

Thiên Huế đứng thứ 3, chiếm 11,8%, trong 23 địa phương của cả nước có

dự án ĐTNN

Tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất :

Trong qúy I năm 2008 có 49 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốnđầu tư đăng ký tăng thêm là 280,3 triệu USD, bằng 47% về số lượt dự ántăng vốn và 52% tổng vốn tăng thêm so với cùng kỳ năm trước

Tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm trong quý I năm 2008, cả nước đã thu hút thêm 5.436 triệu USD vốn đầu tư đăng ký, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2007

Căn cứ các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong bối cảnh tình hình

trong nước và thế giới, trên cơ sở tổng hợp một số dự án lớn đang trong quátrình đàm phán từ các địa phương (xin đính kèm) và tình hình triển khainhanh các dự án được cấp trong vài năm vừa qua (từ năm 2005 đến nay) dựkiến tình hình thu hút vốn ĐTNN trong 2 năm 2008 và 2009 sẽ thu hút vốnđầu tư mới (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) tương tự như kết quảnăm 2007, trong đó chú trọng thu hút các dự án lớn, trọng điểm, sử dụngcông nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh

- Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD vượt 25%năm 2007 (8 tỷ USD)

- Lao động: 16 vạn người, tăng 6,7% so với năm 2007;

- Nộp ngân sách Nhà nước: 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007

2.2.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam thời gian qua

2.2.2.1 Tình hình chung

Tính đến hết năm 2006, có 10 dựa án đầu tư nước ngoài cung cấpdịch vụ quảng cáo tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký là 12,098 triệuUSD, trong đó :

-Có 4 dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh cung cấp quảng cáo trêntruyền hình, đó là : dự án HĐHTKD lắp đặt bảng quảng cáo điện tử và dịch

Trang 30

vụ quảng cáo; dự án HĐHTKD giữa công ty TNHH M&T và Leo BurnettLimited; dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo công ty Vision; và dự ánHĐHTKD màn hình điện tử LED (Vinavision)

- Có 6 dự án doanh nghiệp liên doanh cung cấp dịch vụ quảng cáokhông gắn với phát hành quảng cáo, đó là: Hợp danh sản xuất lịch trình bayquốc tế và quảng cáo; Công ty liên doanh TNHH Saatchi & Saatchi ViệtNam, dịch vụ quảng cáo; Công ty liên doanh TNHH in phun quảng cáoThiên Hy Long Việt Nam; Công ty TNHH Hakuhodo & Quảng cáo SàiGòn; Công ty TNHH McCAAN-Erickson Việt Nam, cung cấp dịch vụquảng cáo thương mại; Và Công ty liên doanh Vĩ Mô-TQPR Việt Nam

Trong các dự án này có 4 dự án đáng chú ý nhất, đó là:

Dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa Công ty TNHH M&T

và Leo Burnett Worldwide Inc.

Ta có thể tóm tắt sơ lược về dự án như sau:

Bảng 2: Tóm tắt Dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa Công ty

TNHH M&T và Leo Burnett Worldwide Inc.

Tên dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa Công ty TNHH

M&T và Leo Burnett Worldwide Inc

Hình thức đầu tư HĐHTKD

Mục tiêu hoạt động Cung cấp dịch vụ quảng cáo trên đài phát thanh và

truyền hình, báo, tạp chí, Ên phẩm, dịch vụ thiết kế, tạo mẫu sản phẩm

Chủ đầu tư (hiện nay) Bên Việt Nam: Công ty TNHH dịch vụ M&T

Bên nước ngoài: Leo Burnett Worldwide Inc.

Trách nhiệm của các Bên Hợp

Doanh

- Bên Việt Nam: góp 30000 USD và tham gia vào việc quản lý, tổ chức kinh doanh và chịu trách nhiệm trước Nhà nước Việt Nam về toàn bộ nội dung của các hoạt động quảng cáo do các Bên hợp doanh tiến hành.

- Bên nước ngoài: góp 120000 USD và chịu trách nhiệm về kỹ thuật, tham gia quản lý, kinh doanh các

Trang 31

dịch vụ của HĐHTKD

Tỷ lệ phân chia lợi nhuận/rủi

ro

Bên Việt Nam : 40%

Bên nước ngoài: 60%

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài-Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Quá trình triển khai dự án:

Căn cứ đơn và hồ sơ xin chuyển nhượng chủ đầu tư, tại GPĐC sè2041/GPĐC 1 ngày 21/8/1999, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chấp nhận chophép thay đổi chủ đầu tư nước ngoài trong dự án từ Loe Burneet Limited(Thái Lan) thành Leo Burnett Worldwide Inc (Hoa Kỳ)

Ngày 29/11/1999, các bên hợp doanh gửi công văn đến Bộ Kế hoạch

và Đầu tư xin được hướng dẫn về việc chuyển thành doanh nghiệp liêndoanh Phúc đáp đề nghị của chủ đầu tư, tại công văn 20/BKH-QLDA ngày3/1/2000 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trả lời căn cứ vào Nghị định 194/CPngày 31/12/1994 và Thông tư 37/NHTT-TT ngày 1/7/1995 của Bộ VH-TTcác doanh nghiệp nước ngoài chỉ được phép hợp tác với các doanh nghiệpquảng cáo Việt Nam dưới hình thức HĐHTKD để tiến hành hoạt độngquảng cáo tại Việt Nam với thời hạn tối đa là 5 năm Vì vậy, đề nghị chuyểnthành doanh nghiệp liên doanh của chủ đầu tư được xem xét khi pháp luậtcho phép

Sau 5 năm hoạt động khả quan, các Bên Hợp doanh đã xin phép đượcgia hạn Hợp đồng thêm 5 năm Đề nghị này đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tưchấp thuận tại GPĐC số 2041/GPĐC 2 ngày 13/5/2003

Nhìn chung, trong thời gian qua dự án hoạt động tốt, đã xây dựngđược chỗ đứng trong thị trường quảng cáo và dành được một số khách hàngtruyền thống như Procter & Gamble Việt Nam với các sản phẩm dầu gộiđầu, bột giặt, xà bông; bảo hiểm Prudential, United Pharmaceuticals ViệtNam cho nhãn hiệu thuốc Decolgen và Nutroplex; bia Việt Nam và bia HàTây cho nhãn bí Tiger; Coca Cola cho nhãn nước giải khát tăng lựcSamurai…

 Dự án công ty liên doanh TNHH Saatchi & Saatchi Việt Nam

Dự án có thể tóm tắt một cách tổng quát như sau:

Bảng 3: Tóm tắt dự án công ty liên doanh TNHH Saatchi & Saatchi Việt Nam

Trang 32

Tên dự án công ty liên doanh TNHH Saatchi &

Saatchi Việt Nam

Hình thức đầu tư Doanh nghiệp liên doanh

Mục tiêu hoạt động Cung cấp dịch vụ quảng cáo

Chủ đầu tư - Bên Việt Nam : Cty TNHH quảng cáo

Sao Hôm

- Bên nước ngoài: Saatchi & Saatchi Communications Australia Pty Ltd (Australia)

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Quá trình triển khai dự án

Trong quá trình hoạt động, Công ty đã 2 lần được điều chỉnh GPĐT,

cụ thể là:

- Lần 1: GPĐC số 2136/GPĐC 1 ngày 6/12/2000, chuẩn y việc khôngnộp tiền thuế đất và điều chỉnh thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nướcngoài, vì (i) Công ty không thuê đất của Nhà nước, mà thuê trụ sở vănphòng của cá nhân Việt Nam, nên Bên cho thuê phải thực hiện các nghĩa vụthuế của Nhà nước Việt Nam liên quan đến việc cho thuê nàh; (ii) do LuậtĐTNN điều chỉnh thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, nên Công

ty được hưởng mức thuế suất thấp hơn theo quy định mới

- Lần 2: GPĐC số 2136/GPĐC 2 ngày 30/8/2004, chuẩn y việcchuyển trụ sở chính, gia hạn thêm 5 năm cho Công ty và bãi bỏ thuế chuyểnlợi nhuận ra nước ngoài, vì (i) theo GPĐT ban đầu Công ty sẽ hết hạn hoạtđộng vào ngày 25/10/2004, và (ii) theo quy định của Luật Thuế TNDN năm

2003, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đã bị bãi bỏ, nên Công ty được

áp dụng quy định này

Theo báo cáo của Công ty đã được kiểm toán đến hết năm 2003:

- Vốn đầu tư thực hiện:

Ngày đăng: 12/05/2015, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tài liệu hội thảo: “Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam thực trạng và giải pháp phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam thực trạng và giảipháp phát triển
6. Bộ văn hóa thông tin-Cục văn hóa thông tin cơ sở: “Các quy định của Pháp luật về hoạt động quảng cáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định củaPháp luật về hoạt động quảng cáo
7. Bộ văn hóa thông tin- Cục văn hóa thông tin cơ sở: “Báo cáo sơ kết hoạt động quảng cáo và công tác quản lý nhà nước về quảng cáo sau ba năm thực hiện pháp lệnh quảng cáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết hoạtđộng quảng cáo và công tác quản lý nhà nước về quảng cáo sau ba năm thựchiện pháp lệnh quảng cáo
8. Phan Thị Thu Trang (K38- Khoa Tài Chính Quốc Tế-Học Viện Tài Chính): “Giải pháp tăng cường thu hút vốn ĐTNN vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo của Việt Nam” (Luận văn tốt nghiệp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng cường thu hút vốn ĐTNN vào lĩnh vực giáo dục vàđào tạo của Việt Nam
9.Trang web: http://www.mpi.gov.vn http://www.Fia.mpi.gov.vn http://www.vhttcs.org.vn Link
1. Báo cáo tình hình và giải pháp thu hút ĐTNN trong thời gian tới (Nguồn:Cục ĐTNN-Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Khác
2. Báo cáo tóm tắt các dự án quảng cáo có vốn ĐTNN thời gian qua ( Nguồn: Cục ĐTNN-Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Khác
5. Hiệp định tự do, khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa CHXHCN Việt Nam và Nhật Bản Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tóm tắt Dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa Công ty TNHH M&T và Leo Burnett Worldwide Inc. - báo cáo thực tập: Thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam trong thời gian qua
Bảng 2 Tóm tắt Dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa Công ty TNHH M&T và Leo Burnett Worldwide Inc (Trang 30)
Hình thức đầu tư  Doanh nghiệp liên doanh - báo cáo thực tập: Thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam trong thời gian qua
Hình th ức đầu tư Doanh nghiệp liên doanh (Trang 32)
Bảng 4: Tóm tắt dự án công ty TNHH Hakuhodo & quảng cáo Sài Gòn - báo cáo thực tập: Thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam trong thời gian qua
Bảng 4 Tóm tắt dự án công ty TNHH Hakuhodo & quảng cáo Sài Gòn (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w