Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước tiến sau vào nền kinh tế thế giới, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước không ngừng phát triển, đương nhiên theo sau đó là những hệ luỵ về môi trường. Mặt khác, bảo về môi trường là một trong những hoạt động cần được tiến hành đồng thời với quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn các ngành công nghiệp đang phát triển rất mạnh. Một môi trường thành phần rất cần thiết đối với con người đó là môi trường nước. Vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch cho muôn loài và nhất là cho con người là vô cùng quan trọng. Song song với việc bảo vệ và cung cấp nguồn nước sạch thì cũng cần quan tâm đến vấn đề nước thải, vốn là một thành phần có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường nước. Mặt khác nước ta lại đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới nên việc xây dựng phát triển các khu công nghiệp là rất cần thiết. Nhưng việc các nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp mọc lên một cách ồ ạt và thải ra môi trường một lượng lớn chất thải đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề và không còn khả năng tự làm sạch nữa, làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khoẻ của người dân. Chính vì thế mà hiện nay, việc quản lý nguồn nước thải là một vấn đề đáng quan tâm của các nhà quản lý môi trường trên thế giới và cả ở Việt Nam.
Trang 1ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
Tìm một văn bản quy định của Pháp luật quy định các công cụ kinh tế về quản lý xử lí nước thải
Phân tích một doanh nghiệp hoặc địa phương vi phạm
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước tiến sau vào nền kinh tế thế giới, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước không ngừng phát triển, đương nhiên theo sau đó là những hệ luỵ về môi trường Mặt khác, bảo về môi trường là một trong những hoạt động cần được tiến hành đồng thời với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn các ngành công nghiệp đang phát triển rất mạnh
Một môi trường thành phần rất cần thiết đối với con người đó là môi trường nước Vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch cho muôn loài và nhất là cho con người là vô cùng quan trọng Song song với việc bảo vệ và cung cấp nguồn nước sạch thì cũng cần quan tâm đến vấn đề nước thải, vốn là một thành phần có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường nước
Mặt khác nước ta lại đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới nên việc xây dựng phát triển các khu công nghiệp là rất cần thiết Nhưng việc các nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp mọc lên một cách ồ ạt và thải ra môi trường một lượng lớn chất thải đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề và không còn khả năng tự làm sạch nữa, làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khoẻ của người
Trang 2dân Chính vì thế mà hiện nay, việc quản lý nguồn nước thải là một vấn đề đáng quan tâm của các nhà quản lý môi trường trên thế giới và cả ở Việt Nam
Trang 3I QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ
1 Khái niệm công cụ quản lý kinh tế
Công cụ quản lý về môi trường là các phương thức hay biện pháp hành động thức hiện công tác quản lý môi trường của Nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng, mỗi một công cụ có một chức năng
và phạm vi tác dụng nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau
Khi nhắc đến các công cụ quản lý về môi trường không thể không nhắc đến công cụ kinh tế Công cụ kinh tế là những phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động đến môi trường nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự huỷ hoại môi trường Đây là công cụ sử dụng sức mạnh của thị trường để đề ra các quyết định nhằm đạt tới mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi phí cho bảo vệ môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái Tuy nhiên, khi áp dụng các công cụ kinh tế cần cân nhắc một cách chặt chẽ để các công cụ này phù hợp với hệ thống tài chính, tập quán, truyền thống và năng lực của hệ thống hành chính của Nhà nước
Công cụ kinh tế hoàn toàn có tính tương phản với công cụ điều hành và kiểm soát (CAC), bởi lẽ công cụ kinh tế hoạt động theo cơ chế có tính linh hoạt và mềm dẻo dựa trên cơ sở lợi ích và chi phí về mặt kinh tế, chúng làm thay đổi hành vi của những cá nhân hay tổ chức làm tổn hại đến môi trường thông qua việc khuyến khích hay thưởng phạt về kinh tế Như vậy khi chúng ta sử dụng công cụ kinh tế trong nhiều trường hợp, chúng còn tạo ra ý thức tự nguyện chấp hành đối với những hành vi ứng xử môi trường Chính vì vậy người ta cho rằng công cụ kinh tế
là loại công cụ sử dụng rất có hiệu quả trong bối cảnh của cơ chế thị trường
2 Vai trò của công cụ quản lý kinh tế
Công cụ kinh tế là những chính sách, biện pháp nhằm tác động tới chi phí và lợi ích của những hành động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra huỷ hoại môi trường đồng thời tác
Trang 4động đến hành vi của cá nhân theo hướng có lợi cho môi trường Từ những ứng dụng trong thực tiễn cho thấy công cụ kinh tế trong việc quản lý và bảo vệ môi trường có vai trò :
- Tăng hiệu quả chi phí : sử dụng công cụ kinh tế là liên quan đến giá cả, vì vậy việc sử dụng giá cả và cung cấp tính linh hoạt trong việc ứng phó với những tín hiệu giá cả, cho phép các cá nhân và doanh nghiệp tìm đến chi phí có tính hiệu quả hơn trong khả năng lựa chọn của họ
- Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới : tác động đến hoạt động kinh tế một cách tích cực để phát triển và lựa chọn chi phí kiểm soát hiệu quả mà không theo quy ước nào
- Khả năng tiếp nhận và xử lí thông tin tốt hơn : công cụ kinh tế cơ bản dựa vào thị trường, bản thân chúng sẽ phát hiện ra chiến lược hiệu quả chi phí, cho phép gặp gỡ các mục tiêu môi trường cần đạt thông qua việc chi phí hiệu quả nhất
- Tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường : do chi phí thấp khi
sử dụng công cụ kinh tế, mặt khác chúng tác động đến quyền lợi kinh tế của các cá nhân hay doanh nghiệp, do vậy người ta phải tính đến việc sử dụng nguồn tài nguyên như thế nào cho tiết kiệm và hiệu quả nhất mà không ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận
3 Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý môi trường
a) THUẾ TÀI NGUYÊN
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp đơn thuần chỉ sử dụng thành phần môi trường thì chủ yếu các doanh nghiệp vừa sử dụng thành phần môi trường vừa khai thác sử dụng tài nguyên Như vậy thông qua các cơ cấu kinh tế, chinh sách thuế được chia làm hai loại : Thuế tài nguyên và thuế môi trường
Trang 5*) Thuế tài nguyên : Là loại thuế gián thu, thu từ các hoạt động khai thác tài nguyên, do người sử dụng tài nguyên đóng góp Mục đích của thuế tài nguyên là :
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư
về việc sử dụng tài nguyên
Thuế tài nguyên phải được sử dụng từng bước để tránh làm mất cân bằng kinh
tế, phải hợp lý điều chỉnh có lợi cho kinh tế xã hội Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây
ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là : hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn Việc xác định đúng đắn phương pháp tính thuế tài nguyên là rất quan trọng, sẽ góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp đầu
tư công nghệ, kỹ thuật và năng lực quản lý nhằm làm giảm tổn thất tài nguyên, đặc biệt là các tài nguyên không tái tạo
*) Thuế môi trường : Tại khoản 1, điều 112, luật bảo vệ môi trường 2005 quy định : “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh một số loại sản phẩm gây tác động xấu, lâu dài tới môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp thuế môi trường” Thuế môi trường dùng để khuyến khích, bảo vệ và nâng cao hiệu suất sử dụng các yếu tố môi trường, hạn chế các tác nhân gây ra ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn quy định Nguyên tắc đánh thuế : thuế phải lớn hơn chi phí để giải quyết phế thải và khắc phục ô nhiễm Biện pháp đánh thuế sẽ gây sức ép, buộc nhà sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên, nhiên liệu hoặc thay thế nguyên, nhiên liệu ít gây ô nhiễm hơn, áp dụng kỹ thuật chống ô nhiễm
Chính phủ các nước còn áp dụng các biện pháp giảm thuế nhằm khuyến khích các hoạt động có lợi cho môi trường như giảm thuế cho các ngành sản xuất phân bón vi sinh thay cho phân bón hoá học, các ngành công nghiệp xử lí rác thải, nước thải, sản xuất “sản phẩm xanh” Do sử dụng thành phần môi trường nên các tổ
Trang 6chức, cá nhân bắt buộc phải nộp thuế và nó không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người sử dụng các thành phần môi trường bởi mục đích của việc đánh thuế môi trường là nhằm bảo vệ môi trường, giữ cho môi trường trong lành phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước
b) PHÍ MÔI TRƯỜNG
Phí môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Việc áp dụng phí môi trường đã có hậu quả rõ nét nhằm thay đổi hành vi của các đối tượng gây ô nhiễm, khuyến khích họ giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra ngoài môi trường Phí bảo
vệ môi trường cũng góp phần tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để đầu
tư, khắc phục cải thiện môi trường (thu gom xử lí phế thải, nước thải, hỗ trợ các nạn nhân của ô nhiễm) Phí môi trường được coi là một công cụ kinh tế để góp phần bảo vệ môi trường bởi vì nó được áp dụng với 2 mục đích : một là để chi cho các hoạt động cải thiện môi trường sinh thái, hai là khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường Thực hiện nguyên tắc “người
sử dụng phải trả tiền” nhiều nước quy định thu phí và lệ phí tuỳ theo mục đích sử dụng và hoàn cảnh như : phí vệ sinh thành phố, phí nuôi và giết mổ gia súc trong các đô thị, phí cung cấp nước cho sinh hoạt và tưới tiêu trên đồng ruộng, lệ phí đường phố, lệ phí sử dụng bờ biển, danh lam, thắng cảnh Phạm vi áp dụng của các loại phí môi trường gồm :
*) Phí đánh vào nguồn ô nhiễm : Là loại phí đánh vào các chất gây ô nhiễm được thải ra môi trường nước (BOD, COD, TSS, kim loại nặng…), khí quyển (SO2, cacbon, CFCs), đất (rác thải, phân bón) hoặc gây tiếng ồn, ảnh hưởng tới môi trường xung quanh Biện pháp này có tác dụng khuyến khích các tác nhân gây
ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăng thêm nguồn thu cho Chính phủ để sử dụng vào việc cải thiện chất lượng môi trường Tuy nhiên việc áp dụng loại phí này đối với chất gây ô nhiễm không khí có phần phức tạp do rất khó kiểm soát lượng ô nhiễm thải ra để tính mức thu phí
Trang 7*) Phí đánh vào người sử dụng : Là tiền phải trả do được sử dụng các hệ thống công cộng xử lí và cải thiện chất lượng môi trường Loại phí này chủ yếu được áp dụng đối với các loại chất thải có thể kiểm soát Mục đích chính của phí này chủ yếu là nhằm tăng nguồn thu cho Chính phủ và đối tượng thu là những cá nhân hay đơn vị trực tiếp sử dụng hệ thống dịch vụ công cộng Phí đánh vào người sử dụng còn nhằm mục đích hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường
*) Phí đánh vào sản phẩm : Là loại phí được áp dụng đối với những loại sản phẩm gây tác hại tới môi trường một khi chúng được sử dụng trong các quá trình sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng Loại phí này được áp dụng với những sản phẩm chứa chất độc hại và với một khối lượng nhất định chúng sẽ gây tác hại tới môi trường Phí đánh vào sản phẩm có thể được sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm nếu vì lý do nào đó người ta không thể trực tiếp tính được phí đối với các chất gây
ô nhiễm Phí này có mục đích là khuyến khích giảm ô nhiễm bằng giảm việc sử dụng, tiêu thụ các sản phẩm bị thu phí và tăng nguồn thu cho Chính phủ Mức phí
do đó sẽ tùy thuộc vào mục tiêu đặt ra đối với loại phí này là gì
c) HỆ THỐNG ĐẶT CỌC – HOÀN TRẢ
Hệ thống đặt cọc hoàn trả bao gồm việc ký một số tiền cho các sản phẩm có tiềm năng gây ô nhiễm Nếu các sản phẩm được đưa trả về một số điểm thu hồi quy định hợp pháp sau khi sử dụng, tức là tránh khỏi bị ô nhiễm, tiền ký thác sẽ hoàn trả Mục đích của hệ thống đặt cọc - hoàn trả là thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy một cách
an toàn đối với môi trường Hệ thống này có thể được áp dụng cho bất kỳ sản phẩm nào mà chúng đòi hỏi một sự tập trung cao để tái sản xuất nhằm đảm bảo an toàn cho việc đặt cọc và hạn chế bớt những hàng hoá ít có giá trị sử dụng mà lại có thể gây ra mức ô nhiễm nhiều hơn Ví dụ như : những chuyến tàu thủy vận chuyển
xe ô tô, những container thuốc trừ sâu… Khi có các hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới môi trường, chủ doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phải sản xuất kinh doanh phải đặt cọc một khoản tiền đảm bảo việc thực hiện các biện pháp khắc phục môi trường Hơn nữa cơ cấu kinh tế này áp dụng sẽ nâng cao tài nguyên cũng như xử lí vi phạm được dễ dàng hơn khi chủ doanh nghiệp không
Trang 8khôi phục môi trường thì nhà nước sẽ sử dụng số tiền này để thuê các tổ chức, cá nhân khác tiến hành khôi phục môi trường Bởi vậy, đặt cọc hoàn trả được coi là một trong những ứng cử viên sáng giá cho các chính sách nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi chu trình sản xuất tuyến tính (khai khoáng -> nguyên liệu thô -> sản phẩm -> phế thải) và hướng tới chu trình tuần hoàn trong đó các tài nguyên được tái chế, tái sử dụng tới mức tối đa có thể được Phạm vi sử dụng các hệ thống đặt cọc – hoàn trả bao gồm : Các sản phẩm mà khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng có thể xử lí, tái chế hoặc tái sử dụng ; các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải có quy mô lớn và tốn nhiều chi phí tiêu hủy ; các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lí, nếu tiêu hủy không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe cho con người
d) GIẤY PHÉP MÔI TRƯỜNG CÓ THỂ CHUYỂN NHƯỢNG
Giấy phép môi trường chuyển nhượng (hay còn gọi là quota ô nhiễm) là loại giấy phép xả thải mà người sử dụng được cấp có quyền chuyển nhượng số lượng, chất lượng xả thải của cơ sở mình cho người khác (đơn vị cần giấy phép được xả thải) Loại giấy này cho phép được đổ phế thải hay sử dụng một nguồn tài nguyên đến một mức định trước do pháp luật quy định và được chuyển nhượng bằng cách đấu thầu hoặc trên cơ sở quyền sử dụng đã có sẵn Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có thể quy định quyền sở hữu và
vì thế thường bị sử dụng bừa bãi như không khí, đại dương Công cụ này được áp dụng ở một số nước, ví dụ giấy phép khai thác cá ngừ và sử dụng nước ở Australia, giấy phép ô nhiễm không khí ở Mỹ, Anh và một số nước thành viên của OECD như Canađa, Đức, Thuỵ Điển Nguyên lý cơ bản của thị trường giấy phép thải (hay thị trường môi trường) là việc đặt ra giới hạn tối đa về lượng khí thải hoặc nước thải nào đó ở mức thống nhất với chi tiêu môi trường tại một vùng hay khu vực cụ thể Một khi tổng lượng thải cho phép thấp hơn lượng thải mà các đơn
vị hoạt động trong vùng muốn thải thì sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải
và làm cho nó có giá ở thị trường
Trang 9Những giấy phép chuyển nhượng này ưu việt hơn thuế trong trường hợp cần xác lập một mức độ tối đa số rác thải hoặc định mức sử dụng tài nguyên Giấy phép chuyển nhượng sẽ không có hiệu lực khi những phế thải bị hạn chế đến một
tỉ lệ rất nhỏ so với toàn bộ chi phí sản phẩm, lúc đó sẽ không còn tác dụng khuyến khích sự tham gia nữa Nói chung, nó được coi là một biện pháp tạm thời trong khi chờ đợi đạt được tiêu chuẩn chính xác hơn
e) KÝ QUỸ MÔI TRƯỜNG
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường Nguyên lý hoạt động của hệ thống
ký quỹ môi trường cũng tương tự như của hệ thông đặt cọc - hoàn trả Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý, hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền) tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường
Mục đích chính của việc ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu các doanh nghiệp / cơ sở có các biện pháp chủ động ngăn chặn, khắc phục không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường, hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như cam kết thì họ sẽ được nhận lại số tiền đã ký quỹ đó Ngược lại nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản thì số tiền đã ký quỹ sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng / tổ chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục sự cố, suy thoái môi trường
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinh phí khắc phục môi trường từ ngân sách Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh nghiệp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại được vốn khi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường Công cụ ký quỹ môi trường đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới,
Trang 10đặc biệt với các hoạt động công nghiệp như khai thác mỏ, khai thác rừng hoặc đại dương
f) TRỢ CẤP MÔI TRƯỜNG
Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc tổ chức OECD Trợ cấp môi trường
có thể dưới các dạng sau:
- Trợ cấp không hoàn lại
- Các khoản cho vay ưu đãi
- Cho phép khấu hao nhanh
- Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế)
Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công – nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễn môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc xử lí ô nhiễm Trợ cấp cũng nhằm khuyến khích các cơ quan nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lí ô nhiễm
Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả Các nhà sản xuất có thể đầu tư quá mức vào kiểm soát và xử lí ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với mức tối ưu cũng là không hiệu quả) Trường hợp ngược lại, trợ cấp không được hạch toán toàn bộ vào chi phí giảm ô nhiễm mà một phần được dùng để hạ thấp chi phí sản xuất cá nhân, làm tăng lợi nhuận
Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài sẽ dẫn đến phí hiệu quá kinh tế vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền”, nó tạo ra sự thay đổi số công ty (vào - ra tự do đối với ngành công nghiệp), thay đổi mức hoạt động của ngành công nghiệp mà mục đích giảm ô nhiễm lại không đạt được Vì vậy, trợ cấp môi trường chỉ có thể thực hiện trong một thời gian cố định với một chương trình có hoạch định và kiểm