Khái niệm khủng hoảng tài chính: Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình.. Nhu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Trang 2MỤC LỤC
o0o 1 TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 1
1.1 Khái niệm khủng hoảng tài chính 1
1.2 Các loại khủng hoảng tài chính 1
1.3 Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính 2
2 PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ RÚT RA MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG 2.1 Khủng hoảng tài chính 1929-1933 3
2.2 Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 8
2.3 Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2008 12
3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH DỰ BÁO KHỦNG HOẢNG 21
4 BÀI HỌC RÚT RA TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHO NƯỚC TA 22
DANH SÁCH NHÓM
Trang 3LỚP NN04_K32
1 Phan Thị Mai Lan
2 Nguyễn Huỳnh Thảo Ly
3 Nguyễn Thị Kim Ngân
4 Vũ Thị Thùy Linh
5 Bùi Anh Tiến
1.TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
1.1 Khái niệm khủng hoảng tài chính:
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình
Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn cung Nhu cầu về tiền mặt của người dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có thể sụp đổ
Trong nền kinh tế thế giới hiện đại, sự lây lan của khủng hoảng tài chính thuờng đi kèm với tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài
Theo quy luật của sự phát triển, khi lên đến điểm phát triển cực đại, chịu tác động mạnh mẽ về nền kinh tế chính trị xã hội, nền kinh tế đó sẽ chuyển sang chu kỳ kinh tế đi xuống suy thoái-khủng hoảng
1.2 Các loại khủng hoảng tài chính:
Khủng hoảng tài chính bao gồm khủng hoảng tiền tệ, khủng
hoảng ngân hàng và khủng hoảng nợ nần.
• Khủng hoảng tiền tệ :
Theo nghĩa hẹp, khủng hoảng tiền tệ thuờng gắn liền với một chế độ
tỷ giá hối đoái cố định, tức trong một hoàn cảnh hết sức bị động như kinh
tế đi xuống hoặc vấp phải làn sóng đầu cơ cực lớn Một quốc gia đang áp
Trang 4dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định, sẽ phải tiến hành điều chỉnh chế độ này ở trong nuớc và chuyển sang chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và mức độ
tỷ giá thị truờng quyết định thuờng cao hơn rất nhiều so với mức tỷ giá mà chính phủ cố gắng duy trì Mức biến động tỷ giá hối đoái thuờng rất khó kiểm soát, hiện tuợng này chính là khủng hoảng tiền tệ
Theo nghĩa rộng, khủng hoảng tiền tệ là hiện tuợng chỉ mức độ biến động của tỷ giá hối đoái vuợt quá phạm vi mà một quốc gia có thể gánh chịu
• Khủng hoảng ngân hàng:
Khủng hoảng ngân hàng là hiện tuợng ngân hàng can thiệp khá sâu hoặc cho doanh nghiệp vay vốn vào các hoạt động kinh doanh có rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán Vốn tín dụng đuợc đầu tư quá nhiều cho bất động sản và những lĩnh vực phi sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối tài chính kinh tế Tỷ lệ nợ xấu quá lớn khiến hoạt động kinh doanh tiền tệ
bị trì trệ dẫn đến nguy cơ phá sản
• Khủng hoảng nợ nần :
Khủng hoảng nợ nần xảy ra ở mọt số nuớc đang phát triển Vào thập kỷ 80 của thế kỷ 20, có nhiều chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toàn nguồn vay nuớc ngoài của một quốc gia Trong đó quan trọng nhất là chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán nợ nuớc ngoài, tức tỷ lệ giữa nguồn vay nuớc ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc một năm truớc đó Bình thuờng chi tiêu này thuờng nằm duới 20%, nếu vuợt quá 20% chứng tỏ luợng vốn vay nuớc ngoài của quốc gia đó quá lớn
1.3 Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính:
Trước các cuộc khủng hoảng tài chính, thường xuất hiện các dấu hiệu như sau:
- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền
- Các khách hàng vay vốn , gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Trang 5Trong đó nguyên nhân của việc các Ngân hàng không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán là do gặp phải vấn đề về thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tình chiếm dụng vốn Tình trạng mất khả năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ
2 PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ RÚT RA MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG
2.1 Khủng hoảng tài chính 1929-1933
2.1.1.Cuộc khủng hoảng bắt đầu
Cuộc đại suy thoái hay còn gọi là đại khủng hoảng diễn ra cách đây
đã gần 8 thập kỷ nhưng vẫn ghi dấu ấn là giai đoạn suy sụp kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại
Bắt đầu vào năm 1929 và kết thúc vào thởi điểm chuyển giao giữa hai thập niên 30 và 40, cuộc suy thoái có sức ảnh hưởng gần như hủy diệt
cả nền kinh tế toàn cầu, cả các nước phát triển và đang phát triển Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu nhập cá nhân, hoạt động tiêu dùng, thị trường lao động, lạm phát đều chịu ảnh hưởng xấu Các nước phụ thuộc nhiều vào công nghiệp chịu tác động sâu sắc nhất Ngoài ra khu vực nông nghiệp cũng điêu đứng khi giá ngô, một trong những nông sản chính tại phương Tây, giảm tới 60%
Đối với thị truờng tài chính:
Tháng 10/1929, cổ phiếu trên phố Wall sụt giảm mạnh sau thời kỳ tăng trưởng bùng nổ những năm 1920
Chỉ trong hai ngày, chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 25% (kết thúc vào ngày thứ Ba đen tối, 29/10/1929)
Lượng giao dịch cổ phiếu trên sàn đạt mức kỷ lục trong 40 năm
Trang 6Trước khi hạ xuống mức thấp kỷ lục vào tháng 7/1932, chỉ số công nghiệp Dow Jones đã hạ 89% và chỉ số này đã không thể hồi phục lại mức đỉnh cao hồi năm 1929 cho đến mãi năm 1954.
Việc đầu cơ chứng khoán tăng cao trong năm 1929
Ngân hàng Trung ương đã hạ lãi suất xuống mức thấp chưa từng có trong 7 năm
Sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Một số nhà nghiên cứu tài chính cho rằng, trong giai đoạn 1929-1933 lẽ ra Mỹ chỉ phải trải qua một cuộc suy thoái nhẹ theo đúng qui trình của chu kỳ kinh tế lúc đó nếu FED đã không mắc sai lầm là phản ứng quá chậm trong việc giải cứu các ngân hàng
Trang 7(Người Mỹ xếp thành hàng dài chờ nhận đồ cứu tế ở thành phố New York năm 1932).
Cụ thể nguyên nhân:
• Sai lầm của FED :
Giai đoạn kinh tế phát triển từ 1928 đến 1929 dồn Fed vào chỗ lúng túng Một mặt, Fed cho rằng cần tăng “discount rate” để kiềm chế lạm phát; mặt khác, Fed lo rằng như vậy sẽ ảnh hưởng cho các hoạt động kinh
tế Lần lữa mãi, đến Tháng Tám, 1929, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đến chỗ quá đà, Fed quyết định nâng discount rate Quyết định của Fed có tác dụng như “cú đấm kép” giáng vào nền kinh tế Theo các kinh tế gia, không cần tăng discount rate, nền kinh tế cũng sẽ rơi vào suy thoái, hành động của Fed như “đổ dầu vào lửa.”
Suy thoái xảy ra, kéo theo một dây chuyền khủng hoảng của hệ thống ngân hàng (Bank Panic) kéo dài cho đến Tháng Ba, 1933 Người dân
đổ xô rút tiền ra khỏi ngân hàng, hàng loạt ngân hàng khai phá sản, trong
Trang 8khi ấy, Fed ngồi yên chẳng làm gì cả Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt ban hành pháp lệnh “Ngày Lễ Ngân Hàng” (Bank Holiday) để các ngân hàng đóng cửa Ông tuyên bố trước dân chúng: “Bây giờ, chính
sự sợ hãi là điều đáng sợ hãi nhất cho tất cả chúng ta.” Cuộc khủng hoảng kinh tế và ngân hàng từ 1930 đến 1933 được xem là kinh khủng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ Hơn 30% ngân hàng phá sản, lượng tiền tệ bơm vào nền kinh tế giảm 50%, sản xuất trì trệ gần 30%, tỷ lệ thất nghiệp lên đến gần 25%
• Việc kinh doanh của đầu cơ và bất ổn trong thị truờng chứng khoán :
Thị trường chứng khoán vẫn được coi là không có rủi ro, không phải
tư duy, mọi thứ ở đó đều "đi lên" Đó là lý do mà rất nhiều người đã đổ toàn bộ số tiền tiết kiệm của mình vào thị trường chứng khoán mà không cần phải tìm hiểu xem hệ thống đó hoạt động thế nào và công ty mà mình mua cổ phiếu đang vận hành ra sao Với quá nhiều nhà đầu tư hoàn toàn thiếu kiến thức, thị trường cũng xuất hiện rất nhiều những mánh khóe đầu
tư, thậm chí cả lừa đảo Chuyên viên ngân hàng đầu tư, nhà môi giới, chuyên viên giao dịch và đôi khi cả người sở hữu chứng khoán hợp lại với
nhau để kéo giá chứng khoán để rồi thoát
ra sau khi đã kiếm được lời Mánh khóe
mà họ thường sử dụng là khéo léo mua đi bán lại lẫn nhau một loại chứng khoán ít được quan tâm, mỗi lần giao dịch, họ lại đẩy giá lên một chút Khi công chúng bắt đầu phát hiện ra quá trình giao dịch và tăng giá đều này, họ sẽ quay ra mua loại
cổ phiếu đang được làm giá Khi đó, những người làm giá bán cổ phiếu, đang
ở mức giá rất cao, để kiếm lời Vòng xoáy mua đi bán lại được lặp đi lặp lại, những nhà đầu tư thiếu hiểu biết tiếp tục bán cho nhau, người bán được với giá cao hơn giá mua thì kiếm lời, người mua thì kỳ vọng cổ phiếu sẽ tiếp tục tăng giá
Những nguyên lý tâm lý hành vi tài chính cho thấy nhà đầu tư càng
ít hiểu biết thì họ càng dễ bị cuốn theo ý kiến đám đông (hiệu ứng bầy đàn) Hành vi này là con dao hai lưỡi bởi chính những nhà đầu tư thiếu hiểu biết là những người dễ rơi vào tình trạng lo sợ, hoảng loạn nhất Việc tham gia hay tháo chạy khỏi thị trường của một người không có ảnh hưởng quá lớn tới thông tin hay chất lượng thị trường Tuy nhiên chính cả đàn đang chạy theo con bò chạy nhanh nhất sẽ "dẫm đạp" và làm vỡ vụn thị trường
Trang 9Trong suốt "cơn điên" trước khi xảy ra cuộc Đại Khủng hoảng, có rất nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu, bao gồm cả Roger Babson, đã dự báo về một cuộc khủng hoảng nếu tình hình không được làm dịu xuống Điều đáng buồn là với mỗi Roger Babson, có đến bốn nhà nghiên cứu khác lại khẳng định một cách mù quáng, đảm bảo sự tăng trưởng mãi mãi của thị trường chứng khoán Mỹ
Vào những năm 1920, nền kinh tế Mỹ vận hành với chủ trương trở thành nhà băng của thế giới, thành nhà sản xuất lương thực, sản xuất đồ dùng cho toàn thế giới nhưng sẽ mua ít nhất có thể những gì mà phần còn lại của thế giới sản xuất ra Tất nhiên điều này tạo nên trạng thái cán cân thương mại rất có lợi cho Mỹ, nhưng nó không thể tồn tại lâu Mỹ thiết lập nhiều rào cản thương mại để bảo vệ hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp Mỹ, nhưng vấn đề ở chỗ nếu Mỹ không muốn mua hàng từ đối tác Châu Âu thì những đối tác đó lấy đâu ra tiền để mua hàng từ các đối tác Mỹ Cho đến khi mà những đối tác Châu Âu thậm chí không còn đáp ứng được lãi suất cho những khoản vay từ nước Mỹ, họ không thể mua hàng nữa, thì hoạt động xuất khẩu của Mỹ sụt 30% và tiếp tục sụt giảm trong thời gian sau đó Đây là một trong những yếu tố góp phần vào cuộc Đại khủng hoảng
Hoạt động đầu cơ với quy mô lớn cũng hình thành nhiều vào những năm 1920 Chỉ trong năm 1929, đã có một lượng cổ phần kỷ lục là 1,124,800,410 được giao dịch trên sàn NYSE Từ đầu năm 1928 đến tháng 9 năm 1929, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng từ 191 điểm lên
38139 điểm Không một nhà đầu tư nào có thể bỏ qua mức lợi nhuận như vậy Có thể lấy ví dụ về công ty RCA, công ty này có cổ phiếu tăng từ 85 lên 420 chỉ trong năm 1928, mặc dù cổ phiếu này chưa từng trả cổ tức một lần nào Nguy hiểm hơn, với sự tăng ổn định của giá cổ phiếu, người
ta bắt đầu vay để mua chứng khoán Chẳng hạn nhà đầu tư A có thể có 10 USD và vay 75 USD từ người môi giới của mình Nếu anh ta bán cổ phiếu khi giá là 420$ ở thời điểm một năm sau, anh ta đã biến từ 10 USD đầu tư ban đầu thành 341.25 USD (420 trừ 75 và 5% lãi suất trả cho người môi giới) Tức là lợi suất lên đến 3400% Con số này càng thúc đẩy "cơn điên" cổ phiếu Cho đến giữa năm 1929, tổng lượng cho vay đang lưu hành của những đơn vị môi giới là hơn 7 tỷ USD, ba tháng sau con số này là 8,5 tỷ USD Lãi suất thanh toán cho các khoản vay này cũng tăng nhanh không kém, đạt mức 20% vào năm 1929 Cơn bùng nổ đầu cơ này hoàn toàn chỉ dựa trên những niềm tin vô căn cứ, và nó trái ngược với sự sụp đổ khủng khiếp vài tháng sau đó cũng chính ở cơ sở, sụp đổ bắt nguồn từ sự sợ hãi
Trang 10Giá bắt đầu giảm từ tháng 9, nhưng khi đó nhìn chung nhà đầu tư nói chung vẫn rất lạc quan Những nhà đầu cơ tiếp tục nhảy vào thị trường Ngày thứ hai, 21/10/1929, giá bắt đầu giảm nhanh Khối lượng giao dịch lớn khủng khiếp Nhà đầu
tư vô cùng hoang mang và sợ hãi Nhận ra rằng giá bắt đầu "rơi", chứ không còn tính được giảm bao nhiêu, nhiều người lao ra bán Điều này làm cho sự sụp đổ diễn ra nhanh hơn Giá có ổn định lại một chút vào ngày thứ ba và thứ tư, nhưng cho đến Ngày thứ Năm Đen Tối, 24/10/1929, mọi thứ đều
vỡ tan Hầu hết những nhà đầu tư lớn đều mất niềm tin vào thị trường Tất cả nhà đầu tư đều đồng ý ở một điểm -
đã hết tăng rồi Thị trường có hồi phục lại một chút vào thứ Sáu và thứ Bảy khi một nhóm các ngân hàng lớn tham gia vào với nỗ lực cố gắng chặn lại sự sụp đổ của thị trường Nhưng vào thứ hai tuần sau, ngày 28, giá tiếp tục giảm 13% N gày hôm sau, Thứ Ba Đen Tối, khối lượng lên đến 16,4 triệu cổ phần đã được giao dịch Cổ phiếu giảm liên tục, thường xuyên không có người mua
MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG 1929-1933
Trang 112.2 Khủng hoảng tài chính châu Á 1997
2.2.1 Cuộc khủng hoảng bắt đầu:
Khủng hoảng tài chính Đông Á bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 mở đầu tại Thái Lan rồi từ đó lan ra ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong số đó được coi như là "những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính này còn được gọi là khủng hoảng tiền tệ Đông Á
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines
cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa,
Đài Loan, Singapore và Việt Nam bị ảnh hưởng ít Nhật Bản cũng không
bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng kinh tế tài chính này
Mặc dù đây được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại hết sức lớn mạnh khi lan truyền ra thế giới và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn của mình, cuộc khủng hoảng còn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ
2.2.2 Nguyên nhân:
Trang 12* Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là bộ ba bất khả thi Họ vừa cố định giá trị đồng tiền
của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980
và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá
cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát
vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar
Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai
của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn
Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và
nợ không tự bảo hiểm rủi ro
Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc đó còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế Đông Á" Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là do kết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao động Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức độ rất nhỏ, hoặc hầu như giữ nguyên Krugman cho rằng việc chỉ tăng trưởng năng suất tổng nhân tố không thôi, mà không cần đầu tư vốn,
đã có thể mang lại sự thịnh vượng dài hạn Krugman có thể được nhiều người coi như một nhà tiên tri sau khi khủng hoảng tài chính lan rộng, tuy nhiên chính ông ta cũng đã từng phát biểu rằng ông ta không dự đoán cơn khủng hoảng hoặc nhìn trước được chiều sâu của nó
* Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu
Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nên cao quá mức Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở
Trang 13các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á
Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công
ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro (Hiện tượng thông tin phi đối xứng
dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.)
* Những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới
Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990 Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa
Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên
để ngăn chặn lạm phát Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng
Đô La Mỹ Và do đồng tiền của các nước Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ
* Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997
là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ Một số thể chế tài chính bị phá sản Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra