Các bài viết nêu trên mới xem xét vấn đề chế độ, chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam một cách tản mạn, nhỏ lẻ về một hoặc vài khía cạnh nhỏ trong các khâu của quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật liên quan đến người khuyết tật nói chung và nạn nhân nhiễm chất độc da cam nói riêng. Nhìn chung,, các nghiên cứu đã chỉ ra được những tác hại khủng khiếp của chất độc da camdioxin đối với môi trường và sức khỏe con người, đề xuất những giải pháp từng bước khắc phục các tồn lưu dioxin trong môi trường, ứng dụng biện pháp mới trong điều trị cho nạn nhân nhiễm chất độc da camdioxin. Song, các nghiên cứu về vấn đề bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da camdioxin dưới góc độ pháp lý thì chưa có nhiều. Mới chỉ có các nghiên cứu liên quan đến chính sách nói chung đối với nạn nhân chất độc da camdioxin hoặc với người có công; các nghiên cứu về pháp luật bảo trợ xã hội nói chung hoặc pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nói chung. Các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật bảo trợ xã hội đã nêu và phân tích khái niệm bảo trợ xã hội, những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về bảo trợ xã hội; đánh giá những ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, các công trình đó mới chỉ xem xét về bảo trợ xã hội trong phạm vi đối tượng là người khuyết tật nói chung, không xem xét đối tượng cụ thể là nạn nhân bị nhiễm chất độc da camdioxin. Hiện chưa có nghiên cứu về pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da camdioxin tại Việt Nam.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Trung Tín
HÀ NỘI, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đãđược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Thị Phương Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lựccủa bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoahọc, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan, đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học,PGS TS Nguyễn Trung Tín đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhhoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo KhoaLuật, Học Viện Khoa học Xã hội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoànthành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồngnghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đềtài này
Tác giả luận văn
Trần Thị Phương Anh
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin 19
1.3 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam dioxin 21
Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN 25
2.1 Khái lược quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin 25
2.2 Thực trạng pháp luật về các đối tượng là nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam hiện nay 31
2.3 Đánh giá chung về pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra 40
Kết luận chương 2 45
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO TRỞ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN 46
3.1 Quan điểm và yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với người bị nhiễm Chất độc da cam/dioxin 46
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân Chất độc da cam/dioxin 53
Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Chất độc da cam/dioxin” – cụm từ mang tính hoá học đơn thuần này đã vàđang gây đau khổ cho biết bao thế hệ người Việt Nam Mặc dù chiến tranh đã lùi xagần 40 năm nhưng hậu quả của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranhvẫn còn rất nặng nề đối với môi trường và sức khỏe con người Những mảnh đất,nguồn nước bị nhiễm chất độc dioxin vẫn từng ngày từng giờ ảnh hưởng tới sứckhoẻ và môi truờng sống của nhân dân, đồng bào ta Hậu quả của hơn 80 triệu líthoá học (khoảng ½ là chất da cam) chứa gần 400 kg dioxin – một chất cực kỳ nguyhiểm mà Mỹ đã rải xuống Việt Nam từ Quảng Bình tới mũi Cà Mau làm cho hơn 30triệu người Việt Nam “họ sống đó, nhưng cuộc sống của họ ví như địa ngục trầngian” (theo Thông tấn xã Việt Nam /Vì nỗi đau da cam)
Theo báo cáo của Văn phòng Ban Chỉ đạo 33, có trên 3 triệu nạn nhân bịnhiễm chất độc hóa học trực tiếp, trong đó có 1 triệu cán bộ và chiến sĩ phục vụ ởchiến trường, gây ảnh hưởng đến cả thế hệ thứ hai, thế hệ thứ ba Số liệu của Uỷban 10 – 80 trước đây ước tính trẻ em bị dị tật do nguyên nhân chất độc da cam
chiếm khoảng 1% dân số”[6, tr.15]
Trong tổng số 15.900.980 hộ dân trong cả nước, có 189.293 hộ có người bị hậuquả chất độc hóa học (chiếm khoảng 1,2%), trong đó có 34.908 hộ là cả vợ và chồngđều bị hậu quả trực tiếp chất hóa học Tổng số người bị hậu quả chất độc hóa học trong
cả nước là 447.845 người, trong đó 63.315 người đã chết (tỷ lệ 14,14%) [37]
Để từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, Đảng và Nhà nước Việt Nam
đã có nhiều chủ trương, chính sách về xử lý các khu vực còn tồn lưu lượng dioxincao, ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định các chế độ bảo trợ xã hội cho nạnnhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Việt Nam đã thành lập Ủy ban 10-80 để điềutra về những hậu quả của chiến tranh hóa học và lập Ban Chỉ đạo 33 để khắc phụchậu quả của cuộc chiến tranh Nhà nước ta đã ban hành một số chính sách trợ cấp
ưu đãi cho các nạn nhân chất độc da cam là bộ đội, thanh niên xung phong từ chiến
Trang 7trường trở về và con đẻ của họ; có chính sách trợ cấp xã hội cho các nạn nhân là dânthường bị nhiễm chất độc da cam trong chiến tranh tùy thuộc mức độ nhiễm và sứckhỏe còn lại của họ nhằm giảm bớt phần nào sự vất vả trong cuộc sống hằng ngàycủa họ Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam thuộc Hội Chữ thập đỏ Việt Namcũng được thành lập với mục đích huy động sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước dành cho các nạn nhân chất độc da cam Hội Nạn nhân chấtđộc da cam/dioxin Việt Nam cũng được thành lập, có chức năng bảo vệ quyền lợicho các nạn nhân chất độc da cam và là đại diện pháp lý cho các nạn nhân chất độc
da cam Việt Nam quan hệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Nhà nướcViệt Nam cũng đã quyết định ngày 10/8 hàng năm là ngày vì nạn nhân chất độc dacam Ðến nay đã có hơn 425.000 nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin được cảithiện đời sống, sức khỏe, vật chất và tinh thần
Tuy nhiên, các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin còn gặp rất nhiều khókhăn, vất vả khi làm các thủ tục để được hưởng chế độ trợ cấp, phụ cấp, ưu đãi theoquy định của Nhà nước Vẫn còn nhiều nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxinchưa được hưởng chế độ trợ cấp, phụ cấp, ưu đãi của Nhà nước Đó là do, nội dungvăn bản pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam/dioxin cònnhiều bất cập, còn chưa thật cụ thể, khoa học nên việc áp dụng, thực thi trên thực tếgặp khá nhiều vướng mắc, áp dụng tràn lan hoặc giải quyết tùy tiện, mỗi địa phương
áp dụng theo cách riêng của mình Pháp lệnh quy định không cụ thể, Nghị định cóquy định chi tiết hướng dẫn thi hành nhưng Thông tư quy định cụ thể lại không phùhợp với Nghị định và Pháp lệnh
Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chấtđộc da cam/dioxin tại Việt Nam nhằm chỉ ra những bất cập trong nội dung của vănbản pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết
Là một cán bộ đang công tác tại Văn phòng Ban Chỉ đạo 33 (Văn phòng BanChỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiếntranh ở Việt Nam) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, tôi mạnh dạn lựa chọn đề
Trang 8tài: “Pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin tại
Việt Nam” để nghiên cứu trong phạm vi luận văn thạc sỹ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề liên quan đến chất độc da cam/dioxin đã được nghiên cứu dưới nhiềugóc độ Có thể liệt kê một số nghiên cứu tiêu biểu như:
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chính
sách đối với nạn nhân chất độc da cam/dioxin; đề xuất phương hướng và giải pháp chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện”, mã số KHCN-33.9/11-15 do PGS.TS Nguyễn Thế
Lực làm chủ nhiệm;
Công trình này đã xây dựng được khung lý thuyết về xác định đối tượng bịnhiễm chất độc da cam/dioxin; nêu được thực trạng đối tượng bị nhiễm chất độchóa học/đioxin; nêu và phân tích thực trạng chính sách đối với người bị nhiễm độchóa học/đioxin và khuyến nghị hoàn thiện các chính sách đối với nạn nhân chất độc
da cam/dioxin Tuy nhiên, công trình này không xem xét vấn đề dưới góc độ bảotrợ xã hội và pháp luật bảo trợ xã hội mà chủ yếu xem xét dưới góc độ người cócông với cách mạng và những bất cập trong thực tiễn thi hành chính sách với người
có công với cách mạng
- Phan Anh (2014), Tạo thuận lợi hơn cho người bị nhiễm chất độc hóa học,
nguoi-bi-nhiem-chat-doc-hoa-hoc/330505.html
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/kinh-te-xa-hoi/tao-thuan-loi-hon-cho Mỹ Bình (2014), Cần hoàn thiện chính sách đối với nạn nhân chất độc da
cam,
http://tuyengiao.vn/Home/diendan/66835/Can-hoan-thien-chinh-sach-doi-voi-nan-nhan-chat-doc-da-cam
- Bộ Tài nguyên Môi trường (2009), Kế hoạch hành động quốc gia khắc
phục hậu quả chất độc hoá học, Hà Nội
- Bộ Tài nguyên Môi trường (2013), Sổ tay truyền thông về dioxin và dự
phòng phơi nhiễm dioxin, Hà Nội
Trang 9- Bộ Tài nguyên Môi trường (2013), 50 câu hỏi và đáp về chất da
cam/dioxin, Hà Nội
- Xuân Cường (2014), Gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách cho nạn
nhân da cam,
http://baotintuc.vn/xa-hoi/go-vuong-mac-trong-thuc-hien-chinh-sach-cho-nan-nhan-da-cam-20140821235407843.htm
- Hậu quả tâm lý ở những nạn nhân bị nhiễm chất độc hoá học trong chiến
tranh ở Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2010
- Minh Quân (2015), Chế độ, chính sách cho nạn nhân chất độc da cam:
vướng ở thủ tục, http://baonghean.vn/in/
- Đào Mộng Điệp (2012), Pháp luật bảo trợ xã hội và hướng hoàn thiện, Tạp
chí Luật học, số 11, tr 3 - 11
- Nguyễn Văn Hồi (2011), Một số định hướng chính sách bảo trợ xã hội giai
đoạn 2011-2015, Tạp chí Lao động và Xã hội Bộ lao động - Thương binh và Xã
hội, Số 9, tr 27 – 29
- Nguyễn Hiền Phương (2013), Pháp luật bảo trợ xã hội đối với người
khuyết tật tại Việt Nam - Thực tiễn và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, Số Đặc
san pháp luật người khuyết tật, tr 84 – 93
- Đặng Thị Dung (2012), Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết
tật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp
- Nguyễn Đức Hoàng (2013), Chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sỹ luật học
- Lê Thơm (2014), Bất cập trong thực hiện chính sách với nạn nhân da cam,
346011.vov
http://vov.vn/xa-hoi/bat-cap-trong-thuc-hien-chinh-sach-voi-nan-nhan-da-cam Quang Vinh (2014), Cần hoàn thiện chính sách đối với nạn nhân chất độc
da cam/di-ô-xin, http://cuuchienbinh.com.vn/mobile/mdetail.aspx?id=16783
Các bài viết nêu trên mới xem xét vấn đề chế độ, chính sách đối với nạnnhân chất độc da cam một cách tản mạn, nhỏ lẻ về một hoặc vài khía cạnh nhỏ trong
Trang 10các khâu của quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật liên quan đến người khuyếttật nói chung và nạn nhân nhiễm chất độc da cam nói riêng Nhìn chung,, cácnghiên cứu đã chỉ ra được những tác hại khủng khiếp của chất độc da cam/dioxinđối với môi trường và sức khỏe con người, đề xuất những giải pháp từng bước khắcphục các tồn lưu dioxin trong môi trường, ứng dụng biện pháp mới trong điều trịcho nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Song, các nghiên cứu về vấn đề bảotrợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin dưới góc độ pháp lý thìchưa có nhiều Mới chỉ có các nghiên cứu liên quan đến chính sách nói chung đốivới nạn nhân chất độc da cam/dioxin hoặc với người có công; các nghiên cứu vềpháp luật bảo trợ xã hội nói chung hoặc pháp luật bảo trợ xã hội đối với ngườikhuyết tật nói chung.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật bảo trợ xã hội đã nêu vàphân tích khái niệm bảo trợ xã hội, những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam
về bảo trợ xã hội; đánh giá những ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luậthiện hành về bảo trợ xã hội Tuy nhiên, các công trình đó mới chỉ xem xét về bảotrợ xã hội trong phạm vi đối tượng là người khuyết tật nói chung, không xem xétđối tượng cụ thể là nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin
Hiện chưa có nghiên cứu về pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân
nhiễm chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về pháp luật bảotrợ xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam Để thực hiệnmục đích này, tác giả đặt ra các nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo trợ xã hội đối vớingười bị nhiễm chất độc da cam/dioxin;
+ Đánh giá thực trạng thực thi các quy định pháp luật này trên thực tế ở Việt Nam;+ Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện phápluật bảo trợ xã hội đối với người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin
Trang 11* Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về bảo trợ xã hội đối với người bị nhiễm
chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các vấn đề về mặt pháp luật bảo
trợ xã hội đối với người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam trong khoảngthời gian từ năm 2000 (khi có chính sách riêng cho người người hoạt động khángchiến bị nhiễm chất độc hóa học) đến năm 2014
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật,trong đó có lý luận về phương pháp hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội nóichung và phương pháp hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với người bị nhiễmchất độc da cam/dioxin nói riêng
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của
Triết học Mác – Lê Nin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử
và logic, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợpthống kê, so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện các quy định phápluật về bảo trợ xã hội đối với người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập của pháp luật về bảo trợ
xã hội đối với người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin và luận văn đề ra các giảipháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạnnhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sởthực tiễn cho những người trực tiếp thực hiện các quy định pháp luật bảo trợ xã hộiđối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Luận văn có thể sử dụng làm tàiliệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại họcchuyên luật, cho những người đang công tác tại các Hội chất độc da cam/dioxin ởViệt Nam và cả những người là nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Trang 127 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật bảo trợ xã hội đối vớinạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chấtđộc da cam/dioxin
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luậtbảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NẠN NHÂN NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm chất độc da cam/dioxin
Chất độc da cam là tên một loại chất diệt cỏ do quân đội Mỹ sử dụng trong
chiến tranh ở Việt Nam Để dễ nhận biết và phân biệt các loại chất diệt cỏ, quân đội
Mỹ dùng sơn với màu sắc khác nhau sơn thành những vạch màu trên các phươngtiện chứa các chất độc này Thùng phi chứa hỗn hợp 2,4-D và 2,4,5-T được sơnvạch màu da cam, nên có tên gọi là chất da cam [7] Ngoài loại chất được sơn màu
da cam, còn có các loại thùng phi được sơn màu xanh, màu trắng và tên gọi các chấtđộc đó được gọi tương ứng là chất xanh, chất trắng…
Chất độc được dùng vạch sơn màu da cam để phân biệt là hỗn hợp 2,4-D và2,4,5-T Đó là một chất lỏng màu nâu hay màu nâu đỏ, không tan trong nước, tantrong dầu diezen và các dung môi hữu cơ Thành phần hỗn hợp gồm 50% các dẫnxuất của 2,4-D và 50% các dẫn xuất của 2,4,5-T
Theo tài liệu tập huấn giảng viên dự phòng phơi nhiễm dioxin - Trường Đại
học Y tế công cộng, tác giả GS.TS Lê Vũ Anh, “Dioxin là một từ chung để gọi một
nhóm gồm 75 hoá chất khác nhau, chủ yếu do con người tạo ta, rất khó phân huỷ và
do đó chúng tồn tại trong môi trường trong một thời gian dài” [7] Dioxin có trongchất da cam và một số chất diệt cỏ khác được quân đội Mỹ sử dụng trong chiếntranh tại Việt Nam Trong các loại dioxin mà quân đội Mỹ đã sử dụng, chất da camchiếm tỷ lệ cao nhất Theo số liệu thống kê, các chất diệt cỏ được quân đội Mỹ sửdụng ở miền Nam giai đoạn 1961-1972 là 74.175.920 lít gồm: 43.332.640 lít chất dacam, 21.798.400 lít chất trắng, 6.100.640 lít chất xanh mạ, 2.580.240 lít chất tím,273.520 lít chất hồng và 75.920 chất xanh lá cây [52]
Chính vì chất da cam là loại chất độc nhất trong các loại dioxin và được quânđội Mỹ sử dụng nhiều nhất trong chiến tranh Việt Nam nên mặc dù chất da cam và
Trang 14dioxin là hai loại chất hoàn toàn khác nhau nhưng người ta vẫn thường dùng thuậtngữ chất độc da cam/dioxin để chỉ chung loại chất độc hóa học chủ yếu được quânđội Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam.
Theo tài liệu Sổ tay truyền thông về dioxin và dự phòng phơi nhiễm dioxincủa Văn phòng Ban chỉ đạo 33 Bộ Tài nguyên và Môi trường, “Dioxin là từ dùngchung để gọi một nhóm chất gồm 75 chất policlodibenzo-para-dioxin và 135 chấtcủa policlodibenzofuran Các chất này có cấu trúc, đặc tính lý, hóa học, tính độctương tự nhau” [7, tr.5] Dioxin có cấu trúc cơ bản gồm:
- Hai vòng benzen nối với nhau bởi 2 nguyên tử oxy ở vị trí para của cácnguyên tử các bon
- Có 4 nguyên tử chlor gắn với các nguyên tử cácbon ở các vị trí 2,3,7,8
- Tên hoá học là 2,3,7,8- Tetracholorodibenzo, para dioxin- được gọi làDioxin
Sơ đồ cấu trúc hoá học của dioxin:
Có 75 hợp chất có tác dụng giống như Dioxin (Dioxin -like) được gọi chung
là các Dioxin đa chlor hoá Những hợp chất này đều thuộc loại chất độc và đượcchia thành 8 nhóm dựa vào số lượng nguyên tử chlor trong phân tử dibenzo – P-Dioxin (có thể có từ 1 đến 8 nguyên tử chlor) 75 nhóm đồng phân chúng giốngnhau về cấu trúc với cấu trúc cơ bản là phân tử dibenzo para – Dioxin; ít tan trongnước, ít bay hơi và đều là các chất độc hoá học với mức độ độc khác nhau Chất cóđộc tính cao nhất là 2,3,7,8, - TCDD và chất này chiếm một tỷ lệ lớn trong tổnglượng Dioxin trong môi trường tại các điểm nóng Dioxin của Việt Nam sau đó làpenta chlorodibenzo –p- Dioxin 1,2,3,7,8 PeCDD [46]
Trang 15Về đặc điểm, các chất thuộc nhóm Dioxin có nhiều tính chất giống nhau như
ít hoà tan trong nước nhưng hoà tan rất tốt trong dầu mỡ (ví dụ mỡ lợn, mỡ gà, mỡ
cá, trứng, sữa ) và các dung môi hữu cơ [8]
Ví dụ: 1 nghiên cứu ở thành phố Biên Hoà cho thấy nồng độ Dioxin củamẫu thịt cá quả là 66pg/g trong khi đó trong mỡ cá quả là 15.349pg/g (Schecter vàcộng sự 2003), cao gấp nồng độ trong thịt cá khoảng 230 lần (ghi chú 1pg =1 phầnnghìn tỷ g; 1000g= 1 kg) Dioxin bám rất chắc vào các chất hữu cơ có trong đất,nước và không dễ bay hơi Dioxin không phản ứng với oxy, nước và hầu như không
bị phân huỷ bởi vi khuẩn nên chúng tồn tại trong môi trường trong một thời gian rấtdài Dưới một số điều kiện, Dioxin có thể bị phân huỷ bởi ánh nắng mặt trời; tuynhiên, quy trình này diễn ra với tốc độ rất chậm [52] Do đó, mặc dù hoạt độngphun rải chất da cảm và các chất diệt cỏ khác đã kết thúc cách đây gần 40 nămnhưng nồng độ Dioxin tại một số vùng ở Việt Nam, đặc biệt là tại một số sân bay vàkhu căn cứ quân sự cũ của Mỹ hiện vẫn cao
Ở nhiệt độ từ 800oC, Dioxin tinh khiết sẽ bị phân huỷ gần như hoàn toàn.Tuy nhiên, đối với Dioxin tồn tại trong các hạt bụi thì có thể tồn tại ở nhiệt độ caotới 1.150oC [52] Như vậy, để xử lý được Dioxin trong đất thì cần phải xử lý bằngcác lò đốt ở nhiệt độ cao và thường là rất kém Ví dụ, ước tính chi phí để xử lý bằngnhiệt cho khoảng 93.320 tấn đất nhiễm Dioxin ở Sân bay Biên Hoà là vào khoảng
35 triệu đô la Mỹ, tương đương khoảng 650 tỷ đồng” [7]
Các nghiên cứu khoa học cho thấy khi được thải vào môi trường, Dioxin cóthể tồn tạị trong môi trường đất, nước, không khí và thức ăn Tuy nhiên, theo mộtnghiên cứu điều tra kiến thức, thái độ, thực hành của 400 người dân sống tạiphường Trung Dũng và Tân Phong của thành phố Biên Hoà do Hội Y tế công cộngViệt Nam tiến hành năm 2006 cho thấy mặc dù sống trên một trong những điểmnóng Dioxin nhưng chỉ có 2% số người được hỏi, biết Dioxin có thể tồn tại trong cảbốn môi trường thành phần này [52] Một nghiên cứu khác cũng do Hội y tế côngcộng Việt Nam triển khai năm 2009 tại 4 phường gần Sân bay Đà Nẵng là An Khê,Hoà Khê, Thanh Khê và Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cũng
Trang 16cho thấy người dân có kiến thức rất hạn chế về vấn đề này Nhìn chung có sự khácbiệt về nhận thức của người dân ở bốn phường điều tra và phần lớn người dân chorằng Dioxin tồn tại trong nước 76% và trong đất 54,9%, trong khi đó chỉ có 15,9%
số người được hỏi biết Dioxin có thể tồn tại trong thực phẩm và chỉ có một người ởphường An Khê biết Dioxin có thể tồn tại trong cả đất, nước, không khí và thựcphẩm [52]
* Dioxin trong không khí
Trong không khí, Dioxin thường bám vào các hạt lơ lửng, ví dụ tro bụi từ các
lò đốt rác thải, do đó được bảo vệ khỏi quá trình phân huỷ do tia nắng mặt trời vàphát tán rộng rãi [8] Cuối cùng, Dioxin cùng các hạt lắng xuống mặt đất
* Dioxin trong nước
“Dioxin có thể được thải trực tiếp vào môi trường nước từ các nguồn phátthải hoặc do xói mòn đất Do tính chất của Dioxin là không hoà tan trong nước vàtan tốt trong chất béo (dầu, mỡ) và các dung môi hữu cơ, một khi được thải vào môitrường nước, Dioxin thường tích tụ lại trong cơ thể sinh vật thủy sinh và với nồng
độ ngày càng tăng lên trong chuỗi thức ăn từ sinh vật phù du, tới cá, tôm, ngao, sò,
Trang 17ốc v.v (đặc biệt là các loại thuỷ sản ở lớp bùn) và tới con người, hoặc tích tụ tronglớp bùn đáy của sông, suối, ao, hồ và biển Ví dụ, theo Trung tâm Sức khoẻ nồng độDioxin trong cá cao gấp 100.000 lần nồng độ trong nước Tại một số ao hồ ở cácđiểm nóng nhiễm Dioxin, ví dụ Hồ Sen ở Sân bay Đà Nẵng, Hồ Biên Hùng ở gầnSây bay Biên Hoà có nồng độ Dioxin hiện vẫn còn rất cao và các loài cá, đặc biệt là
cá ăn ở tầng đáy bị nhiễm Dioxin vượt tiêu chuẩn cho phép hàng nghìn lần [31].Hiện nay mọi hoạt động đánh bắt cá tại Hồ Biên Hùng đã bị cấm Tuy nhiên, ngườidân do chưa hiểu rõ nguy cơ nhiễm độc Dioxin nên vẫn xảy ra hiện tượng câu cá vàtiêu thụ cá tại các hồ này”
* Dioxin trong thực phẩm
“Đối với môi trường trên cạn, Dioxin trong các hạt bụi bám vào cây cối hoamàu Các động vật ăn cỏ như trâu, bò tích tụ Dioxin với nồng độ cao hơn do tiêu thụrau cỏ bị nhiễm Dioxin ở trong các hạt bụi đất bám vào rau cỏ trong cơ thể độngvật, Dioxin không được chuyển hoá vì vậy không thải ra ngoài trong phân hay nướctiểu mà tích tụ lại trong các mô mỡ Khi con người tiêu thụ thịt mỡ, sữa và các sảnphẩm từ thịt, sữa động vật thì sẽ bị nhiễm Dioxin” [31]
Về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin lên sức khỏe con người, theo phân loạicủa tổ chức nghiên cứu ung thế quốc tế (IARC), đây là tác nhân gây ung thư, gâysuy giảm miễn dịch, rối loạn nội tiết, tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh và nhiều táchại khác đối với con người
Dioxin có thể xâm nhập vào cơ thể con người từ nguồn thực phẩm (95%),chủ yếu là các thực phẩm có nguồn gốc động vật (cá, thịt, trứng, sữa và sản phẩm từsữa); thực phẩm nguồn gốc thực vật (rau quả, ngũ cốc) chỉ chiếm khoảng 2-3%; từkhông khí chiếm 1,5-2%; từ đất khoảng 1%, từ nước khoảng 0,2%
1.1.2 Khái niệm nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Nạn nhân nhiễm chất da cam/dioxin là người bị phơi nhiễm với chất da cam/dioxin có biểu hiện bệnh lý liên quan hoặc để lại hậu quả cho các thế hệ sau [8, tr.15]
Trang 18Việc công nhận là nạn nhân nhiễm chất da cam/dioxin ở Việt Nam cũng như
ở Mỹ và các nước khác hiện nay đều dựa vào hai tiêu chí: Nguyên nhân làm phátsinh bệnh tật và hậu quả gây ra các bệnh tật thuộc danh mục được nhà nước công nhận
Về tiêu chí nguyên nhân làm phát sinh bệnh, theo quy định của Bộ Y tế ViệtNam, nạn nhân chất độc da cam/dioxin phải là người có tiếp xúc với chất độc dacam/dioxin, có tiếp xúc thì mới có phơi nhiễm với dioxin và có phơi nhiễm thì mớixảy ra các tác động có hại đối với sức khoẻ gây ra các hậu quả đối với sức khoẻ vàmới là nạn nhân của sự phơi nhiễm Tiêu chí tiếp xúc là tiêu chí bắt buộc phải có.Tiêu chí này thể hiện qua thời gian và không gian phơi nhiễm chất da cam Ở ViệtNam, thời gian bị phơi nhiễm được tính bắt đầu từ 10-8-1961 trở về sau Người nàomắc những bệnh hoặc sinh con có dị dạng, dị tật tuy phù hợp với danh mục bệnh tật
đã được nhà nước công nhận, nhưng xảy ra trước ngày 10-8-1961 thì không phải lànạn nhân chất độc da cam Địa điểm phơi nhiễm được công nhận ở Việt Nam lànhững vùng đất từ vĩ tuyến 17 trở vào, vùng biên giới Việt-Lào, biên giới Việt Nam
- Cam-pu-chia, 20 xã thuộc bờ bắc sông Bến Hải (Vĩnh Linh, Quảng Trị), khu vựcđèo Mụ Giạ (Quảng Bình) Những người tuy có bệnh tật hoặc sinh con dị dạng, dịtật nhưng không có thời gian lao động, công tác, chiến đấu tại các vùng bị phun rảichất da cam thì không phải là nạn nhân chất độc da cam Hiện nay ở Việt Nam bavùng đã được xác định là vùng nóng chứa hàm lượng dioxin rất cao là vùng nằmtrong khu vực sân bay Biên Hoà, sân bay Đà Nẵng và sân bay Phù Cát [46]
Tiêu chí thứ hai là về hậu quả đối với sức khoẻ Nạn nhân chất độc da cam làngười bị một trong những bệnh đã được xác định là do dioxin gây ra Quyết định số09/2008/QĐ-BYT của Bộ Y tế quy định danh mục 17 nhóm bệnh chính có liênquan đến phơi nhiễm dioxin gồm:
1 Ung thư phần mềm
2 U lympho không Hodgkin
3 U lympho Hodgkin
4 Ung thư phế quản
5 Ung thư khí quản
Trang 196 Ung thư thanh quản
7 Ung thư tuyến tiền liệt
8 Ung thư gan nguyên phát
9 Bệnh đa u tủy xương ác tính
10 Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính
11 Tật gai đốt sống chẻ đôi
12 Bệnh trứng cá do clo
13 Bệnh đái tháo đường type 2
14 Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm
15 Các bất thường sinh sản
16 Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm độc hóahọc/dioxin)
17 Rối loại tâm thần
Đối với những người có tiếp xúc trực tiếp với chất da cam/dioxin và bị mắcmột bệnh nào đó không nằm trong 17 bệnh được công nhận nhưng được Hội đồnggiám định sức khoẻ cấp tỉnh hoặc cấp trung ương xác định là có bệnh có liên quanthì cũng có thể được công nhận là nạn nhân chất độc da cam/dioxin
Như vậy, đối với tiêu chí về sức khoẻ được phân định hai cấp độ giám định:+ Hội đồng giám định sức khoẻ cấp huyện giám định các trường hợp bị mắcmột trong 17 bệnh đã được công nhận có liên quan với dioxin
+ Hội đồng giám định sức khoẻ cấp tỉnh và trung ương giám định nhữngtrường hợp không thuộc 17 bệnh đã công nhận Cấp Trung ương chỉ giải quyếtnhững trường hợp vượt quá khả năng giám định của cấp tỉnh” [46]
Theo quan điểm của Bộ Y tế, có sự khác nhau giữa người bị phơi nhiễm chất dacam và nạn nhân chất độc da cam Người bị phơi nhiễm và người là nạn nhân đềugiống nhau ở tiêu chí tiếp xúc với chất độc hoá học dioxin, đều trả lời là có tiếp xúcnhưng người là nạn nhân khi bị một trong 17 bệnh đã được công nhận hoặc bị tácđộng xấu đối với sức khoẻ có biểu hiện ra ngoài tuy không nằm trong 17 bệnh đượccông nhận, nhưng được hội đồng giám định sức khoẻ xác định là tác động xấu với
Trang 20sức khoẻ có liên quan đến sự phơi nhiễm Sự khác nhau cơ bản giữa người bị phơinhiễm với chất độc da cam/dioxin và người là nạn nhân chất độc da cam/dioxin, là
ở chỗ có hại đối với sức khoẻ Về phơi nhiễm, có phơi nhiễm trực tiếp và phơinhiễm gián tiếp Phơi nhiễm trực tiếp là những người có tiếp xúc trực tiếp với chất
da cam, bao gồm những người bị phun rải, những người sống, hoạt động trongnhững điểm nóng, tức vùng có tồn lưu chất độc dioxin cao Phơi nhiễm gián tiếp lànhững con, cháu của những nạn nhân chất độc da cam Họ là nạn nhân chất độc dacam do di truyền gen khiếm khuyết của ông, bà, bố, mẹ hoặc qua bú sữa mẹ lànhững nạn nhân chất độc da cam Không phải mọi người bị phơi nhiễm chất da camđều mắc bệnh và không phải tất cả con, cháu của nạn nhân chất độc da cam đều mắcbệnh, đó là điều mà khoa học chưa giải thích được Theo số liệu của nữ khoa họcgia người Mỹ Stenman, ở Việt Nam có khoảng 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong
đó có 1,3 triệu người là nạn nhân
Với người Mỹ, theo quy định của Mỹ, những ai đã đặt chân lên đất Việt Namtrong thời kỳ chiến tranh mà mắc bệnh thuộc danh mục được Viện Y học Mỹ công
bố đều được hưởng trợ cấp tổn thương do chất da cam Ở Việt Nam, việc công nhận
là nạn nhân chất độc da cam/dioxin hiện nay được thực hiện bởi các Hội đồng giámđịnh mà thành phần gồm có đại diện của các ngành : Y tế, Lao động-Thương binh
và Xã hội, Hội Nạn nhân chất độc da cam, Hội Cựu chiến binh, Mặt trận tổ quốc
Về số lượng nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam, chưa có sốliệu thống kê đầy đủ Con số 4,8 triệu người phơi nhiễm và 1,3 triệu nạn nhân là do
nữ khoa học gia người Mỹ J.M Stenman và các nhà khoa học Trường đại họcColumbia đăng trên Tạp chí Thiên nhiên số 1422, tháng 4 năm 2003 Bà Stenmancho rằng con số đó chưa đầy đủ bởi bà thống kê căn cứ vào số dân tại các khu vực
bị phun rải theo bản đồ của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa Số dân sống ngoài cáckhu dân cư, sống trong rừng núi hoặc sống trong các vùng do chính quyền cáchmạng kiểm soát chưa được tính đến [52] Nhà khoa học Nga Xa-phrô-nốp lại chorằng số người Việt Nam bị phơi nhiễm là 20 triệu người, bao gồm cả số dân ở vùng
bị trực tiếp phun rải và vùng lan tỏa theo làn gió và dòng nước [52] Trong thời
Trang 21chiến, có những nơi, những thùng chứa chất da cam sau khi hút hết được đem báncho dân hoặc cho không Người dân đã sử dụng các thùng ấy để chứa nước, cất giữlúa, khoai, sắn, đỗ, lạc… và họ đã tự đầu độc mình mà không biết Có một thực tiễnchứng minh là trong số 63 tỉnh, thành trong toàn quốc thì hầu như tỉnh, thành nàocũng có nạn nhân chất độc da cam.
1.1.3 Khái niệm pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Bảo trợ xã hội là một trong những hợp phần quan trọng của hệ thống an sinh
xã hội và là một tiêu chí được cộng đồng quốc tế sử dụng đánh giá tiến bộ và côngbằng xã hội cùa một quốc gia Bảo trợ xã hội thường được hiểu là biện pháp tươngtrợ cộng đồng đơn giản, phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh
xã hội mỗi quốc gia Theo cách hiểu thông thường, bảo trợ xã hội là “sự giúp đỡcho qua khỏi cơn nguy khốn” hay “giúp cho qua khỏi cơn nghèo ngặt” [32] Về ngữnghĩa, đa số các nhà khoa học cho rằng cụm từ bảo trợ xã hội gồm hai nhóm từghép là “cứu trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội”
Cứu trợ xã hội là thuật ngữ dùng để chỉ mọi hình thức và biện pháp giúp đỡcủa nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọithành viên của xã hội trong những trường hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không
đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thân Cứu trợ xã hội vừa mang tínhchất “cấp cứu” tức thời, vừa mang tính chất tương trợ lâu dài
Trợ giúp xã hội là hoạt động chủ yếu của trợ cấp xã hội Sự trợ giúp của xãhội có thể dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường là bằng tiền, vật phẩm,điều kiện sinh hoạt để cho thành viên trong xã hội gặp hoàn cảnh bất hạnh, rủi ro cóthể phát huy nội lực, hòa nhập vào cộng đồng và xã hội
Do tầm quan trọng của bảo trợ xã hội mà hầu hết các nước đều tổ chức thựchiện bảo trợ xã hội bằng cách xây dựng pháp luật về bảo trợ xã hội và tổ chức thựchiện phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa trong nước Theothống kê của ILO, có 172 nước đã thiết lập hệ thống an sinh xã hội với việc thựchiện chế độ bảo trợ xã hội ngay từ đầu
Trang 22Việt Nam coi bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồngbằng những biện pháp và hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vàocảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không
đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằmgiúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt quanhững khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng Chính sách mang đậmtính nhân đạo này đã được Nhà nước Việt Nam thể chế hóa thành những văn bảnpháp luật cụ thể và nội dung của các văn bản pháp luật này cũng có những thay đổitùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau của điều kiện kinh tế - xã hội đất nước Cóthể kể ra một số văn bản liên quan đến bảo trợ xã hội gồm: Luật Người cao tuổinăm 2009, Luật Người khuyết tật năm 2010, Pháp lệnh về việc ưu đãi người cócông với cách mạng năm 2005 sau đó được sửa đổi bổ sung ngày 16/7/2012 vàđược hợp nhất thành Văn bản hợp nhất Pháp lệnh ưu đãi người có công với cáchmạng ngày 30/7/2012, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của Chính Phủ ngày21/10/2013 Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hộithay thế Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và Nghị định số13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010, Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóctrẻ em
Theo khoản 3 Điều 5 Luật Người khuyết tật, “bảo trợ xã hội đối với ngườikhuyết tật là trợ giúp người khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề,việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệthông tin, tham gia giao thông; ưu tiên thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợngười khuyết tật là trẻ em, người cao tuổi” [30]
Nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin theo nghĩa chung nhất là nhữngngười bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong chiếntranh ở Việt Nam, bị suy giảm khả năng lao động, vô sinh, sinh con dị dạng, dị tật
và thế hệ con, cháu, chắt… của họ chịu hậu quả sinh học của sự phơi nhiễm đó, bịbệnh, suy giảm khả năng lao động, dị dạng, dị tật…[21, tr.50]
Trang 23Như vậy, nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin chính là những người bịlâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh vì bệnh tật hiểm nghèo, là một trong những đốitượng rất cần được bảo trợ xã hội.
Pháp luật bảo trợ xã hội là tổng hợp các quy phạm pháp luật xác định quyền
và nghĩa vụ của nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất, tinh thầncho các thành viên gặp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói không đủ khả năng đảm bảo cuộcsống tối thiểu của bản thân và gia đình
Như vậy, trong phạm vi đề tài này, pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn
nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin được hiểu là các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin, những người bị lâm vào hoàn cảnh bất hạnh không đủ khả năng đảm bảo cuộc sống tối thiểu của bản thân
da cam/dioxin, những người bị lâm vào hoàn cảnh bất hạnh không đủ khả năng đảmbảo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
Các chủ thể tham gia quan hệ hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các nạnnhân nhiễm chất độc da cam/dioxin là: Nhà nước, nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin và các tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động bảo trợ xã hội
Nhà nước, với tư cách là một chủ thể trong quan hệ pháp luật về bảo trợ xãhội, đã xác định rõ được nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện bảo trợ xã hội đốivới các đối tượng được bảo trợ nói chung và đối với nạn nhân nhiễm chất đọc dacam/dioxin nói riêng Với bản chất nhân đạo và vai trò to lớn của bảo trợ xã hội,hầu hết các nước đều thừa nhận cần thiết phải tổ chức bảo trợ xã hội cho người dân
Trang 24Nhà nước với pháp luật và nguồn ngân sách của mình định hướng và tổ chức việcthực hiện bảo trợ xã hội Cụ thể là Nhà nước có trách nhiệm chính trong việc phân
bổ các nguồn lực và thu nhập, chi tiêu ngân sách cho các chương trình cứu trợthường xuyên và đầu tư tập trung vào các cơ sở hạ tầng cũng như các hoạt độngdịch vụ
Đồng thời, Nhà nước cũng xác định rõ mối quan hệ hợp tác giữa các cơquan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo trợ xã hội Các Bộ Lao động – Thươngbinh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục cùng các Hiệp hội trong xã hội cần phối hợphoạt động để công tác bảo trợ xã hội được hiệu quả, đúng người, đúng chính sách
Theo Thống kê của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, hiệnnay, nước ta có khoảng 58 Hội chất độc da cam được thành lập ở cấp tỉnh, thànhphố; 518 Hội ở cấp huyện, quận; 5.368 Hội ở cấp xã, phường Tổng số hội viên củacác Hội là 280.120 người Quỹ nạn nhân chất độc da cam/dioxin đã được thành lập
ở trung ương và hàng chục địa phương [15] Các Hội và Quỹ đã có rất nhiều hoạtđộng ý nghĩa, chia sẻ gánh nặng cuộc sống cho rất nhiều nạn nhân chất độc da cam/dioxin như: khám chữa bệnh cho nạn nhân, tặng quà, trợ cấp học bổng, tìm việclàm, trợ vốn sản xuất, xây nhà tình nghĩa…
Ngoài ra, chủ thể của quan hệ pháp luật bảo trợ xã hội còn là các cá nhân,thành viên khác trong xã hội Đó là do tính tất yếu của việc xã hội hóa hoạt độngbảo trợ xã hội Nhà nước không thể đảm bảo đủ các nguồn lực, đặc biệt là nguồnlực tài chính để thực hiện cứu trợ xã hội Vì vậy, Chính phủ phải làm cho mọi ngườidân, công chúng nhận thức được lợi ích của việc hướng các nguồn lực vào đốitượng được bảo trợ, đặc biệt là trong những giai đoạn khủng hoảng
Một chủ thể cũng rất quan trọng trong quan hệ pháp luật bảo trợ xã hội đốivới nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin là các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Họ là những người có điểm chung là: nhiều bệnh tật, thường là bệnh mãntính, phải điều trị dài hạn nên sức khỏe yếu, giảm tuổi thọ, hạn chế trong sinh hoạt,lao động, học tập và đời sống Họ sống chủ yếu ở nông thôn Theo số liệu điều tracủa Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, chỉ có 10% nạn nhân nhiễm chất độc da
Trang 25cam/dioxin sống ở thành thị còn 90% sống ở nông thôn Do đó, cơ hội tiếp cận cácdịch vụ y tế, xã hội, văn hóa, giáo dục của họ bị hạn chế hơn Họ là những ngườinghèo, yếu thế và là gánh nặng cho gia đình và xã hội Họ rất mặc cảm tự ti, dễ bịtổn thương do bị phân biệt đối xử, thậm chí hắt hủi Chất lượng cuộc sống của họrất thấp do rất ít có cơ hội học hành, nghề nghiệp, cơ hội giao lưu cũng như cơ hội,điều kiện hưởng thụ văn hóa… Ngoài ra, họ còn thường trực mang nỗi lo, tổnthương về tâm lý như: lo diệt tộc, không có nơi nương tựa lúc về già, lo cho tươnglai con cái khi cha mẹ qua đời trước con…[15]
Tuy nhiên, nạn nhân chất độc da cam/dioxin cũng giống như các đối tượngđược bảo trợ xã hội khác vẫn phải có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng.Chính bản thân mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình, mỗi địa phương cũng phải có ý thứcnâng cao tính tự lực, tự cường, nỗ lực để tự vươn lên Đây là điểm cho thấy sự khácbiệt giữa bảo trợ xã hội với cứu tế xã hội Cứu tế xã hội nhằm đảm bảo cho đốitượng được cứu tế tiếp tục cuộc sống bình thường còn bảo trợ xã hội nhằm mục tiêugiúp đối tượng được bảo trợ phát huy được khả năng tự lo liệu cuộc sống, sớm hòanhập trở lại với cuộc sống cộng đồng
1.3 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Ngay từ khi xuất hiện, bảo trợ xã hội đã được đón nhận như một sự đảm bảocho cuộc sống và đặc biệt có ý nghĩa đối với bộ phận “người yếu thế” cũng là thànhviên xã hội Theo báo cáo Bảo trợ xã hội thế giới: xây dựng, phục hồi kinh tế, pháttriển của ILO năm 2014, “chính sách bảo trợ xã hội đóng vai trò trọng yếu… đểgiảm nghèo khó và bất bình đẳng… thúc đẩy nguồn nhân lực và năng suất” Báocáo của ILO cho rằng, không có đủ hoặc thiếu bảo trợ xã hội có liên hệ tới mứcnghèo cao và dai dẳng… và mức bất bình đẳng ngày càng tăng”
Bảo trợ xã hội chính là hoạt động mang đậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh
tế, chính trị, xã hội và pháp luật, là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọithành viên xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro Các quy địnhcủa pháp luật bảo trợ xã hội nói chung và pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân
Trang 26nhiễm chất độc da cam/dioxin nói riêng giúp cho hoạt động bảo trợ xã hội đượcthực hiện công bằng và hiệu quả Mục tiêu của bảo trợ xã hội đối với nạn nhânnhiễm chất độc da cam/dioxin là nhằm chuyển nhượng các nguồn lực cho nạn nhân,những người đang bị túng quẫn và dễ bị tổn thương, từ đó giúp họ đảm bảo đượcmức sống tối thiểu và cải thiện điều kiện sống, sâu xa hơn nữa, là giúp giảm nghèo.
Theo báo cáo của ILO, “về cơ bản, những sự bảo trợ này quan trọng vớinhiều nước ở mọi cấp độ phát triển, bởi vì đây thực sự là một cách để các nước đảmbảo rằng nguồn tài nguyên trong nước được phân phối một cách công bằng Rằngtất cả mọi người được hưởng lợi từ tăng trưởng như một cách để đảm bảo tăngtrưởng toàn diện Do đó đảm bảo những lợi ích của tăng trưởng đến được với tất cảmọi người.” [52]
Dưới góc độ kinh tế, pháp luật bảo trợ xã hội là công cụ có ý nghĩa giúp phân
phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên bất hạnh trong xã hội,góp phần thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt đói nghèo… Với góc độnày, pháp luật bảo trợ xã hội chính là biện pháp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tiến
bộ xã hội
Với đối tượng bảo trợ nói chung và nạn nhân chất độc da cam/dioxin nóiriêng, bảo trợ xã hội đặc biệt có ý nghĩa trong việc đảm bảo sự tồn tại và tạo cơ hộivượt qua những những khó khăn, túng quẫn về kinh tế Theo số liệu thống kê của
Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, có 51,81% nạn nhân chất độc da cam/dioxinthuộc diện nghèo và 48,12% còn lại là thuộc diện có mức sống trung bình [37] Nhưvậy, nạn nhân chất độc da cam/dioxin là những người có mức sống thấp hơn mứcsống tối thiểu của xã hội, các yêu cầu tối thiểu về kinh tế như ăn, mặc… khôngđược đảm bảo Trong tình cảnh đó, bảo trợ xã hội chính là “lưới đỡ” kinh tế cuốicùng về miếng cơm, manh áo hàng ngày cho đối tượng Không chỉ dừng lại ở đó,bảo trợ xã hội còn đưa đến những cơ hội thuận lợi để đối tượng tự vươn lên đảmbảo và nâng cao đời sống của mình Tuy nhiên, bảo trợ xã hội không thể loại trừđược đói nghèo, bất hạnh, rủi ro mà chỉ khắc phục được phần nào tình trạng nghèotúng, giảm bớt bất hạnh, rủi ro, thúc đẩy tiến bộ xã hội
Dưới góc độ chính trị, bảo trợ xã hội không chỉ là thái độ của Nhà nước, là
biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi gặp rủi ro,
Trang 27khó khăn mà còn làm giảm thiểu những bất ổn trong xã hội, góp phần duy trì ổnđịnh xã hội trong đó có ổn định chính trị Sở dĩ bảo trợ xã hội có ý nghĩa xã hội vànhân văn sâu sắc như vậy là do xuất phát từ nền tảng của bảo trợ xã hội là sự tươngtác, tương trợ cộng đồng của các thành viên xã hội trước những bất hạnh, rủi ro của
cá nhân Theo đó, những bất hạnh, khó khăn này được cả cộng đồng gánh vác, sẻchia mà không đòi hỏi một nghĩa vụ nào về tài chính từ phía đối tượng Ở đây,không có sự phân biệt về đối tượng hưởng cũng như chủ thể thực hiện mà hơn thếnữa lại là yếu tố tạo nên sự hòa đồng giữa các thành viên xã hội, không phân biệtgiới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế…
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, bảo trợ xã hội không còn là vấn đề chínhtrị, xã hội của mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề có tính quốc tế Việc thực hiệnbảo trợ xã hội không bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản chính trị hay địa lý nào, nó có ýnghĩa toàn cầu vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển hơn
Dưới góc độ pháp luật, các quy phạm pháp luật về bảo trợ xã hội là một chế
định quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội Các văn bản quy phạmpháp luật về bảo trợ xã hội điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhómđối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bìnhthường khác và không đủ khả năng tự lo liệu Ý nghĩa pháp luật của bảo trợ xã hộixuất phát từ quyền cơ bản của con người Mỗi người sống trong xã hội đều cóquyền được sống, được bình đẳng, được thương yêu, đùm bọc, bảo vệ khỏi nhữngbiến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe dọa
Ở Việt Nam, quyền được bảo đảm an sinh xã hội, bảo trợ xã hội đã được ghinhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp lý khác như: Luật Người khuyết tật
2010, Pháp lệnh về việc ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 sau đó đượcsửa đổi bổ sung ngày 16/7/2012 và được hợp nhất thành Văn bản hợp nhất Pháplệnh ưu đãi người có công với cách mạng ngày 30/7/2012
Điều 34 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam ghi nhận “Mọi công dân cóquyền được bảo đảm an sinh xã hội” và Điều 38 quy định: “Mọi người có quyềnđược bảo vệ, chăm sóc sức khỏe” Điều 4, Luật Người khuyết tật 2010 cũng quy
Trang 28định chi tiết về các quyền của người khuyết tật như: tham gia bình đẳng vào cáchoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một sốkhoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chứcnăng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình côngcộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, dulịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật… [30]
Như vậy, an sinh và bảo trợ xã hội không phải là sự ban ơn, sự chiếu cố của
xã hội đối với những thân phận thấp hèn, những người cùng cực mà là quyền củamỗi thành viên trong xã hội và là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả cộng đồng
Dưới góc độ xã hội, bảo trợ xã hội là cơ sở để phát triển xã hội bền vững.
Tăng trưởng kinh tế đôi khi có những yếu tố làm hạn chế công bằng và bình đẳng
xã hội Chính vì vậy, bảo trợ xã hội là chính sách xã hội quan trọng làm cơ sở đểđảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa thực hiện công bằng và ổn định xã hội
Kết luận chương 1
Pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxinđược hiểu là tổng thể các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật có điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh trong việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các nạn nhânnhiễm chất độc da cam/dioxin, những người bị lâm vào hoàn cảnh bất hạnh không
đủ khả năng đảm bảo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễmchất độc da cam/dioxin gồm các quan hệ xã hội phát sinh trong việc hỗ trợ về vậtchất và tinh thần cho các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Chủ thể của quan
hệ pháp luật này là: Nhà nước, nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin và các tổchức, cá nhân khác trong hoạt động bảo trợ xã hội
Pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin cóvai trò và ý nghĩa to lớn, vừa mang đậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị,
xã hội và pháp luật, là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hộitrên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro, là cơ sở để phát triển xã hội bềnvững
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN
NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN 2.1 Khái lược quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Về các văn bản quy phạm pháp luật bảo trợ xã hội đối với nạn nhân nhiễm
chất độc da cam/dioxin, đến thời điểm năm 2013 đối với người dân bị nhiễm chấtđộc hoá học chưa có chính sách riêng với họ Người dân bị nhiễm chất độc hoá họcnếu bị bệnh, tật nặng hoặc con đẻ của họ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặngthì được hưởng chế độ Bảo trợ xã hội của nhà nước theo qui định của Pháp luật vềBảo trợ xã hội, pháp luật về người khuyết tật
Từ năm 2000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc hoáhọc có chính sách ưu đãi
Đến nay, Việt Nam chưa có Luật bảo trợ xã hội mà chỉ có các Nghị định quyđịnh về chính sách bảo trợ xã hội, gồm:
+ Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đốitượng bảo trợ xã hội;
+ Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định số 67/2007/NĐ-CP
+ Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 thay thế Nghị định số13/2010/NĐ-CP
Trong các Nghị định này chỉ quy định chung cho đối tượng bảo trợ thuộc diệntrợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý mà không có quy định riêng đốivới nạn nhân chất độc da cam
Trên thực tế, các văn bản pháp luật quy định về chính sách chung đối vớingười bị nhiễm chất độc hoá học đã có từ năm 1961 (khi Mỹ sử dụng chất độc hóa họctrong chiến tranh với Việt Nam) chủ yếu quy định về việc người hoạt động khángchiến bị nhiễm chất độc hoá học, chịu ảnh hưởng chất độc hoá học được xem xét, giảiquyết chế độ liệt sĩ, thương binh, bệnh binh Tuy nhiên, thời kỳ này, Việt Nam chưa cóquan niệm riêng biệt về ảnh hưởng của chất độc hoá học đối với con người
Trang 30Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, văn bản pháp luật quy định về chínhsách bảo trợ xã hội đối với người bị ảnh hưởng chất độc hoá học cũng chưa hìnhthành cụ thể, độc lập Các nạn nhân nhiễm chất độc hóa học là thương binh, bệnhbinh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được hưởngchế độ ưu đãi theo Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đìnhliệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡcách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994 (sau đó được sửa đổi năm 2000, 2002).
Trong hai nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX và X, nhiều đại biểu cử tri, đại biểuQuốc hội rất quan tâm đến các đối tượng bị hậu quả chất độc hoá học, đã cónhiều ý kiến đề nghị Quốc hội, Chính phủ nên sớm có chính sách với những bộđội phục viên, thanh niên xung phong bị nhiễm chất độc hoá học và con của họ
bị dị dạng, dị tật Tại kỳ họp thứ 4 - Quốc hội khoá X đã thông qua Nghị quyết
số 20/1998/QH-X về nhiệm vụ năm 1999 đã nêu rõ: “Khẩn trương ban hànhchính sách đối với thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến, người bịnhiễm chất độc da cam”
Ngày 16 tháng 6 năm 1997, Văn phòng Trung ương Đảng đã thông báo ý kiếncủa Thường vụ Bộ Chính trị về vấn đề chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong thời
kỳ chiến tranh: “Chất độc hoá học do Mỹ dùng trong chiến tranh gây ra cho nhândân ta những hậu quả nặng nề và lâu dài Chúng ta cần chủ động, khẩn trương tổchức nghiên cứu, đánh giá chính xác và đầy đủ những hậu quả này và có những giảipháp toàn diện để khắc phục Chính phủ cần chỉ đạo các Bộ Khoa học – Công nghệ
và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các tổ chức liênquan xúc tiến khẩn trương nghiên cứu vấn đề trên, cần có kế hoạch huy động các tổchức, các nhà khoa học nước ngoài, nhất là các nhà khoa học Mỹ hợp tác giúp tatrong việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp khắc phục hậu quả, nhất là đối vớicon người đã bị nhiễm độc” [50]
Ngày 02/7/1997 tại công văn số 3300/TCCB, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải
đã giao nhiệm vụ cho Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với
Bộ Y tế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các tổ chức có liên quan tổ chứcnghiên cứu và có những giải pháp cơ bản toàn diện để khắc phục hậu quả chất độchoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam
Trang 31Ngày 3/4/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg điều tra thực chứng người bị hậu quả chất độc hoá học Ngày 15/4/1999, BộLao động – Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ đốivới người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc do quân đội Mỹ sử dụng trongchiến tranh ở Việt Nam.
74/1998/QĐ-Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg ngày 23/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễmchất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam có thể coi là văn bảnpháp luật đầu tiên quy định riêng về chế độ, chính sách đối với người bị nhiễm chấtđộc hoá học, trong đó chế độ, mức hưởng trợ cấp có sự khác nhau giữa người hoạtđộng kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và nạn nhân bị nhiễm chất độc hoá học
là người khuyết tật
Điều 1 Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg quy định đối tượng được hưởng chế
độ trợ cấp theo Quyết định này gồm:
+ Cán bộ, chiến sỹ các lực lượng vũ trang cách mạng, cán bộ dân chính đảng,thanh niên xung phong tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng
bị Mỹ sử dụng chất độc hoá học trong chiến tranh ở Việt Nam từ tháng 8 năm 1961đến 30 tháng 4 năm 1975, đang không hưởng trợ cấp thương binh, bệnh binh, hoặcchính sách như thương binh và thuộc mức độ sau:
a) Bị mắc bệnh hiểm nghèo do nhiễm chất độc hoá học, không còn khả nănglao động - mức trợ cấp bằng 100.000đồng/người/tháng
b) Bị mắc bệnh do nhiễm chất độc hoá học, bị suy giảm khả năng lao động mức trợ cấp bằng 88.000 đồng/người/tháng
-+ Con đẻ còn sống của đối tượng qui định tại Khoản 1 Điều này thuộc mức độ sau:a) Bị dị dạng, dị tật nặng, không có khả năng lao động, không tự lực đượctrong sinh hoạt
b) Bị dị dạng, dị tật, không có khả năng lao động nhưng còn tự lực đượctrong sinh hoạt
Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg có ý nghĩa xã hội to lớn và ý nghĩa nhân vănsâu sắc Nhờ có Quyết định này mà người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ
đã được quan tâm, giúp đỡ bằng một số chính sách về trợ cấp, ngoài trợ cấp cho họ
Trang 32Tuy nhiên, do Quyết định được ban hành khi chưa có đầy đủ cơ sở khoa học vữngvàng Chính vì vậy diện hưởng chế độ chỉ ghi nhận chung chung “mắc bệnh hiểmnghèo do nhiễm chất độc hoá học, không còn khả năng lao động” hoặc “bị dị dạng,
dị tật, không có khả năng lao động, không tự lực được trong sinh hoạt” thì có thểhiểu và vận dụng theo nhiều cách khác nhau Bệnh gì, mức độ, tình trạng của bệnhtật ra sao? Có người không có bệnh khi tuổi cao, sức khoẻ giảm sút và bệnh, tật gìcũng dẫn đến suy giảm khả năng lao động không ít thì nhiều Đây là lý do giải thích
vì sao, dù cùng áp dụng Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg nhưng mỗi địa phương đều
có cách hiểu, cách làm khác nhau, số lượng người được xem xét xác nhận, giảiquyết chế độ cũng khác nhau
Trước tình hình đó, ngày 5/7/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyếtđịnh 120/2004/QĐ-TTg về một số chế độ đối với người hoạt động kháng chiến vàcon đẻ của họ bị hậu quả do nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiếntranh Việt Nam sửa đổi Quyết định số 26/2000//QĐ-TTg Quyết định này đã có một
số thay đổi về diện đối tượng thụ hưởng trợ cấp xã hội và thay đổi về mức trợ cấp.Nội dung quy định đã rõ ràng hơn và khắc phục được phần nào hạn chế của Quyếtđịnh số 26/2000/QĐ-TTg
Ngày 29/6/2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người
có công với cách mạng trong đó quy định các chế độ bảo trợ xã hội đối với hai diện đốitượng: người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và thân nhân của họ.Nạn nhân chất độc hoá học bị khuyết tật hưởng chế độ theo qui định của Luật Ngườikhuyết tật Mức trợ cấp, các chế độ ưu đãi khác ngoài trợ cấp (bảo hiểm y tế, lao độngviệc làm, chăm sóc sức khoẻ, trang cấp dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng, giáo dụcđào tạo ) có sự phân biệt khác nhau Nghĩa là, nếu là nạn nhân của chất độc dacam/dioxin thì chính sách áp dụng đối với họ được phân định thành:
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm độc hoá học - người có công, hưởngchế độ ưu đãi xã hội đối với người có công
- Nạn nhân bị nhiễm chất độc hoá học – là người không tham gia kháng chiến,
bị khuyết tật, hưởng chế độ bảo trợ xã hội
Ngày 20/2/2008, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 09/QĐ-BYT về Danh mụcbệnh tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học/dioxin
Trang 33Với Danh mục bệnh tật này, việc áp dụng của các địa phương để giải quyết chế độtrợ cấp cho người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin đã bớt tùy tiện
Ngày 16/7/2012, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có côngvới cách mạng, trong đó có nội dung sửa đổi điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận và chế
độ ưu đãi người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học
Sự thay đổi này mở rộng phạm vi đối tượng xác nhận, qui định rõ ràng hơn về xácđịnh người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học bằng phương phápkhoa học (cơ quan y tế xác định cụ thể bệnh, tật, dị dạng, dị tật, suy giảm khả nănglao động và cơ quan y tế cấp giấy chứng nhận người hoạt động kháng chiến bịnhiễm chất độc hoá học)
Về chế độ chính sách bảo trợ, ưu đãi đối với nạn nhân chất độc da
cam/dioxin, có thể nêu khái quát như sau:
- Về chế độ trợ cấp: Bị mắc bệnh hiểm nghèo do nhiễm chất độc hoá học,không còn khả năng lao động mức trợ cấp là 100.000 đồng/tháng (năm 2000);300.000 đồng/tháng (năm 2004) và 2.782.000 đồng/tháng(năm 2013)
- Bị mắc bệnh do nhiễm chất độc hoá học, bị suy giảm khả năng lao động mứctrợ cấp là 88.000 đồng/tháng (năm 2000); 165.000 đồng/tháng (năm 2004); từ927.000-2.172.000 đồng/tháng (năm 2013)
Người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin dẫn đến bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặcbiệt nặng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng (Điều 44 - Luật Người khuyết tật)
- Về chính sách nuôi dưỡng: từ năm 2000 đến 1/1/2013 thời điểm có hiệu lựccủa văn bản qui phạm pháp luật ưu đãi người hoạt động kháng chiến và con đẻ của
họ bị nhiễm chất độc hoá học là Quyết định số 26/QĐ-Tg ngày 23/2/2000 và Pháplệnh số 04/2012/PL-UBTVQH ngày 16/7/2012 thì chưa có qui định, hướng dẫn vềnuôi dưỡng
Người bị nhiễm chất độc hoá học dẫn đến khuyết tật đặc biệt nặng không nơinương tựa, không tự lo được cuộc sống, được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sởBảo trợ xã hội (Điều 45 - Luật Người khuyết tật)
- Về chính sách chăm sóc y tế: Người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ
bị nhiễm chất độc da cam/dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam
Trang 34(được hưởng trợ cấp) thì được nhà nước mua bảo hiểm y tế với mức 3% lương tốithiểu (Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg; Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg).
Phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và nhu cầu đòi hỏi của người bị nhiễmchất độc hoá học chính sách cũng dần đựợc điều chỉnh Chẳng hạn:
“Các chế độ ưu đãi khác đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chấtđộc hoá học bao gồm:
a) Bảo hiểm y tế, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tìnhtrạng bệnh tật của từng người và khả năng của nhà nước;
b) Điều dưỡng phục hồi sức khoẻ hai năm một lần; trường hợp người suy giảmkhả năng lao động từ 81% trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khoẻ hàng năm;c) Người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được hưởng phụ cấphàng tháng, nếu sống ở gia đình được trợ cấp người phục vụ
Người phục vụ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học quiđịnh tại điểm này được nhà nước mua bảo hiểm y tế ” [49]
Riêng người khuyết tật (trong đó có người bị nhiễm chất độc hoá học, cóngười nêu ý kiến họ là nạn nhân chất độc hoá học) thì ở Luật Người khuyết tật có cảchương III – chăm sóc sức khoẻ bao gồm:
* Điều 21 – chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại nơi cư trú
* Điều 22 – Khám bệnh, chữa bệnh
* Điều 24 – Cơ sở chỉnh hình phục hồi chức năng
* Điều 25 - Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Người bị nhiễm độc hoá học mắc bệnh, tật ở các mức độ khác nhau nhưkhuyết tật, khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sẽ được quan tâm về y tế, chămsóc sức khoẻ theo các qui định ở các điều trên đây của Luật Người khuyết tật Tuynhiên, cũng cần lưu ý rằng người bị nhiễm chất độc hoá học không thuộc diệnngười hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học thuộcdiện người khuyết tật cũng chưa được xác định, phân định rõ
- Về chính sách ưu tiên trong lao động, học tập: Theo qui định ở Quyết định số26/2000/QĐ-TTg về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻcủa họ bị nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam thìnhững đối tượng “bị mắc bệnh do nhiễm chất độc hoá học, bị suy giảm khả năng lao
Trang 35động” và “bị dị dạng, dị tật không còn khả năng lao động nhưng còn tự lực đượctrong sinh hoạt” – “còn khả năng lao động, thuộc diện đói nghèo được ưu tiên vayvốn từ quĩ quốc gia giải quyết việc làm, quĩ xoá đói giảm nghèo để sản xuất kinhdoanh cải thiện đời sống” [34].
Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (số 04/2012/UBTVQH13 tiếptục ghi nhận “ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi
để sản xuất, miễn giảm thuế theo qui định của pháp luật, được hỗ trợ về nhà ở ”
Ở Luật Người khuyết tật, dành cả chương VI (gồm 4 điều từ Điều 32 – 35)qui định về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật Người bị nhiễm chất độchoá học, khuyết tật sẽ chịu sự điều chỉnh của các qui định này của Luật Ngườikhuyết tật
Có thể nói, các văn bản pháp luật quy định chế độ, chính sách đối với người bịnhiễm chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam chỉ trở thành một công cụ quản lý độclập, một chính sách xã hội cụ thể từ năm 2000 nhưng đã có lịch sử hình thành từnhững quy định, chính sách chung năm 1961 Pháp luật bảo trợ xã hội có vai trò, ýnghĩa xã hội to lớn cao cả về vật chất và tinh thần đối với người bị nhiễm chất độchoá học Các văn bản pháp luật đó là cơ sở pháp lý để người bị nhiễm chất độc hóahọc được hưởng các chế độ trợ cấp, ưu đãi, góp phần quan trọng, cần thiết để họsống, hoà nhập, ổn định cuộc sống bản thân và gia đình
2.2 Thực trạng pháp luật về các đối tượng là nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Thực trạng pháp luật về trợ cấp nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin
Đến thời điểm năm 2014, đối với người dân bị nhiễm chất độc hoá học chưa
có chính sách riêng với họ Người dân bị nhiễm chất độc hoá học nếu bị bệnh, tậtnặng hoặc con đẻ của họ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng thì được hưởngchế độ Bảo trợ xã hội của nhà nước theo qui định của Pháp luật về Bảo trợ xã hội,pháp luật về người khuyết tật
Trước hết, nếu nạn nhân chất độc da cam/dioxin thuộc diện khuyết tật hưởng
chế độ bảo trợ xã hội theo qui định của pháp luật về người khuyết tật Luật Người
khuyết tật năm 2010 quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một
Trang 36hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tậtkhiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [30]
2 Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:
a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể
tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thựchiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy địnhtại điểm a và điểm b khoản này
3 Chính phủ quy định chi tiết về dạng tật và mức độ khuyết tật quy định tạiĐiều này
Việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thựchiện
Trong các trường hợp sau đây thì việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồnggiám định y khoa thực hiện:
a) Hội đồng xác định mức độ khuyết tật không đưa ra được kết luận về mức
độ khuyết tật;
b) Người khuyết tật hoặc đại diện hợp pháp của người khuyết tật không đồng
ý với kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật;
c) Có bằng chứng xác thực về việc xác định mức độ khuyết tật của Hội đồngxác định mức độ khuyết tật không khách quan, chính xác
4 Trường hợp đã có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về khả năng tựphục vụ, mức độ suy giảm khả năng lao động thì việc xác định mức độ khuyết tậttheo quy định của Chính phủ
Trang 37Điều 44 Luật Người khuyết tật quy định:
Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:
a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 củaLuật này;
b) Người khuyết tật nặng
Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:
a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng,chăm sóc người đó;
b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;
c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôicon dưới 36 tháng tuổi
Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổiđược hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật
Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đốivới từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định
Về nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội
Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộcsống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội
Nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật quy định tại khoản 1Điều này cho các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm:
a) Trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng;
b) Mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày;
c) Mua thẻ bảo hiểm y tế;
d) Mua thuốc chữa bệnh thông thường;
đ) Mua dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng;
e) Mai táng khi chết;
g) Vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với người khuyết tật là nữ
Chính phủ quy định mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng và kinh phí quy địnhtại khoản 2 Điều này
Thứ hai, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách
trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội không có quy định riêng đối với nạn
Trang 38nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Tuy nhiên, nếu nạn nhân nhiễm chất độc dacam/dioxin thuộc diện người khuyết tật và được hưởng chế độ trợ cấp xã hội theoquy định của pháp luật về người khuyết tật thì cũng được hưởng các chế độ bảo trợ
xã hội theo quy định của Nghị định này [khoản 6 Điều 5 Nghị định 136]
Chế độ trợ cấp hàng tháng mà người khuyết tật được hưởng theo quy định tạiĐiều 4 và Điều 6 Nghị định 136, điều 16 Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày10/4/2012 là 270.000 đồng nhân với hệ số tương ứng như sau:
“1 Hệ số tính mức trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật sốngtại hộ gia đình được quy định như sau:
a) Hệ số hai (2,0) đối với người khuyết tật đặc biệt nặng;
b) Hệ số hai phẩy năm (2,5) đối với người khuyết tật đặc biệt nặng là ngườicao tuổi, người khuyết tật đặc biệt nặng là trẻ em;
c) Hệ số một phẩy năm (1,5) đối với người khuyết tật nặng;
d) Hệ số hai (2,0) đối với người khuyết tật nặng là người cao tuổi, ngườikhuyết tật nặng là trẻ em
2 Trường hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng các hệ số khác nhau quyđịnh tại Khoản 1 Điều này thì chỉ được hưởng một hệ số cao nhất
3 Người khuyết tật quy định tại Khoản 1 Điều này đang được hưởng trợ cấp
xã hội hàng tháng, khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng bằng mức hỗ trợ mai tángđối với đối tượng bảo trợ xã hội Trường hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng cácmức hỗ trợ chi phí mai táng khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất”.Ngoài mức trợ cấp hàng tháng, người khuyết tật còn được hưởng các trợ giúp
về giáo dục, đào tạo, chế độ hỗ trợ mai táng phí
Đối với người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyếttật được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, được cấp thẻ bảo hiểm y tế
Như vậy, nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin nói chung mà bị khuyết tậtthuộc diện hưởng chế độ của Luật Người khuyết tật sẽ được hưởng các chế độ của
cả Luật Người khuyết tật và Nghị định 136/2013 của Chính phủ về chính sách bảotrợ xã hội
Thứ ba, từ năm 2000, người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất
độc da cam/dioxin được hưởng chế độ trợ cấp xã hội theo Quyết định số
Trang 3926/2000/QĐ-TTg ngày 23/2/2000 và tiếp đó là Quyết định số 120/2004/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ Đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp theo Quyết địnhnày bao gồm:
1 Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ dân chính Đảng,thanh niên xung phong tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng
bị Mỹ sử dụng chất độc hóa học trong chiến tranh Việt Nam từ tháng 8 năm 1961đến 30 tháng 4 năm 1975, đang không hưởng trợ cấp bệnh binh hoặc trợ cấp mấtsức lao động mà sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả chất độc hóa học
và thuộc các mức độ sau:
a) Bị mắc bệnh hiểm nghèo do nhiễm chất độc hóa học, không còn khả nănglao động
b) Bị mắc bệnh do nhiễm chất độc hóa học, bị suy giảm khả năng lao động
2 Con đẻ còn sống của đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này, con đẻ củabệnh binh, con đẻ của công nhân viên chức mất sức lao động mà bị hậu quả donhiễm chất độc hoá học và thuộc mức độ sau:
a) Bị dị dạng, dị tật nặng, không có khả năng lao động, không tự lực đượctrong sinh hoạt
b) Bị dị dạng, dị tật, không có khả năng lao động nhưng còn tự lực đượctrong sinh hoạt
Mức trợ cấp xã hội đối với từng diện đối tượng có khác nhau, cụ thể:
+ Mức trợ cấp bằng 300.000 đồng/người/tháng đối với đối tượng quy định tạiđiểm a khoản 1 Điều 1
+ Mức trợ cấp bằng 165.000 đồng/người/tháng đối với đối tượng quy định tạiđiểm b khoản 1 Điều 1
+ Mức trợ cấp bằng 170.000 đồng/người/tháng đối với đối tượng quy định tạiđiểm a khoản 2 Điều 1
+ Mức trợ cấp bằng 85.000 đồng/người/tháng đối với đối tượng quy định tạiđiểm b khoản 2 Điều 1
Trong trường hợp nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin thuộc diện đượchưởng chính sách bảo trợ xã hội của nhiều văn bản pháp luật khác nhau thì phápluật quy định như sau:
Trang 40Người khuyết tật đang hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng;đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng thì không hưởng chínhsách quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật Người khuyết tật nhưng được hưởngchính sách quy định tại Luật này nếu pháp luật về người có công với cách mạnghoặc pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa quy định.
Người khuyết tật thuộc đối tượng được hưởng nhiều chính sách trợ giúp cácđối tượng bảo trợ xã hội cùng loại chỉ được hưởng một chính sách trợ giúp cao nhất
2.2.2 Thực trạng pháp luật về chính sách ưu đãi ngoài trợ cấp
Chỉ có nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin là người hoạt động khángchiến hoặc con đẻ người hoạt động kháng chiến mới được hưởng chế độ ưu đãingoài trợ cấp theo Pháp Lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
Ngày 29 tháng 6 năm 2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh
Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH qui định người hoạtđộng kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học không phải là đối tượng bảo trợ xã hội
mà là diện người có công với cách mạng.Trong quy định chi tiết, hướng dẫn thihành Pháp lệnh – tại Điều 22 – Nghị định 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006, quyđịnh điều kiện tiêu chuẩn xác nhận:
“1 Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học qui định tạiKhoản 1 Điều 26 của Pháp lệnh gồm:
a) Cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòngquân đội nhân dân Việt Nam;
b) Cán bộ, chiến sỹ, công nhân thuộc lực lượng Công an nhân dân;
c) Cán bộ, công nhân, viên chức trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội và các đoàn thể chính trị - xã hội khác;
d) Thanh niên xung phong;
đ) Dân công;
e) Công an xã, dân quân du kích, tự vệ, cán bộ thôn ấp, xã, phường.”
Điều kiện để hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bịnhiễm chất độc hoá học: