Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫnđến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đóhình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó n
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu thế quốc tế hóa nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng
đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.Với việc chính thức trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày
11/1/2007 đã tạo ra cho Việt Nam rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít
những khó khăn, thách thức để khẳng định vị trí và vai trò của mình trên
trường thế giới Để tiếp tục thực hiện và hoàn thành sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước thì hoạt động thương mại nói chung và hoạt động
kinh tế đối ngoại nói riêng đã và đang đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Đi liền với việc mở rộng quan hệ ngoại thương và đầu tư quốc tế thì
hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) được coi là một mắt xích không thể
thiếu, hơn nữa còn là một nhân tố kích thích kinh tế đối ngoại phát triển Tổ
chức hoạt động TTQT mang lại lợi ích cho bản thân ngân hàng thương mại
(NHTM), cho các doanh nghiệp nói riêng và cho nền ngoại thương của Việt
Nam nói chung Thông qua hoạt động TTQT, NHTM góp phần thúc đẩy
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó gián tiếp đóng góp công sức
vào việc làm cho nền ngoại thương của Việt Nam ngày càng lớn mạnh Đối
với các NHTM, ngoài việc thu phí dịch vụ từ hoạt động này, trên nền tảng
hoạt động TTQT, ngân hàng (NH) còn có thể phát triển các nghiệp vụ liên
quan khác như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu (XNK), nghiệp
vụ bảo lãnh quốc tế
Ngay từ năm 1991, Nhà nước đã cho phép các ngân hàng có đủ điều
kiện có thể mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực kinh doanh đối
ngoại, sự cạnh tranh giữa các NH nội ngày càng gay gắt Hơn thế nữa, thực
hiện đúng cam kết kể từ khi gia nhập WTO năm 2007, các NH nước ngoài
được phép thành lập NH con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam thì sự
cạnh tranh trong ngành NH càng trở lên khốc liệt hơn Đứng trước áp lực
B Ộ G I Á O D Ụ C V À Đ À O
T Ạ O N
G Â N H À N G N H À N Ư Ớ C V I Ệ T N A M
Trang 2này, mặc dù có những thế mạnh nhất định về nguồn vốn và mạng lưới hoạtđộng rộng khắp, việc mở rộng thị phần TTQT đối với NHTMCP Hàng HảiViệt Nam có thể coi là một trong những nhiệm vụ đầy thách thức.
Với những lý do trên, trong quá trình thực tập tại NHTMCP Hàng Hải
Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp mở rộng thị phần thanh toán
quốc tế đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận cơ bản về hoạt động TTQT và thị phần TTQT củaNHTM
- Phân tích, đánh giá thực trạng về thị phần TTQT hàng XNK củaNHTMCP Hàng hải Việt Nam
- Đề xuất giải pháp mở rộng thị phần TTQT đối với NHTMCP Hàng HảiViệt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng mở rộng thị phần TTQT của NHTMCP Hànghải Việt Nam giai đoạn 2008 – 2011
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử củachủ nghĩa Mac Lenin để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn Đểđánh giá tình hình thực tế, sử dụng các phương pháp điều tra, thống kê, phântích, tổng hợp, chứng minh
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng thị phần thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam
Chương 3: Giải pháp mở rộng thị phần thanh toán quốc tế đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG THỊ PHẦN THANH
TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Trang 3Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế,chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật…trong đó quan hệ kinh tế(mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệquốc tế tồn tại và phát triển Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫnđến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đóhình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó ngân hàng làcầu nối trung gian giữa các bên.
Từ phân tích trên đi đến khái niệm: Thanh toán quốc tế là việc thực
hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền huởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với
tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Từ khái niệm trên cho thấy, thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnhvực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, giữa hai lĩnhvực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt.Hơn nữa, do hoạt động thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sở hoạtđộng ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vìvậy, người ta có thể phân hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõràng là: Thanh toán trong ngoại thương (hay gọi theo cách cũ là thanh toánmậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (tức là thanh toán phi mậu dịch)
Thanh toán quốc tế trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) là việcthực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụthương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế Cơ sở đểcác bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương
Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch) là việc thựchiện thanh toán không có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu cũng nhưcung ứng lao vụ cho nước ngoài, là các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách
Trang 4Nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhânngười nước ngoài cho cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một
tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước…
Nội thương và ngoại thương: Nhìn chung, hoạt động ngoại thương cómột số điểm khác cơ bản so với hoạt động nội thương, trong đó ngoại thươngliên quan đến:
- Người mua và người bán ở hai nước hoặc hai quốc tịch khác nhau;
- Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là nội tệ hay ngoại tệ đối với mộthoặc cả hai bên;
- Hàng hóa mua bán thường dịch chuyển qua biên giới giữa các nước, đi từnước người bán đến nước người mua;
- Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứa đựng yếu tốquốc tế
- Kiểm soát ngoại hối, tỷ giá và các chính sách hạn chế ngoại thương của chínhphủ…
Ngày nay do quá trình hợp tác kinh tế phát triển mạnh mẽ các hình thứchoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng đa dạng và phong phú đã trở thành cácnhân tố làm thay đổi những đặc trưng của hoạt động ngoại thương cổ điểntrước đây Ví dụ:
- Người mua và người bán ở cùng một nước và có cùng một quốc tịch nhưnhau, chẳng hạn mua bán giữa nhà kinh doanh nội địa và nhà kinh doanhtrong khu chế xuất trong cùng một nước
- Hàng hóa xuất nhập khẩu không nhất thiết phải dịch chuyển qua biên giới từnước người mua đến nước người bán, ví dụ hợp đồng mua bán giữa nội địa vàkhu chế xuất Do có đặc điểm này, nên các nước thường thiết lập một quy chếthanh toán đặc thù riêng cho khu chế xuất
- Đồng tiền sử dụng trong thanh toán là đồng tiền chung, tức không phải là nội
tệ của riêng một nước và cũng không phải là đồng tiền của một nước thứ ba
Trang 5- Nhiều nước áp dụng chính sách “Đô la hóa toàn phần”, nghĩa là sử dụng đồngngoại tệ làm đồng tiền pháp định quốc gia, do đó đã làm triệt tiêu yếu tố tỷ giátrong thanh toán quốc tế.
- Xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, dỡ bỏ hàng rào thương mại (thuế quan
và phi thuế quan) đã làm cho ngoại thương và nội thương ngày càng trở nênđồng nhất với nhau
Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà xuất nhập khẩucũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà phải thông quaNHTM với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàncầu.Thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ TTQT, các ngân hàng trở thànhcầu nối trung gian thanh toán giữa bên mua và bên bán Ngày nay, hoạt độngthương mại quốc tế luôn cần đến sự tham gia, hỗ trợ về kỹ thuật nghiệp vụ vàtài chính của ngân hàng Ngân hàng cung cấp các phương án lựa chọn phươngthức TTQT, tài trợ XNK, đảm bảo an toàn và quyền lợi của cả hai bên muabán, thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng các quan hệvới các quốc gia trên thế giới
1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương mại
Trong thời gian gần đây, vị trí và vai trò của hoạt động thanh toán quốc
tế đối với ngân hàng thương mại càng ngày càng trở lên quan trọng hơn, nóđem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối mà còn cả về
tỷ trọng Thanh toán quốc tế hiện nay không chỉ là dịch vụ thanh toán thuầntúy mà nó còn là mắt xích quan trọng trong việc chắp nối và thúc đẩy sự pháttriển các hoạt động khác của ngân hàng
Hoạt động thanh toán quốc tế của một ngân hàng phát triển, đáp ứngđược những đòi hỏi của khách hàng là điều kiện thuận lợi để mở rộng quy
mô Hơn thế nữa, khi đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế ngân hàng cóthể mở rộng tài trợ tín dụng XNK cũng như tăng cường được nguồn vốn huy
Trang 6động Ngoài ra,các nghiệp vụ như kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch
vụ ngân hàng quốc tế khác cũng có thể phát triển nhờ có nguồn vốn ngoại tệthu về lớn, đa dạng từ hoạt động thanh toán quốc tế
Bên cạnh đó, một ngân hàng với nghiệp vụ TTQT phát triển sẽ có thểnâng cao hình ảnh, uy tín trên trường quốc tế, trên cơ sở đó thu hút nguồn vốntài trợ từ thị trường tài chính thế giới
Cuối cùng, hoạt động thanh toán quốc tế giúp ngân hàng tăng thu nhập
và tăng cường khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác trong cơ chế thịtrường
1.1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu của NHTM
1.1.3.1 Khái niệm về phương thức thanh toán quốc tế
Các giao dịch kinh tế và phi kinh tế giữa người cư trú và người không
cư trú trong cuộc sống hàng ngày làm phát sinh nhu cầu thanh toán chi trả lẫnnhau Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà việc thanh toán giữa người thụ hưởng vàngười trả tiền thông thường thông qua ngân hàng thay vì trực tiếp với nhau
Để cho việc thanh toán diễn ra chính xác, nhanh chóng, bên ủy thác vàngân hàng nhận ủy thác phải thỏa thuận những nội dung, điều kiện và cáchthức tiến hành chuyển tiền hoặc trả tiền thích hợp
Toàn bộ nôi dung, điều kiện và cách thức để ngân hàng tiến hành chuyển tiền hoặc trả tiền giữa người cư trú với người không cư trú gọi là phương thức thanh toán quốc tế.
Trong ngoại thương, thanh toán quốc tế là kết quả của hợp đồng mua
bán nên có khái niệm theo nghĩa hẹp sau: Phương thức thanh toán quốc tế
trong ngoại thương là toàn bộ quá trình, điều kiện quy định để người mua trả
Trang 7tiền và nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng ngoại thương thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ
Do hoạt động ngoại thương đóng vai trò chủ yếu trong kinh tế đốingoại, do đó, khi nói đến thanh toán quốc tế mà không nói rõ thanh toán tronglĩnh vực nào, thì ta hiểu đó là thanh toán trong ngoại thương
1.1.3.2 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu của NHTM
Trong thực tế, điều kiện để các bên giao nhận hàng hóa và chi trả tiền
là rất phong phú, đa dạng Từ đó, dẫn tới hình thành nhiều phương thức thanhtoán quốc tế khác nhau Mỗi phương thức có những ưu và nhược điểm nhấtđịnh, thể hiện thành những mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa ngườixuất khẩu và người nhập khẩu Dưới đây là nội dung, đặc điểm của một sốphương thức thanh toán quốc tế chủ yếu tại các ngân hàng thương mại hiệnnay:
a Phương thức chuyển tiền
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách (người chuyểntiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho mộtngười khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thờigian nhất định
Hai hình thức chuyển tiền:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail transfer – M/T): là hình thức chuyển tiền, trong
đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được chuyển bằng thư chongân hàng trả tiền
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer – T/T): là hình thức chuyển tiền,trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nộidung một bức điện gửi cho ngân hàng trả tiền bằng telex hay mạng swift
Ưu nhược điểm đối với các bên
Trang 8- Thời gian thanh toán nhanh do chủ yếu thực hiện bằng điện, giả sử có sai sót
sẽ khó khăn thông báo điều chỉnh, nhất là khi người thụ hưởng đã nhận tiền
b Phương thức nhờ thu
Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó bên bán (nhà XK) sau khigiao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuấttrình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua (nhà nhập khẩu) đểđược thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điềukhoản khác
Căn cứ vào tính chất chứng từ yêu cầu, nhờ thu bao gồm 2 loại:
- Nhờ thu phiếu trơn (Clean collection): là phương thức thanh toán, trong đó
chứng từ nhờ thu chỉ gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc,…),còn các chứng từ thương mại (hóa đơn, chứng từ vận tải,…) được gửi trựctiếp cho người nhập khẩu không thông qua ngân hàng
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): là phương thức thanh
toán, trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu gồm: (i) hoặc chứng từ thương mạicùng chứng từ tài chính; (ii) hoặc chỉ chứng từ thương mại (không có chứng
từ tài chính) Ngân hàng thu hộ chỉ trao bộ chứng từ cho người trả tiền khi
Trang 9người này đã trả tiền, chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện khácquy định trong Lệnh nhờ thu
Ưu điểm đối với các bên
Với nhà xuất khẩu
- Chắc chắn bộ chứng từ chỉ được trao cho nhà NK khi họ đã hoàn thành tráchnhiệm thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
- Với hối phiếu kỳ hạn, người NK đã chấp nhận nhưng đến hạn không thanhtoán, người XK có quyền kiện ra tòa
- Chỉ định người đại diện ở nước người NK thay mặt xử lý trong trường hợpnhà NK không thanh toán hay chấp nhận thanh toán
- Có thu nhập từ phí nhờ thu và các giao dịch liên quan
- Mở rộng tín dụng tài trợ thương mại
- Tăng cường mối quan hệ với ngân hàng đại lý, tạo tiềm năng về các giao dịchđối ứng
c Phương thức tín dụng chứng từ
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàngtheo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho ngườithụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người ngày ký phát trong phạm vi sốtiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp vớinhững quy định nêu ra trong thư tín dụng
Trang 10Có thể nói, đây là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng nhiềunhất tại Việt Nam hiện nay, do đó ta sẽ đi tìm hiểu kỹ hơn về quy trình củathanh toán của phương thức này.
Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ
(Nguồn: Giáo trình thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương – 2010 –
GS.TS Nguyễn Văn Tiến) Ghi chú:
(1) Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toántheo phương thức L/C
(2) Căn cứ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhà nhậpkhẩu làm đơn gửi đến ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu ngân hàng này pháthành một L/C cho nhà XK hưởng
(6’)Bộ chứng từ (6’)Bộ chứng từ
(8)Đòi tiền Retirement
(7)Trả tiền qua NH
(6)Xuất trình
(5)Giao hàng Shipment of goods
Sales contract
Ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting Bank)
Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank)
Ngân hàng thông báo
(Advising Bank)
Nhà nhập khẩu (Importer) Nhà xuất khẩu (Exporter)
Trang 11(3) Căn cứ vào đơn mở L/C nếu đồng ý NHPH lập L/C và thông qua ngân hàngđại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu để thông báo L/C chonhà xuất khẩu.
(4) Khi nhận được L/C NHTB thông báo L/C cho nhà XK
(5) Nhà xuất khẩu kiểm tra L/C nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiến hànhgiao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợpvới hợp đồng ngoại thương
(6) và (6’) Sau khi giao hàng nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C
và xuất trình cho NHđCĐ để được thanh toán
(7) và (7’) NHđCĐ xuất trình chứng từ cho NHPH và đòi hoàn trả
(8) NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi
đã được nhà NK trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán
Ưu điểm đối với các bên
Với người mua
Trong phương thức thanh toán L/C, hầu hết các giấy tờ chứng từ đượcngân hàng đối tác kiểm tra và chịu trách nhiệm hoàn toàn về sai sót Bởi vậy,người mua có thể mở rộng nguồn cung cấp hàng hóa cho mình mà không phảitốn thời gian công sức trong việc tìm đối tác uy tín và tin cậy Hơn nữa, ngườimua được đảm bảo về mặt tài chính rằng bên bán giao hàng thì mới phải trảtiền hàng
Với người bán
Người bán hoàn toàn được đảm bảo thanh toán với bộ chứng từ phùhợp.Việc thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu Người bán sau khigiao hàng tiến hành lập bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện điều khoản củaL/C sẽ được thanh toán bất kể trường hợp người mua không có khả năngthanh toán Do vậy, nhà XK có thể thu hồi vốn nhanh chóng
Trang 12 Với ngân hàng phát hành
Thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng thu được các khoản phí.Ngoài ra, ngân hàng còn có thể thu được một khoản tiền khá lớn khi có kýquỹ Cùng với nghiệp vụ này, ngân hàng có thể thực hiện một số nghiệp vụkhác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận, mua bán ngoại tệ,… Hơn thếnữa, nghiệp vụ này cũng giúp cho vai trò và uy tín của ngân hàng trên trườngquốc tế được nâng cao
1.2 Mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của NHTM
1.2.1 Khái niệm mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của NHTM 1.2.1.1 Khái niệm thị phần thanh toán quốc tế
Xét trên giác độ chung thì: Thị phần là thị trường tiêu thụ sản phẩm màdoanh nghiệp chiếm lĩnh
đó chính là sản phẩm của ngân hàng
Như vậy, ta đi đến khái niệm sau: Thị phần hoạt động TTQT của một
NHTM là phần mà dịch vụ TTQT của ngân hàng đó chiếm lĩnh trên thị trường.
Trang 131.2.1.2 Khái niệm mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của NHTM
Theo khái niệm về thị phần TTQT của ngân hàng thương mại đã nêu, ta
có thể dễ dàng rút ra khái niệm về mở rộng thị phần TTQT tế như sau:
Mở rộng thị phần TTQT của một NHTM là việc gia tăng phần mà dịch
vụ TTQT của ngân hàng đó chiếm lĩnh trên thị trường.
1.2.2 Sự cần thiết mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của NHTM
Với những biến động dữ dội trong môi trường vĩ mô trong thời gianqua cùng với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động ngoại thương nướcnhà, việc mở rộng thị phần TTQT trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Nó khôngchỉ giúp cho bản thân ngân hàng gia tăng doanh thu trong mảng hoạt độngnày, dần dần hoàn thiện quy trình nghiệp vụ thanh toán, thúc đẩy các nghiệp
vụ liên quan như: huy động vốn, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ,… mà cònnâng cao uy tín ngân hàng trong mắt khách hàng, cũng như đem lại cho ngânhàng một vị thế cao hơn trong ngành, cải thiện năng lực cạnh tranh với cácđối thủ khác
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá sự mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Khi phân tích đánh giá để đưa ra các giải pháp nhằm duy trì và mở rộngthị phần TTQT của NHTM cần quan tâm và có sự phối hợp giữa hai nhóm chỉtiêu: chỉ tiêu định tính phản ánh hiệu quả hoạt động TTQT và chỉ tiêu địnhlượng phản ánh thị phần TTQT của ngân hang
1.2.3.1 Chỉ tiêu định tính
Trang 14a Sự phối hợp giữa hoạt động thanh toán quốc tế với các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác
Thanh toán quốc tế là một bộ phận quan trọng trong tổng thể cácnghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại Hoạt động này không nằmriêng biệt với các hoạt động khác, mà liên quan đến một số nghiệp vụ khác,như: kinh doanh ngoại tệ, cho vay ngoại tệ… Sự phối hợp giữa hoạt độngthanh toán quốc tế với các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác cho thấyhoạt động TTQT của NHTM liệu có phối hợp tốt với các nghiệp vụ khác củangân hàng hay không Chẳng hạn, trong quy trình thanh toán quốc tế, kháchhàng có thể phát sinh nhu cầu về mua bán ngoại tệ Như vậy, sự phối hợpgiữa hai mảng nghiệp vụ TTQT và kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đã đủhiệu quả để giúp khách hàng đạt được mục đích của mình cũng như giúp ngânhàng tận dụng tối đa nguồn lực để đem lại lợi nhuận hay chưa?
b Sự tuân thủ pháp luật về hoạt động thanh toán quốc tế
Trong quá trình hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mạichịu sự chi phối, ảnh hưởng của rất nhiều văn bản pháp lý do các tổ chứcquốc tế và quốc gia ban hành Chỉ tiêu tuân thủ pháp luật cho những đánh giá
về chất lượng sản phẩm dịch vụ TTQT, mức độ sai sót, mức độ áp dụng cácchuẩn mực, thông lệ quốc tế, quy chế, quy trình trong TTQT Một ngân hàng
có chỉ tiêu này tốt sẽ tạo được uy tín thanh toán với các khách hàng cũng nhưcác đối tác tài chính quốc tế khác
c Mức độ đa dạng của sản phẩm hoạt động thanh toán quốc tế
Mức độ đa dạng được nhìn nhận thông qua số lượng các nghiệp vụTTQT, số lượng sản phẩm dịch vụ trong từng nghiệp vụ cụ thể, đáp ứng nhucầu ngày càng đa dạng của khách hàng, tăng thêm thu nhập của ngân hàngqua thu các phí dịch vụ, phí thanh toán Với việc đa dạng hóa sản phẩm dịch
Trang 15vụ thanh toán quốc tế của mình, ngân hàng sẽ có cơ hội tận dụng tối đa nguồnlực của mình, bên cạnh đó, sản phẩm dịch vụ giúp ngân hàng tạo sức cạnhtranh với các đối thủ của mình.
1.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng
a Thị phần hoạt động TTQT của NHTM
Thị phần TTQT =
Chỉ tiêu trên cho thấy trong tổng doanh số TTQT của cả hệ thống ngânhàng thì tỷ lệ TTQT của một NHTM nào đó là bao nhiêu Qua đó, ta thấyđược mức độ chiếm lĩnh thị trường của ngân hàng đó về các dịch vụ thanhtoán Ngày nay, hầu hết các giao dịch TTQT đều được thực hiện qua hệ thốngcác NHTM nên ta có thể coi doanh số TTQT của cả hệ thống NH thể hiệntoàn bộ kim ngạch XNK của một quốc gia Vậy chỉ tiêu trên có thể tính toántheo công thức sau:
Thị phần TTQT = Chỉ tiêu thị phần TTQT tăng thường cho thấy dấu hiệu tốt về hoạt độngthanh toán quốc tế của ngân hàng
b Thị phần thanh toán hàng xuất (nhập) của NHTM
Thị phần TT hàng xuất khẩu (nhập khẩu)=
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng doanh số thanh toán hàng XK hoặchàng NK qua hệ thống ngân hàng thì tỷ lệ thanh toán XK hoặc NK qua ngânhàng nào đó là bao nhiêu
Cũng với lý luận như trên, chỉ tiêu trên có thể viết thành:
Thị phần TT hàng XK(NK)=
Trang 16c Chỉ tiêu về thị phần TTQT tương đối
Chỉ tiêu về thị phần tương đối tức thị phần thanh toán XNK của ngânhàng so với đối thủ cạnh tranh
Thị phần tương đối TT XK =
Thị phần tương đối TT NK =
Nhóm chỉ tiêu trên cho biết ngân hàng và đối thủ cạnh tranh bên nào cólợi thế cạnh tranh hơn về hoạt động thanh toán XNK nói chung hay hoạt độngthanh toán XK và NK nói riêng
Trên thực tế, tổng doanh số TTQT của toàn hệ thống ngân hàng trongmột năm là một số xác định, mà số các NHTM tham gia hoạt động TTQT thìngày càng tăng nên việc tăng thị phần tuyệt đối của các NHTM là có giới hạn
Do vậy, khi phân tích đánh giá về thị phần TTQT của một ngân hàng thì bêncạnh các chỉ tiêu tuyệt đối ta cần đánh giá các chỉ tiêu thị phần tương đối haynói cách khác là so sánh thị phần của ngân hàng mình với thị phần của đối thủcạnh tranh
Thị phần tương đối của ngân hàng tăng lên chứng tỏ hoạt động thanhtoán quốc tế của ngân hàng có bước phát triển so với đối thủ cạnh tranh Rõràng là, khi chỉ tiêu này tăng lên, ngân hàng chiếm được nhiều phần hơn trongmiếng bánh thị trường của mình trong khi phần của đối thủ giảm đi
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
1.3.1 Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế quốc gia nói chung và hoạt động ngoại thương nóiriêng ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàngthương mại Các hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại códiễn ra hay không phụ thuộc vào các giao dịch ngoại thương giữa quốc gianày với quốc gia khác Các nhân tố khách quan chính ảnh hưởng tới hoạt
Trang 17động này bao gồm các chính sách vĩ mô của Nhà nước và chính sự phát triểngiao dịch ngoại thương của nền kinh tế.
1.3.1.1 Chính sách vĩ mô của Nhà nước
Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước đưa ra là nhằm mục đíchđiều tiết, kiểm soát và định hướng phát triển nền kinh tế của nước đó Trongcác chính sách này, có một số chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngngoại thương và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế
a Chính sách thuế và quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu
Các chính sách thuế của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động XNK Nếu chính sáchđưa ra không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng không khuyến khích xuất khẩuhoặc thu hẹp nhập khẩu, từ đó làm giảm kim ngạch XNK Kim ngạch XNKgiảm gây ra ảnh hưởng đến hoạt động TTQT của NHTM Ngoài ra, chínhsách hỗ trợ của Nhà nước cho hoạt động XNK cũng như thanh toán quốc tế làrất cần thiết bởi những hoạt động này mang tính rủi ro cao
b Chính sách kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực rộng bao gồm hoạt động ngoạithương, đầu tư tài chính, dịch vụ quốc tế, chuyển giao công nghệ và nhiềuhoạt động kinh tế khác, trong đó hoạt động ngoại thương là hoạt động trọngtâm Chính sách kinh tế đối ngoại là cơ sở nền tảng và tác động trực tiếp đếnhoạt động TTQT Việc đưa ra các định hướng mang tính chiến lược là bảo hộmậu dịch hay tự do hóa mậu dịch có ảnh hưởng đến hành vi của các doanhnghiệp từ đó dẫn đến sự sôi động hay trầm lắng của hoạt động TTQT
c Chính sách ngoại hối
Là những quy định pháp lý, thể lệ của NHNN trong vấn đề quản lýngoại tệ, vàng bạc đá quý, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, cũng như việc muabán trao đổi ngoại tệ trên thị trường và trong quan hệ thanh toán, tín dụng với
Trang 18nước ngoài… Với chức năng trung gian thanh toán, khi thực hiện thanh toánquốc tế, hệ thống NHTM đóng vai trò kiểm soát luồng tiền ra vào của một đấtnước Vì vậy, các ngân hàng thương mại được phép hoạt động TTQT phảituân thủ đầy đủ, chấp hành nghiêm ngặt các quy định về quản lý ngoại hốicủa nhà nước đưa ra không đúng đắn sẽ tác động xấu đến cán cân TTQT, từ
đó ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngoại tệ đáp ứng nhu cầu TTQT của ngânhàng
1.3.1.2 Sự phát triển của hoạt động ngoại thương
a Tỷ giá hối đoái
Đây là một nhân tố nhạy cảm, được xác định bởi mối quan hệ cung cầutrên thị trường tiền tệ Biến động tỷ giá không chỉ ảnh hưởng xấu đến hoạtđộng XNK mà còn tác động xấu đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngânhàng Khi tỷ giá thay đổi liên tục bất thường dẫn tới việc cân nhắc mua bánngoại tệ trở nên khó khăn, từ đó mà nguồn ngoại tệ phục vụ hoạt động TTQT
bị ảnh hưởng Các ngân hàng buộc phải lựa chọn hoặc chấp nhận co hẹp hoạtđộng TTQT, hạn chế đối tượng khách hàng hoặc phải chịu lỗ về kinh doanhngoại tệ, đổi lại ngân hàng có thể giữ được khách hàng Nếu biết chính xácthời điểm và tính toán khả năng cân đối ngoại tệ, cân nhắc lợi ích tổng thể từcác dịch vụ khác do hoạt động TTQT mang lại, thì đây có thể là cơ hội chongân hàng có thêm khách hàng mới
b Sự thay đổi thể chế chính trị, kinh tế ở nước bạn hang
Vì hoạt động TTQT là hoạt động diễn ra giữa các quốc gia khác nhaunên nó chịu ảnh hưởng tương đối lớn từ môi trường kinh tế, chính trị, xã hộicủa các quốc gia Mọi sự biến động về kinh tế, chính trị ở nước bạn hàng đều
có thể dẫn tới việc vi phạm hợp đồng, các cam kết đã thỏa thuận giữa hai bên.Mặt khác, sự suy thoái kinh tế hay khủng hoảng chính trị đều gây ảnh hưởng
Trang 19bất lợi đến thương mại, hoạt động XNK mà từ đó ảnh hưởng đến thanh toánXNK.
c Sự cạnh tranh của các đối thủ
Rõ ràng rằng, với việc phát triển ngày càng mạnh mẽ của hoạt độngngoại thương, thị trường thanh toán quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết.Hiện nay, các ngân hàng không ngừng nghiên cứu, đổi mới các sản phẩm,dịch vụ, cải tiến quy trình thanh toán, thực hiện các chiến lược marketing hiệuquả hơn để thu hút khách hàng Như một hệ quả của quá trình này, sự cạnhtranh trên thị trường thanh toán quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt Để tồn tạiđược, ngân hàng cũng cần có các chiến lược cạnh tranh với các đối thủ củamình
d Môi trường pháp lý quốc tế
Khung pháp lý theo hướng chuẩn mực quốc tế đang là một trong nhữngyếu tố quan trọng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Bản thân hoạtđộng thanh toán quốc tế một mặt thực hiện theo quy chuẩn quốc tế, mặt khácphải tuân thủ luật ban hành của quốc gia Cho nên, nhà nước cần ban hànhnhững văn bản pháp lý một cách đồng bộ, tránh chồng chéo, bất cập dẫn đếnbuông lỏng hoặc sơ hở nhằm tạo ra một khung pháp lý hoàn thiện cho hoạtđộng TTQT
e Mức độ hài lòng của khách hàng khi tham gia sử dụng dịch vụ
Khách hàng chính là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.Khikhách hàng đến với ngân hàng, sử dụng các dịch vụ và cảm thấy hài lòng sẽđến với ngân hàng nhiều hơn Hơn thế nữa, họ có thể sẽ tiếp tục giới thiệu vớinhững khách hàng khác làm tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ củangân hàng Từ đó làm cho ngân hàng trở nên lớn mạnh hơn, lợi nhuận nhiềuhơn và dần dần mở rộng được thị phần của ngân hàng
Trang 20Tuy nhiên, trong trường hợp phát sinh mâu thuẫn giữa ngân hàng vàkhách hàng mà mâu thuẫn đó không được giải quyết, sự hài lòng của kháchhàng sẽ giảm đi Hậu quả là mức độ tín nhiệm của khách hàng với ngân hàngcũng như số lượng sản phẩm dịch vụ khách hàng sử dụng sẽ cùng nhau giảmxuống Điều đó cho thấy ngân hàng cần phải xây dựng những biện pháp chămsóc khách hàng thật hiệu quả.
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Ngoài những điều kiện khách quan, hoạt động thanh toán quốc tế cũngchịu ảnh hưởng mạnh từ những yếu tố chủ quan xuất phát từ bản than ngânhàng Một số nhân tố chủ quan chính được kể tới là:
1.3.2.1 Chiến lược kinh doanh
Việc ngân hàng xây dựng chiến lược kinh doanh triển khai nghiệp vụkinh doanh đối ngoại sớm sẽ tạo ra cho ngân hàng đó có được lợi thế ban đầu;tạo được bề dày về kinh nghiệm và chiếm lĩnh được thị phần phục vụ doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Địa bàn hoạt động cũng là yếu tố quan trọng Hầu hết các doanh nghiệpkinh doanh xuất nhập khẩu đều tập trung tại các thành phố lớn, nơi vốn diễn
ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong việc tiếp thị khách hàng
Do vậy nếu chậm đưa hoạt động thanh toán quốc tế vào những địa bàn này,ngân hàng sẽ không thu hút được khách hàng nếu không có được đội ngũ cán
bộ chuyên môn cao, công nghệ hiện đại và nguồn lực tài chính đủ lớn
Tóm lại, để đủ sức cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường phục vụ kháchhàng xuất nhập khẩu, ngân hàng phải có chiến lược kinh doanh tổng thể, đồngbộ
1.3.2.2 Mô hình thanh toán quốc tế
Trang 21Với các ngân hàng khác nhau, sự lựa chọn về mô hình thanh toán quốc
tế có thể có sự khác biệt nhất định, hoặc mô hình tập trung hoặc mô hình phântán Tuy nhiên, một điều cần thiết là mô hình thanh toán quốc tế đó cần phùhợp với quy mô, mạng lưới cũng như quy trình nghiệp vụ thanh toán quốc tếcủa ngân hàng Với mô hình thích hợp, ngân hàng có thể tận dụng được tối đanguồn lực của mình, tiết kiệm chi phí mà vẫn cung cấp cho khách hàng củamình sản phẩm dịch vụ thanh toán tốt nhất
1.3.2.3 Uy tín của ngân hàng trong thanh toán quốc tế
Uy tín của ngân hàng trong nước và trên thị trường quốc tế là tiêu chítổng hợp từ rất nhiều yếu tố: chất lượng dịch vụ, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ,khả năng thanh toán… Một ngân hàng có uy tín sẽ là điều kiện đầu tiên đểkhách hàng lựa chọn dịch vụ Nhờ đó mà uy tín của khách hàng cũng đượcnâng lên, độ rủi ro giảm đi và khách hàng giảm được chi phí mua hàng vìkhông phải trả thêm các chi phí phát sinh từ việc ngân hàng giao dịch có uytín không cao Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng thu hút thêm kháchhàng, tăng doanh thu và mở rộng thị phần thanh toán quốc tế Tuy nhiên uytín của một ngân hàng không chỉ do ngân hàng trung ương của nó quyết định
mà phụ thuộc vào uy tín của mỗi chi nhánh thành viên
Về mặt uy tín trên trường quốc tế, để đạt được điều này, ngân hàng cầnphải trải qua những đánh giá, khảo nghiệm của rất nhiều tổ chức kinh tế tàichính trên thế giới về lĩnh vực thanh toán quốc tế Sau khi đã tạo lập được uytín này, ngân hàng sẽ có cơ hội được tiếp cận với những đối tác quốc tế mới,ngày càng đánh bóng thêm uy tín và thương hiệu của ngân hàng
1.3.2.4 Mạng lưới ngân hàng đại lý
Ngân hàng đại lý của một NHTM nhằm giải quyết công việc ngay tạimột nước, địa phương trong khi NHTM chưa có chi nhánh tại nước, địa
Trang 22phương đó Đại lý ngân hàng rộng khắp trên thế giới giúp cho giao dịch vàthan toán ra nước ngoài được thực hiện nhanh chóng, đúng địa chỉ, giảm bớtchi phí và giảm thiểu rủi ro Ngược lại thông qua ngân hàng đại lý đó để mởrộng hoạt động TTQT.
Một ngân hàng có các ngân hàng đại lý ở nhiều nước trên thế giới và cómối quan hệ tốt sẽ rất thuận tiện trong việc liên lạc, tra soát các giao dịchthanh toán XNK Các khách hàng có hoạt động thanh toán XNK ngày càng có
xu hướng mở rộng đối tác làm ăn ra ngoài thị trường truyền thống Vì vậy sẽ
có nhiều thương vụ với các đối tác mới ở các nước khác nhau trên thế giới.Việc xúc tiến thêm các ngân hàng đại lý giúp ngân hàng đáp ứng được mọinhu cầu của khách hàng Nhờ việc thiết lập các quan hệ mới, các giao dịchthanh toán sẽ về thẳng ngân hàng mà không phải qua trung gian giúp kháchhàng được thanh toán nhanh, tiết giảm phí, không bị lờ đi các thương vụ làm
ăn quan trọng, nhờ đó đảm bảo được hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
1.3.2.5 Công nghệ ngân hàng
Ngày nay, công nghệ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động củangân hàng Vì thế, mỗi ngân hàng đều đang xây dựng cho mình một hệ thốngcông nghệ hiện đại, phù hợp Trong hoạt động thanh toán XNK, công nghệhiện đại, tốc độ xử lý nhanh giúp ngân hàng có thể thực hiện một cách chínhxác các thao tác, đẩy nhanh tốc độ từng khâu trong quá trình thanh toán, phục
vụ khách hàng hiệu quả nhất Bên cạnh đó, công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽgóp phần phát triển thêm các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng mới, nâng caochất lượng dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong giao dịch với khách hàng từtín đó mà nâng cao uy tín của ngân hàng, góp phần mở rộng thị phần của ngânhàng Ngày nay, hầu như các NHTM tham gia vào mạng truyền tin có tínhbảo mật cao như SWIFT hay TELEX
Trang 23Bên cạnh đó, việc xây dựng quy trình nghiệp vụ cho các hoạt độngngân hàng luôn phải phù hợp với công nghệ hiện đang áp dụng và ngược lạicông nghệ ngân hàng cũng cần phải được cải tiến đồng bộ với sự thay đổi,phát triển của cơ chế nghiệp vụ Công nghệ ngân hàng và quy trình nghiệp vụ
là hai yếu tố song hành với nhau, đảm bảo sự hoạt động thông suốt trong hệthống nghiệp vụ ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nóiriêng
1.3.2.6 Trình độ nghiệp vụ cán bộ ngân hàng
Để phát triển hoạt động TTQT, mở rộng được thị phần của ngân hàngmình thì một nhân tố quan trọng mà bất cứ NHTM nào cũng phải quan tâm
đó là chất lượng nguồn nhân lực Để có thể làm việc hiệu quả, tránh gâynhững tổn thất cho bản thân ngân hàng, đòi hỏi cán bộ ngân hàng nói chung
và cán bộ TTQT nói riêng phải có chuyên môn cao, am hiểu quy tắc, thông lệquốc tế, có trình độ ngoại ngữ giỏi đảm bảo tiếp cận với tài liệu nước ngoàinâng cao kiến thức nghiệp vụ
Thêm vào đó, một ngân hàng nổi tiếng với đội ngũ cán bộ nhân viêngiỏi có thể nâng cao được uy tín ngân hàng trong cả hai thị trường, thị trườngkhách hàng và thị trường nguồn nhân lực Một điều rõ ràng là những cán bộgiỏi và giàu kinh nghiệm sẽ thu hút những nhân tài mới đến với ngân hàng đểđược trau dồi kiến thức và rèn luyện kỹ năng, từ đó giúp đem lại lợi ích chotoàn ngân hàng
1.3.2.7 Các chính sách của ngân hàng
Các chính sách của ngân hàng như chính sách khách hàng, chính sáchđối ngoại, chính sách phát triển dịch vụ… có ảnh hưởng lớn đến hoạt độngTTQT Các chính sách đúng đắn sẽ thu hút được khách hàng trong và ngoàinước, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng
Trang 241.3.2.8 Cơ cấu tổ chức, điều hành hoạt động thanh toán quốc tế
Một hệ thống quản lý điều hành thống nhất từ trên xuống theo một quytrình hợp lý sẽ hạn chế rủi ro, rút ngắn thời gian giao dịch, tạo được uy tín đốivới khách hàng trong nước và quốc tế
1.3.2.9 Hoạt động khác liên quan đến hoạt động thanh toán XNK
Các hoạt động kinh doanh khác như hoạt động tín dụng, hoạt động kinhdoanh ngoại tệ… là các hoạt động có tác dụng bổ trợ, thúc đẩy cho hoạt độngthanh toán XNK của NHTM Phát triển nghiệp vụ này là tiền đề, là nền tảng
hỗ trợ cho sự phát triển nghiệp vụ kia và ngược lại Đồng thời các hoạt độngnày cũng là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng, tạo nên sức cạnh tranhcủa ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua tổng hợp và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt độngTTQT của NHTM và vấn đề mở rộng thị phần TTQT, rút ra những điều sau:
- TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các
cá nhân, tổ chức ở nhiều lãnh thổ, quốc gia khác nhau Do đó, nó chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố trong và ngoài nước
- Hoạt động TTQT đóng vai trò to lớn trong việc tăng thu nhập ngân hàng tăngkhả năng cạnh tranh trong nền kinh tế cơ chế thị trường, góp phần thúc đẩycác hoạt động khác phát triển
- Hoạt động TTQT của NHTM chịu tác động của rất nhiều yếu tố, bao gồm cảnhững nhân tố khách quan, như: các chính sách vĩ mô của Nhà nước, tìnhhình kinh tế đối ngoài quốc gia; và các nhân tổ chủ quan xuất phát từ mô hìnhthanh toán, chiến lược kinh doanh, uy tín… của bản than ngân hàng
Trang 25- Cạnh tranh càng ngày trở lên khốc liệt nên vấn đề mở rộng thị phần hoạt độngcủa các NH là rất cấp thiết, đặc biệt là trong hoạt động TTQT.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ PHẦN THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM 2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (Maritimebank) chính thứcthành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước Việt Nam Ngày 12/07/1991, Maritimebank chính thứckhai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố Cảng Hải Phòng, ngay sau khiPháp lệnh về Ngân hàng Thương mại, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty Tàichính có hiệu lực Khi đó, những cuộc tranh luận về mô hình ngân hàng cổphần còn chưa ngã ngũ và Maritimebank đã trở thành một trong những ngânhàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam Đó là kết quả có được từ sứcmạnh tập thể và ý thức đổi mới của các cổ đông sáng lập: Cục Hàng Hải ViệtNam, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Cục Hàng không Dândụng Việt Nam…
Trang 26Ban đầu, Maritimebank chỉ có 24 cổ đông, vốn điều lệ 40 tỷ đồng vàmột vài chi nhánh tại các tỉnh thành lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh,
TP HCM Có thể nói, sự ra đời của Maritimebank tại thời điểm đầu thập niên
90 của thế kỷ XX đã góp phần tạo nên bước đột phá quan trọng trong quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam
Nhìn lại chặng đường phát triển thì năm 1997 - 2000 là giai đoạn thửthách, cam go nhất của Maritimebank Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ châu Á, Ngân hàng đã gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, bằngnội lực và bản lĩnh của mình, Maritimebank đã dần lấy lại trạng thái cân bằng
và phát triển mạnh mẽ từ năm 2005
Đến nay, Maritimebank đã trở thành một ngân hàng thương mại cổphần phát triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin đối với khách hàng Vốnđiều lệ của Maritimebank là 8.000 tỷ VNĐ và tổng tài sản đạt hơn 110.000 tỷVNĐ Mạng lưới hoạt động không ngừng được mở rộng từ 16 điểm giao dịchnăm 2005, hiện nay đã lên đến gần 230 điểm giao dịch trên toàn quốc
2.1.2 Mô hình tổ chức và cơ cấu quản lý của Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam
Sau đây là sơ đồ mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt
Nam:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Maritimebank
Trang 27Đại hội đồng
cổ đông Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Khố
i quả
n lý tài chín h
Khố
i tổng hợp
Khố
i vận hàn h
Khối công nghệ ngân hàng
Khố
i quả
n lý nhâ
n tài
Khố
i quả
n lý chiế
n lược
Khối pháp chế
và giám sát tuân thủ
Ngâ
n hàng định chế tài chín h
Khố
i quả
n lý rủi ro
Ngâ
n hàn
g cá nhâ n
Ngâ
n hàn
g doa
nh nghi ệp
Ngâ
n hàn
g
DN lớn
Khối phê duyệ
t tín dụng
Ủy ban ALCO
Hội đồng điều hành Ban trợ lý
TGĐ
Hội đồng tín dụng Ban tài
chính đầu tư
Ban phát triển mạng lưới Ban quản lý tín dụng
Ủy ban tín dụng và đầu tư
Văn phòng HĐQT Ủy ban xử lý
rủi ro
Ủy ban nhân sự Ủy ban quản
lý rủi ro
Ủy ban chiến lược Ủy ban kiểm toán
Ban kiểm soát Hội đồng
sáng lập
Phòng kiểm toán nội bộ
Ban thẩm định tín dụng
& đầu tư
Ban kiểm toán
(Nguồn: Website chính thức của Maritimebank - http://www.msb.com.vn )
2.1.3 Khái quát tình hình hoạt động của Maritimebank
Tính đến 31/12/2011, tổng tài sản của Ngân hàng là 114 nghìn tỷ đồng,bằng 99,2% năm 2010, đạt 81,7% kế hoạch năm, tổng dư nợ cho vay đạt 37,7ngàn tỷ đồng, tăng 18,6 % so với cùng kỳ năm 2010 Tỷ lệ nợ xấu là 2,27%tăng 0.4% so với mức 1,87% của cuối năm 2010
Trang 282.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Đến 31/12/2011, tổng nguồn vốn đạt 114.326 tỷ đồng, giảm 0,8% sovới đầu năm, trong đó vốn huy động tại thị trường I và trái phiếu huy độngvốn đạt 69.473 tỷ đồng
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng vốn điều lệ của Maritimebank
(Nguồn: Bản cáo bạch Maritimebank 2011)
Maritimebank là ngân hàng có sản phẩm đa dạng, phù hợp với nhu cầucủa dân cư và tổ chức tín dụng cả bằng ngoại tệ và nội tệ và tập trung huyđộng vốn từ 2 thị trường: Tổ chức kinh tế và dân cư và Các tổ chức tín dụng
và các định chế tài chính
Một số sản phẩm nổi bật của thị trường tổ chức kinh tế và dân cư là M1 Account cho Khách hàng cá nhân và M-Business cho Khách hàng doanh nghiệp Với 2 sản phẩm này, khách hàng có thể hưởng lãi suất qua đêm bậc thang lên tới 12,9%/năm với rất nhiều ưu đãi như miễn phí chuyển khoản
online, miễn phí phát hành thẻ, … Ngoài ra, Maritimebank còn cung cấp tiện
ích internet banking vượt trội Với những sản phẩm đó, Maritimebank đã
gia tăng sự hài lòng của khách hàng cũng như tăng cường được hoạt động huyđộng vốn với tốc độ tăng trưởng từ 2008 – 2011 đạt 122%/năm
Biểu đồ 2.2: Mạng lưới Chi nhánh/ Phòng giao dịch và Quỹ tiết
kiệm của Maritimebank
Trang 29(Nguồn: Bản cáo bạch Maritimebank 2011)
Đồng thời, Maritimebank cũng đẩy mạnh việc phát triển hệ thống mạnglưới Chi nhánh nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu tiền gửi của dân cư cũng nhưcung ứng dịch vụ cho các tổ chức kinh tế
Thị trường các tổ chức tín dụng và định chế tài chính đượcMaritimebank quan tâm và chú trọng phát triển với tốc độ tăng trưởng tiềngửi của thị trường II trung bình đạt 64%/năm trong giai đoạn 2008 – 2011
Biểu đồ 2.3: Tình hình huy động vốn của Maritimebank
Các sản phẩm chính của ngân hàng bao gồm: Cho vay tài trợ kinhdoanh, cho vay hợp vốn, cho vay các khoản phải thu, chiết khấu bộ chứng từ
xuất khẩu, cho vay đầu tư dự án, … Đặc biệt, Maritimebank có gói Sản phẩm
ngân hàng mới nhất và duy nhất cho doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh
cà phê và Chương trình SMEFP III – chương trình phối hợp giữa
Maritimebank và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thông quan
Trang 30NHNN nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho SMEs tại Việt Namvới lãi suất cho vay trung và dài hạn ưu đãi.
Trong năm 2011, tỷ trọng tăng trưởng tín dụng giảm so với những nămtrước do Maritimebank thực hiện thắt chặt tín dụng theo định hướng củaNgân hàng Nhà nước giảm mức tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợtín dụng đối với nền kinh tế từ 25% năm 2010 xuống còn 18,8% năm 2011
Biểu đồ 2.4: Tình hình tăng trưởng tín dụng của Maritimebank
Đơn vị: tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo thường niên Maritimebank từ năm 2008 đến 2011)
2.1.3.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối
Hoạt động kinh doanh ngoại hối của Maritimebank gặp phải rất nhiềubiến động Nếu như, hoạt động này đem lại doanh thu 206,7 tỷ đồng với mứclợi nhuận là 87,8 tỷ đồng vào năm 2009 thì năm 2010 chứng kiến sự thua lỗnặng nề trong hoạt động này với mức lỗ lên tới 107 tỷ đồng Điều này đượcgiải thích bởi sự biến động tiêu cực của thị trường ngoại hối, đồng USD mấtgiá mạnh mẽ so với cá đồng tiền khác (Bloomberg, 2010), giá vàng thế giớităng mạnh Trong khi đó, VNĐ lại bị mất giá so với USD và NHNN phải liêntục thực hiện điều chỉnh giá
Tuy nhiên, trong năm 2011, NHNN đã ban hành chỉ thị số NHNN về việc thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm kiểmsoát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh xã hội, trong đó quy
01/CT-định “tăng dường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm về kinh
doanh ngoại tệ, vằng đối với các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế và dân cư” Với động thái này, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM năm
2011 đã có nhiều diễn biến tích cực Maritimebank đã tận dụng thời cơ này đểđạt được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại hối với số lãi 41,9 tỷ đồngtrong năm 2011
2.1.3.3 Hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng
Trang 31Các sản phẩm chính gồm có các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, bảolãnh, tư vấn, chiết khấu, hối đoái, quản lý tín dụng… Tổng doanh thu từ dungứng các dịch vụ ngân hàng đạt 148,2 tỷ đồng vào năm 2009, tăng 67,6% trongnăm 2010 và đạt mức trên 400 tỷ năm 2011 Cơ cấu chính tạo nên doanh thudịch vụ cung ứng ngân hàng là: dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh và dịch
vụ khác Hoạt động thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế của Ngânhàng nhanh chóng và rất an toàn đáp ứng đầy đủ nhu cầu thanh toán củakhách hàng với thu phí từ dịch vụ thanh toán năm 2010 là 100,1 tỷ đồng tăng143% so với năm 2009 và con số này năm 2011 đạt 133,2 tỷ đồng
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu doanh thu cung ứng dịch vụ ngân hàng năm 2011
(Nguồn: Báo cáo thường niên Maritimebank 2011)
2.2 Thực trạng mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam
2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam
Hoạt động TTQT là một hoạt động tương đối phức tạp, các chủ thểtham gia vào hoạt động này là các tổ chức, cá nhân ở các nước khác nhau Do
đó, để có thể thực hiện hoạt động này một cách an toàn, nhanh chóng, thuậntiện đòi hỏi phải áp dụng những văn bản pháp lý làm cơ sở Hiện nay, hoạtđộng TTQT tại NH TMCP Hàng hải Việt Nam đang chịu sự điều hành củacác văn bản pháp lý chủ yếu sau:
2.2.1.1 Văn bản pháp lý mang tính chất quốc tế
Điều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên ký kết hoặc gia nhập còn hiệu lựcthi hành: Công ước Viên của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế, Công ước Brusell điều chỉnh vận đơn đường biển, năm 1924; Luậtthống nhất về hối phiếu đòi nợ và Hối phiếu nhận nợ, 1930
Hiệp định đa biên và song phương ký kết với các ngân hàng trong và ngoàinước
Trang 32 Thông lệ và tập quán thương mại quốc tế: Đặc biệt là các văn bản UCP 600,URC 522, ISBP 681, Incoterms 2010.
2.2.1.2 Văn bản pháp lý mang tính chất quốc gia
Bộ luật dân sự năm 2005; Bộ luật thương mại năm 2005; Luật Ngân hàng nhànước; Luật các tổ chức tín dụng năm 1997
Các nghị định, thông tư về ngoại hối và hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch
vụ ngoại hối của tổ chức tín dụng do NHNN ban hành
Ngoài ra, còn có các văn bản pháp lý về điều hành hoạt động kinh doanhngoại hối, nghiệp vụ TTQT do trực tiếp NH TMCP Hàng Hải Việt Nam banhành
2.2.2 Thực trạng mở rộng thị phần thanh toán quốc tế của Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam
2.2.2.1 Tổng quan thị phần TTQT của Maritimebank
Hoạt động TTQT tại Maritimebank chính thức được thực hiện từ nhữngngày đầu thành lập, trải qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, doanh sốhoạt động thanh toán XNK khuynh hướng chung là không ngừng tăng qua cácnăm Tuy nhiên, tốc độ tăng thì giảm đi và có một sự sụt giảm đáng kể vàonăm 2009 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Bảng 2.1: Doanh số TTQT của Maritimebank từ 2008 đến 2011
Đơn vị: tỷ USD
Doanh số TTQT 7,887 6,3525 8,0065 9,8995
Tốc độ phát triển -19,46% 26,04% 23,64%
(Nguồn: Báo cáo thường niên Maritimebank giai đoạn từ năm 2008 đến 2011)
Thời kỳ hậu khủng hoảng năm 2009 đã chứng kiến sự sụt giảm 19,46%doanh số TTQT của Maritimebank Điều này dễ dàng được giải thích bằng tácđộng khách quan của suy thoái kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, đến năm 2010,Maritimebank đã lật ngược tình thế với doanh số TTQT là 8,0065 tỷ USD Vàvới sự phát triển mạnh mẽ của xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2011, lần đầu
Trang 33tiên Việt Nam đạt tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên 200 tỷ USD,Maritimebank cũng đã thu được sự tăng lên đáng kể trong doanh số TTQT,đạt 9,8995 tỷ USD ở mức tăng 23,64% so với năm 2010.
Chất lượng các sản phẩm dịch vụ TTQT truyền thống tại Maritimebankngày càng phát triển, thể hiện ở quy mô và trị giá của các phương thức TTQTchủ yếu như L/C, nhờ thu, chuyển tiền
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng sử dụng các phương thức TTQT tại Maritimebank
(Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT Maritimebank từ năm 2008 đến 2011)
Những năm trước đây, phương thức TTQT được ưa chuộng tại cácNHTM VN là tín dụng chứng từ, thường chiếm khoảng 70% doanh số, sau đó
là chuyển tiền, nhờ thu Tuy nhiên trong những năm gần đây, tại các NHTM
VN đã có sự dịch chuyển trong sử dụng các phương thức thanh toán Thựctrạng sử dụng các phương thức TTQT tại Maritimebank cũng đã có sự dịchchuyển qua các năm, tỷ trọng phương thức L/C giảm đi trong khi tỷ trọngphương thức chuyển tiền tăng lên
Thanh toán L/C
Tín dụng chứng từ là phương thức chiếm tỷ trọng cao và quan trọng đốivới các NHTM Đây cũng là nguồn thu TTQT chính của các NHTM Trongđiều kiện Việt Nam là một nước nhập siêu, phương thức thanh toán L/C NKluôn là phương thức phát triển mạnh của ngân hàng Doanh số phương thứcnày luôn chiếm khoảng một nửa trong doanh số chung của hoạt động thanhtoán NK
Bảng 2.2: Doanh số thanh toán L/C xuất, nhập tại Maritimebank
Trang 34Về thanh toán XK, là một trong số các ngân hàng lớn ở Việt Nam,Maritimebank luôn thu hút được một số lượng lớn khách hàng đáng kể thanhtoán XK qua ngân hàng, chiếm phần lớn trong các giao dịch của toàn bộ hệthống ngân hàng.
Chuyển tiền quốc tế
Phương thức chuyển tiền quốc tế được triển khai ở Maritimebank từnhững ngày đầu thực hiện nghiệp vụ TTQT, bao gồm chuyển tiền mậu dịch
và phi mậu dịch Trong đó, chuyển tiền mậu dịch thanh toán XNK chiếm tỷtrọng lớn, khoảng 80% doanh số chuyển tiền Đây là phương thức TTQT đơngiản, nhanh chóng, tiết kiệm chi phí nên ngay từ khi triển khai thực hiện đãthu được kết quả khá tốt, tăng trưởng liên tục qua các năm
Bảng 2.3 : Tình hình hoạt động chuyển tiền quốc tế tại Maritimebank
Đơn vị: tỷ USD
Chuyển tiền
Chuyển tiền đi 1,2944 1,0648 1,3739 1,7881
(Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT Maritimebank từ năm 2008 đến 2011)
Cùng với sự tăng trưởng doanh số thanh toán, số lượng các ngân hàng
có quan hệ đại lý với Maritimebank cũng tăng dần qua các năm Trong năm
2010, hoạt động ngân hàng đại lý của Maritimebank có bước phát triển độtphá Ngân hàng không chỉ đẩy mạnh việc thiết lập, phát triển quan hệ, cấpmới hạn mức với các tổ chức tài chính quốc tế và các ngân hàng lớn trên thếgiới nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng các kênh thanh toán cũng như hoạt độngtài trợ thương mại, mà còn duy trì và gia tăng được hạn mức của các ngânhàng cấp cho Maritimebank về việc xác nhận thư tín dụng, chiết khấu thươngmại, phát hành bảo lãnh cũng như hạn mức kinh doanh ngoại hối thêm 70%
so với năm 2009 Mạng lưới các ngân hàng đại lý trên khắp thế giới củaMaritimebank trong năm 2010 cũng đạt hơn 500 đối tác, tăng 20% so với
Trang 35năm 2009 Đến năm 2011, số lượng ngân hàng đại lý của Maritimebank đạttrên 600 đối tác tại gần 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong nỗ lực mở rộng thị phần TTQT, Maritimebank đã đạt được kếtquả không nhỏ với mức tăng dần qua các năm và đạt 5,5% vào năm 2008.Tuy nhiên, thị phần của Ngân hàng đã có xu hướng giảm xuống trong nhữngnăm trở lại đây Dù có một sự tăng lên nhỏ vào năm 2010, thị phần TTQT củaNgân hàng lại một lần nữa sụt giảm, chỉ còn 4,9% năm 2011 Đây là một vấn
đề cần được giải quyết
Bảng 2.4: Thị phần TTQT của NHTM Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo thường niên các NHTM từ năm 2008 đến 2011)
Theo bảng 2.4, thị phần TTQT của các NHTM nhà nước đều có xuhướng giảm sút Ngay cả Ngân hàng ngoại thương Việt Nam là ngân hànghàng đầu trong thanh toán đối ngoại nhưng những năm vừa qua vẫn khôngtránh được sự giảm sút thị phần trong hệ thống NHTMVN Do sự cạnh tranhkhốc liệt về tỷ giá, lãi suất chiết khấu, phí thanh toán, dịch vụ chăm sóc kháchhàng,… đã làm cho thị phần của VCB bị san sẻ, từ 24,1% vào năm 2007,giảm còn 19,2% năm 2011 Tuy nhiên , có thể nói, cho đến nay, ngân hàngngoại thương VN vẫn khẳng định được vị trí đứng đầu trong hoạt động TTQTcủa các NHTMVN, bỏ xa các đối thủ còn lại Do VCB là ngân hàng đầu tiêntriển khai nghiệp vụ TTQT ở nước ta, có những ưu thế kinh nghiệm lâu năm
và nhận được nhiều sự hỗ trợ từ nhà nước nên chiếm lĩnh thị trường TTQTngay từ những buổi đầu
Trang 36Trong những năm gần đây, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng ngàycàng trở lên khốc liệt Bên cạnh hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước,Maritimebank còn chịu sự cạnh tranh rất lớn bởi hệ thống các ngân hàng cổphần Đến năm 2009, cùng tham gia giành giật thị trường còn có những ngânhàng 100% vốn nước ngoài với những thế mạnh nổi trội về vốn, kinh nghiệmlàm cho thị phần TTQT của Maritimebank với tốc độ chậm lại Năm 2010, thịphần TTQT của Maritimebank đã tăng trở lại từ 5,0% năm 2009 lên 5,1%.Tuy nhiên, đến năm 2011, con số này lại rơi xuống còn 4,9%.
Như đã trình bày ở chương 1, hoạt động TTQT bao gồm 2 mảng thanhtoán xuất khẩu và thanh toán nhập khẩu Để tìm hiểu rõ hơn về thị phầnTTQT của Maritimebank trong những năm qua, phần tiếp theo sẽ xem xét cụthể từng mảng hoạt động thanh toán XK và NK riêng
2.2.2.2 Thị phần thanh toán hàng Xuất khẩu
Trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của kinh tế đối ngoại, sự cạnhtranh của các NHTM VN trở nên dữ dội hơn bao giờ hết Đặc biệt, với chiếnlược phát triển mặt hàng xuất khẩu quốc gia, cuộc chạy đua giành thị phầnTTQT giữa các ngân hàng càng quyết liệt
Thị phần thanh toán hàng xuất của Maritimebank được thể hiện rõtrong bảng dưới đây:
Bảng 2.5: Tốc độ tăng doanh số thanh toán hàng XK của Maritimebank
và tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Chỉ tiêu
Doanh số
(tỷ USD)
Doanh số
(tỷ USD)
Tốc độ
tăng/giảm (%)
Doanh số
(tỷ USD)
Tốc độ
tăng/giả
m (%)
Doanh số
(tỷ USD)
Tốc độ tăng/giả m (%)
Trang 37Thị phần
(Nguồn: Báo cáo thường niên Maritimebank và báo cáo tổng cục thống kê
từ năm 2008 đến 2011)
Qua bảng 2.5, ta thấy được những điều sau:
Thứ nhất, doanh số thanh toán hàng xuất của Maritimebank tăng mạnh
trong ba năm trở lại đây
Điều đáng nói ở đây là mức tăng 24,69% năm 2010 và 27,0% năm
2011 về doanh số thanh toán hàng xuất của Maritimebank là một thành tích
từ sự nỗ lực của Maritimebank trong hoạt động thanh toán quốc tế Bởi liênquan đến ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàncầu, năm 2008 chứng kiến những biến động chưa từng có về giá hàng xuấtnhập khẩu, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của nhiều doanh nghiệp.Theo đó, lạm phát, nhập siêu có thêm yếu tố thuận lợi để kiềm chế, trong khixuất khẩu chịu ảnh hưởng nặng Từ tháng 9/2008, tác động của cuộc khủnghoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã bắt đầu thể hiện trong cáchoạt động XK của các doanh nghiệp Việt Nam Hầu hết các mặt hàng đồngloạt giảm giá mạnh Những khó khăn trên đã tiếp tục thể hiện trong năm
2009 Lý do này khiến kim ngạch XK của Việt Nam giảm quá sâu so với năm
2008 Tổng kim ngạch XK cả năm đạt 57,29 tỷ USD, thua xa kế hoạch đề racủa năm là 64,6 tỷ USD, giảm 8,6% so với việc thực hiện năm 2008 Mộttrong những nguyên nhân dẫn đến sự xuống dốc của kim ngạch XNK là dogiá giảm dù nhiều mặt hàng tăng thêm về lượng Ngoài ra, nguyên nhân chínhvẫn là khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến thương mại giảmsút, sản xuất đình trệ, tiêu dùng hạn chế ở mức tối đa tại những nước vốn làthị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU… Nền kinh
tế Việt Nam đã dần phục hồi sau khủng hoảng với sự cải thiện đáng kể về kimngạch xuất khẩu Sự kết hợp giữa một số chính sách khuyến khích xuất khẩucủa Nhà nước và quyết tâm của các doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi từ