Cho vay đơn vị kinh doanh được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau phù hợp với từng nhu cầu vốn cụ thể.− Cho vay các tổ chức tài chính khác ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín dụ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI
NHÁNH ĐĂK LĂK
Sinh viên thực hiện: Phạm Sơn Giáo viên hướng dẫn: Th.S H’Wen Niêkđăm Ngành học: Tài chính – Ngân hàng
Khóa học: 2006 - 2010
Đăk Lăk, tháng 3 năm 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua bốn năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại Học Tây Nguyên, kết hợp với thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương - chi nhánh tỉnh Đăk Lăk, em đã được học tập và tích lũy nhiều kiến thức quí báu cho bản thân Chuyên đề tốt nghiệp này được hoàn thành là sự kết hợp giữa lý thuyết đã học và thực tế trong thời gian thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến trường Đại Học Tây Nguyên, các Thầy Cô Khoa kinh tế đã truyền đạt kiến thức, dạy dỗ tôi trong thời gian qua
Em đặc biệt gửi lời cảm ơn đến Giảng viên Th.S H’Wen Niêkđăm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp này
Em cũng xin chân thành cảm ơn các Cô Chú, Anh Chị tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương - chi nhánh ĐăkLăk đã tận tình tạo điều kiện cho em tìm hiểu trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong thời gian thực tập và viết chuyên
đề song do kiến thức và khả năng có phần hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy Cô, từ phía quý Ngân hàng và quý đọc giả để chuyên đề được hoàn thiện hơn
Sinh viên thực tập Phạm Sơn
Trang 3NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NH TMCP NT ĐL Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương ĐăkLăkNHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Tên bảng biểu, sơ đồ Trang
Sơ đồ 3.1.3.1: Cơ cấu tổ chức, quản lý bộ máy của NH TMCP NT Đăk Lăk 28
Bảng 3.1.3.2: Tình hình sử dụng lao động tại NH TMCP NT ĐL 32
Bảng 3.1.4: Tình hình hoạt động kinh doanh các năm 2007 – 2009 33
Bảng 4.1.1: Hoạt động cho vay của ngân hàng 2007 - 2009 36
Bảng 4.1.2: Cơ cấu dư nợ ngắn hạn theo thành phần kinh tế năm 2007 – 2009 38
Bảng 4.1.3: Cơ cấu dư nợ cho vay ngắn hạn theo ngành kinh tế 2007 - 2009 40
Bảng 4.2.2.1: Dư nợ ngắn hạn gia hạn các năm 2007 – 2009 43
Bảng 4.2.2.2: Dư nợ ngắn hạn quá hạn các năm 2007 – 2009 44
Bảng 4.2.2.3: Tỉ lệ nợ khó đòi các năm 2007 – 2009 45
Bảng 4.2.2.4: Vòng quay vốn cho vay ngắn hạn các năm 2007 – 2009 46
Bảng 4.2.2.5: Mức sinh lợi của vốn vay qua các năm 2007 – 2009 47
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
PHẦN THỨ BA 26
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
PHẦN THỨ TƯ 36
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
Bảng 4.2.2.4: Vòng quay vốn cho vay ngắn hạn 46
4.3.2.1 Tăng cường hoạt động huy động vốn 53
Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ cũng cần tăng cường Là một hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng hoạt động của Ngân hàng, công tác này trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng cho vay, trong đó có cho vay ngắn hạn Việc kiểm tra, kiểm soát ở đây không chỉ đơn thuần là kiểm tra theo các số liệu, chỉ tiêu, mà quan trọng hơn, là kiểm tra tính tuân thủ quy chế, quy định, quy trình cho vay của các cán bộ tín dụng, đảm bảo họ làm việc theo đúng pháp luật, trên cơ sở lợi ích của ngân hàng kết hợp với lợi ích khách hàng Việc kiểm tra này cần được coi là hoạt động tự giác, khách quan Có như vậy, việc kiểm tra, kiểm soát mới thực sự có ý nghĩa điều chỉnh kịp thời hoạt động của Ngân hàng, trong đó có hoạt động cho vay ngắn hạn 58
4.3.2.10 Lập quỹ dự phòng rủi ro 58
Tp Buôn Ma Thuột, ngày tháng năm 2010 lxiv PHIẾU XÁC NHẬN SINH VIÊN THỰC TẬP lxiv
Trang 6PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hòa chung vào môi trường hội nhập thế giới để cùng phát triển, các ngân hàng cũng được thành lập ngày càng nhiều dưới rất nhiều hình thức, từ các ngân hàng thương mại cổ phần đến các ngân hàng liên kết với nước ngoài hoặc chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài Sự phát triển này chính là thách thức cho tất cả các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của mình sao cho đem lại nguồn thu nhập cao nhất Sự phát triển và ra đời của các ngân hàng được xuất phát từ nhu cầu tất yếu của nguồn vốn trong sản xuất – kinh doanh (SXKD), mở rộng quy mô của các doanh nghiệp quốc doanh, các doanh nghiệp, hộ gia đình
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam hiện nay, cho vay chính là hoạt động chủ yếu đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng, trong đó cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỉ trọng lớn ở hầu hết các ngân hàng Mặc dù các ngân hàng thương mại mong muốn thay đổi cơ cấu giữa cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn thông qua việc thường xuyên tìm kiếm các dự án đầu tư trung và dài hạn có tính hiệu quả cao để mở rộng cho vay trung và dài hạn, song vai trò cho vay ngắn hạn ở các ngân hàng vẫn là hoạt động chủ đạo
Để ngày càng phát triển và vươn lên trong trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, các ngân hàng đã không ngừng nỗ lực mở rộng và đổi mới để mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất Đối với cho vay ngắn hạn, việc mở rộng quy mô cho vay cũng không thể tách rời việc nâng cao hiệu quả cho vay Thật vậy nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn không chỉ là yêu cầu cấp thiết đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại, mà còn là yêu cầu của nền kinh tế
Tại Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đắk Lắk, cho vay ngắn hạn từ lâu đã trở thành khoản mục cho vay chiếm tỉ trọng lớn nhất Trong những năm vừa qua hiệu quả của các khoản cho vay ngắn hạn tại Chi nhánh đã được cải thiện nhiều so với thời gian hoạt động trước đây, tuy
Trang 7nhiên vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế cần cải thiện Bên cạnh việc mang lại nguồn lợi nhuận cao, là thu nhập chính cho chi nhánh, thì hoạt động cho vay ngắn hạn đồng cũng làm phát sinh các khoản nợ xấu, gây ảnh hưởng không tốt đến kết quả hoạt động kinh doanh và hình ảnh của chi nhánh Đăk Lăk
Nhận thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động tín dụng của các ngân hàng trong nền kinh tế, việc tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu tình hình cho vay vốn của các ngân hàng là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những
lý do trên, được sự đồng ý của Khoa Kinh tế Trường Đại học Tây Nguyên, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ H’Wen Niêkđăm và sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đắk Lắk, tôi quyết định chọn
chuyên đề tốt nghiệp sau: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Đắk Lắk”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực trạng chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đắk Lắk
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tính dụng ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đắk Lắk
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đắk Lắk
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các mối quan hệ có ảnh hưởng đến vấn đề cho vay vốn ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đắk Lắk
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Về không gian
Chuyên đề chủ yếu tập trung nghiên cứu trong phạm vi Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Đắk Lắk
Trang 8- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng chất lượng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Đắk Lắk
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tính dụng ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Đắk Lắk
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Đắk Lắk
Trang 9PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái quát lý luận chung về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
2.1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là hoạt động cơ bản của NHTM Nó được hiểu là một giao dịch giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là các cá nhân và tổ chức, trong đó, bên cho vay chuyển giao vốn cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Hoạt động cho vay của ngân hàng chứa đựng đầy đủ đặc trưng của một quan
− Người đi vay phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng
2.1.1.2 Phân loại cho vay của NHTM
Cho vay có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức sao cho phù hợp với tính chất, đặc điểm của nhu cầu vay và việc quản lý cho vay của ngân hàng Có một
số cách chủ yếu để phân loại cho vay như sau:
∗ Theo đối tượng khách hàng:
− Cho vay Chính phủ: Là hoạt động cho vay đối với Nhà nước để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu Ngân sách Nhà Nước Cho vay Chính phủ thường thể hiện bằng việc Ngân hàng mua tín phiếu, trái phiếu do Kho bạc phát hành
Trang 10− Cho vay đơn vị kinh doanh: Là hoạt động cho vay đối với các đơn vị kinh doanh nhằm tài trợ cho các nhu cầu vốn để kinh doanh Cho vay đơn vị kinh doanh được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau phù hợp với từng nhu cầu vốn cụ thể.
− Cho vay các tổ chức tài chính khác (ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín dụng…): Là hoạt động cho vay chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc thanh toán liên ngân hàng
− Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân - người tiêu dùng với các mục đích mua sắm tài sản, tiêu dùng hoặc kinh doanh
∗ Theo mục đích sử dụng vốn vay:
− Cho vay kinh doanh: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích kinh doanh Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá nhân hoặc là đơn vị kinh doanh, trong đó chủ yếu là các đơn vị kinh doanh
− Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích tiêu dùng Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân (vay để mua tài sản) và vay cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên)
∗ Theo phương thức cho vay
− Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, chỉ khi vào thời vụ kinh doanh hay mở rộng sản xuất mới xin vay Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng lại thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
− Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức về số dư trong suốt kỳ hoặc số dư cuối kỳ
− Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận tài trợ dựa trên kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và ngân quỹ của khách hàng
− Cho vay trả góp: Là phương thức cho vay trong đó người vay trả gốc thành nhiều lần trong thời hạn đã thoả thuận ( thường được áp dụng đối với vay trung
và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định)
Trang 11− Cho vay thấu chi: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình trong một thời hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi) và trong một khoảng thời gian xác định.
Ngoài ra, còn có nhiều phương thức cho vay khác như: cho vay theo dự án đầu tư, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay hợp vốn, cho vay qua việc phát hành thẻ tín dụng…
∗ Theo thời hạn
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
Theo thời hạn, cho vay được phân loại thành:
− Cho vay không có thời hạn: Là hình thức cho vay mà việc vay – hoàn trả của khách hàng là thường xuyên, theo kế hoạch luân chuyển hàng hoá và kế hoạch doanh thu của khách hàng, không xác định cụ thể thời điểm trả nợ trên hợp đồng tín dụng
− Cho vay có thời hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn thu hồi nợ được xác định cụ thể trong hợp đồng tín dụng Cho vay có thời hạn được phân chia thành:
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay với thời hạn vay dưới 12 tháng
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến dưới 60 tháng
+ Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên
Thông thường, hai hình thức cho vay trung hạn và cho vay dài hạn được ghép thành cho vay trung và dài hạn
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là hình thức cho vay ngắn hạn
Trang 12∗ Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
− Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là việc cho vay mà ngân hàng yêu cầu người vay phải có tài sản hợp pháp đảm bảo cho khoản vay bằng hình thức thế chấp hoặc cầm cố
− Cho vay không có tài sản đảm bảo: là việc cho vay mà ngân hàng không yêu cầu người vay phải có tài sản làm vật đảm bảo mà được đảm bảo bằng uy tín, chủ yếu áp dụng cho các khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, làm ăn
có lãi, hoặc là các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ, hay các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn trong thời hạn ngắn mà ngân hàng có thể giám sát việc sinh lợi và khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Sự phân loại cho vay trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế, bao hàm trong các loại cho vay này có thể là các loại cho vay khác Chẳng hạn, cho vay ngắn hạn có thể theo phương thức cho vay từng lần, hoặc có thể là cho vay theo hạn mức
2.1.2 Cho vay ngắn hạn của NHTM
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn là hình thức ngân hàng cho vay mà thời hạn cho vay dưới 12 tháng Cho vay ngắn hạn có những đặc điểm sau:
− Vốn vay ngắn hạn luân chuyển cùng chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng Cho vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc cho vay và thu nợ luôn diễn ra lúc bắt đầu và kết thúc của chu kì sản xuất kinh doanh Ngân hàng thường cho vay khi khách hàng phát sinh nhu cầu vốn để mua vật tư, nguyên vật liệu, hoặc trang trải các chi phí sản xuất Khi hàng hoá được tiêu thụ, khách hàng có thu nhập, cũng là lúc ngân hàng thu hồi nợ Xuất phát từ đặc điểm này, các ngân hàng thường quy định thời hạn cho vay trên cơ sở chu kì sản xuất của người vay Do vậy, thời gian thu hồi vốn trong cho vay ngắn hạn nhanh
− Thời hạn thu hồi vốn nhanh nên rủi ro của khoản cho vay ngắn hạn thấp hơn khoản cho vay trung và dài hạn, mức lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn mức lãi suất cho vay trung và dài hạn
Trang 13− Hình thức cho vay phong phú: Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng các loại hình thức cho vay ngắn hạn, như: cho vay ngắn hạn từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển… Điều này vừa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng phân tán rủi ro.
− Cho vay ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng Đặc trưng của ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, trong đó nhận tiền gửi ngắn hạn là hoạt động huy động vốn chủ yếu Cho nên, với sự phù hợp về lãi suất và thời hạn, các ngân hàng chủ yếu cho vay ngắn hạn
2.1.2.2 Lý do cho vay ngắn hạn
∗ Xuất phát từ nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Trong sản xuất và kinh doanh, ngoài số vốn ban đầu khi thành lập, doanh nghiệp còn luôn phải bổ sung, tăng vốn theo quy mô phát triển Trong các cách thức huy động vốn khác nhau, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng việc vay
nợ NHTM
− Xét về cơ cấu vốn, doanh nghiệp vay ngắn hạn vì:
Trong quá trình sản xuất tình trạng thiếu vốn lưu động thường xuyên xẩy ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồn vốn ngắn hạn để bù đắp Trong khi các nguồn huy động khác gặp khó khăn và hạn chế, thì nguồn vốn vay ngắn hạn
từ ngân hàng lại tỏ ra dễ tiếp cận và hiệu quả Có thể cung cấp nguồn tài trợ lớn, đáp ứng nhu cầu của mình
Doanh nghiệp duy trì một cơ cấu vốn hợp lý Một cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đạt được là cơ cấu tối đa giá trị tài sản của chủ sở hữu Sử dụng nợ như thế nào để đạt được chi phí vốn tối ưu, từ đó tối đa giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp, đây là vấn đề quan trọng khi vay vốn ngân hàng đặc biệt là vay ngắn hạn
Doanh nghiệp sử dụng nợ để tạo ra đòn bẩy tài chính Vì chi phí nợ là chi phí trước thuế nên so với việc sử dụng vốn chủ sở hữu, việc sử dụng nợ sẽ tiết kiệm được thuế cho doanh nghiệp, làm khuếch đại thu nhập cho chủ sở hữu Do vậy, khi thiếu vốn tạm thời, cân nhắc giữa sinh lợi và rủi ro, doanh nghiệp thích lựa chọn vay ngắn hạn để tạo đòn bẩy này
Trang 14− Xét về tính chất tài sản cần tài trợ, doanh nghiệp vay ngắn hạn vì:
Tài sản cần tài trợ là tài sản lưu động Để tài trợ cho tài sản lưu động, doanh nghiệp thường xuyên lựa chọn vay vốn ngắn hạn Vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản lưu động thông thường dành cho khoản mục dự trữ (nguyên vật liệu)
Tài sản cần tài trợ là tài sản cố định Tài trợ cho tài sản cố định thường đòi hỏi nguồn vốn lớn và có thời gian chủ yếu là trung và dài hạn Tuy nhiên, trong trường hợp tạm thời thiếu vốn để đầu tư cho máy móc, thiết bị hoặc cơ sở hạ tầng
và có khả năng hoàn trả tiền vay trong một thời gian ngắn (do sự không phù hợp về dòng tiền) thì vay ngắn hạn là giải pháp khả thi và hiệu quả hơn việc vay vốn trung
và dài hạn của ngân hàng do chi phí vốn thấp hơn, thủ tục đơn giản hơn và khả năng được vay lớn hơn
∗ Là hoạt động đặc trưng của NHTM
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế, là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư Trong quá trình vận động của nền kinh tế, xảy ra mối quan hệ giữa hai loại cá nhân và tổ chức:(1) các tổ chức và cá nhân tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần
bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm Sự tồn tại của hai nhóm này hoàn toàn độc lập với ngân hàng Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm Quan hệ tín dụng trực tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) đã có từ lâu và tồn tại cho đến ngày nay
Tuy nhiên quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy
mô, thời gian, không gian Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính Ngân hàng - một trung gian tài chính điển hình thực hiện việc chuyển tiết kiệm thành đầu tư một cách hiệu quả nhất, cung cấp những dịch vụ có giá trị từ nhỏ nhất đến lớn nhất, kinh doanh rủi ro tốt nhất và có khả năng thẩm định thông tin tốt nhất (do mang tính chuyên môn hoá cao) Vì
Trang 15nguồn lợi lớn mang lại từ nghiệp vụ này (ở các nước phát triển thì doanh thu từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng 70%, còn ở các nước đang phát triển thì tỷ lệ này còn cao hơn nhiều, chiếm khoảng 80 – 90%) mà ngân hàng đã đứng ra đảm nhận vai trò trung gian tài chính cho nền kinh tế Với vai trò này ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng đa dạng về thời hạn trong đó đặc biệt là vốn cho vay ngắn hạn
2.1.3 Những trường hợp ngân hàng cho vay ngắn hạn
2.1.3.1 NHTM cho vay ngắn hạn để tài trợ tài sản lưu động
Theo sự phân chia thời hạn thì những món vay dưới 1 năm được xếp vào món vay ngắn hạn, nó phù hợp với trường hợp tài trợ cho tài sản lưu động của doanh nghiệp Các trường hợp cụ thể là:
− Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ, vốn tăng thêm này chủ yếu để mua nguyên vật liệu, công cụ dụng
cụ, tăng dự trữ, đầu tư vào tài sản lưu động ròng
− Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu, tài trợ thanh toán quốc tế đối của các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu.Ngân hàng có thể tài trợ ngắn hạn cho nhà nhập khẩu thông qua nhiều hình thức khi nhà nhập khẩu không có đủ khả năng thanh toán hoặc khi trong thời gian cho thanh toán nhân hàng cũng có thể cung cấp cho khách hàng các hình thức tín dụng khác như chiết khấu bộ chúng từ
− NHTM cho vay ngắn hạn đối với mục đích tiêu dùng của cá nhân Hình thức này cũng gồm nhiều loại Ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng bằng tiền mặt, đúng như một khoản cho vay Ngân hàng cũng có thể ký hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ và cho vay trả góp bằng cách thanh toán cho nhà cung cấp hàng hoá thay cho khách hàng, và khách hàng trả nợ ngân hàng theo phương thức trả góp nhiều lần
2.1.3.2 NHTM cho vay ngắn hạn để tài trợ tài sản cố định
Các ngân hàng thương mại thường cho các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn
để tài trợ cho tài sản lưu động Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, đối tượng tài trợ của cho vay ngắn hạn là tài sản cố định (máy móc, thiết bị, nhà xưởng) Trong trường hợp này, không thể nói đến sự phù hợp giữa thời hạn của
Trang 16nguồn huy động và tài sản mà chỉ xét đến lí do tại sao khách hàng lại vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định Những lí do mà khách hàng vay vốn là thiếu vốn tạm thời, duy trì cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng đòn bẩy tài chính Từ những lí do trên
mà khách hàng có thể lựa chọn vay vốn ngắn hạn dể tài trợ cho tài sản cố định chứ không nhất thiết phải vay vốn trung và dài hạn
2.1.4 Các phương thức cho vay ngắn hạn chủ yếu
2.1.4.1 Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản phần lớn
là không có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng vài tháng trong năm dùng để chi lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn
2.1.4.2 Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện
để được cấp hạn mức thấu chi Các khách hàng này sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác định quy
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và các điều kiện bảo đảm nếu cần Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau
Số lượng cho vay = Nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh - Vốn chủ sở hữu tham gia – Các nguồn vốn khác tham gia
Trang 17Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng có thể thu hồi nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo
2.1.4.3 Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì Đó là số dư tính tại thời điểm tính
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng Ngân hàng ước lượng các hạn mức tín dụng đối với các doanh nghiệp căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỉ lệ cho vay tối đa trên tổng giá trị tài sản đảm bảo, khả năng nguồn vốn của ngân hàng
Trong kì, khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kì Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức Tuy nhiên đến cuối kì, khách hàng phải trả nợ để giảm bớt dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng Tuy nhiên hình thức này ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả của từng lần vay
Trang 18Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
2.1.4.4 Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc quí, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau
về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặc vài năm Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định cho vay nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian tới
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn nhập hàng và số tiền cần vay Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán Giá trị những hàng hoá mua vào là đối tượng được ngân hàng tài trợ và thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay
Cho vay luân chuyển thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng Thủ tục cho vay chỉ cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn
Trang 192.1.5 Vai trò của cho vay ngắn hạn
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế đã hình thành nên những mối quan
hệ vay mượn giữa các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế Cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển của một đất nước Đây là nguồn vốn lớn của nền kinh tế Nguồn vốn vay ngắn hạn đã góp phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với doanh nghiệp, nâng cao đời sống của các cá nhân, là cơ sở cho một nền kinh tế nói chung, đối với các doanh nghiệp và ngân hàng Khi nói đến cho vay ngắn hạn, điều quan trọng không phải là giá trị của các khoản vay mà phải là chất lượng của các khoản vay Hiệu quả cho vay phản ánh chất lượng hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thể hiện tính ổn định và khả năng sinh lời của ngân hàng
2.1.5.1 Đối với nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính quan trọng, là nơi tập trung, tích tụ và phân bố đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế Cho vay là một hoạt động mang tính chất đầu tư cho nền kinh tế của NHTM Thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính là các tổ chức tài chính chủ yếu cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Và trách nhiệm chính cung cấp vốn ngắn hạn cho nền kinh tế thuộc về NHTM
Quan hệ cho vay đã hình thành và phát triển trong nền kinh tế hàng hoá Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, cho vay ngày càng trở nên quan trọng Nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và đến lượt nền kinh tế với nhu cầu vốn liên tục gia tăng lại đòi hỏi cho vay phải nâng cao chất lượng Nâng cao chất lượng cho vay mà ở đây đề cập đến chất lượng cho vay ngắn hạn là cần thiết vì:
− Nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn để đưa hoạt động cho vay thích nghi đối với nền kinh tế thị trường, đáp ứng được nhu cầu vốn gia tăng không ngừng của nền kinh tế
− Đảm bảo chất lượng cho vay ngắn hạn sẽ đảm bảo vòng quay vốn cho vay ở mức tính toán đảm bảo nguồn vốn sẵn sàng cho vay tại ngân hàng, tăng khả năng cho vay của ngân hàng đối với nền kinh tế
Trang 20− Nâng cao chất lượng cho vay làm đồng vốn cho vay thực hiện được mục tiêu vay vốn của doanh nghiệp Từ đó, thúc đẩy hoạt động đầu tư, tích cực chuyển tiết kiệm thành đầu tư huy động tối đa vốn trong dân cư cho đầu tư phát triển
Do đó sẽ giúp làm giảm lượng tiền thừa trong lưu thông, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ
− Qua việc cho vay có hiệu quả vào các công trình thuộc nhiều ngành, lĩnh vực, nền kinh tế đã có những thành tựu phát triển nhất định Nước ta ngày càng có uy tín trên trường quốc tế, cải thiện vị trí trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
− Nâng cao chất lượng cho vay để tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng Các ngân hàng muốn tăng năng lực cạnh tranh thì ngay từ hoạt động cho vay, phải chú trọng nâng cao chất lượng Đồng thời, xu hướng cạnh tranh ngày nay còn là việc áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, tiếp cận dần công nghệ hiện đại của thế giới
− Nâng cao chất lượng cho vay còn thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngân hàng trong nền kinh tế Khi nhu cầu vốn trở nên quá lớn đối với khả năng tài trợ của một ngân hàng, thì nhiều ngân hàng có thể cùng cho vay Sự hợp tác này vừa là cách hỗ trợ vốn tốt nhất cho doanh nghiệp, vừa là sự hợp tác để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng Thị trường tài chính do vậy có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất hơn
2.1.5.2 Đối với doanh nghiệp
− Cho vay ngắn hạn là nguồn bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốn ngắn hạn của doanh nghiệp Nguồn vốn này giúp các doanh nghiệp tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh, hoặc giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn tạm thời về tài chính Trong nhiều trường hợp, vay vốn ngân hàng còn là giải pháp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bắt kịp những cơ hội kinh doanh, tận dụng được thời cơ phát triển sản xuất
− Cho vay ngắn hạn đồng thời là động lực, yếu tố kích thích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Các điều kiện trong cho vay ngắn hạn tạo áp lực buộc
Trang 21doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Khi doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng thì áp lực mà họ phải chịu là thời hạn trả tiền và khoản lãi sẽ phải trả, chính vì điều này nên các doanh nghiệp cố gắng quay vòng vốn nhanh và tìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt nhất vì mục tiêu lợi nhuận
2.1.5.3 Đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM
− Hiệu quả cho vay ngắn hạn làm tăng khả năng hoạt động của NHTM do tạo được vòng quay vốn lớn, đảm bảo được nguồn vốn lớn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
− Hiệu quả cho vay ngắn hạn còn có tác động đến hoạt động tạo nguồn của ngân hàng Chất lượng cho vay tốt, vốn của khách hàng được sử dụng hiệu quả
sẽ tạo ra hình ảnh tốt, tăng uy tín của ngân hàng, thu hút thêm được nhiều khách hàng, huy động được nhiều hơn
− Hiệu quả cho vay ngắn hạn làm gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lí, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn Từ đó, cải thiện được tình hình tài chính, tăng thế cạnh tranh cho ngân hàng
− Hiệu quả cho vay tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng, bởi vì chất lượng cho vay cho phép ngân hàng có những khách hàng trung thành và đáng tin cậy Khi khách hàng có mối quan hệ tốt với ngân hàng, họ có xu hướng
sử dụng nhiều hơn các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Họ không chỉ gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích thanh toán mà có thể sử dụng dịch vụ khác như bao thanh toán, quản lí ngân quỹ … điều này tạo ra những khoản lợi không thể lượng hoá hết được Và theo các số liệu thống kê thì doanh thu từ các khách hàng thường xuyên chiếm một tỉ lệ lớn trong tổng doanh thu của ngân hàng
2.1.5.4 Hiệu quả cho vay ngắn hạn và nhân tố ảnh hưởng
Quan điểm về hiệu quả cho vay trước đây chỉ được giới hạn trong phạm vi
an toàn cho vay, thể hiện tổn thất phát sinh từ những rủi ro cho vay Hiệu quả cho vay được coi là cao khi các khoản vay không có tổn thất hoặc có tổn thất nhưng chỉ trong giới hạn nhất định, và ngược lại khi tổn thất là lớn thì hiệu quả cho vay được
Trang 22coi là thấp Chính vì thế, khi nói đến khía cạnh nâng cao hiệu quả cho vay thì người
ta thường nghĩ ngay đến việc giảm những tổn thất trong quá trình cho vay
Tuy nhiên, những chủ thể tham gia vào trong một món vay phải gồm hai bên: một bên là bản thân ngân hàng - phía cấp vốn, bên còn lại là khách hàng vay vốn – phía sử dụng vốn Ngoài ra còn có cơ quan quản lý Nhà nước Chính vì vậy, hiệu quả cho vay phải được hiểu rộng hơn chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi xem xét tổn thất từ phía ngân hàng
Một hoạt động cho vay được coi là có hiệu quả khi nó đáp ứng được các mục tiêu của cho vay Mục tiêu của ngân hàng khi cho vay là: một mặt, tài trợ vốn cho khách hàng một cách có hiệu quả, giúp khách hàng có vốn để thành lập, duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh; mặt khác, xét cho vay là hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mục tiêu là thu hồi nợ và có lãi Hoạt động cho vay có hiệu quả phải đáp ứng được cả hai yêu cầu trên
Đối với các chủ thể khác nhau thì quan niệm về hiệu quả cho vay sẽ khác nhau Đối với NHTM, hiệu quả cho vay thể hiện qua quy mô cho vay, việc đảm bảo các nguyên tắc an toàn trong cho vay, việc mang lại thu nhập thông qua hoạt động cho vay… Còn đối với doanh nghiệp thì hiệu quả cho vay lại thể hiện qua khả năng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời và đầy đủ, chi phí vốn hợp lý, hiệu quả mang lại từ việc sử dụng vốn vay Đối với cơ quan quản lý Nhà nước thì hiệu quả cho vay được thể hiện trên hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, tính ổn định của thị trường tài chính
và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Hiệu quả cho vay là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng Có thể sử dụng một số công thức và chỉ số để cụ thể hoá hiệu quả cho vay, tuy nhiên đối với những mặt không thể lượng hoá được thì sẽ sử dụng các chỉ tiêu định tính
Trang 23Do giới hạn của đề tài chỉ tập trung vào phía ngân hàng nên khái niệm hiệu quả cho vay được hiểu từ cái nhìn của ngân hàng và chủ yếu được cụ thể bằng các chỉ tiêu định lượng.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Các điều kiện để một khoản vay ngắn hạn có hiệu quả
Hoạt động cho vay ngắn hạn diễn ra giữa hai chủ thể là NHTM và khách hàng Đồng thời việc cho vay nằm trong một môi trường lớn hơn, đó là những điều kiện của nền kinh tế Do vậy, để có một khoản vay tốt cần phải có những điều kiện thuận lợi từ các bên có liên quan
2.2.1.1 Các điều kiện về phía NHTM
− Khả năng thẩm định cho vay:
Trong quy trình tín dụng của các ngân hàng, thẩm định cho vay là khâu đầu tiên
và quan trọng Thẩm định là việc đánh giá, thẩm tra, dự đoán về độ chính xác, an toàn và hiệu quả của một hợp đồng tín dụng Kết quả của quá trình thẩm định sẽ dùng để quyết định xem có thực hiện món vay hay không Mặc dù không thể tránh được tất cả các sai sót, nhưng làm tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho việc thu hồi đủ cả vốn và lãi một cách đầy đủ, đúng hạn Quá trình thẩm định không chỉ đòi hỏi việc tuân thủ nghiêm ngặt về hồ sơ và an toàn thông tin mà còn yêu cầu trình độ chuyên môn và sự phán đoán linh hoạt của cán bộ Đối với cho vay ngắn hạn, do tính đặc thù là “thường xuyên”, kịp thời nên khâu thẩm định cũng đòi hỏi phải nhanh chóng
để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, đồng thời phải đảm bảo chính xác, an toàn
− Chất lượng cán bộ tín dụng:
Trong tất cả các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế, con người luôn đóng vai trò quan trọng nhất Chính vì thế, để nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn, cần có nhiều yếu tố, trong đó con người là yếu tố trung tâm Nền kinh tế ngày càng phát triển, các ngành và lĩnh vực do đó cũng ngày càng phức tạp và yếu tố chất xám ngày càng tăng Ngành ngân hàng là một ngành đặc biệt trong nền kinh tế, nơi mà các công nghệ hiện đại nhất được ứng dụng Tính phức tạp và tinh vi trong việc
Trang 24xử lý các nghiệp vụ đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải có đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức Trình độ cán bộ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay, trước hết là trong công tác thẩm định, phân tích tín dụng, quản lý tín dụng Mặt khác, khách hàng của ngân hàng ngày càng phong phú, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, cán bộ tín dụng cũng phải có trình độ, hiểu biết nhiều lĩnh vực để có thể đánh giá được khách hàng và dự án xin vay.
− Thông tin tín dụng:
Vấn đề thông tin là một vấn đề nhạy cảm và có tính quyết định đến thành công hay thất bại của công việc kinh doanh NHTM hoạt động trong một lĩnh vực rất nhạy cảm với những thay đổi của nền kinh tế và mang tính rủi ro cao Do vậy, thông tin đối với ngân hàng là vô cùng quan trọng Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng không thể có được tất cả những thông tin cần thiết: về khách hàng, quan hệ tín dụng của khách hàng với những tổ chức tín dụng khác, tài sản đảm bảo, những mối quan hệ khác của khách hàng, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng… Mọi thông tin đều có ảnh hưởng đến quyết định của cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định cho vay Việc thiếu thông tin tạo ra những rủi ro lớn cho ngân hàng, tạo ra rủi ro lựa chọn đối nghịch Do đó, ngân hàng nào càng nắm được nhiều thông tin chính xác sẽ càng có lợi thế trong cạnh tranh
− Kiểm soát nội bộ:
Trong quá trình hoạt động của ngân hàng, không thể tránh khỏi việc xẩy ra những rủi ro do yếu tố chủ quan hoặc khách quan Nếu các cán bộ ngân hàng không nắm vững hay không tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cho vay thì có thể sẽ dẫn đến tổn thất trong cho vay Công tác kiểm soát nội bộ là cần thiết để điều chỉnh các cán
bộ thực hiện đúng pháp luật, cơ chế cho vay đồng thời phát hiện nhanh chóng sai sót, lệch lạc trong hoạt động tín dụng, tìm được giải pháp khắc phục kịp thời
2.2.1.2 Các điều kiện về phía khách hàng
Khi việc cho vay chưa diễn ra thì vai trò của cán bộ tín dụng là vô cùng quan trọng Tuy vậy, khi khoản cho vay đã diễn ra, khách hàng đã vay được tiền từ ngân hàng thì khách hàng chính là người quyết định đến chất lượng của món vay
Trang 25Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay, do đó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay Việc khách hàng có đủ các điều kiện được vay hay không, khách hàng sử dụng vốn vay như thế nào, khả năng trả nợ cho ngân hàng… đều quyết định đến chất lượng cho vay.
− Phương án xin vay:
Phương án sản xuất kinh doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả cho món vay Một phương án tốt sẽ sử dụng tốt nguồn vốn vay, đem lại lợi nhuận cho khách hàng, dòng tiền và kết quả kinh doanh sẽ đủ để trả đủ vốn và lãi của khoản vay
− Tình hình tài chính của doanh nghiệp:
Khi xem xét hồ sơ khách hàng, chỉ những khách hàng có tình hình kinh doanh tốt, những chỉ tiêu tài chính có hiệu quả thì mới được xem xét để cho vay Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện trước hết qua bảng tổng kết tài sản: quy
mô tài sản (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán có giá, các khoản phải thu,
dự trữ, tài sản cố định…), quy mô và cơ cấu nguồn vốn (các khoản nợ phải trả, vay ngân hàng, nợ quá hạn, các chủ nợ, giá trị của các khoản nợ, thứ tự ưu tiên thanh toán nợ ) Tiếp đến cần phải xem xét đến báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ: luồng tiền, các tỷ lệ tài chính như: nhóm tỷ lệ thanh khoản, nhóm tỷ lệ sinh lời, nhóm tỷ lệ rủi ro và nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, tài sản đảm bảo Nếu tình hình tài chính của khách hàng tốt, đáp ứng được những yêu cầu của ngân hàng, khoản vay sẽ ít rủi ro hơn Khi rủi ro được giảm thiểu thì chất lượng cho vay được nâng cao
− Năng lực điều hành, quản lý và đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp:Một trong những yêu cầu quan trọng khi xem xét cho vay khách hàng là việc nhân viên tín dụng gặp gỡ trực tiếp và đàm phán với chủ doanh nghiệp Thông qua quá trình gặp gỡ và trao đổi này thì nhân viên tín dụng có thể hiểu thêm nhiều về đối tượng cho vay, về kinh nghiệm, về kiến thức, về ý thức và quyết tâm kinh doanh Đây mặc dù là một yếu tố phi tài chính nhưng lại vô cùng quan trọng thuộc
về doanh nghiệp và có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Khi chủ doanh nghiệp
có trình độ chuyên môn cao, năng lực lãnh đạo tốt thì ngay ở khâu đầu tiên là lập dự
Trang 26án đầu tư cũng đã thể hiện khả năng thành công của dự án, khả năng sử dụng vốn vay từ ngân hàng một cách hiệu quả Nếu ngược lại, nếu như chủ doanh nghiệp không có đủ trình độ quản lý và kinh nghiệm cần thiết thì khoản vay không phát huy được tác dụng, không đảm bảo được chất lượng cho vay và kết quả xấu nhất là ngân hàng mất vốn Bên cạnh việc xem xét về trình độ chuyên môn của khách hàng, cán bộ tín dụng cũng phải đánh giá khách hàng trên khía cạnh đạo đức Tính trung thực, mức độ thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng tín dụng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo khoản vay có hiệu quả.
2.2.1.3 Các điều kiện về nền kinh tế
Mọi hoạt động của doanh nghiệp không thể tách rời khỏi những biến động của thị trường Bất cứ sự thay đổi nào trên thị trường như tình hình lạm phát, tăng trưởng hay suy thoái, mức thuế, giá cả thị trường… đều có ảnh hưởng đến khách hàng của doanh nghiệp, doanh số bán hàng, tình hình tiêu thụ, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận… Khi nền kinh tế tăng trưởng thì mọi yếu tố của thị trường đều thuận lợi đối với việc đầu tư mới, nhu cầu tăng, mức giá tăng sẽ tạo điều kiện tốt cho việc kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại khi nền kinh tế bị giảm phát hoặc mức lạm phát quá cao (lạm phát hai con số) thì chi phí sản xuất, chi phí nhân công tăng quá cao, khiến cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp không thuận lợi Do vậy, có thể nhận thấy rằng khi nền kinh tế tăng trưởng tốt thì dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng thường cao hơn rất nhiều so với những thời điểm nền kinh tế không thuận lợi Một nền kinh tế ổn định là cần thiết để các doanh nghiệp có thể kinh doanh tốt, ngân hàng cũng có thể mở rộng cho vay và thu lợi nhuận cao, đảm bảo hiệu quả cho vay
Trên đây là toàn bộ lý luận chung về hiệu quả cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại Thông qua đó ta thấy rằng các ngân hàng rất quan tâm đến hoạt động cho vay mà đặc bịêt là cho vay ngắn hạn Tuy nhiên đó là về mặt
lý luận, vậy thực tế hoạt động đó diễn ra như thế nào Điều này sẽ được thể hiện
rõ nét hơn trong phần phân tích thực trạng hiệu quả cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Đắk Lắk
Trang 272.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.2.1 Nhóm các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay trên cơ sở pháp lý; việc tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ; việc thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng cho vay
− Trên cơ sở pháp lý: hoạt động cho vay có hiệu quả phải chấp hành pháp luật
của Nhà nước, cao nhất là Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
− Trên cơ sở quy chế cho vay của NHTM: hoạt động cho vay có hiệu quả luôn
phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay Từ những đặc điểm riêng có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và đưa ra các quy chế cho vay phù hợp nhất Trong đó đưa ra các khái niệm, quy định, các quy trình
và các hướng dẫn cụ thể dành cho các cán bộ ngân hàng Các quy định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có chất lượng Do vậy việc tuân thủ những quy trình là tiền đề của chất lượng cho vay
− Trên cơ sở hợp đồng cho vay: khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân hàng và
khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng Trong hợp đồng tín dụng sẽ quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng, số tiền vay, phương thức trả nợ, trả lãi và được thể hiện ở dạng những cam kết Một khoản vay được coi là có chất lượng khi nó được thực hiện đúng những cam kết đã kí trong hợp đồng tín dụng Nếu một khoản vay mà ngay từ mục đích vay vốn khách hàng đã không tuân thủ theo đúng cam kết thì khoản vay đó không được coi là có chất lượng Hoặc khoản vay mà không được hoàn trả đúng thời hạn, khách hàng khất lần nhiều lần thì cũng không đạt được chất lượng.Các nhóm chỉ tiêu định tính trên đây đã có thể phản ánh một phần của hiệu quả cho vay Đây là những chỉ tiêu gần như bắt buộc phải có để một khoản cho vay được coi là có hiệu quả Tuy vậy, muốn xem xét cụ thể, cẩn thận và toàn diện thì
Trang 28cần phải xét đến các chỉ tiêu định lượng.
2.2.2.2 Nhóm các chỉ tiêu định lượng
Nhóm các chỉ tiêu định lượng phản ánh mặt lượng của khoản cho vay, thông qua việc phân tích các chỉ tiêu về lượng, tính toán và so sánh các tỷ lệ Nhóm các chỉ tiêu định lượng bao gồm:
∗ Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay ngắn hạn
Doanh số thu nợVòng quay vốn cho vay = _
Dư nợ cho vay bình quânChỉ tiêu vòng quay vốn cho vay phản ánh thực trạng sử dụng vốn của ngân hàng Nó đề cập đến việc người vay có trả nợ thường xuyên, đúng kỳ hạn và nhanh chóng hay không Nó phản ánh khả năng sử dụng vốn có hiệu quả của ngân hàng Nếu các chỉ tiêu khác không thay đổi, trong điều kiện bình thường vòng quay vốn càng lớn chứng tỏ những tài sản (các khoản vay) của ngân hàng có tính thanh khoản cao, khả năng sinh lợi tốt Vòng quay vốn cho vay lớn với mức dư
nợ bình quân không đổi, doanh số trả nợ lớn chứng tỏ chất lượng cho vay cao hơn so với vòng quay nhỏ, doanh số trả nợ thấp Tuy nhiên vòng quay vốn không phản ánh được nhiều thông tin vì vòng quay vốn này có mối tương quan chặt chẽ với vòng quay vốn của doanh nghiệp Nếu khách hàng là một doanh nghiệp thương mại và dịch vụ thì vòng quay vốn nhanh, do đó vòng quay vốn của NHTM cũng lớn Nếu khách hàng là doanh nghiệp sản xuất thì vòng quay vốn của các doanh nghiệp này sẽ nhỏ, từ đó dẫn đến vòng quay vốn của NHTM cũng nhỏ hơn
Trang 29Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ số dư nợ quá hạn càng lớn (trong một tương quan với tổng dư nợ cho vay) Một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì hiệu quả cho vay thấp.
Muốn xem xét một cách toàn diện, chỉ tiêu của năm nay cần phải được so sánh với chỉ tiêu này của những năm trước đó Khi xét trên mối quan hệ về thời gian, ta có thể thấy chính xác tình hình qua các năm, qua đó có thể thấy được chất lượng cho vay qua các năm Đồng thời cũng có thể đánh giá được hiệu quả của công tác và các biện pháp giảm nợ quá hạn, nâng cao chất lượng cho vay
∗ Chỉ tiêu tỷ lệ nợ khó đòi
Tổng dư nợ khó đòi
Tỉ lệ nợ khó đòi = _ x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này càng cao, rủi ro mất vốn càng lớn, thì hiệu quả cho vay càng thấp Đồng thời nó thể hiện chất lượng thẩm định dự án kém, quan hệ khách hàng không tốt, việc đôn đốc thu hồi nợ còn yếu
∗ Chỉ tiêu mức sinh lời của đồng vốn cho vay
Thu nhập từ cho vay
Mức sinh lời của đồng vốn cho vay =
Dư nợ cho vay bình quân
Thu nhập của các ngân hàng trong hệ thống các NHTM ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là từ các khoản cho vay, mà trong các khoản cho vay thì các khoản cho vay ngắn hạn luôn chiếm một tỷ trọng lớn Do vậy có thể nói rằng thu nhập
từ việc cho vay ngắn hạn có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Chỉ tiêu này đánh giá hoạt động cho vay ở khía cạnh là hoạt động kinh doanh của ngân hàng Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được trên một đồng vốn cho vay Mức sinh lợi cao cho thấy chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng là có hiệu quả
Trang 30Ngoài chỉ tiêu mức sinh lời của một đồng vốn tín dụng ngắn hạn còn có thể xem xét mức đóng góp vào tổng thu nhập chung của cho vay ngắn hạn
Thu nhập từ cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ thu nhập = x 100%
Tổng thu nhập
Từ tỷ lệ này, có thể biết được thu nhập từ cho vay ngắn hạn đóng góp bao nhiêu phần trăm vào thu nhập của ngân hàng Từ đó có thể xem xét vai trò của hoạt động cho vay và hiệu quả của hoạt động cho vay đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trang 31PHẦN THỨ BA ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thuong mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương ĐăkLăk (tiền thân là phòng giao dịch của chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Nha Trang) được thành lập theo quyết định số 209 ngày 10/10/1996 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam và chính thức khai trương đi vào hoạt động ngày 15/01/1997
− Tên tiếng việt : Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam - Chi Nhánh Đăk Lăk
− Tên tiếng Anh : Bank For Foreign Trade Of Viêt Nam – Đăk Lăk Branch
− Tên viết tắt tiếng Anh : Vietcombank Đăk Lăk
− Tên giao dịch : VIETCOMBANK ĐĂKLĂK
− Điện thoại : (0500) 3857 899 – Fax: (0500) 3855 038
− Trụ sở : 06 Trần Hưng Đạo – TP Buôn Ma Thuột - Tỉnh ĐăkLăk
Là một chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Ngân hàng TMCP Ngoại Thương ĐăkLăk cũng kế thừa những thành quả nhất định trong hoạt động TTXNK, ngoài ra việc thành lập chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương ĐăkLăk nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cung cấp các dịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và tầng lớp dân cư là rất cần thiết:
Mục tiêu của việc thành lập chi nhánh ngân hàng ngoại thương Đăk Lăk là nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cung cấp dịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và tầng lớp dân cư là hết sức cần thiết:
− Một là: bổ sung thêm một kênh huy động vốn để khai thác tốt hơn nguồn vốn nội lực trên địa bàn
Trang 32− Hai là: đáp ứng nhu cầu vốn để phát triển mục tiêu kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
− Ba là: thực hiện chủ trương mở rộng, phát triển các loại tổ chức tín dụng
− Bốn là: góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế trong tỉnh
Trong quá trình hình thành và phát triển, ngoài việc cho vay thu mua và chế biến các mặt hàng nông – lâm sản xuất khẩu, chi nhánh Ngân Hàng Ngoại Thương Đăk Lăk còn cho vay nhập khẩu nhiều phương tiện, máy móc, thiết bị, công nghệ…
mở rộng thị trường hoạt động với các loại hình dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong mọi lĩnh vực giao dịch góp phần thúc đẩy nền kinh tế tỉnh phát triển
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của NH TMCP Ngoại Thương chi nhánh ĐăkLăk
3.1.2.1 Chức năng chủ yếu của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh ĐăkLăk
Theo sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, các yêu cầu đầu tư của tỉnh và các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế của địa phương nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp phát triển của đất nước theo định hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Thực hiện các chức năng sau:
- Tổ chức thu – chi tiền mặt góp phần cùng với NHNN tỉnh điều hòa lưu thông tiền tệ trên địa bàn
- Đáp ứng đầy đủ và kịp thời nguồn vốn cho sản xuất, thu mua và chế biến các mặt hàng xuất khẩu góp phần thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu của tỉnh ngày càng tăng
3.1.2.2 Nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh ĐăkLăk
- Thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, đơn vị, tổ chức kinh tế, cung ứng vốn ngắn, trung và dài hạn cho các thành phần kinh tế Bảo lãnh các hợp đồng dự
Trang 33thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước, thu đổi ngoại tệ, séc du lịch, thanh toán thẻ… Chiết khấu và thanh toán các bộ chứng từ hàng XNK
3.1.3 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Đăk Lăk
3.1.3.1 Cơ cấu tổ chức
Tên cơ sở chức năng và nhiệm vụ, bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Chi nhánh ĐăkLăk được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.1.3.1: Cơ cấu tổ chức, quản lý bộ máy của Ngân hàng TMCP Ngoại
Thương - Chi Nhánh Đăklăk
P.DỊCH VỤ &
TT QUỐC TẾ
PHÒNG KIỂM SOÁT
PHÒNG TỔNG HỢP PHÒNG VI TÍNH
P.GD
SỐ 1 P.GD TẤT THÀNH P.GD SỐ 3 P.GD HÙNG VƯƠNG P.GD THUẬN HÒA P.GIAO DỊCH TÂN LỢI
Trang 34∗ Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
− Giám đốc: Được quyền ký kết các hợp đồng, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước về các lĩnh vực trong phạm vi chi nhánh, đại diện chi nhánh trước pháp luật về tố tụng, tranh chấp Có quyền quyết định nhân sự, khen thưởng, kỉ luật, chi trả lương, cho thôi việc, bổ nhiệm, uỷ quyền của Hội đồng quản trị và giám đốc NHNT VN Ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ kinh doanh,
kỹ thuật, nghề nghiệp, nội quy quản lý, các quy định này phải theo quy chế gốc của chủ tịch hội đồng quản trị
− Phó giám đốc: Do giám đốc phân công công việc chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Giám đốc về công việc được giao, chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình
− Phòng kế toán: Tổng hợp, lư trữ hồ sơ tài liệu về kế toán, quyết toán và báo cáo theo quy định Thực hiện các khoản mục nộp ngân sách theo quy định
− Phòng ngân quỹ: Chấp hành quy định về quản lý an toàn và định mức tồn quỹ, nghiệp vụ thu chi, vận chuyển tiền bạc thông qua các phương tiện khác nhau Thực hiện các báo các, kiểm tra định kỳ theo quy đinh
− Phòng quan hệ khách hàng: Nghiên cứu, đề xuất và xây dựng chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn, xây dựng kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, trung và dài hạn Phân loại các chính sách ưu đãi đối với từng khách hàng nhằm
mở rộng theo hướng đầu tư khép kín như sản xuất, tài trợ các dự án Thẩm định những đề xuất cho vay của các dự án tín dụng theo phân cấp uỷ quyền