Trường dạy nghề trong quân đội là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nơi trực tiếp tổ chức đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho bộ
Trang 1DOÃN THÁI TRÍ
MÔ hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp Cho học sinh các tr-ờng dạy nghề trong
quân đội
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2DOÃN THÁI TRÍ
MÔ hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp Cho học sinh các tr-ờng dạy nghề trong
quân đội
Chuyờn ngành : Lý luận và Lịch sử Giỏo dục
Mó số : 62 14 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS, TS Trần Khỏnh Đức
2 PGS, TS Nguyễn Văn Phỏn
HÀ NỘI - 2015
Trang 3T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu trÝch dÉn trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ cã xuÊt
sø râ rµng LuËn ¸n ch-a tõng
®-îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh khoa häc nµo
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
DOÃN THÁI TRÍ
Trang 41.1 Các khái niệm công cụ được sử dụng trong đề tài 27 1.2 Các yếu tố tác động đến quá trình phát triển kỹ năng nghề
nghiệp cho học sinh trong dạy học thực hành nghề 43
Ch-¬ng 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHỀ
NGHIỆP TRONG DẠY THỰC HÀNH NGHỀ Ở
2.1 Thông tin chung về hệ thống các trường dạy nghề trong
2.2 Tình hình việc làm và sử dụng học sinh học nghề tại các
trường dạy nghề trong Quân đội (hiệu quả đào tạo ngoài) 61 2.3 Thực trạng phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong dạy thực hành
nghề cho hoc sinh học nghề tại các trường dạy nghề Quân đội 63
Chương 3 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP
TRONG DẠY THỰC HÀNH NGHỀ CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ TRONG QUÂN ĐỘI 91 3.1 Mục tiêu phát triển năng lực nghề nghiệp cho học sinh
3.2 Những nguyên tắc phát triển kỹ năng nghề nghiệp 95 3.3 Mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh các
3.4 Một số nhóm biện pháp triển khai mô hình phát triển kỹ năng
nghề nghiệp cho học sinh các trường dạy nghề Quân đội 100
3.5 Kết quả thăm dò về tính cần thiết và khả thi của mô
hình và các nhóm biện pháp triển khai mô hình 140 3.6 Thực nghiệm một số biện pháp triển khai mô hình đã
đề xuất tại các trường dạy nghề trong quân đội 142
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
Trang 508 Trường dạy nghề trong quân đội TDNTQĐ
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài “Mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh các
trường dạy nghề trong quân đội” đã được tác giả quan tâm và có quá trình
tìm hiểu, nghiên cứu, tích lũy về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong nhiều năm qua Trên cơ sở nghiên cứu, sưu tầm hệ thống tài liệu khá phong phú và được sự giúp đỡ của cá nhân, tập thể các nhà khoa học đã cho phép tác giả triển khai nghiên cứu đề tài khoa học này
Trong quá trình triển khai, tác giả đã tham khảo kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan, vận dụng cơ sở lý luận về kỹ năng và phát triển KNNN cho học sinh học nghề Đồng thời, đã khảo sát, nghiên cứu nắm chắc thực tiễn phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội, thông qua các số liệu thực tế ở các trường, cơ quan quản lý, số liệu điều tra xã hội học của tác giả và những tư liệu, báo cáo
sơ, tổng kết của các cơ sở dạy nghề quân đội
Kết cấu của luận án gồm: Mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, ba chương, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
2 Lý do chọn đề tài luận án
Ngày nay, trong nền kinh tế trí thức, tài nguyên con người trở nên vô cùng quan trọng Khác với tài nguyên thiên nhiên có hạn và đang cạn dần, tài nguyên con người càng sử dụng càng trở nên dồi dào vì tích lũy thêm kinh nghiệm thông qua quá trình lao động Đặc biệt, nếu được trang bị nền tảng kiến thức khoa học&kỹ thuật cũng như khoa học nhân văn đầy đủ thì nguồn tài nguyên này càng có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội Các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra khái niệm “vốn xã hội” để chỉ tài nguyên con người và các mối quan hệ của họ trong xã hội Trong doanh nghiệp “vốn
Trang 7xã hội” (chứ không phải vốn sản xuất kinh doanh) quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Bởi vậy, các doanh nghiệp ra sức tìm người giỏi, “săn đầu người” để làm tăng “vốn xã hội” của mình Nói rộng ra, trong một đất nước mà nguồn “vốn xã hội” càng dồi dào, phong phú thì đất nước càng nhanh phát triển, giàu mạnh
Phát triển KNNN cho học sinh học nghề có vai trò quan trọng và là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong các nhà trường dạy nghề nói chung
và các trường dạy nghề quân đội nói riêng Đây cũng là mục tiêu cơ bản để nâng cao chất lượng dạy nghề trong quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp qua dạy thực hành nghề ở các trường dạy nghề trong quân đội rất phong phú và đa dạng theo các loại hình nghề nghiệp khác nhau Mặt khác,
xu hướng đào tạo theo năng lực thực hiện (CBT- Competence based Training) nhằm hình thành và phát triển năng lực hành nghề (năng lực nghề nghiệp) cho người học đã và đang là xu hướng chủ đạo trong công tác đào tạo nghề ở nước ta và các nước trên thế giới Chính vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển KNNN cho học sinh ở các trường dạy nghề trong quân đội là việc làm quan trọng và cần thiết
Nhận thức rõ vị trí và vai trò to lớn của dạy nghề, Đảng, Nhà nước ta
đã thường xuyên quan tâm tới việc phát triển dạy nghề Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo Nghị Quyết Trung ương VIII khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 của Chính phủ đã nêu rõ cần phải
“Điều chỉnh cơ cấu đào tạo, tăng nhanh dạy nghề” Tập trung hiện đại hoá một số trường dạy nghề nhằm chuẩn bị đội ngũ công nhân có kỹ năng nghề cao có trình độ tiếp thu, sử dụng công nghệ cao Hình thành hệ thống đào tạo
kỹ năng nghề với nhiều cấp trình độ Phát triển năng lực nghề nghiệp trong
Trang 8dạy thực hành nghề giữ một vị trí quan trọng trong quá trình dạy nghề, vì có tới 70 – 75% thời lượng trong dạy nghề là thực hành và qua đó hình thành KNNN cho học sinh Qua dạy thực hành, học sinh học nghề vận dụng các kiến thức về chuyên môn, hình thành KNNN, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý…, đó là những nhân tố tạo nên năng lực nghề nghiệp cho người học trong
và sau quá trình đào tạo
Trường dạy nghề trong quân đội là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nơi trực tiếp tổ chức đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho bộ độ xuất ngũ và các đối tượng chính sách
xã hội; đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình
độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề; nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức nghề nghiệp; tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Tuy nhiên, với cương vị là một cán bộ trực tiếp chỉ đạo công tác chuyên môn của khối trường dạy nghề trong quân đội, từ thực tiễn trong công tác của mình với góc nhìn khoa học, tác giả luận án nhận thấy: Bên cạnh việc tiếp cận những vấn đề ở tầm vĩ mô, chúng ta cũng cần thiết phải tiến hành nghiên cứu nội dung ở cấp vi mô (cấp nhà trường/ cơ sở đào tạo) tác động đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Đặc biệt là phát triển KNNN qua hoạt động dạy thực hành nghề, rèn luyện kỹ năng hành nghề ở các trường nghề quân đội còn nhiều bất cập và hạn chế Những năm qua, các yếu tố bảo đảm chất lượng dạy nghề
về chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất để nâng cao KNNN cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức; việc xây dựng và ứng dụng các
bộ tiêu chí đánh giá KNNN theo chuẩn quốc gia cho từng nghề đào tạo chưa được triển khai đồng bộ; quy trình luyện tập thực hành nghề và tính hiệu quả trong tổ chức các hoạt động phát triển KNNN cho học sinh chưa được hoàn thiện và đảm bảo…;
Trang 9Đây chính là những nguyên nhân làm cho chất lượng nguồn lao động của nước ta còn thấp, kỹ năng nghề nghiệp của học sinh trong các trường dạy nghề còn bất cập, nhiều doanh nghiệp không tuyển được lao động chất lượng cao và lao động nước ngoài vào nước ta còn nhiều (con số hàng chục vạn) Nếu học nghề là điều kiện tiên quyết để có việc làm thì chất lượng lao động cao mới thu hút được đầu tư và muốn có thu nhập cao thì phải phát triển KNNN cho học sinh học nghề Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận
án về phát triển kỹ năng hành nghề trong ngành dạy nghề song cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu, luận án nào được công bố cũng như những giải pháp và khuyến nghị nào về xây dựng và triển khai ứng dụng mô hình phát triển KNNN ở các trường dạy nghề trong quân đội
Để giải quyết những bất cập, hạn chế trên và thực hiện chiến lược phát
triển giáo dục nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng Đề tài “Mô hình
phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội” được tiến hành nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết những vấn đề về lý
luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng dạy nghề trong quân đội Mặt khác kết quả nghiên cứu có khả năng được áp dụng rộng rãi ở các trường dạy nghề sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp dạy nghề ở nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển kỹ năng nghề nghiệp,
đề xuất mô hình và các nhóm biện pháp triển khai mô hình phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về cơ sở lý luận dạy thực hành nghề và phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề
Trang 10- Khảo sát đánh giá thực tiễn phát triển KNNN trong quá trình dạy thực hành nghề cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội
- Đề xuất mô hình và các nhóm biện pháp triển khai mô hình phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phát triển KNNN trong dạy thực hành nghề cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên quan điểm khách quan, toàn diện, biện chứng và lịch sử, vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc và các phương pháp nghiên cứu của khoa học giáo dục vào nghiên cứu chuyên đề Tác giả đã phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, rút ra nhận định riêng trong việc đánh giá các vấn đề,
sự kiện và luận giải các quan điểm, cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Quá trình nghiên cứu, tác giả đã
sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách chuyên khảo thuộc phạm vi nghiên cứu của; phân tích, tổng hợp, khái quát kết quả các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về
KN, KNNN, phát triển KNNN
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát một số hoạt động rèn luyện KNNN; khảo sát, tọa đàm, điều tra bằng phiếu, lấy ý kiến chuyên gia; tổng kết các kinh nghiệm phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề quân đội
Các phương pháp thống kê, xử lý thông tin thống kê
Trang 116 Đóng góp mới của luận án
Qua nghiên cứu, luận án hệ thống hóa và góp phần làm rõ thêm nội hàm của một số khái niệm như: kỹ năng, kỹ năng nghề, dạy học thực hành nghề, năng lực và năng lực thực hiện, năng lực nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp…; trên cơ sở đó, luận án có thể khẳng định sự tiếp cận mới về triết lý đào tạo và xây dựng khung lý luận phát triển KNNN Đề xuất mô hình phát triển KNNN trong dạy thực hành nghề nhằm nâng cao năng lực hành nghề cho học sinh đáp ứng tốt các yêu cầu thực tiễn về nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo của sự nghiệp dạy nghề
7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
7.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
Luận án góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận phát triển KNNN Qua đó, cung cấp thêm luận cứ khoa học phát triển KNNN nhằm nâng cao năng lực hành nghề cho học sinh đáp ứng tốt các nhu cầu nhân lực lao động kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Thực hiện nguyên lý giáo dục, học đi đôi với hành, đào tạo gắn với thực tiễn sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, luận án đề xuất
mô hình và các nhóm biện pháp triển khai mô hình phát triển năng KNNN cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội trong quá trình đào tạo nghề nói chung và dạy thực hành nghề nói riêng, góp phần đổi mới quá trình dạy thực hành nghề, nâng cao chất lượng dạy nghề ở các trường dạy nghề trong quân đội
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu khoa học, dạy nghề ở các cơ sở dạy nghề
Trang 128 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu gồm: Phần mở đầu, phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu, ba chương, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục
Trong luận án, nghiên cứu sinh đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội hiện nay, tập trung làm rõ khái niệm KN, xây dựng khái niệm KNNN ; xác định các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quá trình phát triển KNNN Trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng KNNN của học sinh các trường dạy nghề trong quân đội hiện nay, nghiên cứu sinh đề xuất mô hình và các biện pháp triển khai mô hình phát triển KNNN Các nhóm biện pháp là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ, cùng hướng vào hoàn thiện, nâng cao KNNN của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề của các trường dạy nghề trong quân đội
Trang 13TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Sự nghiệp dạy nghề và phát triển nguồn nhân lực nói chung một cách hợp lý và có hiệu quả phải được đặt trong trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế - xã hội và trên cơ sở đó định ra chiến lược phát triển cho từng giai đoạn cụ thể Trong những năm qua, sự nghiệp dạy nghề đã được quan tâm phát triển mạnh và đã đào tạo được một đội ngũ lao động chuyên môn - kỹ thuật khá hùng hậu cho xã hội Song do nhiều nguyên nhân, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế đang trong quá trình tái cơ cấu, phát triển theo chiều sâu….với nhiều yêu cầu mới nảy sinh thì tình trạng thiếu hụt đội ngũ nhân lực lao động kỹ thuật có tay nghề cao ngày càng gay gắt Vì vậy, cần phải có định hướng dài hạn và các biện pháp triển khai một cách hệ thống và hiệu quả để đáp ứng những nhu cầu phát triển KNNN cho học sinh học nghề, tạo nguồn lao động chất lượng cao cả số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu cấp thiết về nhân lực của đất nước trong quá trình CNH,HĐH
Lý luận phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh học nghề là sự phát triển mới về lý luận của hoạt động dạy nghề, nhằm góp phần định hướng hoạt động đào tạo nguồn lao động chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh Vì vậy, vấn đề phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh học nghề đã và đang được quan tâm nghiên
cứu ở trong và ngoài nước
1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến luận án
Để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho học viên học nghề, ngay từ những năm 1955, Tổ chức Văn hoá Giáo dục Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đặc biệt quan tâm đến cách thức đào tạo nghề theo mô đun Người ta đã vận dụng ý tưởng mô đun trong kỹ thuật vào quá trình đào tạo nghề Trong cuốn “The Modular Curriculum”của David Wawich và “Modular Design
in TAFF Courses” của O Donnel [78] đã đưa ra quan niệm về thuật ngữ mô đun
Trang 14như là một đơn vị độc lập, tự bản thân nó đã mang tính trọn vẹn, có thể dùng để lắp ghép với những đơn vị khác nhằm thực hiện thành công một nhiệm vụ lớn hơn hoặc lâu dài hơn trong lao động thực hành nghề nghiệp
Trong cuốn “Từ điển bách khoa quốc tế về giáo dục” của nhóm G7 phát hành năm 1985, đã đưa ra định nghĩa về mô đun như là một đơn vị hướng dẫn học tập độc lập, tập trung chủ yếu vào một số mục tiêu được xác định rõ ràng Nội dung của mô đun bao gồm các tài liệu hướng dẫn cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Giới hạn của một mô đun chỉ có thể được xác định đối với các chỉ tiêu được nêu rõ Một mô đun gồm những nội dung chính sau: 1 Mục tiêu; 2 Các tiêu chí tiên quyết cần đạt được; 3 Các nội dung hướng dẫn; 4 Kiểm tra chẩn đoán trước khoá học; 5 Những người thực hiện mô đun; 6 Kiểm tra đánh giá sau khoá học; 7 Đánh giá mô đun
Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), mô đun được coi là đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố của các môn học lý thuyết, các kỹ năng
và kiến thức liên quan để tạo ra một năng lực chuyên môn Mỗi mô đun là một đơn vị trọn vẹn về mặt chuyên môn, vì vậy nó sẽ tương ứng với một khả năng tìm việc Điều đó có nghĩa là, khi kết thúc thành công việc học một mô đun sẽ tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho tìm kiếm việc làm; đồng thời mỗi
mô đun có thể hình thành được một phần nhỏ trong năng lực chuyên môn của người thợ lành nghề (Kỹ năng nghề) [75]
Qua nghiên cứu trên, chúng ta nhận thấy rằng mô đun là cấu phần đào tạo mang tính trọn vẹn, đơn lẻ, tự hoàn thiện và có thể lắp ghép để phát triển;
nó luôn chứa đựng nội dung và có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác của quá trình đào tạo Đào tạo theo mô đun là một phương thức đào tạo linh hoạt,
đa dạng nhằm phát triển kỹ năng nghề nghiệp, năng lực hành nghề cho người học theo từng loại hình công việc cụ thể trong quá trình hành nghề Theo hướng làm tăng hiệu quả sử dụng của đào tạo, việc nghiên cứu và triển khai phương thức dạy học thực hành để phát triển kỹ năng nghề đã được
Trang 15tiến hành rất sớm ở một số nước công nghiệp phát triển Phương thức phát triển kỹ năng nghề nghiệp có sự phù hợp với yêu cầu của thực tế nên dần được vận dụng ở nhiều nước trên thế giới
Quá trình phát triển kỹ năng nghề nghiệp dựa theo năng lực thực hiện
có thể được chia ra làm ba giai đoạn chủ yếu như trước năm 1965, từ 1965 đến 1980 và từ 1980 đến nay
- Giai đoạn trước năm 1965, do yêu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ
và thương mại, tư tưởng cải cách phương thức giáo dục và đào tạo nghề đã xuất hiện ở một số nước công nghiệp phát triển Người ta nhận thấy rằng việc đào tạo nghề nghiệp truyền thống theo hệ bài – lớp – khoá học – năm học nhiều khi đã không đáp ứng được nhu cầu phát triển của người sử dụng lao động và các doanh nghiệp Nhiều nơi, đào tạo nghề đã được thực hiện theo nguyên tắc người học cần gì thì học nấy mà không nhất thiết phải học toàn bộ
hệ thống các kiến thức cùng kỹ năng nghề nghiệp cần cho một nghề Theo cách đào tạo này, người học có nhu cầu làm việc đến đâu thì phải học đến đó, nhà trường không phải quy định cứng nhắc về thời gian học tập Tuy nhiên,
do hạn chế của bối cảnh trước năm 1965 việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh vẫn chưa được chú trọng đến
- Giai đoạn từ 1965 đến 1980, Ở Anh, lúc đầu các nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng việc học tập dựa theo năng lực thực hiện, đánh giá kỹ năng nghề nghiệp cần được tiến hành nghiên cứu khoa học ở các trường đại học Nhiều đề tài nghiên cứu được thực hiện ở các trường đại học, cao đẳng khác nhau, nhưng kết quả cho thấy nền giáo dục đại học lại ít được hưởng lợi ích từ các kết quả nghiên cứu đó Vì vậy, đa số người ta ít quan tâm đến nghiên cứu về lĩnh vực này, song vẫn còn một số trường tiếp tục nghiên cứu Trong quá trình giáo dục - đào tạo, đào tạo nghề đã nảy sinh những vấn đề cần phải nghiên cứu để giải quyết như:sự phát triển của chương trình, các tiêu chí đánh giá…có liên quan đến việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp
Trang 16Khu vực Bắc Mỹ có truyền thống lâu dài trong nghiên cứu về tổ chức học theo năng lực thực hành, với nền tảng lý luận được vận dụng, cải biến từ các kết quả nghiên cứu ở Anh Trong giai đoạn này, vai trò, vị trí và trách nhiệm của giáo dục được nâng lên mạnh mẽ; giáo dục đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế – xã hội và được quan tâm hơn Giáo dục đã mang tính cộng đồng, dưới áp lực kinh tế – xã hội, đặc biệt là các hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương mại mà việc đào tạo nghề đã có những đổi mới đáng kể Trong thập kỷ 70, cách thức đào tạo nghề theo tiếp cận năng lực thực hành đã được quan tâm, phát triển mạnh mẽ và được chấp nhận, vận dụng phổ biến ở Bắc Mỹ Sau một thời gian áp dụng, phương thức đào tạo nghề theo năng lực thực hành đã chiếm vị trí đặc biệt trong giáo dục tuy rằng người ta chưa thể chứng minh ngay được hiệu quả của nó Còn nhiều người tỏ
ra nghi nghờ về cách thức đào tạo này nhưng nó vẫn phát triển với tốc độ nhanh; nhiều cơ sở đào tạo đã ứng dụng nó có kết quả Việc vận dụng phương thức đào tạo tiếp cận kỹ năng nghề không còn bị bó hẹp trong đào tạo nghề
mà nó lan sang các lĩnh vực khác như đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
- Giai đoạn 1990 đến nay, đây là thời kỳ mà hoạt động đào tạo nghề theo năng lực thực hành đã có được cách tiếp cận với kỹ năng nghề nghiệp Cách đào tạo theo quan điểm mới này, sẽ không bị giới hạn bởi thời gian quy định cho khoá học mà theo lượng kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp theo tiêu chuẩn chuyên môn (Standard of profession) đã được quy định cho một nghề làm đơn vị đo Cuối thập kỷ 80 ở Mỹ và Canada, phương thức đào tạo tiếp cận kỹ năng nghề nghiệp đã được ứng dụng Song cho đến năm 90 các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được định nghĩa chính xác về phương thức đào tạo nghề cận kỹ năng nghề nghiệp Điều này cho thấy sự phức tạp về mặt lý luận cơ bản khi đưa ra một cách thức đào tạo mới Viện hàn lâm khoa học
Trang 17quốc gia Mỹ, đã có báo cáo đề cập đến việc các Hội nghiên cứu và các chủ doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu để thay đổi các yêu cầu về giáo dục đào tạo cũng như các chương trình dạy học Các yêu cầu về thực hiện nội dung chương trình, kỹ năng nghề nghiệp hơn là theo thời gian và niên chế G.Warrer đã phát biểu trước một Tiểu ban của Nghị viện Mỹ cho rằng: việc xây dựng các chương trình đào tạo nghề thủ công cần phải theo cách thức đào tạo phát triển năng lực thực hành Ngoài việc sử dụng phương tiện dạy học một cách hợp lý, cần phải tiến hành cải tiến phương pháp dạy học tiếp cận năng lực thực hành để cung cấp tốt hơn những biện pháp tạo điều kiện thuận lợi về mặt tâm lý cho người học nắm vững kỹ năng nghề nghiệp [75]
Ở Canada, sự phát triển của nền kinh tế – xã hội đã gây sức ép buộc người ta phải thay đổi cách thức đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề Những cải cách trong lĩnh vực này đã chỉ ra những cách thức mềm dẻo hơn trong đào tạo Thực ra, chất lượng kỹ năng nghề nghiệp có mối quan hệ với sự thực hiện hơn thời gian; vì vậy cần phải đào tạo theo năng lực thực hành Lúc đầu, chỉ
có các tổ chức đào tạo của Canada là nhận ra lợi thế của phương thức đào tạo này trong đào tạo nghề Nhưng trong những năm gần đây, các nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các doanh nghiệp cùng với ngành giáo dục đã có sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho phương thức đào tạo theo kỹ năng nghề nghiệp, song song với việc xây dựng các chuẩn quốc gia về đào tạo nghề nghiệp
Ở Australia, vào cuối thập kỷ 80 đã bắt đầu một cuộc cải cách đào tạo nghề; họ đã thiết lập ra một hệ thống đào tạo nghề theo kỹ năng nghề nghiệp, thành lập hội đồng đào tạo quốc gia để xúc tiến việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp ổn định trong toàn quốc [76]
Ở nhiều nước châu Á như: Singapore, Ấn Độ, Philippin, Brunei, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, phương thức đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện cũng đã và đang vận dụng ở các mức khác nhau Các bộ chương
Trang 18trình kế hoạch đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện cho các trường chuyên nghiệp, nhất là các trường kỹ thuật đã được soạn thảo và sử dụng có kết quả trong vài năm trở lại đây Nhìn một cách khái quát có thể nhận thấy điểm nổi bật của các chương trình này là đào tạo nhằm việc hình thành các kiến thức và kỹ năng để người học có thể thực hiện được, có năng lực vận dụng ngay vào thực tiễn lao động nghề nghiệp
2 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến luận án
Do đặc điểm kinh tế xã hội Việt Nam phát triển chậm nên quá trình hình thành và phát triển KNNN cho học sinh học nghề diễn ra muộn hơn so với các nước phát triển trên thế giới
Đứng trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác dạy nghề trong đó đặc biệt chú trọng phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh học nghề.Trong lĩnh vực dạy nghề đã có nhiều công trình nghiên cứu từ trước đến nay với nhiều góc độ khác nhau; phần lớn các công trình nghiên cứu đó đề cập đến việc cải tiến nội dung, chương trình, phương tiện và các phương pháp dạy học, tiến tới xác định các biện pháp, thủ thuật để thực hiện mục tiêu thực hành nghề cho học sinh đạt kết quả cao Trong một số giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đi sâu vào hướng dẫn các phương pháp dạy học, rèn luyện các kỹ năng giảng dạy của Thầy và thực hành của Trò; nhiều công trình giới thiệu rất tỉ mỉ quy trình hình thành các kỹ năng từ đơn giản đến phức tạp; có tài liệu đã trình bày một cách có hệ thống, toàn diện về kỹ năng thực hành
Các kết quả nghiên cứu đã tìm kiếm con đường xây dựng nội dung, kế hoạch, tổ chức rèn luyện kỹ năng thực hành, nhằm góp phần thúc đẩy các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ, năng lực nghề nghiệp cho học sinh được tốt hơn Các công trình đều tập trung nghiên cứu tổ chức hoạt động thực tập, năng lực thực hiện cho học sinh được tốt hơn, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng dạy nghề
Trang 19Trong lĩnh vực kỹ năng nghề nghiệp, việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh đã được đặt ra: Năm 1987, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng các chương trình hành động cho ngành giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề Một trong các chương trình trên là tiến hành “xây dựng kỹ năng nghề” Trong chương trình này, người ta đã chú trọng nhiều đến việc bồi dưỡng giáo viên dạy nghề Từ những năm 1988 đã có những công trình nghiên cứu về đào tạo nghề theo mô đun dựa trên nhiều nguồn tài liệu của tổ chức lao động Quốc tế (ILO) và một số nước Mỹ, Nga, Hà Lan, Áo… Đến nay đã có một số chương trình và nội dung được biên soạn theo mô đun để đào tạo tại các trường dạy nghề ở Việt Nam [35]
Trong những năm gần đây, nhiều cơ sở dạy nghề đã tiến hành vận dụng phương thức đào tạo theo mô đun kỹ năng thực hành nghề; phương thức này được thực hiện dưới dạng tổ hợp các đơn nguyên học tập, do các nhà lý luận của ILO đã khởi xướng và phổ biến rộng rãi Tư tưởng chủ đạo của phương thức này là tiến hành đào tạo theo mục tiêu, yêu cầu cụ thể của người học, chọn ra các môđun và đơn vị học tập theo các đơn nguyên học tập tương ứng Phương thức đào tạo này đã thực sự giúp học sinh có được kỹ năng làm tốt từng phần việc hay công việc nghề một cách trọn vẹn; việc học có thể tích luỹ
để nâng cao và mở rộng hiểu biết Cách thức đào tạo này, về thực chất là một dạng của phương thức đào tạo theo năng lực thực hành Xu hướng phát triển chương trình đào tạo theo cách tiếp cận kỹ năng nghề nghiệp hiện nay đang được triển khai thực hiện
Sau 30 mươi năm đổi mới và 10 năm thực hiện: “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010”, ngành giáo dục &đào tạo nói chung và dạy nghề nói riêng của nước ta đã phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng hóa về loại hình và các hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình, quy trình đào tạo và huy động được nhiều nguồn lực xã hội Chất lượng
Trang 20dạy nghề có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng một phần yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ lao động có tay nghề được đào tạo tại các trường dạy nghề trong nước đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước
Tuy nhiên, những thành tựu nói trên của công tác dạy nghề chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập của đất nước Nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội; doanh nghiệp và xã hội về dạy nghề còn hạn chế, chưa đầy đủ Các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, các ngành trong chỉ đạo thực tiễn chưa quan tâm đúng mức cho phát triển dạy nghề Chính phủ cũng như Tổng cục Dạy nghề chưa có chính sách đủ mạnh
để khuyến khích và huy động tham gia hoạt động dạy nghề; đầu tư của Nhà nước cho dạy nghề tăng hàng năm, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển dạy nghề về quy mô và chất lượng; đầu tư ngân sách chưa tập trung theo nghề; các nguồn lực huy động ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho dạy nghề còn hạn chế…
Những yếu kém, bất cập về cơ chế quản lý, cơ cấu hệ thống, cơ cấu ngành nghề, mạng lưới cơ sở dạy nghề, quy trình đào tạo đặc biệt là chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động về kỹ năng cứng (kỹ năng nghề nghiệp) và kỹ năng mềm (ý thức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo nhóm, an toàn lao động…) Theo khảo sát của VCCI, năm 2011 chỉ số hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng dạy nghề đạt 34%, đây là chỉ số thấp, mặc dù có tăng lên 14% so với năm 2008 (năm 2008 là 20%)…[ 9] Nếu chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam không được cải thiện, thì năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong tiến trình hội nhập quốc tế sẽ gặp khó khăn lớn Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh học nghề là yêu cầu khách quan và cấp bách, nhằm
Trang 21đáp ứng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho phát triển nền kinh tế -xã hội của đất nước Nhận thấy tầm quan trọng của phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh học nghề; năm 2008, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã thành lập Vụ Kỹ năng nghề trực thuộc Tổng cục Dạy nghề;
Quyết định số 09/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 27/3/2008 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quy định về nguyên tắc quy trình xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; Quyết định số 69/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 30/12/2008 Quy định tổ chức và quản lý việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia [62]
Các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, được xây dựng với mục đích làm công cụ giúp người lao động định hướng phấn đấu, nâng cao trình độ về kiến thức và kỹ năng bản thân thông qua việc học tập hoặc tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc để có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp Người sử dụng lao động, có cơ sở để tuyển chọn lao động, bố trí công việc và trả lương hợp lý cho người lao động Các cơ sở dạy nghề có căn cứ để xây dựng chương trình dạy nghề tiếp cận chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, cơ quan có thẩm quyền căn cứ để tổ chức thực hiện việc đánh giá cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động
Cấu trúc Bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia gồm các phần cơ bản sau :
Mô tả nghề: Mô tả phạm vi, vị trí làm việc, các nhiệm vụ chính cần phải thực hiện, điều kiện và môi trường làm việc, bối cảnh thực hiện các công việc, công cụ, máy, thiết bị, dụng cụ chủ yếu cần thiết để thực hiện các công việc của nghề
Danh mục công việc: Liệt kê đầy đủ các công việc cần phải thực hiện
và sắp xếp các công việc đó theo các bậc trình độ kỹ năng nghề
Tiêu chuẩn thực hiện công việc: Mô tả công việc, các tiêu chí thực hiện, các kỹ năng và kiến thức thiết yếu, các điều kiện thực hiện, tiêu chí và cách thức đánh giá
Trang 22Việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia do các Bộ, ngành chủ trì, phối hợp với cơ quan, hội nghề nghiệp có liên quan tổ chức xây dựng Các nghề thuộc lĩnh vực khác nhau sẽ giao cho các Bộ, ngành thuộc lĩnh vực tương ứng xây dựng và ban hành Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định nguyên tắc, quy trình và tổ chức phối hợp với các Bộ, ngành trong việc xây dựng, ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và chịu trách nhiệm quản lý các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia sau khi đã ban hành
Các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia của Việt Nam được xây dựng theo phương pháp phân tích nghề, nhằm xác định các nhiệm vụ và công việc cần thực hiện trong hoạt động nghề nghiệp Trong quá trình này, có sự tham gia của các chuyên gia là giáo viên, nhà nghiên cứu và những chuyên gia trong nghề Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia bao gồm: các quy định về mức
độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia được xây dựng theo bậc trình độ kỹ năng nghề cho mỗi nghề Số bậc kỹ năng nghề đối với mỗi nghề phụ thuộc vào mức độ phức tạp của nghề đó, nhưng tối đa là 5 bậc Bậc kỹ năng nghề được xác định dựa trên ba nhóm tiêu chí chủ yếu: Phạm vi, độ khó và độ phức tạp của công việc; mức độ linh hoạt và sáng tạo trong thực hiện công việc; mức độ phối hợp và trách nhiệm trong thực hiện công việc Thực chất các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đã phản ánh những nội dung, yêu cầu cơ bản cho việc hình thành và phát triển năng lực hành nghề của người học
Tính đến tháng 01/2012, tổng số nghề đã được xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là 148 nghề [62]
Như vậy, về quy mô, mức độ, nội dung, nhận định, đề xuất, kết quả, cách giải quyết vấn đề nâng cao (phát triển) kỹ năng nghề của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước tuy có sự khác nhau; song có thể nhận định khái quát rằng các nghiên cứu của nhiều tác giả đã đề cập và làm sáng tỏ các khái niệm kỹ năng chung, năng lực thực hành, kỹ năng nghề nghiệp…
Trang 23Việc nghiên cứu mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp, để đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác hướng nghiệp và đào tạo nghề, là vấn đề đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp ở nước ta thời gian qua Tuy nhiên, các công trình này thường đề cập đến đối tượng cụ thể, hoặc với mục đích xác định cho công tác hướng nghiệp, xây dựng nội dung, chương trình đào tạo ; với những quan điểm tiếp cận hệ thống thứ bậc và cấu trúc năng lực nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, do ảnh hưởng của tư duy giáo dục cũ trong cơ chế kinh tế - xã hội tập trung và bao cấp, phần lớn các mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp được xây dựng theo hướng lý tưởng hóa, nặng về lý thuyết, xa rời thực tiễn, khó trở thành hiện thực trong thực tiễn đào tạo nghề nghiệp Đặc biệt, các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến vấn đề công nghệ đào tạo và phân hóa các giai đoạn phát triển nghề nghiệp trong quá trình đào tạo, đào tạo theo mô đun thích ứng với từng giai đoạn đào tạo nghề nghiệp trong hệ thống dạy nghề Các khía cạnh khác nhau trong quá trình xây dựng mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ lao động nghề nghiệp năng động, sáng tạo,
có ý chí vươn lên mạnh mẽ trong lao động nghề nghiệp (kỹ năng mềm) để thành đạt trong cuộc sống, làm giàu cho bản thân và đất nước cũng chưa được quan tâm đầy đủ
Chúng ta biết rằng, những đặc trưng kỹ năng nghề nghiệp của một nhóm xã hội hay của từng cá nhân được bộc lộ trong hoạt động, trong đời sống và trong lao động nghề nghiệp Với tư cách là một hoạt động chủ đạo, hoạt động nghề nghiệp thực tiễn không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển kỹ năng nghề nghiệp, mà chính thông qua hoạt động nghề nghiệp, những đặc trưng của kỹ năng nghề nghiệp được bộc lộ một cách rõ ràng và đầy đủ (cả những mặt tiêu cực hoặc tích cực và xu hướng phát triển ) Chính vì vậy, thông qua thực tiễn hoạt động đào tạo nghề, chúng ta
Trang 24có thể nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh trong quá trình đào tạo nghề ở các trường dạy nghề hiện nay nói chung
và ở các trường dạy nghề quân đội nói riêng
Đề tài “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề” của tác giả Nguyễn Đức Trí [65] có thể xem là một công trình nghiên cứu khá cơ bản, toàn diện và hệ thống về đào tạo theo năng lực thực hiện ở Việt Nam Đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận về phương thức đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện, đồng thời chỉ ra các bước phát triển chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện và xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia
Luận án tiến sĩ “ Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo tiếp cận năng lực thực hiện cho sinh viên sư phạm kỹ thuật” của tác giả Nguyễn Ngọc Hùng [34] đã phân biệt sự khác biệt giữa phương thức bồi dưỡng truyền thống với bồi dưỡng theo quan điểm tăng cường năng lực thực hiện Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu công trình này còn đưa ra các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên sư phạm kỹ thuật theo tiếp cận năng lực thực hiện, góp phần giải quyết về lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy sự nghiệp phát triển giáo dục nghề nghiệp hiện nay Qua đó cho thấy, việc nâng cao chất lượng đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện là hết sức cần thiết, không chỉ riêng sinh viên các trường sư phạm kỹ thuật, mà còn cần thiết đối với học sinh học nghề
Cuốn sách “Kỹ năng dạy học” tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên và người dạy nghề do Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) xuất bản [64] đã mô tả khá chi tiết quan điểm dạy học theo năng lực thực hiện; tuy nhiên tài liệu này chưa đi vào làm rõ từng khâu, từng thành tố của quá trình dạy học thực hành nghề nghiệp
Trang 25Cuốn sách “Dạy học hiện đại và nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên” của Tiến sỹ Vũ Xuân Hùng do Nhà xuất bản Lao động – xã hội xuất bản đã mô tả đào tạo theo năng lực thực hiện gắn với việc làm đang trở thành
xu thế phổ biến trên thế giới và cũng một trong những hình thức của dạy học hiện đại trong giáo dục nghề nghiệp Ở nước ta, Nhà nước cũng đang có chủ trương phát triển đào tạo theo năng lực thực hiện Luật Giáo dục 2009 đã ghi
rõ “ phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc” Trong đào tạo theo năng lực thực hiện, người ta quan tâm đến việc đào tạo con người biết vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ vào giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn, cung cấp cho người học những năng lực cần thiết, phù hợp để thực hiện tốt các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp
Công trình “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” (2010) NXB Giáo dục Việt Nam của tác giả Trần Khánh Đức [22] đã phân tích những kết quả nghiên cứu về khoa học giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục ở các cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài ở nước ta trong thời kỳ CNH-HĐH Những nội dung trình bày trong cuốn sách này dựa trên cơ sở tham khảo nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, sách chuyên khảo của nhiều tác giả trong và ngoài nước, đồng thời phản ánh những kết quả nghiên cứu, giảng dạy bước đầu của tác giả trong phạm vi một số vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục, quản lý giáo dục và phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển KNNN cho học sinh học nghề nói riêng
Cuốn sách “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” do các tác giả Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm chủ biên Nội dung cuốn sách
Trang 26đã phân tích, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, trong đó có nhiều nội dung đề cập, liên quan đến công tác phát triển kỹ năng cho cán bộ
Tài liệu “Mô tả nghề và việc làm” (2012) của Nguyễn Quang Việt – Cao Quang Đại, đồng chủ biên [19] là bản mô tả các trình độ chuyên môn yêu cầu đối với việc làm và các nhiệm vụ cần phải thực hiện; mô tả chi tiết các các điều kiện, các hoạt động và các tiêu chuẩn thực hiện được yêu cầu đối với người lao động trong một vị trí việc làm nhất định của một số nghề
Những năm qua, Nhà nước đã thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về dạy nghề và việc làm cho lao động xã hội nói chung, bộ đội xuất ngũ nói riêng thành cơ chế, chính sách, chương trình hành động và cụ thể hóa trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm Quốc phòng - An ninh Ngoài ban hành các các chính sách, luật pháp, Nhà nước còn rất coi trọng xây dựng và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia để tập trung nguồn lực giải quyết những vấn đề bức xúc nhất về dạy nghề và việc làm
Các chủ trương, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước nêu trên là những căn cứ pháp lý quan trọng để định hướng và chỉ đạo nâng cao KNNN cho học sinh học nghề
Nhìn chung, cho đến nay các công trình nghiên cứu đã đi vào giải quyết các vấn đề chung trong đào tạo nghề và chủ yếu trong lĩnh vực năng lực thực hành; còn trên lĩnh vực nâng cao (phát triển) kỹ năng nghề nghiệp trong các cơ
sở đào tạo nghề của Bộ Quốc Phòng hiện nay vẫn chưa có các công trình chuyên biệt đi vào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện Những tài liệu của các tác giả trên là những tư liệu quý có giá trị tham khảo về mặt lý luận
để tác giả kế thừa và phát triển trong xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu “Mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh trong dạy thực hành nghề ở các trường dạy nghề trong quân đội”, góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề trong nhà trường quân đội hiện nay
Trang 273 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Trong quá trình nghiên cứu các công trình khoa học ở ngoài nước và
ở trong nước đề cập đến phát triển KNNN cho học sinh học nghề Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn lịch sử, kế thừa hệ thống lý luận từ các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài Tác giả đề tài đã khai thác được những kết quả về mặt khoa học và các khoảng trống của các đề tài để nghiên cứu vận dụng vào quá trình xây dựng đề tài luận án Mặt khác, luận án xác định mục đích, nhiệm vụ nội dung, đối tượng, phạm vi và các phương pháp nghiên cứu Đồng thời, từ thực tế phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh các trường dạy nghề trong Quân đội, theo phạm vi nghiên cứu của luận án, cho thấy: Để giải quyết mâu thuẫn đang đặt ra trong đào tạo nghề; và
từ những căn cứ lý luận, thực tiễn dạy nghề và phát triển KNNN ở các trường DNTQĐ; trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, luận án tập trung giải quyết và làm sáng tỏ trong đề tài luận án một số nội dung chính sau:
Thứ nhất, phân tích đánh giá thực trạng phát triển KNNN trong dạy thực hành nghề ở các trường dạy nghề quân đội;
Thứ hai, đánh giá những yếu tố tác động đến quá trình phát triển KNNN cho học sinh học nghề gồm: Quy mô và ngành nghề đào tạo của các trường dạy nghề trong quân đội; Mục tiêu đào tạo và chương trình khung; Chương trình các môn học lý thuyết và chương trình dạy học thực hành; Phương pháp dạy thực hành nghề; Các điều kiện đảm bảo phát triển KNNN cho học sinh học nghề; Tình hình việc làm và sử dụng học sinh học nghề tại các trường dạy nghề trong quân đội (Hiệu quả đào tạo ngoài);
Thứ ba, thực trạng phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong dạy thực hành nghề cho học sinh học nghề tại các trường dạy nghề trong quân đội; Thứ tư, đề xuất mô hình và các nhóm biện pháp triển khai mô hình phát triển KNNN cho học sinh các trường dạy nghề trong quân đội
Trang 28Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG DẠY NGHỀ TRONG QUÂN ĐỘI 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Kỹ năng và kỹ năng nghề nghiệp
Khái niệm kỹ năng đã và đang được nhiều học giả quan tâm
Theo Từ điển Giáo dục học, thuật ngữ kỹ năng được định nghĩa là:
“Khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu
và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [69]
Tác giả Trần Trọng Thuỷ, (1978) trong giáo trình “Tâm lý học lao động”, Đại học sư phạm Hà Nội đã định nghĩa: “ Kỹ năng là mặt kỹ thuật hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động
và có kỹ năng”[67]
N.Đ Lêvitov cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có tính đến đến những điều kiện nhất định”[79, tr.90]
Tác giả Trần Khánh Đức đã nhìn nhận kỹ năng như là khả năng hành động thực tế (kỹ năng hành nghề, kỹ năng thực hiện) để thực hiện tốt, có hiệu quả theo chuẩn mực các công việc hoặc xử lý một tình huống nào đó trên cơ
sở vận dụng các hiểu biết (kinh nghiệm hoặc khoa học), phát huy các tố chất của con người (thể lực, đặc điểm tâm-sinh lý) trong những môi trường và điều kiện nhất định Đồng thời, tác giả cũng chia kỹ năng thành bốn loại cơ bản là: kỹ năng tư duy; kỹ năng hành động; kỹ năng giao tiếp và kỹ năng quản lý [23]
Dựa theo và phát triển phân cấp kỹ năng của B.Loom, các cấp độ phát triển kỹ năng được cho ở bảng 1.1
Trang 29- Thực hiện các thao động tác theo như thao tác mẫu
- Thao, động tác chuẩn mực, chính xác
- Tạo được sự liên tục khi thực hiện công việc
4 Làm biến hoá
(kỹ năng tổng
hợp)
Quan sát và có khả năng thực hiện công việc độc lập nhanh và chính xác
- Bảo đảm tốc độ làm việc
- Thao tác và động tác chuản mực
- Xử lý linh hoạt tìmh huống
- Kết hợp nhiều loại kỹ năng
Nguồn: Trần Khánh Đức, 2010 [22]
Phạm vi kỹ năng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau như kỹ năng sống, kỹ năng làm việc; kỹ năng học tập, kỹ năng nghề nghiệp…Kỹ năng nghề nghiệp (KNNN) là các kỹ năng chuyên biệt, cần có để người lao
Trang 30động thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ, công việc lao động nghề nghiệp của mình theo các chuẩn nghề nghiệp của các nghề tương ứng
Thuật ngữ KNNN đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu; trong mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau có cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, qua nghiên cứu có thể thấy, khái niệm KNNN được biểu hiện ở hai khía cạnh sau:
Khía cạnh thứ nhất: xem xét KNNN nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, thao tác trong các công việc chuyên môn nghề nghiệp và ít quan tâm đến kết quả của hành động (sản phẩm) Đại diện cho quan điểm này là của các tác giả như: V.A Kruchetxki cho rằng: “Kỹ năng nghề nghiệp là thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức đúng đắn”
Khía cạnh thứ hai: KNNN không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực của con người đồng thời có tính đến kết quả của hành động (kết quả thực hiện nhiệm vụ, công việc hoặc sản phẩm thực hiện…)
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992, do Hoàng Phê (chủ biên): “ kỹ năng nghề nghiệp là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [68]
David Warwick cho rằng: Kỹ năng nghề nghiệp là tác động mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt được kết quả trong một hình thức hoạt động cụ thể”[78, tr.124]
Tuy hình thức diễn đạt các khái niệm về KNNN có khác nhau, nhưng thực chất đều toát lên những dấu hiệu nổi bật sau:
+ KNNN liên quan mật thiết đến năng lực thực hiện của con người; là biểu hiện cụ thể của năng lực, tính hiệu quả và sự nhuần nhuyễn của thao tác
+ Mọi kỹ năng đều phải dựa trên cơ sở tri thức, hiểu biết Muốn hành động, muốn thao tác được, trước hết phải có kiến thức Kiến thức chính là nền tảng hiểu biết của hành động; trên cơ sở kiến thức mới rèn luyện được kỹ xảo,
kỹ năng tương ứng
Trang 31+ Nói tới KNNN là nói tới hành động có mục đích; nghĩa là, trong quá trình thực hiện hành động, bao giờ con người cũng hình dung ra kết quả hành động, cách thức hợp lý, tốt nhất để đạt tới kết quả đó
+ Để có KNNN, con người phải nắm được cách thức hành động trong những điều kiện cụ thể với sự luyện tập nhất định
Với cách nhìn nhận như trên, có thể hiểu một cách khái quát về KNNN như sau:
Kỹ năng nghề nghiệp là khả năng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những tri thức (hiểu biết) có được đối với việc giải quyết những nhiệm vụ, công việc lao động nghề nghiệp đặt ra cho phù hợp với điều kiện và môi trường hoạt động nghề nghiệp cụ thể Nói cách khác, kỹ năng là tri thức trong hành động, là khả năng vận dụng kiến thức và phát huy các tố chất về tâm-sinh lý của mỗi cá nhân để giải quyết một nhiệm vụ mới một cách sáng tạo, là năng lực thực hiện có kết quả với chất lượng cần thiết và thời gian tương ứng trong điều kiện nhất định; nó dựa trên cơ sở các danh mục công việc, tiêu chuẩn thực hiện và các tiêu chí thực hiện, các
kỹ năng và kiến thức thiết yếu và sự nhuần nhuyễn, chính xác trong hành nghề Kỹ năng nghề nghiệp được hình thành trong quá trình đào tạo, rèn luyện và hành nghề Người học có khả năng thu thập và đánh giá, lựa chọn
và sử lý thông tin, giải quyết vấn đề để sử dụng các trang thiết bị thành thạo để hoàn thành công việc trong thực tế Khái niệm kỹ năng theo nghĩa rộng trùng hợp với các thành phần, nội hàm của khái niệm năng lực là sự tổ hợp các tri thức, kỹ năng và thái độ
Việc đánh giá chuẩn kỹ năng nghề nghiệp được dựa theo các tiêu chí Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Quốc gia - là cơ sở cho người lao động định hướng phấn đấu nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng của bản thân thông qua việc học tập hoặc tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc để có cơ hội phát triển Các tiêu chuẩn này định hướng cho người sử dụng lao động có cơ sở tuyển
Trang 32chọn và trả lương hợp lý cho người lao động, đồng thời giúp cho các cơ sở dạy nghề có căn cứ để xây chương trình dạy nghề Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia làm cơ sở để các trung tâm đánh giá kiểm định chất lượng và cấp văn bằng chứng chỉ hành nghề ở các cấp độ khác nhau cho người lao động Ngoài ra nó cũng là cơ sở cho người hành nghề di chuyển vị trí lao động và tiếp cận với tiêu chuẩn nghề khu vực và thế giới
Trong phát triển nhân lực và lao động các quốc gia cũng đặt ra những yêu cần căn bản về kỹ năng (năng lực) của người lao động Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã
thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc Kết
luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:
1 Kỹ năng học và tự học (learning to learn);
2 Kỹ năng lắng nghe (Listening skills);
3 Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills);
4 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills);
5 Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills);
6 Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem);
7 Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc
(Goal setting/ motivation skills);
8 Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp
(Personal and career development skills);
9 Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills);
10 Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork);
11 Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills);
12 Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness);
13 Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills) [75]
Trang 33Tại Australia,Hội đồng Kinh doanh (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động
yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ
năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng như sau:
1 Kỹ năng giao tiếp (Communication skills)
2 Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills)
3 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
4 Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)
5 Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organi
sing skills)
6 Kỹ năng quản lý bản thân (Self-management skills)
7 Kỹ năng học tập (Learning skills)
8 Kỹ năng công nghệ (Technology skills) [76]
(Nguồn: http://www.acci.asn.au/text_files/issues_papers/Employ_Educ/ee21.pdf)
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ “phát triển” được giải nghĩa là: “Vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên” [68]
Phát triển là quá trình thay đổi, chuyển hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của một đối tượng nào đó theo những quy luật khách quan trong những môi trường và điều kiện nhất định và qua đó tạo ra những thuộc tính, đặc điểm mới tương ứng với từng giai đoạn phát triển của đối tượng đó
Trang 34Kỹ năng nghề nghiệp được nhiều tác giả sử dụng khi trình bày các phương thức, quan điểm về kỹ năng nghề nghiệp trong dạy thực hành nghề Khi một người có một kỹ năng tương ứng với một hành động hay một công việc nào đó thì người đó được công nhận là có khả năng hay thẩm quyền, có
đủ trình độ, được phép giải quyết công việc và ngược lại Người nào muốn giải quyết được một công việc và muốn người khác thừa nhận là có thẩm quyền giải quyết công việc đó thì họ phải chứng minh, thể hiện được mình có
đủ kỹ năng, trình độ nghề nghiệp để thực hiện công việc ấy Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau để phát triển kỹ năng nghề nghiệp
Kỹ năng nghề nghiệp là một cấu trúc gồm tất cả các thuộc tính cơ bản nhân cách con người Nó dẫn đến sự thực hiện một cách hiệu quả và tốt nhất trong một nghề theo tiêu chuẩn mong đợi ở công việc
Ở Việt Nam có thể định nghĩa gắn gọn về kỹ năng nghề nghiệp là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc Như vậy có thể hiểu rằng kỹ năng nghề nghiệp bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết
để hành nghề và qua đó thể hiện năng lực nghề nghiệp của họ Trong đó, các thành tố kỹ năng là yếu tố quan trọng của năng lực nghề nghiệp Trong quá trình dạy thực hành nghề, người học hình thành và phát triển kỹ năng nghề nghiệp trong quá trình học tập và rèn luyện tay nghề
Trong dạy nghề, phát triển kỹ năng nghề nghiệp có thể được hiểu là quá trình thay đổi, chuyển hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện trình độ, cấp độ kỹ năng nghề nghiệp của người học theo những quy luật khách quan của quá trình dạy nghề trong môi trường
và điều kiện học tập cụ thể, qua đó, tạo ra trình độ, cấp độ mới về kỹ năng nghề nghiệp ở người học phù hợp với mục tiêu đào tạo và đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động về khả năng hành nghề Phát triển kỹ năng nghề nghiệp tập trung vào các hướng chính là:
Trang 35- Phát triển kỹ năng thực hiện các loại công việc có độ khó, độ phức tạp tăng dần đặc biệt là các công việc trong thực tế hành nghề ở các doanh nghiệp, người sử dụng lao động đòi hỏi;
- Từng bước nâng cấp độ thực hiện kỹ năng nghề nghiệp theo chuẩn kỹ năng nghề quốc gia ;
- Chú trọng phát triển các kỹ năng mềm cần thiết trong lao động nghề nghiệp (giao tiếp, ý thức nghề nghiệp; tác phong công nghiệp, khả năng thích ứng, linh hoạt ) và qua đó nâng cao năng lực hành nghề trong các điều kiện
và môi trường thay đổi (xã hội, doanh nghiệp)
1.1.3 Các giai đoạn hình thành kỹ năng nghề nghiệp
KNNN là năng lực thực hiện một công việc hay một hoạt động nghề nghiệp có kết quả với chất lượng cần thiết và với thời gian tương ứng trong điều kiện nhất định Theo Harrow có 5 cấp độ hình thành KNNN đó là:
* Bắt chước: người học quan sát và sao chép dập khuôn những gì họ nhìn thấy từ GV hướng dẫn lần đầu
* Làm được: Người học tự mình thực hiện được như GV hướng dẫn mà không cần quan sát (kỹ năng)
* Làm chính xác: Người học thực hiện một cách chính xác đúng chuẩn mực hướng dẫn
* Làm thuần thục: Thực hiện được nhanh chóng, chuẩn mực kỹ năng trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau
* Làm biến hóa: Đạt trình độ cao về tốc độ và chính xác, thích ứng linh hoạt, ít cần sự can thiệp của ý thức (kỹ xảo)
Khi nghiên cứu các quy luật hình thành KNNN, các nhà giáo dục học nghề nghiệp đã đưa ra các giai đoạn hình thành KNNN gồm các mốc sau:
- Quan sát người khác thực hiện kỹ năng và hỏi để hiểu rõ xem mình phải làm cái gì? Làm như thế nào? Tiêu chuẩn nào cần đạt được ở mỗi bước
và ở toàn bộ kỹ năng? Cần làm gì để đảm bảo an toàn kỹ thuật và an toàn người? Các tín hiệu nào cho ta biết đã thực hiện tốt ở mỗi bước và toàn bộ quá trình? Các lỗi nào thường mắc phải và làm thế nào để khắc phục
- Bắt chước thực hiện kỹ năng một cách nỗ lực theo nội dung các công việc như bắt chước từng bước theo đúng trình tự, quy trình với những thao tác
Trang 36khó; chú ý phát hiện đúng những tín hiệu cho biết đã làm đúng ở mỗi bước; tuân thủ các quy tắc an toàn kỹ thuật và an toàn người
- Thực hành kỹ năng nhiều lần bằng cách làm đi, làm lại theo đúng quy trình cho tới khi đạt tốc độ và tiêu chuẩn chất lượng Số lần luyện tập sẽ bị phụ thuộc vào độ phức tạp của công việc
- Thực hiện kỹ năng trong các tình huống và điều kiện khác nhau, tiến hành phối hợp với các kỹ năng đã học khác để giải quyết vấn đề
Sự hình thành KNNN qua các giai đoạn phát triển xem ở Hình 1.1
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển KNNN
Hình 1.1 trên cho thấy những giai đoạn mấu chốt mà người học phải đi qua khi học KNNN Lúc đầu, họ nhận thức được rằng họ không biết cách tiến hành thực hiện KNNN Họ hiểu ở mức độ tối thiểu do không thành thạo kiến thức Cùng với thời gian và nhờ sự hướng dẫn, giảng dạy tốt của GV, họ dần nắm được và thực hiện KNNN mà không cần phải suy nghĩ nhiều (thành thạo
Cố gắng hiểu/cố gắng tự làm
Hiểu/làm được bước đầu/trải nghiệm thực tế
Cố gắng thực hiện/luỵện tập làm tốt hơn
Thực hiện thành thạo/hình thành kỹ xảo
Trang 37vô thức) Vai trò của người hướng dẫn là rất quan trọng sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo và hoạt động có kế hoạch sẽ góp phần phát triển KNNN của người học Ở bước trình diễn thì người hướng dẫn phải thực hiện thao tác mẫu trong lần đầu tiên phải thật chính xác Người học phải ghi nhớ và lặp lại hoạt động cho đến khi tất cả người học đều hiểu rõ quy trình
Khi thực hành từng bước: nếu là quy trình quan trọng, đầu tiên GV phải thực hiện một vài bước sau đó, người học lặp lại những bước này một cách chính xác Khi tất cả người học đều đã thực hiện đúng mới chuyển sang bước tiếp theo Việc thực hiện từng bước kéo dài cho đến khi tất cả người học thực hiện đúng quy trình
Khi thực hành có hướng dẫn: Người học làm việc độc lập hoặc kèm cặp dưới sự giám sát của GV cho đến khi họ thực hiện công việc một cách an toàn
Khi thực hành độc lập: người học làm việc dưới sự giám sát với mức
độ giảm dần của GV cho đến khi họ có thể thực hiện thành thạo mà không cần có giám sát
Thực hành định kỳ được thực hiện sau một thời gian nhất định như hàng tuần hoặc hàng tháng người học trình diễn lại các KNNN đã học Việc làm này
sẽ giúp cho người học có thể thực hiện công việc như một thói quen
Các hoạt động giải quyết vấn đề được tiến hành sau khi học xong một nhóm kỹ năng, GV cần đưa ra vấn đề giải quyết Những hoạt động này đòi hỏi người học lựa chọn những kỹ năng cần thiết, sau đó điều chỉnh hoặc áp dụng chúng theo yêu cầu đặt ra Có thể yêu cầu người học thực hiện các kỹ năng trong những điều kiện bất bình thường những hoạt động này càng sát với thực tế công việc càng tốt Kết quả hoạt động này sẽ đem lại sự tự tin cho người học
1.1.4 Đánh giá kỹ năng nghề nghiệp của học sinh học nghề
Muốn đánh giá được kỹ năng nghề nghiệp một cách khoa học, hiệu quả, bước đầu tiên phải nắm bắt được thực trạng trình độ KNNN của các đối
Trang 38tượng Sau đó tiến hành phân tích, đánh giá nhu cầu phát triển KNNN Căn cứ vào việc điều tra, phân tích nhu cầu phát triển ta tiến hành phân tích: Ai sẽ tham gia? Nội dung nào là quan trọng đối với HS? Học sinh sẽ chờ đợi gì khi tham gia phát triển KNNN? Học sinh đã có sẵn những kiến thức và kinh nghiệm nào? Các trường dạy nghề và các doanh nghiệp chờ đợi những gì?
Để đánh giá được kỹ năng nghề nghiệp đối với học sinh học nghề người ta tiến hành phân tích và mô tả nghề nghiệp /công việc Giữa các lĩnh vực đều có sự khác biệt về mục đích của chúng Trong quá trình làm việc, người lao động phải thực hiện được mục đích của một nghề nhất định mà kết quả phải tạo ra được sản phẩm đó là KNNN Muốn vậy, người HS học nghề phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ tương ứng theo yêu cầu đặt ra Mục đích của quá trình phát triển KNNN là hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ cho HS để sau khi học xong họ có thể thực hiện được các hoạt động lao động
và tạo ra những sản phẩm đích thực
Các tiêu chí cơ bản đánh giá kỹ năng nghề nghiệp là:
- Mức độ hiểu biết về tính chất và nhiệm vụ công việc /sản phẩm cần thực hiện;
- Mức độ am hiểu và chuẩn bị các điều kiện lao động (dụng cụ, thiết
bị, vật liệu,và môi trường làm việc );
- Mức độ thành thạo, chuẩn mực khi thực hiện các thao, động tác
- Khả năng phối hợp các thao, động tác và phối hợp/cộng tác làm việc theo nhóm, với các đồng nghiệp;
- Ý thức nghề nghiệp và thái độ làm việc, tinh thần trách nhiệm
- Sản phẩm hay kết quả thực hiện công việc (theo các chuẩn mực đã định về kỹ-mỹ thuật)
Việc thể hiện kỹ năng nghề nghiệp gắn với quá trình tác nghiệp khi thực hiện một công việc cụ thể nên quy trình đánh gía kỹ năng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau :
Trang 391 Giai đoạn chuẩn bị thực hiện công việc
2 Giai đoạn thực hiện các khâu của công việc theo quy trình
3 Giai đoạn kết thúc công việc và đánh giá kết quả/sản phẩm
1.1.5 Mô hình và mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp
Theo Từ điển giáo dục học, thuật ngữ mô hình được giải nghĩa là : 1.“Sự thể hiện một ý tưởng cần đạt được bằn cách mô phỏng, bắt chước một dối tượng có thật hoặc bằng cách dựa vào một tập hợp những đặc trưng cần chiếm lĩnh nhằm tiếp cận một trạng thái hoàn hảo“
2.‘‘Sự đơn giản hóa hoặc sự thu nhỏ một đối tượng thực tế về không gian và thời gian để hiểu tốt hơn“ [69, tr 262]
Mô hình là hình thức thực hiện trực quan theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu về hệ thống và cấu trúc của một đối tượng để sử dụng vào một mục đích sử dụng Có thể hiểu khái niệm về mô hình một cách cụ thể là cái thay thế cho một sự vật hiện tượng tồn tại thật, ngôn ngữ của nó là mô tả thành văn,
đồ thị, biểu đồ, sơ đồ, kí hiệu, vật thay thế, biểu thức toán học ; Mô hình thường phải dung ký hiệu đã quy ước để thể hiện, vật thay thế có thể phóng to, thu nhỏ hoặc giữ nguyên kích thước so với vật thật Mô hình chỉ thể hiện đặc trưng chủ yếu của sự vật hiện tượng, khó mô phỏng hết mọi chi tiết Trong nghiên cứu khoa học, xây dựng mô hình đúng hay sai sẽ quyết định đến thành công hay thất bại của hoạt động nghiên cứu Có thể mô hình hóa một hoạt động dạy học để nghiên cứu; hoặc mô hình hóa một chiến dịch hay trận chiến đấu bằng một cuộc diễn tập, tập trận để nghiên cứu, tìm ra những quy luật, những chỉ tiêu, định mức cần thiết cho việc chỉ đạo hoạt động của giáo viên, học sinh trong quá trình dạy học ; Nếu xây dựng mô hình đúng tức là có sự tập duyệt, nghiên cứu những hành động chính xác, cách dạy học hay, hiệp đồng chặt chẽ, kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung những thiếu sót ; thì khi vào thực tiễn quá trình dạy học không mức sai lầm, không để những trường hợp đáng tiếc xảy ra, đỡ tốn kinh phí, thuận tiện trong quá trình dạy học và mang lại hiệu quả như ý
Trang 40Mô hình dạy học là loại mô hình phản ánh cấu trúc, các thành tố chủ yếu và các mối quan hệ của quá trình dạy học nói chung hoặc quá trình phát triển kỹ năng nghề nghiệp nói riêng Có mô hình dạy học lấy việc giáo viên truyền đạt kiến thức làm trọng tâm cũng có mô mô hình dạy học lấy việc giáo viên tổ chức cho người học xử lí tình huống, giải quyết vấn đề làm trọng tâm
Mô hình giáo dục phản ánh toàn bộ hình thức toàn bộ các kĩ thuật dạy học được kiến tạo từ quan điểm riêng của con người và các quan hệ giữa con người và
xã hội, nhằm mục đích phát triển một số đặc tính nhân cách của học viên
Mô hình học tập là loại mô hình thể hiện một số tính chất của những yếu tố thuộc về một tình huống sư phạm và tạo lên định dạng cụ thể của quá trình học tập bằng cách sắp xếp chuyên biệt Ví dụ: có thể áp dụng quan điểm học tập tích cực, hoạt động hóa người học, xây dựng mô hình “học tập dựa trên việc giải quyết vấn đề”, đặt người học vào “một tình huống có vấn đề phải giải quyết” Có thể dựa vào các phương tiện học tập để phân loại các mô hình học tập, cụ thể là vai trò của người học nói chung trong quá trình sư phạm: học tập thụ động (phương tiện nghe nhìn là chính như bảng biểu, máy thu thanh, máy thu hình ); học tập chủ động (phương tiện công nghệ thông tin hiện đại nối mạng như mạng máy tính, internet )
Thuật ngữ “Mô hình phát triển kỹ năng nghề nghiệp” không phải là mới mà hơn 20 năm trước đây nó đã được sử dụng để mô tả khái quát một phương thức đào tạo rất khác với đào tạo truyền thống ở chỗ phương thức tiếp cận này dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo, rèn luyện theo các tiêu chuẩn đó Người học không nhất thiết phải học tất cả các nội dung, đạt tất cả các tiêu chuẩn của nghề đó và về thời gian không có quy định cứng nhắc Phương thức này cũng rất linh hoạt trong việc công nhận những kết quả, thành tích học tập trước đây của người học khi họ chứng minh được là họ có KNNN theo tiêu chuẩn đề ra và như vậy người học được phép tích lũy các tín chỉ mà không phải học lại những