1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điểm mới của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010

30 629 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 82,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vào giai đoạn này bên cạnh ngân hàng nhà nước Việt Nam đã xuất hiện thêm một số ngân hàng khác như: Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng Ngoạithương, Quỹ tiết kiệm XHCN nhưng tính chất của hệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trang 2

Chương I Lịch sử hình thành và quá trình phát triển Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam

Một xã hội văn minh không thể thiếu Luật, Luật len lỏi vào cuộc sống của chúng

ta trong mọi ngành nghề, lĩnh vực Khi một ngành nghề, một lĩnh vực mới xuất hiện luônluôn kéo theo sự xuất hiện của Luật điều chỉnh nó, và ngành Ngân hàng không phải làmột ngoại lệ Sự trao đổi tiền tệ ra đời từ rất sớm, những hoạt động tiền tệ sơ khai rađời từ thời chiếm hữu nô lệ, tuy nhiên, Luật điều chỉnh nó không thể xuất hiện ngay lậptức, vì lúc này con người chưa nhận thức được khái niệm Luật và sự quan trọng củaLuật Cùng với sự phát triển tất yếu của xã hội loài người, nền văn minh xuất hiện, lúcnày nhu cầu cần Luật trở nên bức bách đối với ngành Ngân hàng, đặc biệt là khi nền kinh

tế thị trường đang ngày càng mở rộng Sự ra đời của pháp luật Ngân hàng là vô cùngrộng lớn, ở đây, chúng tôi chỉ bàn về sự ra đời của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam

và sự phát triển của nó qua từng thời kì Chính vì vậy, để hiểu rõ hơn về Pháp luật ngânhàng nhà nước Việt Nam, ta hãy bám sát theo lịch sử ra đời của Ngân hàng nhà nướcViệt Nam

Cùng với và là nhân tố cấu thành không thể thiếu của những trang sử hào hùngcủa dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, ngành Ngân hàng Việt Nam từ khi đượcthành lập 6/5/1951 trên thực tế đã trải qua “4 đoạn đường” đầy thử thách, rất gậpghềnh nhưng liên tục phát triển – Đó là những đoạn đường: 9 năm đánh thực dân Pháp(1945 – 1954, trong đó từ 1945 đến trước ngày 6/5/1951 hoạt động ngân hàng nằmtrong Bộ Tài Chính); hơn 20 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975); 10 năm

Trang 3

kinh tế đất nước sau chiến tranh (1975 – 1985); Và hơn 20 năm đổi mới cơ chế kinh tế

từ 1986 đến nay Ta cùng sơ lược qua quá trình hình thành và phát triển của ngànhNgân hàng và Pháp luật Ngân hàng của Việt Nam qua các giai đoạn sau:

1 Giai đoạn 1945-1954 :

Thống trị hệ thống ngân hàng Đông Dương suốt thời kỳ Pháp thuộc là Ngân hàngĐông Dương do Pháp thành lập vào đầu nửa sau thế kỷ 19 Giai đoạn 1945 -1954, đấtnước Việt Nam bị chia cắt, đan xen bởi những vùng tự do thuộc chính quyền cách mạngkiểm soát và những vùng bị Pháp chiếm đóng Theo đó, hệ thống ngân hàng của ViệtNam cũng ở trong tình trạng chia cắt

Bước sang năm 1950, công cuộc kháng chiến chống Pháp ngày một tiến triểnmạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường và mở rộng vùnggiải phóng Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính - kinh tế mà Đại hội Đảnglần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kýsắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam - Ngân hàng của Nhà nướcdân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á

Tuy nhiên, vào lúc này, không chỉ riêng ngân hàng nhà nước Việt Nam mà mọi cơquan, tổ chức và các hoạt động khác của đất nước đều nhằm mục đích phục vụ khángchiến, chính vì vậy, luật ngân hàng nhà nước lúc này vẫn chưa được xem là vấn đề cầnthiết, mà ưu tiên hàng đầu là tìm cách thống nhất đất nước Hơn nữa, nền kinh tế nước

ta trong giai đoạn này là nền kinh tế bao cấp, nên ngân hàng nhà nước Việt Nam cũnghoạt động theo nguyên lý hành chính, mệnh lệnh, tập trung, một cấp và nhà nước là độcquyền sở hữu

Trang 4

2 Giai đoạn 1954-1975:

Hoà bình được khôi phục năm 1954 đã dẫn tới sự cấu trúc lại hệ thống ngân hàngViệt Nam Hệ thống ngân hàng ở miền Bắc đã trở thành cỗ máy phục vụ chủ yếu cho khuvực kinh tế nhà nước - cấp tín dụng cho các xí nghiệp quốc doanh, và một phần cho khuvực kinh tế tập thể - các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Tại Thông tư số 20/VP - TH ngày 21/1/1960 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốcgia ký thừa uỷ quyền Thủ Tướng chính phủ, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tênthành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phù hợp với hiến pháp 1946 của nước ViệtNam dân chủ cộng hoà Tuy vào giai đoạn này bên cạnh ngân hàng nhà nước Việt Nam

đã xuất hiện thêm một số ngân hàng khác như: Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng Ngoạithương, Quỹ tiết kiệm XHCN nhưng tính chất của hệ thống ngân hàng VN vẫn không hềthay đổi, nền kinh tế lúc này vẫn là tập trung bao cấp và theo đó, hoạt động của ngânhàng vẫn tiến hành theo kế hoạch hóa tập trung và nhu cầu về luật điều chỉnh riêng chongân hàng nhà nước Việt Nam vẫn chưa hề xuất hiện

3 Giai đoạn 1975-1985:

Những năm sau khi Miền Nam giải phóng 1975, việc tiếp quản Ngân hàng Quốcgia Việt Nam cộng hoà và các Ngân hàng tư bản tư nhân dưới chế độ Nguỵ quyền SàiGòn đã mở đầu cho quá trình nhất thể hoá hoạt động ngân hàng toàn quốc theo cơ chếhoạt động ngân hàng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Tháng 7 năm 1976, đất nước được thống nhất về phương diện Nhà nước, nướcCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Namđược hợp nhất vào NHNN Việt Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhấtcủa cả nước

Trang 5

Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt độngnhư là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theonguyên tắc thị trường Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng -chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuốinhững năm 80 Chính sự chuyển đổi từ nền kinh tế đóng sang kinh tế mở đã làm xuấthiện nhu cầu về pháp luật của ngành ngân hàng, tuy nhiên lúc này, do sự chuyển đổi chỉmang tính manh nha, chưa dứt khoác, chưa có các chính sách, quy định pháp luật cụ thểcho nền kinh tế mới, hơn thế nữa do đất nước ta đã trải qua nền kinh tế bao cấp trongthời gian dài khiến người dân chưa thể ngay lập tức thích nghi với cơ chế thị trường mớinên lúc này chúng ta vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh hoạt động củangân hàng nhà nước Việt Nam.

4 Giai đoạn từ 1986 đến nay:

Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu sự chuyểnbiến căn bản của pháp luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam thể hiện qua một số "cộtmốc" có tính đột phá sau đây:

Thứ nhất, sự chuyển đổi hệ thống ngân hàng Việt Nam khởi đầu từ năm 1987 thông qua các văn bản sau:

- Nghị quyết thứ VI của BCH Trung ương Đảng khóa VI về thay đổi từ cơ chế quản

lý tập trung bao cấp sang cơ chế kinh doanh XHCN

Trang 6

- Hội đồng bộ trưởng ban hành chỉ thị số 218/CT ngày 13/7/1987 cho phép ngânhàng thí điểm chuyển sang hệ thống ngân hàng 2 cấp.

- Hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định 53/NĐ/HĐBT ngày 26/3/1988 tổ chứclại hệ thống ngân hàng, bao gồm: Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng chuyên doanh

Chính sự ra đời của các văn bản này đòi hỏi phải có sự thay đổi trong hệ thốngngân hàng, từ cách tổ chức đến chức năng hoạt động của từng ngân hàng, trong đó rõnhất là sự phân định về đối tượng, nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của các cấp ngânhàng Đó là tinh thần chuyển dần chức năng “cấp phát” sang chức năng hạch toán kinhdoanh; tách dần cấp quản lý Nhà nước về Ngân hàng ra khỏi hoạt động kinh doanh trựctiếp với các đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế; thành lập lại các Ngân hàng chuyêndoanh, Phó Tổng giám đốc NHNN thôi không kiêm chức Tổng Giám đốc Ngân hàngchuyên nghiệp như mô hình tổ chức cũ ghi tại Nghị Định 65-HĐBT ngày 28/5/1986 nữav.v Nhờ đó, những đường nét ban đầu của cơ chế mới về hoạt động Ngân hàng theo 2cấp đã dần dần hình thành và được thể chế hoá bằng hai Pháp lệnh về Ngân hàng năm1990

Thứ hai, cơ sở pháp lý đầu tiên cho quá trình cải tổ hệ thống Ngân hàng Việt Nam – sự ra đời của 2 Pháp lệnh.

Năm 1989, sau những chủ trương đổi mới có tính bước ngoặt, xoá bỏ chỉ tiêu kếhoạch pháp lệnh, trao quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh, tự do hoáphân phối tư liệu sản xuất và tự do hoá giá cả, kinh tế thị trường được chính thức xáclập, việc đổi mới tất yếu tiếp theo là xây dựng khuôn khổ thể chế cho việc hình thành hệthống ngân hàng mới hai cấp, tách biệt chức năng điều tiết chính sách tiền tệ của cấpngân hàng Trung ương với chức năng kinh doanh phân phối nguồn lực tài chính cho thịtrường của cấp các ngân hàng thương mại

Trang 7

Giữa năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) giao cho ông Cao Sỹ Kiêm,Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, cùng phối hợp với một nhóm chuyên gia độc lập

do Hội đồng Bộ trưởng chỉ định cùng soạn thảo hai pháp lệnh ngân hàng Việc soạn thảođặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt

Trong số những chuyên gia độc lập, có giáo sư Phan Văn Tiệm (lúc đó đang là Chủnhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước), các ông Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn cựu viên chứcngân hàng của chính quyền Sài Gòn cũ, ông Nguyễn Thiệu cán bộ giúp việc Phó Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt

Việc sử dụng một nhóm chuyên gia ngoài biên chế ngân hàng với chuyên giaNgân hàng Nhà nước, và sau này giúp Ngân hàng Nhà nước triển khai thực hiện là cáchlàm mới mẻ của người chỉ đạo trực tiếp, nhằm lắng nghe ý kiến độc lập và tranh luậnnhất trí giữa hai nhóm chuyên gia đồng soạn thảo pháp lệnh đổi mới ngân hàng

Sau hơn bốn tháng làm việc khẩn trương, vượt qua nhiều cuộc tranh luận thẳngthắn, mấy lần trình xin ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt,hai dự thảo pháp lệnh hoàn thành Sau đó, hai dự thảo được mang sang Paris nhờ Ngânhàng Trung ương Pháp đánh giá; nhờ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thẩm định và cử chuyêngia sang Hà Nội tổ chức một lớp tập huấn cho cán bộ Ngân hàng Nhà nước

Tháng 5 năm 1990, hai pháp lệnh bắt đầu có hiệu lực thi hành sau khi Chủ tịchHội đồng Nhà nước Võ Chí Công phê chuẩn Hai pháp lệnh Ngân hàng đem lại nhận thứcmới và cơ hội pháp lý tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước theo mô hình Ngân hàng Trungương Đó là:

- Pháp lệnh số 37 về Ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 23/5/1990, có hiệu lựcngày 1/10/1990

Trang 8

- Pháp lệnh số 38 về Ngân hàng thương mại, HTX tín dụng và công ty tài chínhngày 23/5/1990, có hiệu lực ngày 1/10/1990.

Hai pháp lệnh này là nền tảng pháp lý chính thức cho sự phân định rạch ròi về đốitượng, mục tiêu và nhiệm vụ của từng cấp ngân hàng trong mô hình ngân hàng 2 cấp,phục vụ cho quá trình chuyển đổi của hệ thống ngân hàng từ cơ chế kinh tế tập trungsang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, nó cũng là tiền

đề cho các văn bản Luật ngân hàng nhà nước sau này

Thứ ba, sự ra đời của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997 thay thế cho pháp lệnh số 37.

Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổchức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1997 tạo nên bậc thanghoàn thiện môi trường pháp lý, tiếp tục mở đường cho sự phát triển của ngành Ngânhàng Việt Nam trong tiến trình đổi mới Tại Luật này, lần đầu tiên trong lịch sử Ngânhàng Việt nam, Ngân hàng Nhà nước Việt nam được diễn đạt định nghĩa bằng đồng thời

2 khái niệm song song: Là “cơ quan của Chính phủ” và là “Ngân hàng trung ương” củanước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam

Và đến ngày 17/06/2003 thì Quốc Hội đã thông qua Luật sửa đổi và bổ sung một

số điều của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 1997, trong đó đưa vào 2 khái niệm mớigồm có “Giấy tờ có giá dài hạn’ và “mua bán ngắn hạn”, bỏ đi “cơ quan thuộc Chínhphủ” trong những quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với hoạt độngngân hàng đồng thời thay đổi cơ quan “Bộ Nội vụ” thành “Bộ Công An” Cuối cùng làviệc thay đổi thẩm quyền quyết định các trường hợp đặc biệt trong quy định về ‘tạmứng cho ngân sách nhà nước’ từ Thủ tướng Chính phủ sang cho Ủy ban thường vụ Quốchội Bên cạnh đó là 1 hệ thống văn bản hướng dẫn được cập nhật và điều chỉnh kịp thời

Trang 9

những vấn đề mới trong suốt giai đoạn từ 2003 đến khi khi Luật Ngân hàng nhà nước

2010 được ban hành vời nhiều cải cách

Chương II.

Sự ra đời của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010

Ngành ngân hàng và Pháp luật về Ngân hàng đã trải qua 1 giai đoạn dài theo lịch

sử phát triển của đất nước với nhiều biến đổi Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xãhội, ngành ngân hàng cũng không ngừng đổi mới, những mối quan hệ mới phát sinhtrong hoạt động giao dịch hàng ngày, những mô hình, hình thức hoạt động mới khôngngừng được ra đời phục vu cho nhu cầu của đời sống xã hội, cũng vì vậy pháp luật cầnđược kịp thời thay đổi để điều chỉnh tốt những mối quan hệ, hoạt động trong lĩnh vựcngân hàng đang đổi mới hằng ngày Trong những năm gần đây, vai trò của các ngânhàng trung ương đã có sự thay đổi rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầuhoá và hội nhập kinh tế quốc tế Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 cũng đãtác động mạnh mẽ tới việc điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng trung ương, dẫn đếnyêu cầu cấp thiết trong việc mở rộng vai trò của các ngân hàng trung ương nhằm đảmbảo ổn định hệ thống tài chính và giám sát rủi ro hệ thống hiệu quả Trước yêu cầu của

xã hội, Luật ngân hàng nhà nước Việt nam năm 2010 đã được thai nghén và ra đời sau 1

số bản dự thảo và những tranh luận của các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật lẫnngân hàng

A Sự cần thiết ban hành Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010

Trang 10

Tổng kết trên 10 năm thực hiện Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam cho thấyLuật NHNN VN đã góp phần to lớn trong việc hình thành cơ sở pháp lý để đổi mới tổchức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhànước), đặc biệt trong việc thực hiện các chức năng cơ bản của mình đã thực hiện tốtchính sách tiền tệ quốc gia và thanh tra, giám sát có hiệu quả hoạt động của các Tổ chứctín dụng Đạt được không ít thành tựu, Luật NHNN VN đã góp phần từng bước hoànthiện khuôn khổ thể chế về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước theo cơ chếthị trường, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước trong quátrình thực thi chính sách tiền tệ, góp phần đổi mới hoạt động Thanh tra, giám sát ngânhàng, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, ngay cả trong những giaiđoạn khó khăn, đổi mới các hoạt động cơ bản đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu vềdịch vụ ngày một cao của các tổ chức tín dụng, như chế độ quản lý tiền mặt, phát hành,thanh toán thẻ, thanh toán điện tử liên ngân hàng, thông tin tín dụng (cập nhật, cungcấp thông tin về quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp với khách hàng, công tác thông tin

dự báo, định hướng chính sách lãi suất, tỷ giá )

Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật NHNN VN cũng cho thấy một số nội dung quyđịnh của Luật NHNN VN chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với việc xây dựng Ngânhàng Nhà nước trong điều kiện mới, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Vẫn còn

nhiều tồn tại và hạn chế cần được khắc phục như:

 Chưa nâng cao trách nhiệm cũng như thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước trongđiều hành các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ Cuộc khủng hoảng tài chínhtại các nước phát triển vừa qua cũng cho thấy những quy định hiện hành của LuậtNHNN VN trong việc giám sát hoạt động, xử lý tổ chức tín dụng lâm vào tình trạngkhó khăn có thể gây mất an toàn hệ thống chưa đầy đủ Những quy định về thẩmquyền của Nhà nước trong việc can thiệp vào hoạt động cũng như chế tài đối vớicác tổ chức tín dụng yếu kém chưa đủ mạnh

Trang 11

 Chưa quy định trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước về việc công khai chủtrương, chính sách và những thông tin cần thiết về tiền tệ và ngân hàng, tạo lòngtin của công chúng vào chính sách của Nhà nước trong bối cảnh thông tin có rấtnhiều chiều và từ rất nhiều nguồn của nền kinh tế thị trường

 Chưa quy định cụ thể tính chất đặc thù của hoạt động thanh tra, giám sát an toànhoạt động ngân hàng đối với tổ chức tín dụng là thanh tra, giám sát thườngxuyên, mang tính chất phòng ngừa nhằm ngăn chặn và xử lý “sớm” các rủi ro cókhả năng xảy ra trong quá trình hoạt động đối với của các tổ chức tín dụng

Trang 12

Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đang diễn

ra tác động sâu rộng đến các quốc gia và hệ thống ngân hàng cũng như quản lý nhànước của Ngân hàng Trung ương (Ngân hàng Nhà nước) nhất là các chính sách quản lý

và thanh tra, giám sát nhằm bảo đảm sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng,ngăn ngừa và xử lý sớm mầm mống gây mất ổn định

Hơn nữa trong những năm vừa qua, nhiều Luật có liên quan đến tổ chức và hoạtđộng của Ngân hàng Nhà nước đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới như Luật

Tổ chức Quốc hội (2001), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội(2007), Luật Tổ chức Chính phủ (2001), Bộ Luật dân sự (2005), Luật Doanh nghiệp, LuậtThương mại, Luật Đầu tư (2005), Luật Chứng khoán (2006)

Từ những vấn đề trên ta thấy được việc ban hành Luật Ngân hàng nhà nước ViệtNam 2010 là một yêu cầu cấp bách nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thốngpháp luật Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần phải nhanh chóng sửa đổi tạo cơ sởpháp lý để thể chế hoá những chủ trương, chính sách quan trọng này nhằm tạo điềukiện tiếp tục đẩy nhanh cải cách, đổi mới về tổ chức, hoạt động của Ngân hàng Nhànước

B Bối cảnh kinh tế - xã hôi

Trước sự cần thiết của xã hội, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 đã rađời với những nội dung mới tiến bộ, đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh tế xã hội đất nước

Là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời cũng là cơ sở cho những đổi mới vềnội dung, bối cảnh kinh tế xã hội là một nội dung cần xem xét để ta dễ dàng tiếp cậnnhững nội dung của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 với nhiều điểm khác biệt

so với luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1997 (sửa đồi vổ sung 2003) Và Luật Ngân

Trang 13

hàng nhà nước 2010 đã được xây dựng và ban hành trong tình hình đất nước có nhữngchuyển biến quan trọng sau:

Thứ nhất: Ngày 11/1/2007 Việt Nam ta chính thức là thành viên thứ 150 của tổchức WTO Gia nhập vào WTO đồng nghĩa với việc mở rộng mối quan hệ với các nướccủa các khu vực trên thế giới, như vậy thì các lĩnh vực trên thị trường đều có sự chuyểnbiến tích cực lẫn tiêu cực và ngành ngân hàng nước ta cũng không ngoại lệ

Cụ thể hệ thống pháp luật ngân hàng nước ta chưa thực sự đồng bộ và chưa phùhợp với thông lệ quốc tế , vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tíndụng, giữa các nhóm ngân hàng, giữa ngân hàng trong nước với các ngân hàng nướcngoài… đã gây ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh Chính những điều này đã đặt ra tháchthức phải sửa đổi, tạo mội trường kinh doanh trong ngành ngân hàng 1 cách bình đẳng (thông thoáng theo nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO )

Việc mở cửa thị trường tài chính trong nước sẽ làm tăng rủi ro thị trường do tácđộng từ thị trường tài chính khu vực và thế giới Trong khi đó thì năng lực chính sáchtiền tệ cũng như năng lực giám sát hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước tacòn hạn chế

Có thể nói Ngân hàng Nhà nước ta vẫn đang ở mức độ thấp về công nghệ, trình

độ tổ chức chuyên môn, nghiệp vụ thị trường tài chính chưa thực sự phát triển, cơ chếquản lí giám sát chưa hoàn thiện, chưa có chính sách thống nhất để quản lí hiệu quảhoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Trong khi hoạt động của các chi nhánhngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hậu WTO sẽ càng mở rộng và phát triển

Trang 14

Thứ hai: Do cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 vừa qua cũng đã làm chonhiều ngân hàng mất khả năng thanh khoản đã co lại, rút lại tín dụng…đã làm cho lạmphát tăng cao => cho nên ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã có nhưng đổi mớitrong quản lí tiền tệ và hoạt động ngân hàng , trong đó quan trọng nhất là thực hiệnchính sách thắt chặt tiền tệ nhắm kiềm chế lạm phát gia tăng.

Ví dụ như: khoản 2 Điều 3 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 : “ Quốchội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ

số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia “

Bên cạnh đó theo Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X yêu cầu phảithể chế hóa được quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tổchức và hoạt động của ngân hàng nhà nước Việt Nam, thể hiện được tính đặc thù của

hệ thống ngân hàng nhà nước Việt Nam, phải phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam

Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường hiện nay chính sách tiền tệ cũng từng bướcđược thực hiện thông qua việc sử dụng ngày càng nhiều công cụ gián tiếp, đặc biệt làviệc Ngân hàng trung ương sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để tác động đến các mứclãi suất ngắn hạn Qua đó đã tác động đến tỉ lệ tăng cung tiền và tác động đến tốc độtăng trưởng kinh tê Vì vậy cần có một cơ chế điều chỉnh mới phú hợp với tình hình hiệntại nhằm nâng cao hiệu quả công cuộc thực hiện chình xách tiền tệ quốc gia

Một điều nữa không thể không nói đến chính là tình hình tranh chấp và cho vaynặng lãi hiện nay, xã hội cũng mong muốn có được sự điều hành của ngân hàng nhànước và có cơ sở áp dụng các luật liên quan như : dân sự, hình sự, lao động… nhằm hỗtrợ và phối hợp lẫn nhau giữa các lĩnh vực pháp luật một cách chặt chẽ chống lại hình vicho vai nặng lãi, bảo vệ trật tự và lợi ích của xã hội

Trang 15

Từ đó ta thấy Luật Ngân hàng nàh nước Việt Nam 2010thực sự cần thiết và hơnnữa là nội dung của nó cần phải giải quyết được những vấn đề cấp thiết của xã hội tronglĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, khắc phục những tồn tại và hạn chế hiện có, nâng cao hơnnữa trách nhiệm, quyền hạn của NHNN trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệquốc gia trong nền kinh tế thị trường, cải cách hệ thống thanh tra giám sát hoạt động ngânhàng và thị trường tiền tệ., để thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về tiền tệ và ngân hàng

C Dự thảo và quá trình tranh luận, chất vấn xây dựng Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010

Để dẫn đến sự ra đời của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 đã có nhiều dựthảo, tuy nhiên những dự thảo này vẫn còn tồn tại một số hạn chế Và để đảm bảo tínhkhả thi và khắc phục những hạn chế, đáp ứng những nhu cầu đặt ra của thựctiễn….Quốc hội đã xem xét và lấy ý kiến để từng bước hoàn thiện và cho ra đời Luậtngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010

Những bản dự thảo tuy đã có nhiều điểm tiến bộ so với LNHNN 1997 như: : hình thức

diễn đạt, cấu trúc chương, mục điều khoản khoa học hơn, nhất là Luật Các tổ chức tíndụng; các quy định đã có xu hướng tiếp thu thông lệ quốc tế (quản trị ngân hàng, quảntrị các tổ chức tín dụng, minh bạch thông tin ) và có vẻ ít giấy phép con hơn nhưng vẫn

còn bỏ ngỡ nhiều vấn đề cần được xem xét như:

a) Chưa rõ thế nào là m t “ngân hàng Trung ương hi n đại” Vì theo thông báoột “ngân hàng Trung ương hiện đại” Vì theo thông báo ện đại” Vì theo thông báo

số 191 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 1.9.2005 về mục tiêu giải pháp ngànhngân hàng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ ra “Tổ chức lại NHNN với cơcấu và tính chất hoạt động như một ngân hàng Trung ương hiện đại, phù hợp với thông

Ngày đăng: 12/05/2015, 08:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w