Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích giúp họcsinh lớp 3/3 nói riêng, học sinh khối 3 trường Tiểu học số 2 Hòa Châunói chung học tốt hơn về các dạng toán có yếu tố hình học.. Phư
Trang 1MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC
Những thế hệ trước phải truyền lại những kinh nghiệm đã tích lũyđược, khái quát hóa và hệ thống hóa được qua các hoạt động thực tiễncho những thế hệ trẻ để họ có thể kế thừa, phát triển và tiếp tục đưa xãhội không ngừng vận động đi lên, mang lại loài người ngày càng nhiềuphúc lợi, làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao Cũngnhư môn Toán lớp 3 nó bổ sung hoàn thiện toàn bộ kiến thức, kĩ năngtrong chương trình Toán của bậc tiểu học
Chương trình Toán 3 khẳng định tính khả thi trong thực tế đối vớingười học và người dạy ở tiểu học các bài toán có nội dung hình họcđược rất nhiều người quan tâm Nhiều bài toán phân chia hình rất hay và
lý thú nhưng nhiều em chưa hiểu được cách giải Thấy rõ được điều đó,tôi xin đưa ra “Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt về yếu tốhình học” hy vọng phần nào giúp các em đỡ khó khăn khi gặp các bàitoán dạng đó
2 Mục đích nghiên cứu:
Với nhu cầu của một xã hội hóa giáo dục đòi hỏi ngành giáo dục phảiđổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận
Trang 2thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc Nhìn lại việchọc của con em ở địa phương, tôi nhận thấy nhận thức của các em cònnhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít, điều kiện học tập cònnhiều khó khăn Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích giúp họcsinh lớp 3/3 nói riêng, học sinh khối 3 trường Tiểu học số 2 Hòa Châunói chung học tốt hơn về các dạng toán có yếu tố hình học Đồng thời cóthể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên trong trường vận dụng vào việcdạy học đạt hiệu quả cao hơn.
3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 3/3 trường Tiểu học số 2 Hòa Châu
4 Phương pháp nghiên cứu:
a Phương pháp quy nạp: Là phương pháp suy luận đi từ cái cụ thể đểrút ra kết luận tổng quát, đi những cái riêng đến cái chung
b Phương pháp suy diễn: Là phép suy luận đi từ cái chung đến cáiriêng, từ quy tắc tổng quát áp dụng vào từng trường hợp cụ thể Phép suydiễn luôn cho kết quả đáng tin cậy, nếu như nó xuất phát từ những điềuđúng đắn
c Phương pháp tương tự: Là phương pháp suy luận đi từ sự giốngnhau của một số thuộc tính nào đó của hai đối tượng để rút ra kết luận về
sự giống nhau của các thuộc tính khác của 2 đối tượng đó
d Phương pháp phân tích trong giải toán: Là đường lối suy nghĩ đingược dần dần từ câu hỏi của bài toán trở về những cái đã cho Khi cầnsuy nghĩ để tìm cách giải một bài toán thì đây là phương pháp hay dùngnhất
e Phương pháp tổng hợp trong giải toán: Là đường lối suy nghĩ đi xuôi
từ những cái đã cho trong đề toán đến cái phải tìm, hay câu hỏi của đề toán
Trang 3g Phương pháp giảng giải: Là phương pháp giảng dạy trong đó giáoviên dùng lời nói sinh động và chính xác để vừa đưa ra vấn đề vừa giảithích nội dung vấn đề cho học sinh hiểu và tiếp thu dễ dàng.
h Phương pháp đàm thoại: Là phương pháp giảng dạy, trong đó giáoviên nêu vấn đề, đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, trên cơ sở ấy giáo viêngiúp học sinh rút ra kết luận
i Phương pháp trực quan: Là phương pháp giảng dạy dựa trên cơ sởnhững hình ảnh cụ thể: hình vẽ, đồ vật và thực tế xung quanh để hìnhthành kiến thức cho học sinh
k Phương pháp thực hành – luyện tập: Là phương pháp dạy học thôngqua các hoạt động thực hành – luyện tập của học sinh để giúp các emnắm được các kiến thức và kĩ năng mới.Phương pháp này có ưu thế làphát huy được tốt nhất tính độc lập của học sinh là phương tiện tốt đểthực hiện nguyên lí giáo dục
Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương phápkhác nữa trong quá trình nghiên cứu
5 Kế hoạch thực hiện
Đầu năm học 2011 – 2012 đến cuối năm học 2012 - 2013
B PHẦN NỘI DUNG:
I Cơ sở pháp lí và lí luận:
1 Mục đích của việc dạy các yếu tố hình học là:
a Làm cho học sinh có được những biểu tượng chính xác về một sốhình học đơn giản và một số đại lượng hình học thông dụng
b Rèn luyện một số kĩ năng thực hành, phát triển một số năng lực trítuệ
c Tích lũy những hiểu biết cần thiết cho đời sống sinh hoạt và học tậpcủa học sinh
Trang 4Như chúng ta đã biết ngay từ lớp 1 học sinh đã được làm quen vớimột số hình hình học thường gặp Dựa trên trực giác mà các em có thểnhận biết hình một cách tổng thể Sau đó lên lớp trên việc nhận biếthình sẽ được chính xác hóa dần dần thông qua việc tìm hiểu thêm cácđặc điểm ( về cạnh, góc, đỉnh…) của hình.
Đồng thời ở tiểu học cũng được đo độ dài, đo diện tích và thể tíchcủa hình, được luyện tập ước lượng số đo đoạn thẳng, diện tích, thểtích của một số vật thường dùng
Việc giúp học sinh hình thành những biểu tượng hình học và đạilượng hình học có tầm quan trọng đáng kể vì điều đó giúp các emđịnh hướng trong không gian, gắn liền việc học tập với cuộc sốngxung quanh và chuẩn bị học môn hình học ở bậc trung học cơ sở
- Khi học các yếu tố hình học, trẻ em được tập sử dụng các dụng cụnhư: thước kẻ, ê –ke, compa để đo độ dài, đo và tính chu vi, diện tích,thể tích các hình… Những kĩ năng này được rèn luyện từng bước một,
+ Ở lớp 5 tập dùng compa để vẽ đường tròn, để đo và đặt độ dài đoạnthẳng…
Qua việc học tập các kiến thức và rèn luyện các kĩ năng trên, một số năng lực trí tuệ của học sinh như phân tích tổng hợp, quan sát, so sánh, đối chiếu, dự đoán, trí tưởng tượng không gian được phát triển
Các kiến thức hình học ở tiểu học được dùng thông qua các hoạt độngthực hành để tích lũy những hiểu biết cần thiết cho học sinh Song những
Trang 5kiến thức, kĩ năng hình học được thu lượm như vậy qua con đường thựcnghiệm lại rất cần thiết trong cuộc sống, rất hữu ích cho việc học tập cáctuyến kiến thức khác trong môn Toán tiểu học như: số học, đo đại lượng,giải toán, cũng như cho việc học tập các môn vẽ, viết tập, tìm hiểu tựnhiên và xã hội, thủ công.
- Ngoài ra các yếu tố hình học giúp học sinh phát triển được nhiều nănglực trí tuệ, rèn luyện được nhiều đức tính và phẩm chất tốt như: cẩn thận,cần cù, chu đáo, khéo léo, chính xác, làm việc có kế hoạch… Nhờ đó màhọc sinh có thêm tiền đề để học các môn khác ở tiểu học, để dần dần tiếpcận các giáo trình toán học có hệ thống ở bậc trung học cơ sở và thíchứng tốt hơn với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh
- Toán 3 quán triệt theo 2 quan điểm Phổ cập và dạy học phát triểnđược thể hiện trong chương trình SGK:
- Dạy phát huy tính tích cực của học sinh
- Dạy hướng học sinh vào trung tâm
2 Nội dung dạy các yếu tố hình học lớp 3 :
- Hình chữ nhật, hình vuông
- Điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng
- Compa, hình tròn, tâm, bán hính, đường kính
Trang 6- Các đơn vị đo độ dài: cm, mm…Đo đạc, đổi đơn vị, tính toán với các
số đo độ dài theo những đơn vị đã học
3 Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng:
a Nhận biết được các yếu tố đỉnh, cạnh, góc của một hình và xác địnhđược chúng trong những trường hợp cụ thể:
- Biết dùng chữ để đặt tên cho các đỉnh của hình tam giác, tứ giác, biếtgọi tên hình theo các đỉnh
Ví dụ: Đoạn thẳng AB, tam giác ABC, hình chữ nhật ABCD…
- Nhận dạng được góc vuông, góc không vuông Biết dùng Ê – ke đểkiểm tra lại
- Nhận dạng và phân biệt được hình tam giác có góc vuông và góckhông vuông
- Nhận dạng và phân biệt được hình vuông, hình chữ nhật với hình tứgiác (không phải là hình vuông, hình chữ nhật)
- Biết vẽ hình tam giác, tứ giác bằng cách chấm các điểm rồi nối lạibằng thước kẻ
- Biết dùng thước kẻ và eke để vẽ góc vuông, hình tam giác ( có góc
- vuông), hình vuông, hình chữ nhật
b Nhận biết và nắm được các đơn vị đo độ dài kilômet, milimet, têngọi, kí hiệu, độ lớn và mối quan hệ giữa các đơn vị ấy với các đơn vị đãhọc
Trang 7- Dùng thước dây đo kích thước của phòng học, sân trường( dài không
quá 100m), dùng thước có vạch milimet để đo bề dày của một tấm kính
hoặc bề dày một miếng ván ép
- Biết ước lượng các độ dài 5dm, 1m, 1m5dm…sau đó biết dùng
thước kẻ để kiểm tra kết quả ước lượng
- Biết cộng, trừ hai số đo độ dài, biết nhân, chia một số đo độ dài với
một số
- Biết giải các bài toán có liên quan đến số đo độ dài
II Thực trạng hiện nay:
Qua 32 năm trong nghề tôi nhận thấy:
- Độ tuổi học sinh tiểu học còn thấp, năng lực chú ý và trí nhớ chưa ổn
định, do đó không nên kéo dài nội dung bài học từ giờ này sang giờ khác
Vì như vậy, học sinh sẽ dễ mệt mỏi chán nản, không lĩnh hội được đầy đủ
và chính xác nội dung bài học
- Ở nhà trường tiểu học, thời gian và bài tập bao giờ cũng ngắn gọn,
vừa đủ với lượng nội dung bài học được giải quyết Như vậy, không nên
sử dụng nội dung phương pháp dạy học duy nhất trong giờ lên lớp mà
giáo viên phải biết kết hợp đan xen các phương pháp dạy học khác nhau
nhằm giúp học sinh tập trung chú ý cao tạo sự hứng thú trong học tập
nhằm phát huy tính tích cực của các em
- Đối với học sinh lớp 3 mảng kiến thức đếm hình, ghi tên đỉnh, cạnh,
góc của hình theo thứ tự bảng chữ cái còn sai nhiều, xác định góc vuông
không chính xác
Cụ thể ở lớp 3/3: Tổng số Học sinh: 30 em
Đếm hình 5 16,7% 12 40% 6 20% 7 23,3% Dùng chữ để ghi hình 4 13,3% 10 33,3% 8 26,7% 8 26,7% Góc vuông, góc không
vuông
7 23,3% 5 16,7% 8 26,7% 10 33,3%
Trang 8III Những biện pháp dạy yếu tố hình học lớp 3 đạt hiệu quả cao là:
1 Biện pháp thứ nhất: Giảng dạy cách dùng chữ để ghi hình:
Việc dạy học sinh lớp 3 dùng chữ để ghi hình là sự nối tiếp hợp lícách dùng chữ để ghi âm ở lớp 1, cách dùng chữ thay số ở lớp 2 Thựcchất của cách dùng chữ để ghi hình là cách dùng chữ để ghi các điểmquan trọng của hình đó, chẳng hạn:
- Đối với đoạn thẳng thì ta ghi hai điểm đầu mút của nó
- Ví dụ: Đoạn thẳng AB
- Đối với tam giác( tứ giác) thì ta ghi tên các đỉnh của nó
- Ví dụ: Tam giác ABC
Cũng như việc dùng chữ thay số, việc dùng chữ ghi hình có vai trò hếtsức quan trọng trong Toán học nói riêng và khoa học, kĩ thuật nói chung
Vì thế, việc dạy học sinh cách ghi hình bằng chữ vừa giúp rèn luyện cáchdùng kí hiệu toán học cho trẻ vừa giúp trang bị cho các em một công cụhữu hiệu để học tốt Toán học và các môn khoa học sau này
2 Biện pháp thứ hai: Dạy vẽ hình:
Ở lớp 3, học sinh phải biết dùng thước để vẽ các hình tam giác, tứgiác và biết dùng thước phối hợp với ê – ke để vẽ hình chữ nhật và hìnhvuông có kích thước cho trước Đây là một yêu cầu cao hơn hẳn so vớilớp 2
Ví dụ: Để hướng dẫn học sinh “ vẽ hình chữ nhật có cạnh dài 6 cm và
4 cm” ta cần phải thực hiện qua các bước:
a Giáo viên cho học sinh lấy thước ê – ke, bút chì và VBT Giáo viênkiểm tra thước, ê – ke, bút chì
Lưu ý:
Thước và ê – ke phải còn tốt, vuông thành, sắc cạnh Cạnh thước và ê–ke không được gồ ghề, răng cưa, lởm chởm, các góc ê – ke không bị mòn vẹt, các vạch xentimet trên thước phải rõ ràng, bút chì phải nhọn
Trang 9b Một học sinh đọc đề toán, một em khác nhắc lại.
c Giáo viên vẽ phác một hình chữ nhật và dựa vào đó nhắc lại rõ ràng công việc phải làm, rồi có thể hướng dẫn học sinh theo các bước sau:
và hình chữ nhật ở lớp 4 Đồng thời ở lớp 3, học sinh bắt đầu được họccách sử dụng một dụng cụ vẽ hình rất quan trọng là cái ê – ke để kiểm tragóc vuông và vẽ góc vuông
Ví dụ:
Có thể dạy về góc vuông, góc không vuông và ê – ke qua các bước:
- Giới thiệu góc vuông, góc không vuông và ê – ke (Xem kỹ cách nhậndạng)
- Giáo viên cầm cái ê –ke , nói: “ Đây là cái ê – ke” ( Học sinh quan sát)
- Giáo viên chỉ vào góc vuông của cái ê – ke, nói “ Đây là góc vuông(Học sinh theo dõi)
Trang 10- Giáo viên chỉ vào góc không vuông của ê – ke nói “ Đây là một góckhông vuông” ( Học sinh quan sát)
Giáo viên vẽ mẫu góc vuông bằng cách sử dụng ê – ke để học sinh biết cách làm theo giáo viên lấy phấn mầu đỏ tô màu vào góc vuông vừa vẽ
để học sinh làm theo tay làm, miệng nói : “Đây là góc vuông”
Giáo viên đính một góc vuông lên bảng rồi đặt ê – ke để kiểm tra góc vuông, rồi giới thiệu tác dụng của ê – ke để kiểm tra góc vuông hay góc không vuông
4 Biện pháp thứ tư: Giảng dạy về đỉnh, cạnh, góc của 1 hình:
+ Ở cuối lớp 3 học sinh được học về các yếu tố: đỉnh, cạnh, góc của
1 hình Đây là sự chuẩn bị cần thiết để học sinh có thể đi sâu vào mô tảđặc điểm của các hình hình học Đồng thời đây cũng là bước nối tiếp hợp
lí của việc dạy về điểm và đoạn thẳng ở lớp 1 vì thực ra thì mỗi cạnh củahình là một đoạn thẳng còn mỗi đỉnh là một điểm Ngoài ra biểu tượng vềgóc ở lớp 3 được hình thành bằng hình ảnh một cặp cạnh có chung mộtđầu mút của hình tam giác, tứ giác Qua đó học sinh có thể nhận biếtđược một đặc điểm của hình: hình tam giác có 3 góc, hình tứ giác có 4góc
Ví dụ: Giới thiệu đỉnh, cạnh, góc của tam giác
Giáo viên cầm mô hình tam giác bằng bìa cho học sinh quan sát và giới thiệu 3 đỉnh, 3 cạnh của hình tam giác
Học sinh mở VBT xem bài 3 rồi lấy đầu bút chì lần lượt chỉ vào các đỉnh của tam giác vẽ trong đó và nói: Tam giác ABC có 3 đỉnh là : đỉnh
Trang 11Giáo viên nêu tiếp: “Hình tam giác ABC có 3 góc là : Góc đỉnh A (Giáo viên lấy đầu thước kẻ dò theo các cạnh AB, AC, góc đỉnh B…, góc đỉnh C…)
- Học sinh vẫn dùng VBT điền từ vào ý “ 3 góc là …”
5 Biện pháp thứ năm: Dạy giải các bài tập về phân tích, tổng hợp
hình và xác định yếu tố chung của các hình:
a Cách dạy giải các bài tập về phân tích, tổng hợp hình ở lớp 3 cũng tương tự như lớp 2, lấy việc “ghi số và ghép hình theo số” là chính Tuy nhiên các bài tập ở lớp 3 phức tạp hơn
Vd 1: Trên hình P có bao nhiêu…
a Hình tam giác?
b Hình vuông?
c Hình tứ giác?
M N
3
1 2 4 6
5
A Q P B
Hình P
Ở đây học sinh có thể đánh số để thấy có 6 hình tam giác nhỏ 1,
2, 3, 4, 5, 6 và:
- 4 hình tam giác gồm 2 tam giác nhỏ là (2, 3); (3, 4); (4,5); (5,2)
- 2 hình tam giác gồm 3 tam giác nhỏ là (1, 2, 5); (5, 4, 6)
- Vậy có tất cả: 6 + 4 + 2 = 12 (hình tam giác)
+ Có 1 hình vuông là hình (2, 3, 4, 5)
+ Có 2 tứ giác gồm 2 tam giác nhỏ là (1, 2); (4, 6)
+ Có 2 tứ giác gồm 3 tam giác nhỏ là (1, 2, 3); (3, 4, 5)
+ Có 1 tứ giác gồm 4 tam giác nhỏ là (2, 3, 4, 5)
Trang 12+ Có 2 tứ giác gồm 5 tam giác nhỏ là (1, 2, 3, 4, 5); (2, 3, 4, 5, 6)+ Có 1 tứ giác gồm 6 tam giác nhỏ là (1, 2, 3, 4, 5, 6)
Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh suy nghĩ, chẳng hạn:
- Mỗi tứ giác có 4 đỉnh Đã biết 2 đỉnh A và B rồi Cứ ghép thêm vào
A, B 2 đỉnh nữa là được một tứ giác có cạnh là AB
- Nếu ghép thêm M, D ta được tứ giác ABMD
- Nếu ghép thêm M, C ta được tứ giác ABCD
- Nếu ghép C, D ta được tứ giác ABCD
Vậy AB là cạnh chung của 3 tứ giác: ABMD, ABCM và ABCD
Vd 3: Có bao nhiêu hình tam giác trong hình bên?
Ta thấy:
A + Có 5 tam giác nhận AB làm cạnh (A)
+ Ngoài ra còn có 4 tam giác nhận AD làm cạnh
Trang 13+ Ngoài ra còn có 3 tam giác nhận AE làm cạnh.+ Ngoài ra còn có 2 tam giác nhận AG làm cạnh.+ Ngoài ra còn có 1 tam giác nhận AH làm cạnh Vậy có tât cả : 5 + 4 + 3 + 2 + 1 = 15 ( tam giác)
B D E G H C
6 Biện pháp thứ sáu: Dạy về độ dài
a Kết hợp với việc dạy học các số đến 1000 Học sinh lớp 3 được học
về các đơn vị đo độ dài kilômét và milimét là bội số và ước số 1000 lầncủa mét Ở đây, giáo viên cần làm cho học sinh nắm được mối quan hệgiữa kilômét và mét:
1km = 1000m bằng cách lưu ý các em rằng “kilômet” được ghép từchữ “kilô” tức là “1000” và chữ “mét” Vì thế “kilômét” là “một nghìnmét” Cũng có thể lưu ý các em rằng “mili” nghĩa là “một phần nghìn”1km = (1/ 1000)” do đó “milimét” tức là “Một phần nghìn mét”
1km = 1/ 1000m hay 1m = 1000mm
b Khi giới thiệu về kilômét hoặc milimét giáo viên cần chỉ cho học sinhthấy rằng trong thực tế người ta luôn phải chọn những đơn vị đolường, phù hợp với các vật cần đo Người ta không nên đo bề dày củamột tấm thép bằng mét, cũng như không thể đo khoảng cách từ HồChí Minh đến Hà Nội bằng đơn vị xentimét…
Cần sử dụng thước 2dm có vạch xentimét, milimét, để giúp học sinh hìnhdung được 10 đơn vị milimét và thấy rõ mối quan hệ giữa xentimét vàmilimét, giữa đềximét và milimét
Ví dụ: 1cm = 10 mm 1dm = 100mm
Ngoài ra cũng cần cho học sinh tập đo bề dày của một số vật thểchẳng hạn một tấm ván ép, một tấm thép, một tấm gỗ…….và ghi lại kếtquả theo đơn vị milimét