luận án quản lý trường đại học đa phân hiệu ở việt nam trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay luận án quản lý trường đại học đa phân hiệu ở việt nam trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay luận án quản lý trường đại học đa phân hiệu ở việt nam trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THIÊN TUẾ
QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐA PHÂN HIỆU
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THIÊN TUẾ
QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐA PHÂN HIỆU
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong luận án này là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thiên Tuế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy, cô giáo của Nhà trường cùng các nhà khoa học đã giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình học tập, gợi ý những ý tưởng, đóng góp các ý kiến quý báu, những nhận xét mang tính xây dựng cho luận án ngay từ khi còn ở dạng đề cương
Tôi cũng đặc biệt cảm ơn GS.TSKH Thái Duy Tuyên và PGS.TS Nguyễn Phúc Châu về những hướng dẫn và những gợi ý sâu sắc
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn cơ quan, đồng nghiệp đã tạo điều kiện
về thời gian để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình !
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thiên Tuế
Trang 5CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Các cụm từ viết tắt trong luận án iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng viii
Danh mục các sơ đồ x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐA PHÂN HIỆU 10
1.1 Tổng quát nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của các trường đại học đa phân hiệu 10
1.1.2 Các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về quản lý trường đại học 16
1.2 Các khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận án 19
1.2.1 Tổ chức, cơ cấu tổ chức 19
1.2.2 Quản lý, cơ chế quản lý, chức năng quản lý, quản lý nhà trường 22
1.2.3 Phân hiệu trường đại học, trường đại học đa phân hiệu 29
1.3 Những vấn đề lí luận cơ bản về quản lý và tổ chức 30
1.3.1 Khái quát về các học thuyết quản lý 30
1.3.2 Các yếu tố cấu thành một tổ chức nhìn từ góc độ khoa học quản lý 33
1.3.3 Các mối quan hệ chủ yếu trong quản lý một tổ chức 39
1.3.4 Các loại (dạng) cơ cấu tổ chức nhìn từ góc độ khoa học quản lý 41
1.3.5 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý một tổ chức 46
1.4 Những đặc điểm chủ yếu về tổ chức và quản lý của trường đại học đa phân hiệu 48
1.4.1 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức 49
1.4.2 Đặc điểm về cơ chế quản lý 50
1.5 Những nội dung quản lý chủ yếu của các trường đại học đa phân hiệu 50
Trang 71.5.1 Quản lý hoạt động đào tạo và nghiên cứu KH&CN 51
1.5.2 Quản lý đội ngũ 52
1.5.3 Quản lý cơ sở vất chất và thiết bị 52
1.5.4 Quản lý môi trường hoạt động 54
1.5.5 Quản lý hoạt động kiểm soát chất lượng 54
1.5.6 Quản lý hệ thống thông tin quản lý 55
1.6 Các yếu tố tác động đến quản lý của trường đại học đa phân hiệu 56
1.6.1 Luật pháp, điều lệ, quy chế và chính sách phát triển giáo dục đại học 56
1.6.2 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học 56
1.6.3 Bối cảnh hội nhập quốc tế về giáo dục đại học 58
1.6.4 Công nghệ thông tin và truyền thông 60
Tiểu kết chương 1 61
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐA PHÂN HIỆU Ở VIỆT NAM 63
2.1 Bối cảnh phát triển KT-XH trong giai đoạn hiện nay và vấn đề hình thành các trường đại học đa phân hiệu 63
2.1.1 Các đặc trưng về phát triển KT-XH trong giai đoạn hiện nay dẫn đến sự hình thành và phát triển các trường đại học đa phân hiệu 63
2.1.2 Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, yêu cầu công bằng và bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học tạo nên sự hình thành và phát triển các trường đại học đa phân hiệu 65
2.2 Thực trạng cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của các trường đại học đa phân hiệu 72
2.2.1 Mục đích, đối tượng, nội dung, phương thức tổ chức khảo sát thực trạng quản lý của các trường đại học đa phân hiệu 72
2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý của Trường Đại học Ngoại thương 74
2.2.3 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh 88
2.2.4 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 103
Trang 82.3 Thực trạng triển khai những hoạt động quản lý tại phân hiệu của các
trường đại học đa phân hiệu 121
2.3.1 Mục đích, nội dung, phương pháp khảo sát thực trạng triển khai những hoạt động quản lý tại phân hiệu của các trường đại học đa phân hiệu 121
2.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng triển khai quản lý các hoạt động tại phân hiệu của các trường đại học đa phân hiệu 123
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý của các trường đại học đa phân hiệu ở Việt Nam trong bối cảnh KT- XH hiện nay 129
2.4.1 Những ưu điểm chính 129
2.4.2 Những hạn chế 130
2.4.3 Những nguyên nhân dẫn đến các hạn chế 131
Tiểu kết chương 2 133
Chương 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐA PHÂN HIỆU Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY 137
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 137
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 137
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 137
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 138
3.2 Các giải pháp quản lý của trường đại học đa phân hiệu ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay 139
3.2.1 Giải pháp 1: Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý 139
3.2.2 Giải pháp 2: Thực hiện quan điểm phân cấp, phân quyền hợp lý nhằm nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của các phân hiệu 158
3.2.3 Giải pháp 3: Nâng cao năng lực đào tạo cho các phân hiệu bằng hỗ trợ cán bộ quản lý và giảng viên có trình độ cao; đồng thời tổ chức các hoạt động bổ sung kiến thức cơ sở cho người học tại các phân hiệu 163
3.2.4 Giải pháp 4: Đa dạng hóa các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính từ cơ sở chính và địa phương để đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo cho các phân hiệu được tương xứng với cơ sở chính 167
3.2.5 Giải pháp 5: Thực hiện cam kết với cộng đồng và xã hội về phương thức đảm bảo chất lượng đào tạo 170
3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp quản lý của các trường đại học đa phân hiệu trong bối cảnh KT-XH hiện nay 173
3.3.1 Mục đích, phương pháp, hình thức tổ chức, đối tượng khảo nghiệm và cách thức xử lý số liệu 173
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 176
Trang 9Tiểu kết chương 3 183
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 185
1 Kết luận 185
2 Khuyến nghị 189
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 191
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 192
PHỤ LỤC 198
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1 Các chỉ tiêu chủ yếu phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-
2020 70
Bảng 2.2 Quy mô đào tạo của Trường Đại học Ngoại thương trong các
năm từ 2005 đến 2010 79
Bảng 2.3 Quy mô đào tạo của các phân hiệu thuộc Trường Đại học Ngoại
thương qua các năm từ 2005 đến 2010 79
Bảng 2.4 Số lượng, trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên và nhân viên của
Trường Đại học Ngoại thương giai đoạn 2005 - 2010 82
Bảng 2.5 Số lượng, trình độ đào tạo đội ngũ cán bộ, giảng viên và nhân
viên tại các phân hiệu của Trường Đại học Ngoại thương năm 2010 83
Bảng 2.6 Quy mô đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ
Chí Minh qua các năm học từ 2006-2007 đến 2010-2011 94
Bảng 2.7 Chất lượng đào tạo của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ
Chí Minh khóa học 2006 – 2010 95
Bảng 2.8 Số lượng, cơ cấu, trình độ đội ngũ CB-GV-NV của Trường Đại
học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh 97
Bảng 2.9 Số lượng, cơ cấu, trình độ đội ngũ CB-GV-NV tại các phân hiệu
so với cơ sở chính của Trường Đại học Nông Lâm đến năm 2011 97
Bảng 2.10 Quy mô đào tạo của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ
Chí Minh 110
Bảng 2.11 Chất lượng đào tạo tại cơ sở chính và tại các phân hiệu của
Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 111
Bảng 2.12 Số lượng, cơ cấu, trình độ đội ngũ CBQL, giảng viên và nhân
viên của Trường ĐHCN Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 2006 – 2010 113
Bảng 2.13 Số lượng, cơ cấu, trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên và nhân
viên tại các phân hiệu của Trường ĐHCN thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 114
Bảng 2.14 Tần suất các ý kiến chuyên gia đánh giá về thuận lợi, khó khăn
trong quản lý hoạt động đào tạo tại các phân hiệu 123
Bảng 2.15 Tần suất các ý kiến đánh giá về thuận lợi, khó khăn trong quản
lý đội ngũ ở các phân hiệu 124
Trang 11Bảng 2.16 Tần suất các ý kiến đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quản lý
cơ sở vật chất và thiết bị tại các phân hiệu 125
Bảng 2.17 Tần suất các ý kiến đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quản lý
các hoạt động phát huy lợi thế của môi trường hoạt động tại các phân hiệu 126
Bảng 2.18 Tần suất các ý kiến đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quản lý
hoạt động kiểm soát chất lượng tại các phân hiệu 127
Bảng 2.19 Tần suất các ý kiến đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quản lý
hệ thống thông tin quản lý tại các phân hiệu 128
Bảng 3.1 Tần suất các ý kiến chuyên gia đánh giá về mức độ cần thiết của
các giải pháp quản lý của các trường đại học đa phân hiệu 181
Bảng 3.2 Tần suất các ý kiến chuyên gia đánh giá về tính khả thi của các
giải pháp quản lý của các trường đại học đa phân hiệu 182
Trang 12DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý với nhau và
với thông tin quản lý 27
Sơ đồ 1.2 Dạng cơ cấu tổ chức theo cấu trúc trực tuyến 42
Sơ đồ 1.3 Dạng cơ cấu tổ chức theo cấu trúc chức năng 43
Sơ đồ 1.4 Dạng cơ cấu tổ chức theo cấu trúc trực tuyến - chức năng 44
Sơ đồ 1.5 Dạng cơ cấu tổ chức theo cấu trúc trực tuyến - chức năng liên hợp 45
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Ngoại thương 76
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh 91
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 107
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức trường đại học đa phân hiệu 141
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, kinh tế tri thức và kinh tế thị trường, sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ (KH&CN) của thời đại ngày nay đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ và làm thay đổi mọi hoạt động của xã hội trên tất cả các bình diện cá nhân, tổ chức, cộng đồng, địa phương và quốc gia Xu thế này tác động mạnh mẽ tới giáo dục và đào tạo, đòi hỏi phải đổi mới tư duy và phương thức quản lý đào tạo nguồn nhân lực -
mô ̣t trong những nhân tố quan tro ̣ng tạo nên sự tăng trưởng của nền kinh tế Hiện nay, để đáp ứng các yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện công bằng và bình đẳng về thụ hưởng giáo dục đại học, mở rộng “thương hiệu” của nhiều cơ sở giáo dục đại học có danh tiếng; nhiều quốc gia đã có những thay đổi về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức, phương thức kiểm định chất lượng đào tạo và đặc biệt là sự phát
triển đa dạng về loại hình cơ sở giáo dục đại học Một trong những sự phát
triển đa dạng đó là loại hình trường đại học có một hoặc nhiều cơ sở đào tạo (đa phân hiệu) đặt trụ sở tại địa phương khác trong cùng một quốc gia hoặc tại các quốc gia khác nhau
Cũng như một số quốc gia trên thế giới, tại Việt Nam bên cạnh các trường đại học chỉ có một cơ sở, đã xuất hiện một số trường đại học đa phân hiệu có các cơ sở đặt tại các địa phương khác ngoài địa phương đặt trụ sở chính Cụ thể, ngoài các đại học quốc gia và các đại học vùng, có nhiều trường đại học đa phân hiệu hoặc có đặc điểm đa phân hiệu như: Trường Đại học Ngoại Thương (có cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh và phân hiệu ở tỉnh Quảng Ninh), Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (có các
cơ sở tại các tỉnh Thái Bình, Thanh Hóa, Biên Hòa và Quảng Ngãi), Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (có các phân hiệu tại tỉnh Ninh
Trang 14Thuận và tỉnh Gia Lai), Trường Đại học Nha Trang (có phân hiệu tại tỉnh Kiên Giang)
Đặc trưng nổi bật của các trường đại học đa phân hiệu là cơ cấu tổ chức,
bộ máy quản lý khác với các trường đại học chỉ có một cơ sở; nhưng các hoạt động tại các cơ sở vẫn phải chịu sự quản lý của một bộ máy tổ chức quản lý của trường Điều đó dẫn đến sự khác nhau về cơ chế quản lý, về các phương tiện và điều kiện đảm bảo chất lượng giữa trường đại học đa phân hiệu với các trường đại học chỉ có một cơ sở Có nghĩa là, quản lý một trường đại học
đa phân hiệu sẽ có nhiều điểm khác với quản lý trường đại học chỉ có một cơ
sở về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, về đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động
Trên thực tế, hoạt động của các trường đại học đa phân hiệu trên thế giới
và ở Việt Nam không những phát huy được thương hiệu để đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của cộng đồng, địa phương, quốc gia và toàn cầu; mà còn góp phần đáng kể vào mục tiêu công bằng và bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học đối với nhiều vùng, miền trong một quốc gia và đối với các quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển
Như vậy, sự hình thành và phát triển các trường đại học đa phân hiệu là một xu thế phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với nhu cầu đa dạng về đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, góp phần tạo nên sự công bằng và bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học trong thời đại ngày nay Tuy nhiên, sự hình thành và phát triển các trường đại học đa phân hiệu lại đặt ra những vấn đề phải nghiên cứu; trong đó có vấn đề bức thiết là cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của các trường đó như thế nào để mang lại chất lượng và hiệu quả trong bối cảnh KT-XH hiện nay, khi mà cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý của các trường này khác với các trường đại học chỉ có một cơ sở
Trang 15Hiện nay, đã có một số công trình khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu về quản lý cơ sở giáo dục đại học Những công trình khoa học đó tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học trong mối quan hệ biện chứng giữa phát triển giáo dục với phát triển KT-XH; nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu cụ thể về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của trường đại học đa phân hiệu
Trong nhiều năm qua, là một cán bộ quản lý của một trường đại học đa phân hiệu, trước sự bức thiết về lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi chọn vấn đề:
“Quản lý trường đại học đa phân hiệu ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế -
xã hội hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ để nghiên cứu nhằm hoàn thiện cơ
cấu tổ chức và cơ chế quản lý, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo tại các phân hiệu, góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện công bằng
và bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học trong bối cảnh KT-XH hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đảm
bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động của các trường đại học đa phân
hiệu tại Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại phân hiệu, góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện công bằng và bình đẳng
về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học trong bối cảnh KT-XH hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Trường đại học đa phân hiệu ở Việt Nam trong bối cảnh KT-XH hiện nay
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đảm bảo các phương tiện
và điều kiện hoạt động của các trường đại học đa phân hiệu tại Việt Nam trong bối cảnh KT-XH hiện nay
Trang 164 Giả thuyết khoa học
Hiện nay để đáp ứng nhu cầu học đại học ngày càng đa dạng và phong
phú của thanh niên, cũng như yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực có trình độ đại học, nhiều trường đại học đã mở các phân hiệu tại các địa phương khác nhau Mặc dù ở mức độ nhất định các trường đại học đa phân hiệu đã góp phần không nhỏ vào việc đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, cũng như góp phần đảm bảo sự công bằng trong thụ hưởng giáo dục đại học Tuy vậy, vẫn còn khá nhiều vấn đề về tổ chức và quản lý cản trở sự phát triển một loại hình trường đại học đang trở thành xu thế phổ biến của kỉ nguyên thông tin và kinh tế trí thức
Nếu tìm được các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động của các trường đại học đa phân hiệu phù hợp với lý luận và thực tiễn trong bối cảnh KT-XH hiện nay; thì các trường đại học đa phân hiệu tại Việt Nam có thể nâng cao chất lượng đào tạo tại phân hiệu, góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện công bằng và bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý trường đại học đa phân hiệu trong
bối cảnh KT-XH hiện nay; trong đó có nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, sự đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý trường đại học đa phân hiệu ở
Việt Nam nhằm tìm ra những mâu thuẫn, khó khăn và bất cập trong thiết lập
cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp quản lý
5.3 Đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đảm bảo
các phương tiện và điều kiện hoạt động của trường đại học đa phân hiệu; nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại phân hiệu, góp phần đáp ứng nhu cầu
Trang 17đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện công bằng và bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học trong bối cảnh KT-XH của Việt Nam hiện nay
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Trong nghiên cứu quản lý trường đại học đa phân hiệu, chúng tôi chỉ tập trung đề xuất các giải pháp quản lý của hiệu trưởng về thiết lập cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, về đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động cho các trường đại học đa phân hiệu
- Trong nghiên cứu đề tài luận án, chúng tôi chọn một số trường đại học dưới đây làm mẫu đại diện để khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý của trường đại học đa phân hiệu: Trường Đại học Ngoại thương (các cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Ninh),Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (các phân hiệu tại Ninh Thuận và Gia Lai) và Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (các cơ sở tại Biên Hòa, Thái Bình, Thanh Hoá và Quảng Ngãi)
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong luận án này chúng tôi chọn các hướng tiếp cận
và phương pháp nghiên cứu chủ yếu dưới đây
7.1 Các tiếp cận trong nghiên cứu
7.1.1 Tiếp cận lịch sử - lôgic
Tiếp cận lịch sử - lôgic trong nghiên cứu đề tài luận án là việc xem xét
các dấu hiệu mang tính lịch sử theo giai đoạn và các thời kỳ hình thành, phát triển trường đại học đa phân hiệu về cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động, nhằm so sánh và đối chiếu với lý thuyết quản lý một tổ chức để tìm được sự lôgic giữa các dấu hiệu mang tính lịch sử; đồng thời qua đó chỉ ra xu hướng phát triển các trường đại học đa phân hiệu trong giai đoạn hiện nay
Trang 187.1.2 Tiếp cận thực tiễn
Tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu đề tài luận án là việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa phát triển KT-XH với phát triển giáo dục đại học trong bối cảnh KT-XH hiện nay; trong đó làm rõ nhu cầu của xã hội về đào tạo nguồn nhân lực, sự bình đẳng và công bằng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học; đồng thời đánh giá thực trạng về cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, sự đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động trên cơ sở lý luận quản lý; từ
đó có cái nhìn toàn diện về thực trạng quản lý của các trường đại học đa phân hiệu về thiết lập cơ cấu tổ chức và định ra cơ chế quản lý, về bảo đảm các phương tiện và điều kiện hoạt động
7.1.3 Tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu đề tài luận án là xem xét các dấu
hiệu hình thành và phát triển trường đại học đa phân hiệu (mỗi trường là một
hệ thống), các phần tử cấu thành (các hệ con: các đơn vị trong cơ sở chính và
trong phân hiệu), mối quan hệ và quy luật vận hành của hệ thống; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và những dấu hiệu đầu ra (chất lượng đào tạo) của hệ thống; nhằm tìm ra các dấu hiệu đặc thù về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, về đảm bảo phương tiện và điều kiện hoạt động của
hệ thống và các hệ con của hệ thống (cơ sở chính và các phân hiệu)
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hóa các công trình nghiên cứu về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, trong đó có các công trình nghiên cứu về quản lý trường đại học đa phân hệ để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, xác định cơ sở lý luận về thiết lập cơ cấu tổ chức,
cơ chế quản lý, về đảm bảo phương tiện và điều kiện hoạt động của trường
đại học đa phân hiệu
Trang 197.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát, điều tra, phương pháp chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu sản phẩm hoạt động và so sánh
Các phương pháp này được sử dụng với mục đích khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý trường đại học đa phân hiệu tại Việt Nam; trong đó làm rõ thực trạng về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, về đảm bảo các phương tiện
và điều kiện hoạt động của trường đại học đa phân hiệu; là cơ sở thực tiễn để
đề xuất các giải pháp quản lý nhằm giải quyết mâu thuẫn, tháo gỡ khó khăn
và khắc phục các bất cập có trong thực trạng quản lý của các trường đại học
đa phân hiệu tại Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường và đặc biệt là chất lượng đào tạo tại phân hiệu
7.2.3 Các phương pháp hỗ trợ khác
Phương pháp thống kê toán học và một số phần mềm tin học để xử lý các số liệu thu thập được trong nghiên cứu thực trạng quản lý của các trường đại học đa phân hiệu; đồng thời khẳng định mức độ tin cậy của các số liệu trong kết quả nghiên cứu
8 Những đóng góp của luận án
8.1 Những đóng góp về lý luận
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý trường đại học đa phân hiệu
- Khẳng định sự hình thành, tồn tại và phát triển trường đại học đa phân hiệu trong bối cảnh KT-XH hiện nay là một tất yếu khách quan, tận dụng được thế mạnh của cơ sở chính đối với các hoạt động của phân hiệu trong việc đáp ứng yêu cầu của xã hội về đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện bình đẳng và công bằng về thụ hưởng giáo dục đại học
- Từ góc độ khoa học quản lý, xác định những đặc trưng cơ bản của trường đại học đa phân hiệu trên các phương diện:
+ Cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý;
Trang 20+ Phương tiện và điều kiện đảm bảo chất lượng các hoạt động, đặc biệt là chất lượng đào tạo;
+ Các hoạt động quản lý chủ yếu như đào tạo, nghiên cứu khoa học, đảm bảo phương tiện và điều kiện hoạt động của cơ sở chính và của phân hiệu của trường đại học đa phân hiệu; đồng thời chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của các trường này
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản
lý, đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động của trường đại học đa phân hiệu; nhằm phát huy thế mạnh của cơ sở chính trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại phân hiệu đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, góp phần thực hiện công bằng và bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giáo dục đại học trong bối cảnh KT-XH của Việt Nam hiện nay
9 Luận điểm bảo vệ
1) Trong bối cảnh KT-XH hiện nay, trường đại học đa phân hiệu được hình thành và phát triển phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam nhằm phát huy thế mạnh của cơ sở chính đối với đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội, tạo sự công bằng và bình đẳng về cơ hội hưởng thụ giáo dục đại học, tận dụng được thế mạnh của địa phương, vùng miền 2) Đặc điểm về cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý của các trường đại học đa phân hiệu đòi hỏi phải có sự khác biệt về phương thức đảm bảo các phương
tiện và điều kiện hoạt động của nhà trường như: đội ngũ (cán bộ quản lý, cán
bộ khoa học, giảng viên và nhân viên), người học, cơ sở vật chất và thiết bị,
Trang 21môi trường hoạt động, hệ thống thông tin quản lý và phương thức kiểm định
chất lượng giữa phân hiệu với cơ sở chính
3) Cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương tiện và điều kiện hoạt động của trường đại học đa phân hiệu là các yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo của nhà trường, nhất là chất lượng đào tạo của phân hiệu Để nâng cao chất lượng đào tạo của phân hiệu trước hết cần phải tập trung vào việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, đảm bảo các phương tiện và điều kiện hoạt động để các phân hiệu tận dụng sự hỗ trợ của cơ sở chính, phát huy tính chủ động và sáng tạo, thế mạnh từ đặc trưng môi trường KT-XH của địa phương, vùng miền
4) Nâng cao chất lượng đào tạo tại các phân hiệu là một trong những mục tiêu quản lý của hiệu trưởng trường đại học đa phân hiệu Các giải pháp quản lý trường đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại phân hiệu chỉ có thể thành công trên cơ sở hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, đảm bảo phương tiện và điều kiện hoạt động có trong thực trạng quản lý của các trường đại học đa phân hiệu
5) Các giải pháp về hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, đảm bảo phương tiện và điều kiện hoạt động sẽ phát huy hiệu quả cao khi trường đại học đa phân hiệu tại Việt Nam phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nâng cao tính cạnh tranh để các phân hiệu phát triển bền vững trong bối cảnh KT-
XH hiện nay
10 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, các công trình khoa học của tác giả, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý trường đại học đa phân hiệu
- Chương 2: Thực trạng quản lý của các trường đại học đa phân hiệu ở
Việt Nam
- Chương 3: Các giải pháp quản lý của các trường đại học đa phân hiệu ở
Việt Nam trong bối cảnh KT-XH hiện nay
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐA PHÂN HIỆU
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của các trường đại học đa phân hiệu
1.1.1.1 Trên thế giới
Trường đại học đa phân hiệu đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, rất phổ biến ở Châu Âu và Châu Mỹ, thường tồn tại dưới các hình thức trường (Colleges) thuộc trường đại học (University) hoặc cơ sở (Campus) thuộc trường đại học (University) Cụ thể:
- Tại Hoa Kỳ (Mỹ)
Hoa Kỳ có một hệ thống giáo dục đại học được đánh giá là tiên tiến nhất thế giới, trong đó đề cao quyền tự chủ và tự trị của các cơ sở giáo dục đại học dưới sự điều chỉnh của luật pháp Cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của cơ sở
giáo dục đại học ở Hoa Kỳ tuy vẫn giữ được những nét chung nhất về cơ cấu
tổ chức theo lý thuyết tổ chức, nhưng rất đa dạng theo sáng kiến thiết lập riêng của mỗi cơ sở nhằm phát huy tính tự chủ và trách nhiệm giải trình xã hội Tùy theo quy định về chức năng, quy mô chuyên ngành đào tạo và trình
độ đào tạo mà các cơ sở giáo dục đại học được gọi với các tên khác nhau như University, Institute, College và School Trong đó University và Institute thường dùng cho những đại học đa ngành, có quy mô lớn và có nhiều trường thành viên (College hoặc Shool); College thường là những cơ sở có chức năng, quy mô và phạm vi đào tạo nhỏ hơn, nhưng thường là một trường độc lập hoặc một trường thành viên trực thuộc một University nào đó Ví dụ:
trong Đại học Harvard có các trường như Đại học Nghệ thuật và Khoa học
(Graduate School of Science and Arts), Đại học Luật (Harvard Law School),
Trang 23Đại học Y khoa (Harvard Medical School), Đại học Kinh doanh (Harvard Business School) ; trong Đại học Northwestern có các trường như Trường Khoa học và Nhân văn (School of Arts and Science), Trường Thương mại (School of Business), Trường Sư phạm (School of Education) và Trường Kỹ thuật (School of Engineering) Mỗi trường thành viên thuộc University có chức năng đào tạo một nhóm ngành, một chuyên ngành, hoặc một bậc học Ví
dụ: School of Arts and Science là Trường Khoa học Tự nhiên và nhân văn,
gồm các ngành khoa học cơ bản như Toán, Vật lý, Hóa học và Khoa học Nhân văn như Sử, Kinh tế, Chính trị, Tâm lý, ; Medical school là trường
chuyên về ngành y; Graduate school là trường đào tạo chương trình sau cử
nhân, tức là thạc sĩ (MA) và tiến sĩ (PhD) [63] Cũng tại quốc gia này có mô hình cơ sở (Campus) thuộc trường đại học; nghĩa là một trường đại học có thể đặt các cơ sở (Campus) tại nhiều địa phương hoặc quốc gia khác nhau để đào tạo với hệ thống quản lý chuẩn mực gần như “nguyên bản” với cơ sở chính
Ví dụ: Đại học Webster, Hoa Kỳ, thành lập năm 1915 tại thành phố St Louis
Hiện nay, trường này có hàng chục cơ sở (Campus) nằm khắp liên bang và có
7 cơ sở khác đặt trụ sở tại 7 nước trên thế giới như tại London - Anh, Vienna -
Úc, Geneva - Thụy Sĩ, Leiden - Hà Lan, Bangkok - Thái Lan, Thượng Hải - Trung Quốc và tại thành phố Osaka - Nhật Bản [63]
Hệ thống giáo dục đại học đa dạng về cơ cấu tổ chức (có các trường thành viên, hoặc các cơ sở) và cơ chế quản lý được phân cấp theo hướng nâng cao quyền tự chủ, đề cao trách nhiệm xã hội, nhưng tuân thủ sự quản lý của
cơ sở chính đã làm cho giáo dục đại học của Hoa Kỳ không những đáp ứng được nhu cầu xã hội về đào tạo nguồn nhân lực, mà còn phát huy được thương hiệu và thế mạnh vốn có của các cơ sở chính của trường
- Tại Nhật Bản
Ngay sau Thế chiến thứ 2, Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành tái cơ cấu
hệ thống giáo dục đại học bằng chính sách cải cách giáo dục Chính sách này
Trang 24đã thay đổi cơ bản về hệ thống giáo dục đại học theo mô hình của Hoa Kỳ (với hệ thống 4 cấp trình độ đào tạo là cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ) Thời kỳ này, Nhật Bản đã phát triển mạnh các đại học đa ngành, đa lĩnh vực như Đại học Tokyo, Đại học Osaka, Đại học Kyoto Mỗi trường đại học có quy mô lớn ở Nhật Bản cũng có nhiều trường thành viên, trong đó mỗi trường thành viên có chức năng đào tạo một số chuyên ngành hoặc các nhóm chuyên ngành Ví dụ: Đại học Tokyo có 15 trường đại học thành viên và 11 học viện, Đại học Tổng hợp Kyoto có 4 trường thành viên Nhưng, đến các thập niên cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, để đáp ứng với nhu cầu phát triển KT-XH của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nhật Bản đã tiến hành cải cách triệt
để hệ thống giáo dục đại học theo Luật Tập đoàn hóa đại học công (năm
2003) Theo hướng cải cách này, đến năm 2004, các cơ sở giáo dục đại học công được kết hợp và cơ cấu lại thành các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực (University) Điều đó đã làm cho các trường đại học có thêm các cơ
sở và có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về đào tạo nguồn nhân lực[63]
Kết quả của quá trình tập đoàn hóa các đại học công lập ở Nhật Bản đã
phát huy được thế mạnh của các cơ sở chính, tăng cường được tính độc lập,
tự chủ và trách nhiệm giải trình, đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế hội nhập và tạo được bình đẳng về cơ hội học tập cho người học
- Tại Australia (Úc)
Viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne (The Royal Melbourne Institute
of Technology University - RMIT) là một đại học có trụ sở chính tại trung
tâm thương mại thuộc thành phố Melbourne Trường này có cơ sở thứ hai đặt tại thành phố Hồ Chí Minh mang tên Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam Đây
là một cơ sở của RMIT tại Châu Á với cam kết chiến lược là xây dựng một
“đại học đôi” Theo đó, cơ sở của RMIT tại Việt Nam sẽ là cầu nối chặt chẽ
Trang 25giữa RMIT tại Melbourne với một số cơ sở của RMIT tại một số nước ở Châu
Á Trong những năm qua, RMIT Việt Nam đã phát triển theo hướng đa dạng hóa các chương trình đào tạo, thực hiện nhiều dự án nghiên cứu mang tầm khu vực, tạo ra các mối quan hệ của mình với chính phủ và các doanh nghiệp
sở tại, gia tăng được số lượng sinh viên và nghiên cứu sinh trong các chương trình và chuyên ngành đào tạo
Phương thức thiết lập cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của RMIT tại thành phố Hồ Chí Minh theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên cơ sở phân cấp, phân quyền đã thực sự nâng cao được chất lượng đào tạo của RMIT tại Việt Nam tương xứng với RMIT tại Úc, tạo cơ hội học tập cho sinh viên Việt Nam và sinh viên một số nước trong khu vực có văn bằng tương đương với văn bằng cấp tại RMIT của Úc; đặc biệt là phát huy được thế mạnh cơ sở chính của RMIT và tận dụng được môi trường đào tạo phù hợp với bối cảnh KT-XH của các quốc gia sở tại
- Tại Thái Lan
Viện Công nghệ Châu Á (Asian Institute of Technology - AIT) đặt tại
Thái Lan được thành lập từ năm 1959 thuộc Trường Đại học Chulalongkorn (Thái Lan) tuy đã hoạt động độc lập vào tháng 11 năm 1967, nhưng vẫn có nhiều quan hệ với Trường Đại học Chulalongkorn Chức năng của AIT là đào tạo sau đại học các chuyên ngành kỹ thuật của khối SEATO với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đảm nhiệm vai trò dẫn đầu cho sự phát triển bền vững của khu vực và quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới Năm 1993, AIT có một cơ sở đào tạo tại Việt Nam mang tên Trung tâm của AIT tại Việt Nam, trụ sở đặt tại số 21 phố Lê Thánh Tông, Hà Nội Ngày 17 tháng 4 năm 2009, trung tâm này đổi tên thành Viện Công nghệ Châu Á - Việt Nam (AIT - VN) có trụ sở tại cơ sở 1 của Trường Đại học Giao thông Vận tải (phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội) Đây là cơ sở duy nhất của AIT đặt bên ngoài Thái Lan Trên cơ sở quản lý theo cơ chế phân cấp, phân
Trang 26quyền và khuyến khích phát huy tính tự chủ của cơ sở này tại Việt Nam, trong gần 20 năm qua AIT - VN đã triển khai đào tạo các chương trình thạc sĩ hai giai đoạn (giai đoạn 1 ở Việt Nam và giai đoạn 2 ở Thái Lan) cho nhiều học viên Việt Nam và một số nước lân cận để người học có bằng Professional Master do AIT tại Thái Lan cấp về các chuyên ngành như Viễn thông, Quản
lý, Quản trị kinh doanh, Địa - kỹ thuật và Địa - thăm dò, Xây dựng, Khai thác dầu khí, Công nghệ thông tin, Quản lý và công nghệ môi trường, Quản lý hệ thống công nghiệp
Phương thức thiết lập cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý trên cơ sở phân
cấp, giao quyền của AIT tại Thái Lan đã làm cho AIT - VN tận dụng được sự
nỗ lực hợp tác của Chính phủ Việt Nam với AIT tại Thái Lan, đã phát huy
được sự hỗ trợ của AIT tại Thái Lan, thực sự thành công trong triển khai nhiều chương trình đào tạo sau đại học và các khóa bồi dưỡng chuyên môn chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế cho hàng ngàn cán bộ Việt Nam, trong
đó có hơn 2.000 cựu học viên đã có trình độ quốc tế đang giữ vị trí quan trọng
và đóng góp không nhỏ cho sự phát triển KT-XH, cho ứng dụng tiến bộ KH&CN của Việt Nam [63]
1.1.1.2 Tại Việt Nam
Sau năm 1954, tại miền Nam Việt Nam, dưới thể chế Việt Nam Cộng
hòa, có nhiều cơ sở giáo dục đại học như Viện Đại học Sài Gòn (thành lập năm 1957), Viện Đại học Huế (thành lập năm 1957), Đại học Đà Lạt (thành lập năm 1957) và Viện Đại học Cần Thơ (thành lập năm 1966) Trong các
cơ sở giáo dục đại học này, Viện Đại học Sài Gòn là cơ sở lớn nhất Năm học
1974 - 1975, viện này đã có 166.475 người học, chiếm hai phần ba số sinh viên của các trường đại học tại miền Nam Việt Nam Nhiều trường đại học thời bấy giờ có cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý giống như các trường đại học tại Hoa Kỳ và của Pháp Các Viện đại học đều là cơ sở giáo dục đại học đa lĩnh vực và triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ Mỗi đại học thời đó bao
Trang 27gồm nhiều trường đại học Ví dụ: Viện Đại học Sài Gòn có các đại học thành viên như Trường Luật, Trường Văn khoa, Trường Sư phạm, Trường Y khoa, Trường Kiến trúc Đến năm 1973, Đại học Bách khoa Thủ Đức (Thủ Đức Polytechnic University) mới thành lập, nhưng cũng là cơ sở giáo dục đại học
đa ngành, đa lĩnh vực; trong đó có các trường đại học chuyên về Nông nghiệp, Kỹ thuật, Giáo dục, Khoa học và Nhân văn, Kinh tế và Quản trị, Thiết
kế đô thị
Nhìn chung, ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, hệ thống giáo dục đại
học được quản lý theo hướng vừa phân quyền và vừa tập trung; trong đó phân quyền về quản lý đào tạo và tập trung trong quản lý hành chính Cách thức thiết lập cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của các cơ sở giáo dục đại học như vậy tuy có những hạn chế nhất định, nhưng cũng tăng được hiệu năng trong quản lý và giảm chi phí đào tạo
Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975), giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam được tái cơ cấu theo mô hình các trường đại học của Liên Xô cũ, nghĩa là giống như các mô hình các trường đại học đã có ở miền Bắc Việt Nam Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đã có ở miền Nam được đổi tên và chia thành nhiều trường đại học riêng lẻ, biệt lập
Đến năm 1993, cùng với xu thế đổi mới toàn diện nền kinh tế của đất nước, toàn bộ hệ thống các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được cơ cấu lại
theo mô hình trong mỗi đại học có các trường đại học để tăng cường hiệu quả
đào tạo, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ
đó, đã hình thành các đại học quốc gia (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) và các đại học vùng như Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Thái Nguyên
Một điều rất đáng chú ý là trong những năm gần đây xuất hiện một số trường đại học có các cơ sở hoặc có phân hiệu đặt tại các địa phương khác, như Trường Đại học Ngoại thương, Trường Đại học Giao thông Vận tải,
Trang 28Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nha Trang, Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế Các trường này đã phát huy được thế mạnh của cơ sở chính đối với hoạt động đào tạo tại các cơ sở, thực sự góp phần rất đáng kể vào việc đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển KT-XH của cộng đồng, địa phương cách xa các thành phố; đồng thời góp phần không nhỏ vào sự công bằng và bình đẳng về thụ hưởng giáo dục đại học cho nhiều người học
Tuy nhiên, sự đa dạng về cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương tiện và điều kiện hoạt động của các trường đại học đa phân hiệu đã dẫn đến một vấn
đề quản lý một trường đại học đa phân hiệu như thế nào để chất lượng đào tạo của cơ sở phân hiệu tương xứng với chất lượng đào tạo tại cơ sở chính; điều
đó cũng là vấn đề mà chúng tôi tập trung nghiên cứu trong luận án này
1.1.2 Các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về mô hình quản lý trường đại học
- Nghiên cứu quản lý giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c là mô ̣t trong những nội dung quan tâm chú ý của nhiều nhà quản lý giáo dục trên thế giới Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và ngoài nước về giáo dục đại học và quản lý giáo dục đại học Các công trình nghiên cứu đó có một số nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án được tổng quan dưới đây
+ Công trình “Nền tảng giáo dục đại học Mỹ” do James L Bess làm
chủ biên, được NXB Simon & Schuster Custom [31] xuất bản , đã đăng tải nhiều bài viết của nhữ ng nhà khoa học có kinh nghiệm về giáo dục đại học theo các chủ đề: nền tảng lịch sử, triết học, xã hội của giáo dục đại học; những thành phần tham gia giáo dục đại học; chỉ đạo giáo dục và quản lý giáo dục đại học
Trang 29+ Công trình “Giáo dục đại học Mỹ - quá khứ, hiện tại và tương
lai” của Martin Trow, giáo sư Đại học California [35] đã phân tích vai trò tự
chủ học thuật và tài chính của trường đại học đối với chính quyền Liên bang; mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị với Hiệu trưởng nhà trường, giữa nhà trường với doanh nghiệp; đồng thời phân tích tính ưu việt của đào tạo theo học chế tín chỉ và các ưu thế về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý
+ Công trình “Cải cách giáo dục đại học Nhật Bản và Đại học
Hiroshima trong quá trình tập đoàn hóa” của tác giả Trần Khánh Đức [22] có
nội dung chủ yếu là nghiên cứu mô hình giáo dục đại học Nhật Bản được cải cách sau Thế chiến thứ hai, trong đó có đánh giá kết quả tái cấu trúc hệ thống giáo dục Nhật Bản theo mô hình đại học của Hoa Kỳ thông qua giới thiệu cấu trúc tổ chức của một số trường đại học trong quá trình tập đoàn hóa, trong đó
có Đại học Hiroshima Theo cấu trúc này, các cơ sở giáo dục đại học công lập đơn ngành được kết hợp và tổ chức lại thành tập đoàn đại học đa ngành, đa lĩnh vực với sự đề cao quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình, quản lý theo mô hình quản trị doanh nghiệp
+ Công trình“Giáo dục đại học Việt Nam và sự học tập kinh nghiệm của giáo dục đại học Hoa Kỳ” của tác giả Lâm Quang Thiệp đã chỉ ra
mô hình giáo dục đại học Việt Nam qua các giai đoạn, trong đó lưu ý đến ảnh hưởng của các kiểu cấu trúc tổ chức cơ sở giáo dục đại học nước ngoài đối với quản lý giáo dục đại học nước nhà, đặc biệt là giáo dục đại học ở Pháp, Liên Xô cũ và Hoa Kỳ
+ Công trình “Về khuôn mặt mới của Giáo dục đại học Việt Nam”
(tập 2) của tác giả Phạm Phụ [41] đã thể hi ện quan điểm của tác giả về các nguyên lý mới, chính sách mới về giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa Những vấn đề mà tác giả tập trung phân tích là vấn đề tài chính
và quản trị giáo dục đại học ở Việt Nam về định tính, dữ liệu định lượng về thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý
Trang 30+ Công trình “Quá trình thay đổi của quản lý trường đại học từ mô
hình tháp ngà cho tới mô hình đại học kinh doanh” của các tác giả E.W
Mainardes; H Alves và M Raposo Các tác giả đã khẳng định rằng ngoài vai trò truyền thống của trường đại học là đào tạo và nghiên cứu khoa học thì trường đại học còn hướng đến việc nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp, ứng dụng thành tựu nghiên cứu khoa học để phát triển kinh
tế Mặt khác, việc chuyển giao công nghệ có thể đem lại lợi nhuận cho chính trường đại học và trường đại học sử dụng lợi nhuận đó để đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và tái đầu tư cho nghiên cứu khoa học
+ Công trình “Hướng tới một mô hình trường đại học “kinh doanh”
của các tác giả P-K Wong, Y-P Ho và A Singh Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trường hợp điển hình của Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và cho thấy rằng NUS đã minh chứng được nỗ lực của mình, từ một trường đại học của nền kinh tế công nghiệp mới và nhỏ đã chuyển mình trở thành một trường đại học lớn, đóng góp hiệu quả hơn cho sự thay đổi năng động của đất nước nhằm hướng tới mục tiêu trở thành một nền kinh tế tri thức ở khu vực Châu Á và Thế giới Sự thành công của NUS chủ yếu nhờ vào việc áp dụng mô hình trường đại học hiện đại; đó là mô hình trường đại học gắn liền với với nhu cầu doanh nghiệp Cụ thể, NUS đã chuyển vai trò chủ đạo của trường đại học
từ một nhà cung cấp nhân lực, sáng tạo kiến thức và giảng dạy để trở thành trường đại học có vai trò quan trọng trong việc thương mại hóa kiến thức thông qua tăng cường cấp bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ, cấp giấy phép chuyển nhượng quyền cho ngành công nghiệp tư nhân và thành lập doanh nghiệp liên doanh mới trực thuộc trường đại học
- Ngoài các công trình trên , trong những năm g ần đây, có một số đề tài luận án tiến sĩ nghiên cứu về quản lý trường đại học như:
+ “Nghiên cứu mô hình tổ chức, quản lý chất lượng đào tạo đại học
trong các trường công an nhân dân” của Nguyễn Văn Ly
Trang 31+ “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý chất lượng đào tạo học
viên dân sự trong các nhà trường quân đội” của Vũ Xuân Hồng
+ “Nghiên cứu xây dựng mô hình Trường Đại học Ngân hàng ở
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Vũ Huy Nhiệm
+ “Nghiên cứu mô hình quản lý các trường đại học và cao đẳng tư
thục trong hệ thống giáo dục Việt Nam” của Ngô Xuân Hà
Nhìn chung , trong các công trình ng hiên cứu trên , các tác giả chỉ khái quát một số mô hình trường đại học trên thế giới và trong nước, trong đó có đi sâu vào việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của một số loại hình trường đại học chuyên ngành ; chưa có công trình khoa học nào đ i sâu nghiên cứu về quản lý của các trường đại học đa phân hiệu trên thế giới và nhất là ở Việt Nam
1.2 Các khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng trong luận án
1.2.1 Tổ chức, cơ cấu tổ chức
1.2.1.1 Tổ chức
Trong thực tiễn, “tổ chức” là khái niệm được sử dụng tùy theo từng ngữ cảnh cụ thể; đồng thời được hiểu theo hai phương diện khác nhau: “tổ chức” hiểu là một động từ hoặc “tổ chức” hiểu là một danh từ; ở mỗi phương diện
đó, khái niệm “tổ chức” có các nội hàm khác nhau
- “Tổ chức” được hiểu là một động từ (Organize):
Tổ chức được hiểu là “làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và có những chức năng chung nhất định, với những phương thức hoạt động riêng” hoặc “tổ chức là làm cho thành có trật tự, có nề nếp” hoặc “làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất” [38; tr 1040]
- “Tổ chức” được hiểu là một danh từ (Organization):
Trang 32+ Theo Triết học “Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật
Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu
tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”[16; tr.28].Nói tổng quát, “tổ chức là một chỉnh thể, có một cấu trúc, có những chức năng và có phương thức hoạt động riêng để đạt tới những mục đích nhất định” [6; tr.65] Như vậy tổ chức như là một hệ thống và tổ chức nào cũng nằm trong một hệ thống (tổ chức) lớn hơn và cũng là hệ thống lớn của một số hệ thống khác
+ Theo nghĩa thường dùng trong công tác cán bộ và nói về con
người hoặc các phần tử cấu thành xã hội, thì “tổ chức là một tập hợp người có
trật tự để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt đươc mục tiêu nhất định” [24; tr.12] Nói cách khác, tổ chức là một cơ cấu liên kết những cá nhân
trong một hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu của hệ thống trên cơ sở những nguyên tắc và quy tắc nhất định
Theo nhà khoa học Chester I Barnard, tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức Khái quát hơn, tổ chức là một tập hợp người có cùng mục đích, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung, vừa là những hoạt động nhằm làm những gì cần thiết để đạt được các mục tiêu đã đề
ra một cách hiệu quả nhất; hoặc “Tổ chức nghĩa là liên hiệp nhiều người lại
để thực hiện một công tác nhất định Chúng ta cũng có thể gọi bản thân hình thức liên hiệp đó là một tổ chức”[37; tr.10]
Với nội hàm của một số khái niệm trên, thì tổ chức có ba đặc tính:
- Tổ chức phải là tập hợp gồm nhiều thành viên
- Tổ chức được hình thành và tồn tại vì một mục đích nào đó Sự khác biệt về mục đích của mỗi tổ chức dẫn đến sự khác biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác
Trang 33- Các phần tử cấu thành tổ chức được sắp xếp theo một trật tự (cơ cấu) phù hợp Cơ cấu đó xác định rõ giới hạn hành vi của từng thành viên thông qua những quy chế, quy định, vị trí lãnh đạo và quyền hạn nhất định của mỗi người, cũng như xác định công việc của mọi thành viên khác trong tổ chức Trong luận án này, khái niệm “tổ chức” chủ yếu được sử dụng như một danh từ Như vậy, tổ chức là một nhóm có cấu trúc nhất định bao gồm những
con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, để đạt được mục
đó, một người riêng lẻ không thể nào đạt đến
1.2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu được xem như là sự sắp xếp (tự nhiên hoặc nhân tạo) một cách hoàn chỉnh các phần tử trong một hệ thống thành một chỉnh thể để hệ thống
đó có thể tự thân vận hành hoặc vận hành có sự điều khiển nhằm thực hiện
hiệu quả các chức năng của hệ thống đó Đối với một tổ chức xã hội, “cơ cấu
tổ chức là cách bố trí, sắp xếp các bộ phận cấu thành tổ chức nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức” [24; tr.14]
Khác với cấu trúc tổ chức, cơ cấu tổ chức mang tính “mềm”, vì lẽ khi thiết lập cơ cấu tổ chức có thể thêm hoặc bớt các phần tử và có thể sắp xếp các phần tử đó theo những cách liên kết khác nhau để có một hệ thống Ví
dụ như cơ cấu một ban chấp hành Đảng ủy, cơ cấu bộ máy tổ chức của một
cơ quan
Dưới góc độ quản lý, mỗi cơ cấu tổ chức xã hội bao giờ cũng gồm nhiều
bộ phận (đơn vị hoặc cá nhân) hợp thành, hoạt động với mục tiêu riêng, nhưng cùng nhằm vào mục tiêu chung của tổ chức (hệ thống) Mỗi bộ phận
đó có tính độc lập tương đối, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định; nhưng có mối quan hệ phân cấp trên dưới, ngang dọc theo những quy chuẩn
Theo quan hệ ngang, cơ cấu tổ chức chia thành các tuyến có chức năng khác nhau, có tính độc lập tương đối trong thực hiện một số chức năng hay
Trang 34một phần chức năng nhất định và chịu sự lãnh đạo của một cấp quản lý nhất định Giữa các tuyến là quan hệ hợp tác trong sự phân công lao động quản lý Theo quan hệ dọc, cơ cấu tổ chức được chia thành các cấp quản lý Các cấp quản lý tạo thành một chỉnh thể thống nhất đối với các tuyến quản lý cùng cấp trong hệ thống các cấp quản lý và đối với các cấp quản lý khác nhau Cấp quản lý chỉ rõ mối quan hệ phục tùng bởi quyền uy của cấp trên và bởi tính chất nhiệm vụ to lớn, bao quát của cấp cao
Từ các phân tích trên, có thể hiểu cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp một cách
hoàn chỉnh các thành phần cấu thành tổ chức (hệ thống) và các liên kết giữa các thành phần đó để hình thành m ột chỉnh thể nhằm làm cho tổ chức vận hành mang lại hiệu quả các hoạt động theo chức năng của tổ chức đó
Nói cụ thể hơn, cơ cấu tổ chức là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng nhất định nhằm đạt mục tiêu định trước
1.2.2 Quản lý, cơ chế quản lý, chức năng quản lý, quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý
Quản lý xuất hiện từ phân công lao đô ̣ng trong một tổ chức để giúp người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong tổ chức để đạt tới mu ̣c tiêu chung Quản lý có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc điều hành các đơn vị và cá nhân trong tổ chức thực hiện các hoạt động để đạt tới mục tiêu mong muốn Trong tiến trình hình thành và phát triển khoa học quản lý , các nhà khoa học đã đưa ra nội hàm của khái niê ̣m quản lý theo những góc đô ̣ tiếp câ ̣n đối với các lĩnh vực hoa ̣t đô ̣ ng xã hội khác nhau Ví dụ:
- Theo một số nhà khoa học nước ngoài:
+ Tác giả Frederic Wiliam Taylor (1856-1915) đã viết “quản lý là
nghê ̣ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng
Trang 35phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất ” [63]; hoặc tác giả Henri Fayol
(1841-1925) cho rằng “quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn
lực (nhân, tài, vật lực) của nó” [63]
+ Các tác giả Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich đã
chỉ ra “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ
lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn
cá nhân ít nhất” [26; tr.29]
- Theo một số nhà khoa học Việt Nam:
+ Tác giả Nguyễn Minh Đạo đã nêu “Quản lý là sự tác động liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng” [20; tr.7]
+ Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý là tác động có
mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [42; tr.24]
+ Theo tác giả Nguyễn Mỹ Lộc, “Đi ̣nh nghĩa kinh điển và đơn giản nhất quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[33; tr.51]
Nhìn nhận nội hàm của khái niệm quản lý mà các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nêu trên, có thể thấy quản lý có các thành tố chủ yếu:
- Hoạt động của tổ chức tạo nên sự phân công lao động; nếu không có tổ chức thì không có quản lý
Trang 36- Mục tiêu của tổ chức (cái đích mà tổ chức phải đạt tới theo chức năng
và nhiệm vụ của mình) và mục tiêu quản lý của chủ thể (là cái đích mà người quản lý hướng mọi nỗ lực của tổ chức để đạt được) luôn tiếp cận với nhau
- Chủ thể quản lý là người có trách nhiệm quản lý tổ chức; khách thể quản lý gồm các người bị quản lý trong tổ chức
- Phương thức, nội dung và quy trình tác động của chủ thể quản lý là tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và phải hợp với các quy luật
- Môi trường hoạt động của tổ chức (có thể coi là môi trường của hoạt động quản lý) là môi trường luôn thay đổi
Như vậy, có thể hiểu quản lý một tổ chức là sự tác động có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (những người bị quản lý) nhằm huy động và điều phối mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức để tổ chức hoạt động đạt tới mục tiêu đã định trong một môi trường luôn luôn thay đổi
Nhìn nhận từ góc độ quản lý, có thể hiểu cơ chế quản lý làcách thức chủ thể quản lý thực hiện một quá trình hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của
tổ chức với một mưu lược được đặt ra có tính chuẩn mực
Cơ chế quản lý luôn luôn có sự gắn kết với cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức là những vấn đề chủ yếu về việc thiết lập các bộ phận (đơn vị), xác định
Trang 37chức năng và nhiệm vụ có các đơn vị và cá nhân trong nội bộ tổ chức để thực hiện sự điều hoà, phối hợp cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu tổng
thể của tổ chức Tuy nhiên, nếu chỉ có cơ cấu tổ chức thì không đủ mà cơ cấu
tổ chức đó phải thông qua cơ chế quản lý để vừa tăng cường sự hỗ trợ cho cơ cấu tổ chức, vừa đảm bảo thực hiện ý đồ thiết lập cơ cấu tổ chức đã có
1.2.2.3 Chức năng quản lý
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau của các nhà khoa học về chức năng quản lý Ví dụ:
- “Chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể
quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [42; tr.58];
- “Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải
thực hiện để đạt mục đích và mục tiêu quản lý đã đề ra”[49; tr.141],
Xem xét nội hàm khái niệm chức năng quản lý ở các ví dụ nêu trên, có thể hiểu chức năng quản lý là khái niệm mô tả về phương thức, nội dung và quy trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong quá trình quản lý
Có nhiều quan điểm phân định các chức năng cơ bản của quản lý của các nhà khoa học Cụ thể:
- Henri Fayol đưa ra 5 chức năng: kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo và ra
lệnh (hay chỉ huy); phối hợp và kiểm tra [42; tr.60];
- Tại hội nghị của UNESCO tổ chức tại BangKok Thái Lan vào năm
1982, một số nhà khoa học tham dự hội nghị này đã đưa ra 7 chức năng quản
lý là: kế hoạch hoá, tổ chức, bố trí biên chế, chỉ đạo, phối hợp, tổng kết và quyết toán ngân sách [42; tr.60];
- Đến năm 1990, Higgins James M đã khẳng định trong công trình The
Management Challenge, An Introduction to Management của ông: quản lý có
Trang 38bốn chức năng cơ bản là: kế hoạch hóa (planning), tổ chức (organizing), chỉ
đạo (leading) và kiểm tra (controlling) [66; tr 6];
- Tại Việt Nam, một số nhà khoa học cho rằng quản lý có năm chức năng cơ bản là “kế hoạch hóa, tổ chức, kích thích, kiểm tra và điều phối” [49; tr.375]; hoặc
“kế hoạch hóa, tổ chức, phối hợp, điều chỉnh - kích thích và kiểm tra - hạch toán” [20; tr.65]
Xem xét khái niệm chức năng quản lý và cách phân định các chức năng
cơ bản của quản lý trong một số công trình khoa học nêu trên, thì quản lý có 4 chức năng cơ bản là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Trong đó:
- “Kế hoạch hoạch hóa là xác định mục tiêu, mục đích đối với các thành
tựu tương lai của tổ chức và các con đường, giải pháp, cách thức để đạt mục tiêu, mục đích đó”[33; tr.53] Trong đó, chủ thể quản lý dựa trên cơ sở kết quả
đánh giá cơ hội và thách thức từ bối cảnh bên ngoài, thuận lợi và khó khăn, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức mà đặt ra các mục tiêu, dự kiến nguồn lực
và thời gian, lựa chọn các phương pháp để đạt tới mục tiêu đó
- “Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các
thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu của tổ chức”[33; tr.55] Trong đó
chủ thể quản lý có các quyết định về thiết lập cơ cấu tổ chức, định ra cơ chế quản lý để làm rõ chức năng, nhiệm vụ và sự phối hợp của từng đơn vị và cá nhân, phân bổ nguồn lực vật chất cho từng hoạt động của tổ chức
- “Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ
hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt mục tiêu của tổ chức”[33;tr.54]
Trong đó chủ thể quản lý tập trung vào phát huy các mối quan hệ, thực hiện liên kết, liên hệ, hướng dẫn, uốn nắn và động viên khuyến kích các đơn vị và
cá nhân hoàn thành nhiệm vụ
- “Kiểm tra là việc người quản lý theo dõi, giám sát các thành quả hoạt
động và tiến hành các hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết”[33; tr.54]
Trang 39Trong đó có thu thập thông tin về kết quả các hoạt động, so sánh mức độ các kết quả đó với mục tiêu, tìm ra các mặt tốt, chưa tốt và các vi phạm; đồng thời
có các quyết định quản lý nhằm phát huy mặt tốt, sửa chữa các mặt chưa tốt
và xử lý các sai phạm
Để thực hiện được các chức năng cơ bản trên, chủ thể quản lý phải thu thập đầy đủ, kịp thời và xử lý chính xác các thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý Các chức năng cơ bản của quản lý có mối quan hê ̣ chă ̣t chẽ, tác động, chi phối lẫn nhau ta ̣o thành mô ̣t chỉnh thể và được thực hiện theo một chu trình bắt đầu từ kế hoạch hóa, đến các bước tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên
cơ sở nhận biết các thông tin quản lý Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý với nhau và với thông tin quản lý như sơ đồ 1.1 dưới đây
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý
với nhau và với thông tin quản lý
1.2.2.4 Quản lý nhà trường
Để nhận biết khái niệm quản lý nhà trường, trước hết phải hiểu khái
niệm quản lý giáo dục Nhiều tài tiệu khoa học cho rằng quản lý giáo dục là
khái niệm được xem xét dưới hai cấp độ:
- Quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục)
KẾ HOẠCH HOÁ
KIỂM
TRA
CHỈ ĐẠO
TỔ CHỨC THÔNG
TIN QUẢN LÝ
Trang 40Ở cấp độ này, “quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật ) của chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục”[6, tr.19]
- Quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô (quản lý một cơ sơ giáo dục)
Ở cấp độ này, “quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật ) của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục đến đội ngũ giảng viên, giáo viên, nhân viên, người học và các lực lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đào tạo của
cơ sở giáo dục”[6, tr.20]
Với hai cấp độ về quản lý giáo dục nêu trên, thì quản lý nhà trường (một
cơ sở giáo dục) cũng phải nhìn nhận từ hai góc độ:
- Thứ nhất: quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động quản lý
của các cơ quan quản lý giáo dục (chủ thể quản lý giáo dục) đối với các cơ sở giáo dục (nhà trường)
- Thứ hai: quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động quản lý
của chủ thể quản lý trực tiếp một nhà trường (hiệu trưởng) đối với các hoạt
động của chính nhà trường mà họ được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý Trong luận án này, khái niệm quản lý nhà trường được hiểu và sử dụng
theo góc độ thứ hai (nêu trên); nghĩa là “quản lý nhà trường (một cơ sở giáo
dục) là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giảng viên, nhân viên và người học…) nhằm đưa các hoạt động đào tạo và giáo dục của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục”[6; tr.20]