1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng – một số vấn đề lí luận và thực tiễn

22 897 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng – một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại bài tập lớn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 166,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, mỗi ngành luật có vai trò khác nhau trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

Trang 1

MỞ BÀI

Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, mỗi ngành luật có vaitrò khác nhau trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Khi một chủthể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủthể được pháp luật bảo vệ, chủ thể gây thiệt hại có thể phải gánh chịu hậu quả pháp líbất lợi do hành vi của mình gây ra Dưới góc độ pháp luật dân sự, hậu quả pháp lí đó làtrách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại Tuynhiên không phải cá nhân nào cũng có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do gây thiệt hại ngoài hợp đồng Để làm rõ hơn vấn đề này, trong bài tập lớn học kì của

mình, em xin trình bày ý kiến của mình về đề tài: “Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng – một số vấn đề lí luận

và thực tiễn”.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đề cập rất sớm trong hệ thống pháp luậtcủa nước ta Tuy nhiên, chỉ đến khi bộ luật dân sự 1995 ra đời thì các quy định về tráchnhiệm bồi thường thiệt hại mới được quy định một cách chi tiết Tiếp đó, bộ luật dân sự

2005 hoàn thiện hơn nữa các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng

Điều 604, bộ luật dân sự 2005 quy định:

“1 Người nào có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Như vậy, theo quy định tại Điều 604, bộ luật dân sự 2005 thì trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi người có hành vi trái pháp luật có lỗi gâythiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ Ngoài ra, trong những trường hợp đặcbiệt nếu pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại kể cả khikhông có lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng phát sinh kể cả khi không có lỗi

Trang 2

của người gây thiệt hại Dưới góc độ khoa học pháp lí, trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong trường hợp này được gọi là trách nhiệm nâng cao.

Có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưsau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp líđược phát sinh dựa tren các điều kiện do pháp luật quy định khi một chủ thể có hành vigây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ

1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.2.1 Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là điều kiện quan trọng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại nóichung, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng bởi mục đích của trách nhiệm bồithường thiệt hại là nhằm bù đắp, khắc phục những tổn thất đã xảy ra cho người bị thiệthại, do đó nếu không có thiệt hại thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường

Khoản 1, Điều 307 bộ luật dân sự 2005 quy định:

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần”.

Như vậy, thiệt hại được xác định bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại vềtinh thần Việc xác định thiệt hại về vật chất tương đối cụ thể, rõ ràng nhưng xác địnhthiệt hại về tinh thần là vấn đề hết sức khó khăn

1.2.2 Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại

Quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác luônđược pháp luật bảo vệ và tất cả mọi người đều phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợppháp đó Khi một người có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới các quyền và lợi íchđược pháp luật bảo vệ thì người xâm phạm phải chịu hậu quả pháp lí bất lợi do hành vicủa mình gây ra

Hành vi trái pháp luật để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại để phát sinhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là những hành vi được pháp luật cấm, khôngcho phép thực hiện Cơ sở để xác định hành vi trái pháp luật là căn cứ vào các quy địnhcủa pháp luật trong từng trường hợp cụ thể

Hành vi gây thiệt hại có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hànhđộng Hành động gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếp của chủ thể vào đối tượnggây thiệt hại hoặc có thể là tác động gián tiếp của chủ thể vào đối tượng thông qua công

Trang 3

cụ, phương tiện gây thiệt hại Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành

vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động gây thiệthại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bắt buộcphải làm trong khi chủ thể có đầy đủ điều kiện để làm việc đó

1.2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Nguyên nhân được hiểu là sự tác động qua lại giữa các mặt trong một sự vật hiệntượng, hậu quả là làm biến đổi sự vật, hiện tượng đó hoặc là làm biến đổi sự vật, hiệntượng khác

Như vậy, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hành vi tráipháp luật được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu quả Về mặt nguyên tắc,hành vi trái pháp luật phải có trước và thiệt hại có sau Xác định mối quan hệ nhân quảtrong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì:

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi thiệt hại là hậu quả (có sau),hành vi trái pháp luật là nguyên nhân (có trước)

- Khi nhiều người gây thiệt hại cho một người hoặc khi người gây thiệt hại vàngười bị thiệt hại đều có lỗi thì xác định mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa trongviệc xác định mức bồi thường

Nếu không có hành vi gây thiệt hại thì không có hậu quả có nghĩa là thiệt hại đã

có sẵn cơ sở trong hành vi Một hành vi vi phạm nhất định trong một điều kiện xác địnhthì chỉ làm nảy sinh ra hậu quả này chứ không thể phát sinh hậu quả nào khác Thiệt hạixảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại, người có hành vi

vi phạm gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại xảy ra đúng là hậuquả tất yếu của hành vi trái pháp luật của họ

1.2.4 Có lỗi của người gây thiệt hại

Lỗi là trạng thái tâm lí của một người đối với hành vi của mình và hậu quả dohành vi đó mang lại Khoản 2, Điều 308, BLDS 2005 quy định:

“Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho tiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc

Trang 4

thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại , nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.

Khi xác định lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần lưuý:

- Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sing khi người gây thiệt hại

có lỗi, bất kể lỗi đó là lỗi vô ý hay lỗi cố ý;

- Việc xác định lỗi cố ý, vô ý trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng có ý nghĩa trong một số trường hợp: Để giảm nhẹ mức bồi thường (Khoản

2, Điều 605, BLDS 2005); Là điều kiện cần thiết để xác định trách nhiệm bồithường (Khoản 2, Điều 615, BLDS 2005);

- Trong một số trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khikhông có lỗi (Khoản 3, Điều 623, 624, BLDS 2005)

2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng.

2.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân từ dưới 15 tuổi và người bị mất năng lực hành vi dân sự gây ra.

2.1.1 Cha mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 thì đối với những thiệthại do hành vi trái pháp luật của người từ dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân

sự gây ra thì sẽ do cha mẹ của người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sảncủa cha mẹ Trong trường hợp này người gây ra thiệt hại trực tiếp và chủ thể có tráchnhiệm bồi thường là khác nhau Những người ở độ tuổi này không có năng lực hành vi

tố tụng dân sự Vì vậy, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người ở độ tuổi nàytại Tòa án phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Đối với những người đươi 15 tuổi, theo quy định tại Điều 19, Điều 20 của Bộluật dân sự 2005 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân thì điều kiện để một cá nhân

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là cá nhân đó phải thỏa mãn 2 yếu tố là độ tuổitrưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) và yếu tố nhận thức về trí lực Điều 20 Bộ luật dân sự

2005 quy định người dưới 15 tuổi chia thành 2 nhóm:

- Cá nhân chưa đủ 6 tuổi không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình,được coi là những người không có năng lực hành vi dân sự Họ không thể tự mình xáclập giao dịch dân sự vì họ chưa đủ lý trí để nhận biết những hành vi của mình và hậu

Trang 5

quả của những hành vi đó Mọi giao dịch của họ đều phải được người đại diện theopháp luật xác lập, thực hiện hoặc đồng ý Như vậy cá nhân không có năng lực hành vidân sự gây thiệt hại cho người khác thì cha mẹ là những người đại diện đương nhiêncủa họ với tư cách là bị đơn dân sự trước Tòa án.

- Cá nhân từ đủ 6 tuổi tới dưới 15 tuổi là những người có năng lực hành vi dân

sự một phần (không đầy đủ) Những người thuộc lứa tuổi này khả năng nhận thức của

họ đang dần hoàn thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, họ chỉ có thể xác lập, thực hiệnquyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nhưng trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sựquy định Đó là những giao dịch nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phùhợp với lứa tuổi Ngoài ra, những giao dịch khác khi họ xác lập, thực hiện phải đượcngười đại diện theo pháp luật đồng ý

Bộ luật dân sự 2005 khi quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất coitrọng trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc bồi thường thiệt hại do hành vi tráipháp luật của con từ dưới 15 tuổi gây ra Chính vì thế, cha mẹ của những người gâythiệt hại trong độ tuổi này có tư cách bị đơn dân sự, cha mẹ là những người đại diệnhợp pháp đương nhiên cho con, cha mẹ có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại dohành vi vi phạm pháp luật của con; còn chính cá nhân gây thiệt hại lại hoàn toàn không

có năng lực hành vi tố tụng dân sự trước tòa án Tuy nhiên luật cũng quy định thêmtrường hợp nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà người con dưới 15 tuổi

đó có tài sản riêng thì lấy tài sản của con người đó Trách nhiệm của cha mẹ là tráchnhiệm pháp lí, không cần điều kiện lỗi

Tương tự như người dưới 15 tuổi, những người bị mất năng lực hành vi dân sựtheo quy định của pháp luật mặc dù có thể là những người thành niên (lớn hơn hoặcbằng 18 tuổi) hoặc những người chưa thành niên, nhưng họ không thỏa mãn yếu tốnhận thức, trí lực cấu thành nên năng lực hành vi dân sự đầy đủ do họ bị tâm thần màcác bệnh khác mà bộ não phát triển không bình thường nên không thể nhận thức và làmchủ hành vi của mình Trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền vàtheo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Tòa án có thể tuyên bố một người làmất năng lực hành vi dân sự theo những trình tự và thủ tục luật định (Điều 22 bộ luậtdân sự) Mọi giao dịch dân sự của người này phải do người đại diện của họ xác lập,thực hiện hoặc đồng ý Vì vậy những người mất năng lực hành vi dân sự và người dưới

15 tuổi đều có một điểm chung đó là khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì họđều không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Những chủ thể này đều khôngthể hiểu được ý nghĩa, hậu quả của hành vi dân sự mà họ đã thực hiện mặc dù hành vi

đó là trái pháp luật và gây thiệt hại cho người khác Cho nên khi họ gây thiệt hại thì chamej họ đều là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại

Trang 6

2.1.2 Người giám hộ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Khoản 3 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.

Khoản 1 Điều 58 bộ luật dân sự 2005: “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người được giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ichs hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)” Việc

quy định chế định giám hộ là hình thức bảo vệ pháp luật cho người chưa thành niên,người bị mất năng lực hành vi dân sự Người được giám hộ theo quy định tại khoản 2

Điều 58 bao gồm: “a, Người chưa thành niên không còn cha mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha mẹ có yêu cầu; b, Người mất năng lực hành vi dân sự”.

Địa vị pháp lí của người giám hộ hoàn toàn khác so với địa vị pháp lí của người

là cha, mẹ của người chưa thàh niên khác Người giám hộ thực hiện các quyền và nghĩa

vụ theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đượcgiám hộ, do đó họ cũng phải gánh chịu trách nhiệm pháp lí trong khi thực hiện việcgiám hộ của mình, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho hành vi trái phápluật của người được giám hộ trước tòa

a, Trách nhiệm bồi thường thiệt do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ làngười dưới 15 tuổi gây ra

Trong trường hợp con dưới 15 tuổi gây thiệt hại cho người khác thì trách nhiệmbồi thường thiệt hại thuộc viên trước tiên là cha mẹ Trong trường hợp cha mẹ đềukhông có hoặc cha mẹ còn sống nhưng không đủ điều kiện làm giám hộ cho con thìtrách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định trước tiên là trách nhiệm của anh cả, chị

cả đã thành niên, có đủ điều kiện làm người giám hộ; nếu anh cả, chị cả không có đủđiều kiện làm người giám hộ thì người tiếp theo đã thành niên có đủ điều kiện phải làngười giám hộ, trong trường hợp không có anh chị em ruột hoặc có anh chị em ruộtnhưng đều không đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà

Trang 7

ngoại có đủ điều kiện phải là người giám hộ (Điều 62 bộ luật dân sự 2005) Vậy theokhoản 3 Điều 606 bộ luật dân sự 2005 thì anh cả hoặc chị cả hoặc ông, bà nội; ông, bàngoại là người giám hộ thì họ được quyền dùng tài sản riêng của người đươc giám hộ

để bồi thường thiệt hại Trong trường hợp người được giám hộ gây thiệt hại mà không

có tài sản riêng hoặc không đủ tài sản riêng để bồi thường thì người giám hộ phải bồithường bằng tài sản riêng của mình nếu người giám hộ có lỗi trong việc giám hộ dẫnđến hành vi gây thiệt hại của người được giám hộ Khi đó, nếu người giám hộ chứngminh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì họ cũng không phải lấy tài sản củamình để bồi thường khi người được giám hộ gây thiệt hại

b, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ làngười mất năng lực hanh vi dân sự

Người mất năng lực hành vi dấn sự đang do cha mẹ chăm sóc, quản lí, giáo dục

mà gây thiệt hại thì cha, mẹ phải bồi thường bằng tài sản của mình Trong trường hợp

họ được giám hộ theo quy định tại Điều 62 bộ luật dân sự 2005 thì trách nhiệm bồithường thiệt hại được xác định như sau:

- Người mất năng lực hành vi dân sự dã có vợ hoặc chồng thì người vợ hoặcchồng có đủ điều kiện là người giám hộ có quyền lấy tài sản riêng của người mất nănglực hành vi dân sự để bồi thường Nếu tài sản riêng của người được giám hộ không đủthì lấy tài sản chung của vợ chồng để bồi thường, sau đó mới lấy tài sản riêng của người

vợ hoặc chồng để bồi thường phần còn thiếu nếu có lỗi trong việc quản lí người đượcgiám hộ

- Người được giám hộ là cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc mộtngười mất năng lực hành vi dân sự còn người kia không đủ điều kiện làm người giám

hộ thì người con cả đã thành niên có đủ điều kiện phải làm người giám hộ Nếu ngườicon cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo đã thành niên

có đủ điều kiện phải là người giám hộ trong trường hợp này, người giám hộ được lấytài sản của cha, mẹ để bồi thường cho người bị thiệt hại Nếu tài sản của cha, mẹ không

đủ thì người giám hộ phải lấy tài sản riêng của mình để bồi thường phần còn thiếu nếu

có lỗi trong việc quản lí người được giám hộ

- Người đã thành niên bị mất năng lực hành vi dân sự có vợ/ chồng, con nhưngvợ/chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ Trong trường hợp nhưvậy, cha mẹ có quyền lấy tài sản riêng của người được giám hộ để bồi thường, chỉ khitài sản riêng của người được giám hộ và tài sản chung của vợ chồng không đủ thì cha,

mẹ mới phải bồi thường bằng tài sản riêng của mình nếu có lỗi trong việc quản lí ngườigiám hộ

Trang 8

2.1.3 Trường học, bệnh viện, các tổ chức khác có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Khi người dưới 15 tuổi đang trong thời gian chịu sự quản lí của trường học,người mất năng lực hành vi dân sự đang chịu sự quản lí của bệnh viện, cơ sở chữa bệnhkhác thì trường học, bệnh viện cũng như các tổ chức này phải có trách nhiệm quản lí,theo dõi những người mà mình quản lí Xuất phát từ sự nhận thức còn hạn chế (ngườidưới 15 tuổi) hoặc không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (người mấtnăng lực hành vi dân sự), do đó Điều 621, BLDS quy định:

“1 Người dưới 15 tuổi trong thời gian học ở trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

2 Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lí thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra”.

Quy định trên đây của bộ luật dân sự sửa đổi năm 2005 có sự khác biệt cơ bản sovới quy định tại Điều 625, Bộ luật dân sự năm 1995: Chủ thể mới phải là người bồithường thiệt hại trong trường hợp người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người mất nănglực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trựctiếp quản lí thì bộ luật dân sự 1995 xác định trường học, bệnh viện, các tổ chức khácnếu có lỗi trong việc quản lí thì phải liên đới cùng cha mẹ, người giám hộ bồi thườngthiệt hại; còn bộ luật dân sự 2005 sửa đổi năm 2005 thì quy định chủ thể bồi thườngthiệt hại là trường học, bệnh viện, tổ chức quản lí người gây thiệt hại Quy định của bộluật dân sự sửa đổi năm 2005 nhằm buộc trường học, bệnh viện, tổ chức xã hội phảităng cường công tác quản lí người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người bị mất năng lựchành vi dân sự

Tuy nhiên, không phải bao giờ trường học, bệnh viện, tổ chức xã hội khác đangquản lí người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự có lỗitrong việc quản lí khi những người này gây thiệt hại Do đó, pháp luật quy định: trườnghọc, bệnh viện, tổ chức xã hội khác khi thực hiện nhiệm vụ quản lí người chưa thành

niên dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự để họ gây thiệt hại và “nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lí thì cha, mẹ, người giám hộ của người giám hộ của người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường” Quy định này cho thấy mặc nhiên nếu người chưa

thành niên dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà nhữngngười này đang chịu sự quản lí của trường học, bệnh viện, tổ chức xã hội thì các tổchức này phải bồi thường và việc chứng minh không có lỗi để làm cơ sở cho việc giải

Trang 9

thoát trách nhiệm bồi thường thuộc về chính tổ chức đó Nếu các tổ chức này chứngminh được mình không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cha mẹ,người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệthại đó Tuy nhiên, việc chứng minh không có lỗi để giải thoát khỏi trách nhiệm bồithường thiệt hại thuộc về chủ thể nào là một vấn đề rất phức tạp và khó khăn trong việcxét xử của các cấp Tòa án:

- Đối với những trường hợp người dưới 15 tuổi có hành vi pháp luật gây thiệt hạingoài giờ học tại trường hoặc đang trong thời gian từ trường về nhà, từ nhà tới trườngthì chưa thuộc nghĩa vụ quản lí của nhà trường Trong khoảng thời gian trước hoặc saubuổi học ở trường mà họ gây thiệt hại thì sẽ là căn cứ nhà trường chứng minh không cólỗi trong việc quản lí và trách nhiệm bồi thường thiệt hại không thuộc về nhà trường màthuộc về phía cha mẹ của người gây ra thiệt hại

- Đối với người mất năng lực hành vi dân sự đang được bệnh viện, tổ chức khác

có nghĩa vụ quản lí mà theo yêu cầu của những người thân thích, bệnh viện hay tổ chức

có trách nhiệm trực tiếp quản lí đã đồng ý cho người mất năng lực hành vi dân sự vềthăm gia đình Trong khoảng thời gian đó, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệthại cho người khác thì bệnh viện, tổ chức quản lí được loại trừ trách nhiệm bồi thườnghoặc trong những trường hợp không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành

vi dân sự theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ich liên quan(bố, mẹ, vợ chồng, các con của người đó), Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết địnhtuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự mà ngay tại thời điểm đó, người này đãtrực tiếp gây thiệt hại cho người khác thì họ có trách nhiệm phải bồi thường bằng tàisản của mình

2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân từ đủ 15 tuổi tới dưới 18 tuổi gây ra.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 606 Bộ luật Dân sự 2005, cá nhân từ đủ 15 tuổitới dưới 18 tuổi gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm tự bồi thường thiệt hại bằng tài sảnriêng của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phầncòn thiếu bằng tài sản của họ Sở dĩ Điều 606 quy định như vậy cũng là phù hợp vớitinh thần Điều 20 Bộ luật Dân sự 2005 Luật quy định cá nhân từ đủ 15 tuổi tới dưới 18tuổi, có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ nhưng khả năng nhận thức của họ đãphát triển cho nên ngoài các giao dịch dân sự nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằngngày, họ còn có thể tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự nếu có tài sảnriêng đủ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi tài sản riêng đó

Trang 10

Tuy nhiên nếu người đó có những tài sản có giá trị lớn và đặc biệt như nhà ở,quyền sử dụng đất thì sự định đoạt các tài sản này vẫn còn có những người đại diệntheo pháp luật của họ đồng ý Tại Điều 606 Bộ luật dân sự 2005 quy định độ tuổi là đủ

15 tuổi trở lên nếu có hành vi gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hạicho người đó là căn cứ vào điều kiện thực tế xã hội Bởi vì những người trong độ tuổinày nhận thức của họ tương đối trưởng thành và đã có khả năng lao động tao ra thunhập Theo quy định của bộ luật lao động Việt Nam được sửa đổi bổ sung năm 2006 thì

họ đã có quyền tham gia vào các quan hệ lao động và có tư cách tố tụng đối với nhữngtranh chấp liên quan đến quan hệ lao động đó Độ tuổi này cũng phù hợp và thống nhất

với một số quy định của các ngành luật khác, chẳng hạn như khoản 1 Điều 45: “Con từ

đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lí tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lí” hay khoản 2 Điều 46: “Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ” Như vậy con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể có tài sản và thu nhập riêng, phần nào ý thức được nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia, đóng góp vào đời sống gia đình, được quyền định đoạt tài sản của riêng mình” Khoản 2 Điều 109 Bộ luật dân

sự 2005 cũng quy định: “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 18 tuổi trở lên đồng ý” Rõ ràng

người ở độ tuổi này đã nhận thức được hành vi của mình và phần nào cũng tự định đoạt

ý chí khi tham gia vào các quan hệ dân sự phổ biến trong cuộc sống Hơn nữa, theo quyđịnh của bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004 thì người từ đủ 15 tuổi đã có nănglực hành vi tố tụng dân sự nên họ có thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân

sự, tham gia với tư cách nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trước tòa án

Tuy nhiên khi giải quyết tranh chấp liên quan đến những người ở độ tuổi nàytrong trường hợp họ là bị đơn dân sự, thì tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợppháp của những người đó tham gia tố tụng Xét về tư cách chủ thể trong quan hệ phápluật dân sự, thì cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có một phần năng lực hành vidân sự nên họ có khả năng chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật Phápluật đã căn cư vào những cơ sở này để quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cánhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sảncủa mình Theo đoạn 2 khoản 2 điều 606 Bộ luật dân sự 2005 thì người từ đủ 15 tuổiđến dưới 18 tuổi gây thiệt hại là chủ thể có trách nhiệm bồi thường nên họ có tư cách là

bị đơn dân sự còn cha mẹ chỉ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Mục 1, phần3.1 Nghị quyết 03 của HĐTP TAND tối cao ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một

số quy định của bộ luậ dân sự 2005 vừa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)

Trang 11

Tuy nhiên, luật cũng quy định thêm trách nhiệm bồi thường bằng tài sản của cha

mẹ thay cho con gây thiệt hại trong trường hợp con không có tài sản hoặc không đủ tàisản để bồi thường Nghĩa vụ này của cha mẹ được hiểu là nghĩa vụ bổ sung Cụ thểnghĩa vụ dân sự bổ sung như thế nào được thực hiện rõ trong quy định tại khoản 2 Điều

606 bộ luật dân sự:

“Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ quy định tại điều 621 của Bộ luật này.

Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”

Vì luật quy định người chưa thành niên được có quyền giám hộ đương nhiên haygiám hộ cử nên người từ đủ 15 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi cũng có thể có người giám

hộ nếu thuộc những trường hợp theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 58 Bộ luật dân

sự 2005 Nó khác với người mất năng lực hành vi dân sự và người từ dưới 15 tuổi theoquy định taị khoản 3 Điều 58 là bắt buộc do họ đã có khả năng lao động tạo ra thu nhập

và thái độ nhận thức của họ đã tương đối hoàn thiện hơn Nếu trong trường hợp họ cóngười giám hộ theo quy định tại khoản 3 Điếu 606 bộ luật dân sự 2005, khi người đượcgiám hộ gây thiệt hại thì người giám hộ thì người giám hộ được quyền lấy tài sản củangười được giám hộ để bồi thường thiệt hại Trong trường hợp người được giám hộkhông có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ có trách nhiệmbồi thường thiệt hại Trong trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặckhông đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ có trách nhiệm bồi thường thiệt hạinếu có lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình mà để người giám hộ gây thiệt hạicho người khác

2.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Theo các quy định từ Điều 17 đến Điều 21 bộ luật dân sự 2005, mức độ năng lựchành vi dân sự của cá nhân gồm hai loại là người thành niên, người chưa thành niên và

năng lực hành vi của họ được quy định rất cụ thể: “người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” Pháp luật quy định người

thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị bệnh tâm thần, không bị mắc cácbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, họ là người có đầy

Ngày đăng: 06/04/2013, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w