1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo tốt nghiệp hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP công thương chi nhánh hai bà trưng hà nội

59 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 532 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trong hoạt động tín dụng nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh của ngânhàng nói chung nếu không thường xuyên quan tâm đến công tác quản lý rủi rotín dụng.Chính vì thế, qua quá trình họ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NHNN Ngân hàng nhà nước TCNH Tài chính ngân hàng NHTM Ngân hàng thương mại TSCD Tài sản cố định

TCTD Tổ chức tín dụng

Trang 3

PHẦN 1:LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

_Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển củanền kinh tế hàng hoá để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanhtoán…, phục vụ cho phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chứckinh tế, cá nhân với đặc thù kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Vì vậy, hoạtđộng ngân hàng chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro mà chúng ta khó có thể lườngtrước được Nguyên nhân của những tiềm ẩn rủi ro này là do ngân hàng làmột trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế với lãi suấtthấp, sau đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao để thu lợinhuận Nếu ngân hàng không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động

đủ vốn nhưng không có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kémhiệu quả, sẽ dẫn đến rủi ro

_Trong kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam, lợi nhuận từ hoạt động tín

dụng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thu nhập của các ngân hàng Tuy nhiên,hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tếmới nổi như Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy

đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộngân hàng chưa cao… Do Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Hai BàTrưng Hà Nội mới thành lập nên hoạt động này chưa thật sự có hiệu quả nhưmong muốn nhưng trong vài năm tới, chi nhánh đặc biệt quan tâm đến hoạtđộng này với mục đích đem lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng Song, hoạtđộng tín dụng bao giờ cũng đi kèm với tính rủi ro cao Việc tập trung quánhiều vào tín dụng trong khi khả năng quản lý rủi ro tín dụng chưa cao, chưa

có chính sách tín dụng khoa học, chưa có mô hình lượng hóa rủi ro, chấtlượng nguồn nhân lực còn yếu kém…có thể tạo ra nguy cơ phát sinh nhữngkhoản nợ xấu cho ngân hàng Hơn nữa, trong môi trường kinh doanh luônbiến động, rủi ro tín dụng ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp và luôn có thểxảy ra bất kỳ lúc nào Chi nhánh sẽ khó có thể đảm bảo an toàn và hiệu quả

Trang 4

trong hoạt động tín dụng nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh của ngânhàng nói chung nếu không thường xuyên quan tâm đến công tác quản lý rủi rotín dụng.

Chính vì thế, qua quá trình học tập, tìm hiểu, thực tập tại Ngân hàngTMCP Công thương chi nhánh Hai Bà Trưng Hà Nội ,em muốn nghiên cứu

đề tài: “Hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Hai Bà Trưng Hà Nội”

1.2 Mục đích nghiên cứu

_Nghiên cứu ,phân tích thực trạng hoạt động quản lý rủi ro tíndụng tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Hai Bà Trưng Hà Nội

_Nghiên cứu chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng,chỉ

ra được sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng taiNgân hàng TMCP Công thương chi nhánh Hai Bà Trưng Hà Nội

_Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường côngtác nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Côngthương chi nhánh Hai Bà Trưng

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Hai

Bà Trưng Hà Nội

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tíndụng tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Hai Bà Trưng Hà Nộinăm 2010_2012

1.4 Phương pháp nghiên cứu

_Duy vật biện chứng

_Phương pháp so sánh,phân tích,hệ thống,chứng minh

Trang 6

PHẦN 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

2.1.1.Ngân hàng thương mại

a) Khái niệm

Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Cónhiều cách định nghĩa về Ngân hàng thông qua các chức năng, dịch vụ hoặcvai trò mà ngân hàng thực hiện trong nền kinh tế

Có thể hiểu:“Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện

chức năng kinh doanh tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”

Đồng thời, ngân hàng thương mại còn là những trung gian tài chính,

nhận tiền gửi của các hộ gia đình (cá nhân) cho các doanh nghiệp và cá nhânkhác vay, cung cấp các dịch vụ về trao đổi ngoại tệ, chuyển tiền, các dịch vụliên quan đến thư tín dụng, dịch vụ két an toàn, v.v

Xét từ góc độ dịch vụ trung gian tài chính chủ yếu mà ngân hàng thựchiện, người ta chia các ngân hàng thương mại thành các loại: ngân hàng thôngthường, ngân hàng tín thác và ngân hàng tín dụng dài hạn Tuy nhiên, xuhướng chuyển đổi thành các trung gian tài chính kinh doanh tổng hợp đãkhiến cho cách phân loại trên không còn được sử dụng nhiều Ngay cả ngânhàng đầu tư, vốn được coi là loại hình ngân hàng khác ngân hàng thương mại,nay cũng không còn khác biệt nhiều

Ở một số nước, người ta còn phân chia những ngân hàng thương mạithành các loại theo hình thức sở hữu Chẳng hạn ở Trung Quốc và Việt Nam,chính phủ phân NHTM thành các loại: ngân hàng thương mại nhà nước (dochính phủ sở hữu toàn bộ vốn điều lệ), ngân hàng thương mại cổ phần (vốnđiều lệ được chia thành các cổ phần, song các tập đoàn kinh tế nhà nước haycác tổng công ty nhà nước có thể chia nhau sở hữu toàn bộ số vốn điều lệ đó),

Trang 7

ngân hàng thương mại liên doanh (tổ chức tín dụng nước ngoài và tổ chức tíndụng trong nước cùng sở hữu), ngân hàng thương mại nước ngoài (đúng ra làchi nhánh ngân hàng nước ngoài).

Ở Việt Nam hiện nay có bốn NHTM Nhà nước lớn là: Ngân hàng ngoạithương, Ngân hàng công thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàngnông nghiệp và phát triển nông thôn

b) Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương mại

 Hoạt động huy động vốn

NHTM huy động vốn bằng các phương thức sau

 Nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân

 Vay các tổ chức trung gian tài chính khác

 Phát hành cổ phiếu, trái phiếu

 Vay Ngân hàng nhà nước

 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

 Quản lý ngân quỹ

 Tài trợ các hoạt động của Chính phủ

 Bảo lãnh

 Cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn

 Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

Trang 8

c)Những rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

 Rủi ro lãi suất: là những tổn thất tiềm ẩn mà ngân hàng phải chịu khi lãi suất thị trường có sự biến động

 Rủi ro hối đoái: là rủi ro do sự biến động của

tỷ giá hối đoái gây tổn thất cho ngân hàng trong hoạt động động kinh doanh ngoại tệ

 Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàngphải gánh chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn; khôngtrả hoặc trả không đầy đủ cả vốn và lãi theo hợp đồng tín dụng

 Rủi ro thanh khoản : là rủi ro phát sinh khi những người gửi tiền đồngthời có nhu cầu rút tiền ở ngân hàng ngay lập tức Khi đó, ngân hàngphải bán tài sản có tính thanh khoản thấphay vay từ NHNN

 Rủi ro công nghệ và hoạt động:

Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển côngnghê không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi

mở rộng quy mô hoạt động

Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thểphát sinh bất cứ lúc nào khi hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi hệthống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động

 Rủi ro quốc gia và các rủi ro khác…

2.1.2 Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

a)Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là sự cho vay hay ứng trước tiền do ngân hàngthực hiện Bản thân ngân hàng là người cho vay còn người đi vay là nhữngkhách hàng khác nhau Giá mà ngân hàng ấn định cho khách hàng khi đi vay

là tiền lãi mà họ phải trả trong suốt thời gian tồn tại khoản ứng trước đó

Trang 9

Phân loại tín dụng ngân hàng

Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng kháchhàng với những mục đích sử dụng khác nhau Nhìn chung, người ta phân loạitín dụng dựa theo các tiêu chí sau:

 Căn cứ vào thời hạn cho vay

Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn đến 1 năm.Thường được dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu độngcủa doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu cá nhân

Tín dụng trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến

5 năm Tín dụng trung hạn dùng để cho vay vốn muasắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới thiết bị kỹ thuật và mở rộng, xây dựngcác công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh

Tín dụng dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên 5năm Được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến, đầu tư côngnghệ mới và mở rộng sản xuất có quy mô lớn

 Căn cứ vào bảo đảm tín dụng

Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm

cố thế chấp hay có bảo lãnh của người thứ 3

Tín dụngcó bảo đảm:Là tín dụngcó tài sản cầm cố, thế chấp hay

có bảo lãnh của người thứ 3

 Căn cứ vào mức độ rủi ro của các khoản vay

Để phân chia tín dụng theo mức độ rủi ro, NHTM phải đánh giá và đưa

ra nhiều thang bậc rủi ro khác nhau, chủ yếu là:

Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng an toàn, có khả năng thuhồi cao

Tín dụng có vấn đề: là những khoản tín dụng có dấu hiệu không lànhmạnh như khách hàng kinh doanh thua lỗ, trì hoãn nộp báo cáo tài chính…

là các khoản nợ đã quá hạn trong thời hạn ngắn nhưng khách hàng

Trang 10

có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…

 Nợ quá hạn khó đòi: là những khoản nợ quá hạn lâu, khả năngtrả nợ của khách hàng kém, tài sản đảm bảo nhỏ hoặc bị mất giá, khách hàngchây lỳ…

 Quá trình sử dụng vốn vay

Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoảthuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quyđịnh khác của ngân hàng cấp trên

 Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả

Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứnhất Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khảnăng thu hồi được vốn và có lãi để trả nợ ngân hàng Các khoản tài trợ củangân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay Trongtrường hợp xét thấy kém an toàn, ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sảnđảm bảo khi vay

b).Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.

Khái niệm rủi ro tín dụng:

Hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro mà chúng ta khó cóthể lường trước được Nguyên nhân của những tiềm ẩn rủi ro này là do ngân

Trang 11

hàng là một trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vớilãi suất thấp, sau đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao

để thu lợi nhuận Nếu ngân hàng không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặchuy động đủ vốn nhưng không có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạtđộng kém hiệu quả, sẽ dẫn đến rủi ro

Do đặc thù kinh doanh của ngân hàng nên có rất nhiều loại rủi ro: rủi rolãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng … Trong số tất cảcác loại rủi ro kể trên thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất

và phức tạp nhất, đang diển ra ở mức đáng quan tâm

Chính vì vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra quan niệm củamình về rủi ro tín dụng

 Theo cuốn “Đánh giá và phòng ngừa rủi ro tín dụng trongkinh doanh ngân hàng” của Nguyễn Văn Tiến, ông chorằng rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngânhàngkhông thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vayhoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn

 Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì: Rủi ro tín dụngtrong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

là khảnăng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàngcủa tổ chức tín dụng do khách

hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mìnhtheo cam kết

Từ đó, có thể rút ra khái niệm của rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng phải chịu do

khách hàng vay không trả, hoặc không trả đúng hạn, hoặc không trả đầy đủ vốn và (hoặc) lãi tiền vay theo như các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.

Phân loại rủi ro tín dụng:

Trang 12

Rủi ro tín dụng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theomục tiêu quản lý rủi ro của từng ngân hàng.

Các loại rủi ro tín dụng thường thấy:

 Căn cứ vào tính chất của rủi ro:

 Rủi ro sai hẹn: đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trongviệc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, baogồm nợ gốc và( hoặc) lãi vay Sự sai hẹn này là trễ hẹn

 Rủi ro mất vốn: đó là rủi ro khi người vay khôngthực hiện nghĩa vụ nợ theo hợp đồng tín dụng, baogồm nợ gốc và (hoặc) lãi vay

 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro

 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan

Đó thường là những rủi ro mà ngân hàng không thể dự đoán hoặckhông thể dự đoán được một cách chính xác ảnh hưởng của chúng Loại rủi

ro này thường do các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên, môi trường xã hội,

…gây nên

 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan

Đây là loại rủi ro mà ngân hàng có thế dự đoán được chủ thể gây ra rủi

ro đó, ước tính được mức độ ảnh hưởng và thời gian phát sinh…để từ đó

có thể đưa ra những biện pháp phòng ngừa hợp lý, hạn chế thiệt hại ở mứcthấp nhất Loại rủi ro này thường xuất phát từ chính bản thân ngân hànghoặc khách hàng đi vay

Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng

 Đối với nền kinh tế:

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến hoạt động của doanhnghiệp, các ngành và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi rotín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang

lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệthống ngân hàng gặp khó khăn Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình

Trang 13

hình sản suất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đếnđời sống công nhân gặp khó khăn Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàngảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suythoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định Ngoài

ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nềnkinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Kinhnghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) và mới đây làcuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã làm rung chuyển toàncầu Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rấtnhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tếcác nước có liên quan

 Đối với ngân hàng:

Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp

và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy độngkhi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi Khikhông thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinhdoanh không có hiệu quả Khi gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thường rơivào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnhhưởng đến uy tín của ngân hàng, bị cấp trên khiển trách Đối với cấp dưới, dogặp phải rủi ro tín dụng nên không có tiền trả lương cho nhân viên vì thếnhững người có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác, gây khó khăn cho ngânhàng

Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khácnhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi chovay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ caodẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắcphục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh

tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhàquản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp

Trang 14

nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.

2.2.Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

2.2.1.Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến nên hậu quả của

nó rất lớn Do đó, ngân hàng nào cũng quan tâm đến quản lý phòng ngừa rủi

ro tín dụng Nhìn chung, quản lý rủi ro tín dụng là toàn bộ quá trình lập kếhoạch, phòng ngừa, kiểm tra, giám sát liên tục bắt đầu từ khâu thẩm địnhđánh giá khách hàng cũng như các khoản vay của khách hàng trước khi đưa raquyết định cho vay, đến khi giải ngân, theo dõi và những biện pháp xử lýnhững khoản nợ có vấn đề nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro có thể xảy ra nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng

Mục đích chính của quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

là nhằm bảo đảm các hoạt động tín dụng của ngân hàng không phải gánh chịunhững rủi ro có thể làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại củangân hàng

Như vậy, có thể nói: “Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và

thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng

và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM”.

2.2.2.Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng gắn liền với quản trị và kinh doanh tín dụng ngânhàng, một trong những hoạt động chủ đạo của NHTM Quản lý rủi ro tín dụngphải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng và khôngngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM ngay cả trong điềukiện kinh tế đầy biến động, nguy cơ rủi ro cao Nói cách khác thì quản lý rủi

ro phải nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn trongkinh doanh của mỗi NHTM bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám

Trang 15

sát các hoạt động tín dụng một cách khoa học và hiệu quả.

2.2.3.Nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng dựa trên những nguyên tắc cơ bản như sau:

a)Nguyên tắc chấp nhận rủi ro

Các nhà quản trị ngân hàng cần phải chấp nhận rủi ro ở mức cho phép nếunhư muốn có được thu nhập phù hợp từ hoạt động tín dụng của mình Bởi vìmuốn loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng là điều không thể, trừ khi ngân hàngkhông cho vay đối với bất kỳ khách hàng nào Do đó, nguyên tắc đầu tiêntrong quá trình quản lý rủi ro đối với các nhà quản trị ngân hàng là phải chấpnhận mức “rủi ro cho phép” theo quy định của NHNN

b)Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép

Nguyên tắc này đòi hỏi phần lớn rủi ro trong “gói rủi ro cho phép” phải

có khả năng điều tiết trong quá trình quản lý mà không phụ thuộc vào hoàncảnh khách quan hay chủ quan của nó Ngoài ra, đối với các loại rủi ro khôngthể “điều chỉnh” cần phải chuyển đẩy sang các công ty bảo hiểm bên ngoài

c).Nguyên tắc quản lý độc lập rủi ro tín dụng với các loại rủi ro khác trong ngân hàng

Nhìn chung, sự thiệt hại đối với ngân hàng do các loại rủi ro khác gây nên

là khá độc lập nhau nên trong quá trình quản lý rủi ro chúng ta phải điều tiếttách biệt, không thể gộp các loại rủi ro khác nhau vào một nhóm để đưa racùng một phương án điều chỉnh

d).Nguyên tắc phù hợp về thời gian

Thời gian tồn tại nghiệp vụ tín dụng càng lâu thì cường độ xảy ra rủi ro cànglớn, khả năng điều tiết những tiêu cực của nó và tính hiệu quả của quản lý rủi

ro càng thấp Khi bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ này thì ngân hàng phảiđảm bảo có mức độ thu nhập phụ trội cần thiết không chỉ vì lợi nhuận mà còn

vì mục đích bù đắp chi phí khi rủi ro tín dụng xảy ra

e)Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng

Hệ thống quản lý rủi ro tín dụng cần phải dựa trên nền tảng những mục tiêu

Trang 16

chung của chiến lược phát triển ngân hàng cũng như các chính sách điều hànhhoạt động của ngân hàng.

Từ những nguyên tắc trên, ngân hàng cần xây dựng cho mình một chínhsách quản lý rủi ro tín dụng phù hợp Chính sách này phải được coi là một bộphận quan trọng trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng, trong đóphải xây dựng hệ thống phòng ngừa rủi ro và đưa ra những giải pháp nhằmhạn chế những tác động xấu của rủi ro tín dụng đến sự tồn tại và phát triểncủa ngân hàng

2.2.4.Nội dung của quản lý rủi ro tín dụng

Để quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng thương mại thường quan tâm đếncác nội dung sau:

a)Xây dựng chính sách và quy trình tín dụng

Hoạt động tín dụng hết sức đa dạng và phức tạp, liên quan đến nhiều bộphận khác nhau trong ngân hàng đòi hỏi phải có sự kết hợp và chỉ đạo chungthông qua chính sách và quy trình tín dụng

Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, tham số định hướng cho các cán bộngân hàng, những người làm công tác cho vay và quản trị danh mục đầu tư.Chính sách cần được xây dựng khoa học, cẩn thận, chính xác và thông suốt từtrên xuống dưới tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng củamình, tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh của kháchhàng Chính sách tín dụng đúng đắn là yếu tố cơ bản, là nền tảng để quản lýtín dụng hiệu quả, là điều kiện thiết yếu để quản lý rủi ro tín dụng tốt

Chính sách tín dụng thường bao gồm những nội dung cơ bản sau:

 Miêu tả thị trường tín dụng mục tiêu của ngân hàng

 Tuyên bố về tiêu chuẩn đối với những danh mục cho vaycủa ngân hàng

 Xác định quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ tham gia quá trình raquyết định cho vay

Trang 17

 Những thủ tục, hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánhgiá và ra quyết định đối với yêu cầu vay vốn của khách hàng.

 Các tài liệu cần thiết trong hồ sơ vay vốn

 Hướng dẫn tiếp nhận, bảo quản tài sản thế chấp

các khoản phí và thời hạn vay vốn, kỳ hạn trả nợ

 Một bản tiêu chuẩn áp dụng cho toàn bộ danh mục cho vay

 Giới hạn cho vay tối đa của từng ngành, từng nhóm sản phẩm đốivới toàn danh mục, của tổng dư nợ đối với tổng tài sản của ngân hàng

 Phát hiện, phân tích và xử lý các khoản vay có vấn đề

 Chính sách cho vay thận trọng đối với các khách hàng

có khó khăn tạm thời

Chính sách tín dụng là cơ sở để hình thành quy trình tín dụng Quy trình tíndụng là văn bản hướng dẫn nội bộ của ngân hàng về trình tự xử lý các bướctrong một quá trình cung cấp tín dụng đến khách hàng, nhằm bảo đảm tínhthống nhất hoạt động trong toàn ngành ngân hàng và tuân thủ đúng các quyđịnh của pháp luật

Quy trình tín dụng phải nêu rõ các bước tác nghiệp cũng như kết quả củatất cả các bước tác nghiệp, bao gồm các bước: thẩm định cho vay, ra quyếtđịnh cho vay, giải ngân, theo dõi sau khi cho vay, giám sát toàn bộ quá trìnhcho vay, theo dõi đặc biệt một số khoản cho vay, xử lý các khoản vay có vấnđề…Nhờ đó, quy trình tín dụng phần nào hạn chế rủi ro tín dụng cho ngânhàng

b)Cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng

Cơ cấu tổ chức tín dụng được tổ chức tốt là một trong những công cụ quantrọng để quản lý rủi ro có hiệu quả

Một trong những điều kiện cần thiết nhất trong cơ cấu tổ chức áp dụng vớihoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là việc tách bạch ba chức năng:chức năng kinh doanh, chức năng quản lý rủi ro và chức năng tác nghiệp Sự

Trang 18

tách bạch giữa ba chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là hạn chế rủi ro ở mứcthấp nhất, đồng thời phát huy tối đa chuyên môn của từng vị trí công tác tíndụng Điểm nổi bật của mô hình tổ chức này là đảm bảo tính độc lập của bộphận quản lý rủi ro, không tập trung quyền lực vào một cá nhân hoặc bộ phậnnào.

Một yêu cầu nữa đối với cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng là phải đảm bảotính thống nhất trong mối quan hệ ràng buộc kiểm soát lẫn nhau, thông tinđược tập trung, đầy đủ, chính xác và kịp thời Theo đó, ngoài các phòngnghiệp vụ làm công tác tín dụng, để đảm bảo tính tập thể trong các quyết định

về tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng, các NHTM còn thành lập Ủy ban quản

lý rủi ro và Hội đồng tín dụng

c)Xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ là cách thứcquản lý chất lượng tín dụng tiên tiến mà các NHTM muốn quản lý rủi ro tíndụng tốt cần phải có Một hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng kháchhàng nội bộ được xây dựng phù hợp sẽ giúp cho việc đánh giá khách hàngđược nhất quán giữa các cán bộ tín dụng, giữa cán bộ tín dụng với các cấpquản lý, giữa các chi nhánh của một NHTM, giảm bớt được các đánh giámang tính chất chủ quan của con người nâng cao được chất lượng và hiệuquả của hoạt động tín dụng

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ là một quytrình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàngđối với một ngân hàng như việc trả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc cácđiều kiện tín dụng khác nhằm đánh giá, xác định rủi ro trong hoạt động tíndụng của ngân hàng Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượngkhách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm,dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thờiđiểm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng

Trang 19

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ thôngthường được xây dựng theo nguyên tắc chấm điểm trên cơ sở các chỉ số tàichính kết hợp với các chỉ số phi tài chính của khách hàng nhằm lượng hóa cácrủi ro tín dụng mà NHTM sẽ phải đối mặt Hệ thống này sử dụng các phươngpháp chấm điểm hoặc xếp hạng riêng đối với từng đối tượng khách hàng.Thông thường có thể chia làm ba nhóm đối tượng khách hàng là : các tổ chứctài chính, các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực và các cá nhân.

 Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng trong hệ thống xếp hạngtín dụng nội bộ của NHTM:

 Trình độ quản lý của khách hàng ( kinh nghiệm trong ngànhcủa cấp quản lý doanh nghiệp, năng lực điều hành, khả năng

xử lý vấn đề như rủi ro, kiểm soát nội bộ…)

 Uy tín trong giao dịch tín dụng với ngân hàng (trả nợ đúng hạn,

số lần gia hạn nợ, …) và phi tín dụng ( liên quan đến giao dịchtiền gửi thanh toán)

 Mức độ thích nghi trước những thay đổi thị trường, thay đổi chính sáchthuế, đầu tư…của khách hàng

 Lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, triển vọng của ngành kinh doanh

 Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu được sử dụng để xếp hạng tín dụngnội bộ ở NHTM gồm:

 Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hoạt động kinh doanh cho biết tình hình

sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp: doanh thu thuần/các khoản phảithu; kỳ thu tiền bình quân: các khoảnphải thu/Doanh thu bìnhquân hàng ngày; vòng quay hàng tồn kho:giá vốn hàng bán/Hàngtồn kho bình quân trong kỳ; hiệu suất sử dụng TSCĐ:doanh thu thuần/TSCĐ…

 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản cho biết khả năng đáp ứngcác khoản nợ của doanh nghiệp: khả năng thanh khoản hiện tại:tài sản ngắn hạn/ nợ ngắn hạn; khả năng thanh khoản nhanh:

Trang 20

(tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn; tỷ lệ doanh thutrên vốn ngắn hạn: doanh thu thuần/(Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn)

 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời để đánhgiá hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng quản lý của doanhnghiệp: tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu:Lợi nhuận/doanh thu thuần;tỷlệ lợi nhuận trên tổng tài sản: Lợi nhuận ròng/ Tổng tài sản…

Tuy nhiên cần lưu ý rằng hệ thống chấm điểm tín dụng là một hệ thốngđộng, thường xuyên thay đổi theo sự thay đổi của môi trường kinh doanh, môitrường đầu tư, các chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp…Vì vậy,NHTM cần phải thường xuyên theo dõi, cập nhật và điều chỉnh hệ thốngchấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ sao cho phù hợp với từngthời kỳ, đem lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng

Đối với các NHTM Việt Nam, xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng vàxếp hạng khách hàng nội bộ là một yêu cầu bắt buộc theo quy định tại Quyếtđịnh 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sửdụng dự phòng tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng,nhằm hướng hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam tiếngần đến các chuẩn mực và thông lệ quốc tế

d) Các biện pháp bảo đảm tiền vay

Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằmphòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ

đã cho khách hàng vay

Bảo đảm tiền vay được coi như một công cụ để quản lý rủi ro tín dụng củaNHTM vì khi yêu cầu khách hàng vay vốn phải có bảo đảm tiền vay sẽ nângcao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của bên vay cũng như phòng ngừa

sự gian lận, lừa đảo của bên vay Khi không có tài sản đảm bảo thì phần vốncủa bên vay tham gia rất ít hoặc không tham gia vào dự án đầu tư, do đó họ có

xu hướng thực hiện các dự án có mức độ rủi ro cao để mang lại lợi nhuận lớn

Trang 21

vì nếu dự án thất bại họ sẽ mất không đáng kể, còn nếu thành công thì họ thuđược lợi ích rất lớn Hành vi của bên vay sẽ hoàn toàn ngược lại khi họ phảiđem thế chấp những tài sản hiện có để được cấp tín dụng Chính vì vậy, kháchhàng phải thận trọng hơn trong việc đưa ra các quyết định đầu tư của mình Ngoài ra, ngân hàng yêu cầu phải có tài sản đảm bảo vì trong trường hợpnếu khách hàng vay không có khả năng trả nợ thì ngân hàng có quyền thu giữ

và bán tài sản để thu hồi nợ vay Khi đó, tài sản đảm bảo của khách hàng trởthành nguồn thu nợ thứ hai của khoản vay, hạn chế rủi ro tín dụng cho ngânhàng Nhưng cần phải lưu ý rằng: giá trị của tài sản đảm bảo phụ thuộc nhiềuvào chu kỳ kinh tế, yếu tố công nghệ, tính pháp lý của tài sản…nên nếu cóbiến động theo hướng tiêu cực thì tính thanh khoản sẽ thấp Trên thực tế, việcthu nợ bằng số tiền bán tài sản đảm bảo không đủ để thu hồi khoản cho vayxảy ra rất nhiều ở các NHTM Vì vậy, tài sản đảm bảo chỉ là điều kiện cầnchứ chưa phải là điều kiện đủ để ngân hàng có thế kiểm soát được rủi ro khicho vay

Hơn nữa, theo các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng theo tiêuchuẩn quốc tế cũng như của Việt Nam, giá trị tài sản đảm bảo cũng được tínhđến khi xác định mức dự phòng cụ thể cho từng khoản vay Do đó, yêu cầu vềtài sản đảm bảo khi cho vay vốn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm bớtmức trích lập dự phòng rủi ro nếu khoản vay bị phân loại vào nhóm nợ cầntrích lập dự phòng

e).Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng

Trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, một trong nhữngkhả năng dẫn đến rủi ro tín dụng là rủi ro đạo đức

Khi nói đến rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng ngân hàng, chúng tathường đề cập đến rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng mà ít nói đến rủi ro đạođức của người quản lý Một nhà quản lý làm đúng chức năng, nhiệm vụ thìphòng ngừa được sự phát sinh của loại rủi ro này Nhưng trên thực tế, vì lợiích cá nhân hay một nhóm tập thể cán bộ quản lý trong công tác điều hành đã

Trang 22

vô tình hoặc cố ý tạo điều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro này phát triển gây ảnhhưởng xấu đến ngân hàng Chúng ta phải thừa nhận rằng ở đâu chú trọng đếncông tác tín dụng, luôn tuân thủ các quy trình từ xét duyệt cho vay, kiểm tragiám sát việc sử dụng tiền vay, thu hồi nợ, xử lý nợ nghi ngờ, nợ xấu luônnêu cao phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm của cán bộ thì ở đó, chấtlượng tín dụng cao và kiểm soát tốt, giảm thiểu rủi ro Ngược lại, ở đâu sựquan tâm chú trọng không đầy đủ đúng mức thì ở đó, chất lượng tín dụngthấp, rủi ro cao và thậm chí mất cả cán bộ.

Bên cạnh đó, rủi ro đạo đức trong kinh doanh của các NHTM không phảichỉ do cán bộ quản lý, cán bộ nhân viên tín dụng của ngân hàng mà còn donhững người vay vốn Có thể thấy rõ rủi ro tín dụng xuất phát từ phía ngườivay vốn chia làm hai loại đối tượng: (1) không thực hiện nghĩa vụ theo camkết; (2) không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Cũng không ítkhách hàng để đạt được mục tiêu vay vốn của mình đã giả tạo hồ sơ, hợpđồng mua bán vòng vo nhằm vay vốn ngân hàng Điều đó đòi hỏi NHTM nóichung, cán bộ tín dụng, thẩm định nói riêng phải làm tốt, chính xác việc phânloại đối tượng vay vốn, từ đó có các biện pháp kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ,hướng dẫn, phòng ngừa rủi ro tương ứng, hữu hiệu

Chính vì thế, kiểm tra, kiểm soát tín dụng có vai trò vô cùng quan trọngđối với chương trình cho vay lành mạnh của ngân hàng Nó không nhữnggiúp các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra những khoản cho vay có vấn đềnhanh hơn mà còn xác định được các cán bộ có tuân thủ đúng chính sách vàquy trình tín dụng của ngân hàng không Do đó, để tăng cường tính kháchquan trong quá trình kiểm tra, kiểm soát tín dụng, phần lớn các ngân hàngtách riêng cán bộ kiểm soát tín dụng ra khỏi phòng tín dụng Kiểm soát tíndụng cũng giúp các nhà quản lý ngân hàng trong việc xác định, đánh giá rủi

ro tiềm tàng của ngân hàng và nhu cầu vốn trong tương lai

Đồng thời, NHTM còn tiến hành công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ.Thông qua hoạt động này, các nhà quản lý có thể phát hiện, ngăn ngừa và

Trang 23

chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng cũngnhư những rủi ro đạo đức do cán bộ tín dụng gây ra Hoạt động kiểm tra, kiểmsoát nội bộ được thực hiện bởi một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó

là phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa ra các đánh giá một cách kháchquan đối với hoạt động tín dụng

Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ nghiệp vụ cho vay tại các NHTM hiệnnay tập trung vào hai vấn đề chính:

 Kiểm tra, kiểm soát việc tổ chức chỉ đạo điều hành và đánh

nội bộ thường tiến hành ở một số nội dung như: kiểm traviệc tổ chức phâncông của lãnh đạo trong chỉ đạo điều hành hoạt độngtín dụng; kiểm tra việc triển khai chiến lược hoạt động của các phòngban; kiểm tra việc bố trí nhân sự…

cụ thể bảo gồm cả khâu trước, trong và sau khi cho vay Kiểm tra trước

và trong khi cho vay thường tập trung vào một số mặt như tính hợp

lệ và đầy đủ của hồ sơ vay vốn của khách hàng, các tài sản đảm bảotiền vay, việc thẩm định và lập hợp đồng tín dụng…Kiểm soát khâu saukhi cho vay thường tập trung vào việc kiểm tra tình hình sử dụng vốnvay và lưu trữ hồ sơ vay vốn

f)Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là nội dung không thểthiếu trong quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM sau khi các khoản vay đãđược thực hiện Việc phân loại các khoản vay thành các nhóm khác nhau dựatrên đánh giá về mức độ rủi ro của các khoản vay giúp cho các NHTM đánhgiá đúng chất lượng tín dụng của các khoản vay đang được thực hiện đồngthời cũng là cơ sở để các NHTM xác định được mức dự phòng cần phải tríchlập cho các khoản vay có dấu hiệu của sự suy giảm giá trị và khả năng thu hồivốn Trên cơ sở số tiền dự phòng rủi ro đã được trích lập sẽ giúp cho các

Trang 24

NHTM chủ động đối phó được với những rủi ro tín dụng khi nó xảy ra, cũngnhư không gây nên những biến động lớn trong hoạt động kinh doanh và tìnhhình tài chính của ngân hàng.

Để đánh giá một khoản vay, các NHTM cần phải xem xét cả các yếu

tố định tính và định lượng Các yếu tố này bao gồm những chỉ tiêu đánh giábản thân khách hàng vay chứ không chỉ đơn thuần đánh giá từng khoản vay

cụ thể vì khả năng thanh toán của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến chất lượngcủa toàn bộ các khoản vay của khách hàng đó

Các NHTM Việt Nam hiện nay đang thực hiện việc phân loại nợ, trích lập

và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng theo Quyết định số 493/2005/QĐ –NHNN ngày 22/04/2005 Theo quyết định này, tất cả các khoản cho vay củacác tổ chức tín dụng bao gồm cả nợ nội bảng và nợ ngoại bảng được phânthành 5 nhóm:

 Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn): nợ trong giới hạn được đánhgiá là có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng thời hạn

 Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): nợ quá hạn dưới 90 ngày,

nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại

 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): nợ quá hạn 90 đến 180 ngày, nợ cơ cấulại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại

 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): nợ quá hạn 181 đến 360 ngày,

nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn

nợ đã cơ cấu lại

 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): nợ quá hạn trên 360 ngày,

nợ khoanh chờ chính phủ xử lý, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạntrên 180 ngày theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại

Bên cạnh nguyên tắc phân nhóm như trên, TCTD phải thực hiện hạ bậc phânloại nợ nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm hoặc nếu cóbất kỳ một khoản nợ nào trong nhiều khoản nợ của khách hàng bị chuyểnsang nhóm có độ rủi ro cao hơn

Trang 25

Trên cơ sở phân loại nợ, các TCTD thực hiện việc trích lập dự phòng rủi

ro cho từng khoản vay theo nguyên tắc được phép xác định giá trị tài sản đảmbảo để khấu trừ ra khỏi số tiền được trích lập với tỷ lệ trích lập tương ứng chocác khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 là: 0%, 5%, 20%, 50% và 100% Ngoài

ra, TCTD còn thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổnggiá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến 4

Việc thực hiện phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro theoQuyết định 493 là một thay đổi lớn trong hoạt động của các TCTD Việt Nam,nhằm định hướng cho hoạt động của các NHTM đến gần hơn các chuẩn mựcquốc tế, giúp các NHTM chủ động đánh giá được chất lượng hoạt động tíndụng của mình và có thể chủ động đối phó với những rủi ro có thể xảy ra Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với NH,gây tổn thất cho NH, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho NH Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của NHTM như:

 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Theo quyết định 493 /2005/QĐ–NHNN ngày 22/04/2005, nợ xấu

là nợ nhóm 3 đến nhóm 5, phản ánh mức độ rủi ro tín dụng cao Còn trướcnăm 2005, các NHTM thường sử dụng chỉ tiêu nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ xấu là những khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạnthanh toán đã thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng.Nợ xấu nói chung đượcxem như một dấu hiệu của một vấn đề rủi ro tiềm ẩn

Có thể nói nợ xấu là chỉ tiêu tuyệt đối được sử dụng khá phổ biến ở cácngân hàng để đánh giá kết quả quản lý rủi ro tín dụng Chỉ tiêu này càng caothì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn, công tác quản lý rủi rotín dụng chưa tốt

 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Tuy được sử dụng nhiều nhưng chỉ tiêu nợ xấu chưa đủ đánh giá một

Trang 26

cách đầy đủ, đúng đắn việc quản lý rủi ro tín dụng Vì thế, ngoài chỉ tiêunày, người ta còn dùng chỉ tiêu tương đối là tỷ lệ nợ xấu.

Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa dự nợ xấu và tổng số dư nợ hiện có của ngânhàng Tỷ lệ nợ xấu được xác định như sau:

Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu/ Tổng dư nợ

Tỷ lệ này càng thấp thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng càng thấp,phản ánh việc quản lý rủi ro tín dụng tốt và ngược lại

Tuy nhiên nếu tỷ lệ này thấp hay bằng 0 không có nghĩa là rủi ro tín dụngthấp hoặc không có mà số tiền rủi ro khi đó chính là tổng dự nợ hiện tại củangân hàng Không phải những khoản vay chưa đến hạn thanh toán là không

có rủi ro Vì thế, ngoài hai đại lượng định lượng trên, ngân hàng còn sửdụng các chỉ tiêu định tính

 Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu

 Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất

 Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) – có khả năng chuyển thành

nợ xấu cao

 Nợ không có tài sản đảm bảo

2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng

của các ngân hàng thương mại

a)Các nhân tố chủ quan

 Nhận thức về sự cần thiết của quản lý rủi ro tín dụng

Mọi cá nhân từ cán bộ tác nghiệp đến các cấp lãnh đạo phải quán triệtquan điểm: rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động tín dụng của các ngânhàng Để thu được lợi nhuận, các ngân hàng không thể chối bỏ rủi ro, nghĩa

là không thể không cho vay, mà chỉ có thể tìm cách làm hạn chế những tổnthất có thể có bằng cách xây dựng chiến lược quản lý rủi ro thích hợp

Các ngân hàng cần đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệrủi ro – lợi ích nhằm tìm ra cơ hội đạt những lợi ích tương ứng với mức độrủi ro có thể chấp nhận được Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro là

Trang 27

hợp lý và kiểm soát được, hơn nữa phải nằm trong giới hạn nguồn lực tàichính của ngân hàng Do đó quản lý rủi ro tín dụng là quá trình phải đượcthực hiện liên tục ở mọi cấp độ của mỗi ngân hàng và là yêu cầu bắt buộc đểcác TCTC có thể đạt được mục tiêu đề ra.

Mỗi ngân hàng cần phải tạo ra “văn hóa chấp nhận rủi ro” cho toàn bộ cáccán bộ nhân viêc trong tổ chức : các bộ phận cần trao đổi thông tin với nhau

để tìm ra những dấu hiệu bất thường giúp cho việc quản lý rủi ro được tốthơn

 Thông tin phục vụ cho hoạt động tín dụng

Thông tin tín dụng là yếu tố vô cùng quan trọng cho quá trình quản lý rủi

ro tín dụng Đó có thể là thông tin lịch sử, thông tin hiện tại và xu hướngphát triển của khách hàng (bao gồm thông tin tài chính và phi tài chính),thông tin về thị trường, sản phẩm, môi trường đầu tư, môi trường phápluật…Nhờ có các thông tin này các nhà quản lý sẽ hạn chế rủi ro ở mức thấpnhất có thể

 Công nghệ

Công nghệ là một trong những yếu tố không thể thiếu để nâng cao hiệuquả hoạt động quản lý rủi ro tín dụng Trước đây, công nghệ ngân hàng ítđược chú trọng nên gần như không có ý nghĩa đối với quản lý rủi ro tíndụng Hiện nay, trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và

xu thế hội nhập quốc tế, các NHTM ngày càng mở rộng quy mô về tổng tàisản, thị trường hoạt động, số lượng giao dịch…thì công nghệ ngày càng cóvai trò quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng Nó cung cấp cho cán bộquản lý rủi ro tín dụng những công cụ hiệu quả nhất từ việc nhanh chóngphát hiệu các dấu hiệu rủi ro tín dụng đến việc cập nhật từng giờ các thôngtin cần thiết cho mọi hoạt động của ngân hàng Với hệ thống công nghệ hiệnđại, ngân hàng có thể thu thập, phân tích xử lý các thông tin, báo cáo nhằm

sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau mà không cần mất nhiều thời gian,

từ đó làm tăng khả năng triển khai hiệu quả những biện pháp quản lý rủi ro

Trang 28

tín dụng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động tốt và thu được lợi nhuận cao.

 Trình độ của nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là yếu tố mấu chốt ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi rotín dụng Một đội ngũ cán bộ nhân viên có năng lực sẽ phát huy các biệnpháp quản lý rủi ro tín dụng một cách tốt nhất, đem lại kết quả có tính tíchcực cho ngân hàng trong hoạt động tín dụng cũng như các hoạt động khác Nguồn nhân lực với kinh nghiệm và trình độ yếu kém có thể đưa ra nhữngquyết định cho vay sai lầm vì sự an toàn của các khoản vay không chỉ phụthuộc vào các quy định cho vay mà còn phụ thuộc vào khả năng hoạt độngcủa khách hàng Việc đánh giá hồ sơ cho vay của khách hàng không chỉ dựatrên các con số báo cáo mà cần dựa trên các kinh nghiệm thực tiễn, phân tích

và phán đoán về năng lực, cơ hội thành công trong hoạt động kinh doanhcủa khách hàng Việc đánh giá sai về tính hiệu quả, khả thi trong hoạt độngđầu tư của khách hàng là một nguy cơ lớn đẫn đến rủi ro tín dụng

Những ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhân viên yếu kém, chậm thích nghivới môi trường kinh tế luôn luôn biến động sẽ đứng trước nguy cơ bị đàothải trong hệ thống ngân hàng bởi những quyết định sai lầm của họ sẽ gây thiệt hại lớn cho ngân hàng

 Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:

Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian

vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sátcủa người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùngvới công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểmtra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra nội

bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe cànglao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mớitránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thườngtrực trên con đường đi tới

 Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:

Trang 29

Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việcthẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồngvốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phảiđược quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả Theo dõi nợ

là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nóiriêng và của ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàngvay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa kháchhàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơhội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốtcông tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà chokhách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lýphục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp đượckịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu

 Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của Trung tâm thôngtin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN chưa thực sự hiệu quả

Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vayhay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt độngtín dụng là không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặtchẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lýrủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiềungân hàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng làmột con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thôngtin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mứcvượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừamột ngân hàng nào

Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiệnnay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời,chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý Đáng tiếc làhiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn

Ngày đăng: 10/05/2015, 21:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.TS. Nguyễn Văn Tiến (2003), Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
2.Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (2008), Sổ tay tín dụng Khác
3.Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Thành (2006- 2008), Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh từ năm 2006 – 2008 Khác
5. Mai Siêu, Đào Minh Phúc, Nguyễn Quang Tuấn (2004), Cẩm nang quản lý tín dụng ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
6. TS.Phan Thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại (2006), Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
8.Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ngày 15/06/2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w