1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn: khảo sát đặc trưng các diễn ngôn tin trên một số trang web tiếng anh năm 2010

123 851 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn: khảo sát đặc trưng các diễn ngôn tin trên một số trang web tiếng anh năm 2010 trường đh quốc gia hà nộiluận văn: khảo sát đặc trưng các diễn ngôn tin trên một số trang web tiếng anh năm 2010 trường đh quốc gia hà nộiluận văn: khảo sát đặc trưng các diễn ngôn tin trên một số trang web tiếng anh năm 2010 trường đh quốc gia hà nội

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

====================

HOÀNG THỊ MẾN

KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG CÁC DIỄN NGÔN

TIN TRÊN MỘT SỐ TRANG WEB

TIẾNG ANH NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

HàNội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

====================

HOÀNG THỊ MẾN

KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG CÁC DIỄN NGÔN

TIN TRÊN MỘT SỐ TRANG WEB

TIẾNG ANH NĂM 2010

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT THANH

HàNội - 2014

Trang 3

Lời cảm ơn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh, người đã giao đề tài, hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã bồi dưỡng cho tôi những kiến thức quý báu cũng như sự động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Khoa

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại, các đồng nghiệp cũng như sinh viên khoa Ngoại ngữ đã tạo điều kiện, động viên giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình tôi đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 3 năm 2014

Hoàng Thị Mến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Ý nghĩa của đề tài

6 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Một số cơ sở lý thuyết

1.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn

1.1.1 Diễn ngôn

1.1.2 Phân tích diễn ngôn

1.1.3 Phân loại diễn ngôn

1.1.4 Diễn ngôn thuộc phong cách báo chí

1.2 Diễn ngôn bản tin

1.2.1 Diễn ngôn bản tin với tư cách là một loại hình báo chí

1.2.2 Các yếu tố đặc trưng của diễn ngôn bản tin

1.2.2.1 Yếu tố nội dung

1.2.2.2 Yếu tố cấu trúc

1.2.2.3 Yếu tố chỉ lượng

1.2.2.4 Mạch lạc và liên kết

1.2.2.5 Yếu tố định biên

1.3 Diễn ngôn tin trên báo điện tử

1.3.1 Cho phép cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và

Trang 5

1.3.4 Khả năng liên kết lớn

1.3.5 Khả năng lưu trữ và tìm kiếm dễ dàng

1.3.6 Tính xã hội hoá cao, khả năng cá thể hoá tốt

Tiểu kết

Chương 2: Tổ chức nội dung của bản tin trên trang Web

2.1 Một số yếu tố hỗ trợ truyền tải nội dung

2.1.1 Hyperlinks (siêu liên kết)

2.1.2 Hình ảnh và chú thích ảnh

2.1.3 Ngày và tháng trên bản tin (date and time of releasing the

news)

2.1.4 Nguồn tin (source of information)

2.2 Đặc điểm tổ chức các phương tiện ngôn ngữ

2.2.1 Sự lựa chọn về từ vựng

2.2.2 Câu trực tiếp, gián tiếp (Directness and indirectness)

2.2.3 Tiêu đề

2.2.3.1 Vai trò và chức năng của tiêu đề

2.2.3.2 Cấu trúc của tiêu đề

2.2.3.3 Sự lựa chọn thời (tense) của tiêu đề

2.2.4 Sapo (the lead) trong bản tin web

2.3 Phần văn bản tin (the body)

2.3.1 Những biểu hiện của mạch lạc trong bản tin trên Web

2.3.2 Phép liên kết và việc sử dụng phương tiện liên kết trong

Chương 3: Mô hình cấu trúc thông tin của văn bản tin

3.1 Vai trò vị trí của câu chủ đề

24

24

24

25 26 26

26 28 38

39

44

44 50

55

56

58

62 63

Trang 6

3.1.1 Vai trò của câu chủ đề

3.1.2 Vị trí của câu chủ đề

3.2 Phân loại văn bản tin về mặt dung lƣợng

3.2.1 Loại văn bản tin một câu

3.2.2 Văn bản tin gồm hai câu trở lên

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Báo chí ra đời trước hết là do nhu cầu thông tin Càng ngày, báo chí càng đóng vai trò hết sức quan trọng trong xã hội, được coi là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi người Bên cạnh chức năng thông tin, sự phát triển của các loại hình báo chí cũng trở nên ngày càng đa dạng để đáp ứng ngày càng tốt hơn chức năng của báo chí trong thời đại thông tin và thời đại khoa học công nghệ ngày nay Bên cạnh báo viết - một loại hình báo chí mang tính truyền thống, một số loại hình báo chí hiện đại như báo hình, báo ảnh, báo tiếng ngày càng phổ biến, trong đó đặc biệt phải kể đến một loại hình rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay là báo điện tử với khối lượng thông tin khổng lồ, cập nhật liên tục hàng giờ với các nội dung thuộc nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, đời sống và dưới những hình thức đặc thù riêng

Trong báo điện tử, có thể nói phần Tin tức (news) là thể loại sớm nhất và cũng quan trọng, cơ bản nhất của báo Do đặc thù của báo điện tử, phần tin tức luôn là những thông tin được cập nhật thường xuyên từng giờ từng phút, phản ánh thường xuyên các sự kiện nóng hổi của đời sống thực tiễn, được cấu tạo theo những phương thức riêng, mang những khác biệt nhất định so với tin tức trong báo viết và một số loại hình báo chí khác

Ở Việt Nam, nghiên cứu đặc trưng của các diễn ngôn tin tức đã bắt đầu được chú ý trong thời gian gần đây từ các góc độ ngôn ngữ học, báo chí, xuất bản

và đã thu được những kết quả nhất định qua nghiên cứu tại một số công trình cấp

độ đại học, thạc sĩ Năm 1996, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ, Nguyễn Hòa đã lấy diễn ngôn tin trên một số tờ báo tiếng Anh làm đối tượng nghiên cứu Tuy vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế, việc tìm hiểu nghiên cứu đặc trưng của các diễn ngôn tin tức trong một số trang Web tiếng Anh là một nhu cầu cần thiết, xuất phát

từ chính nhu cầu của người Việt khi muốn tiếp thu thông tin một cách hiệu quả nhất qua các trang Web tiếng Anh, khi muốn nâng cao trình độ học và thực hành

Trang 8

cấu tạo văn bản tin bằng tiếng Anh của những người Việt Nam học tiếng Anh, và

cả khi muốn so sánh đặc trưng của bản tin tiếng Anh với bản tin tiếng Việt nhằm học hỏi kinh nghiệm phục vụ công tác xuất bản, biên tập Đặc biệt, từ cương vị của một giảng viên tiếng Anh, chúng tôi nhận thức rằng đọc và hiểu văn bản tin là một việc rất cần thiết cho mọi người nói chung và cho sinh viên nói riêng Đối với sinh viên ngoại ngữ, việc đọc bản tin bằng ngôn ngữ mình đang học là một việc làm cần thiết và hữu ích trong quá trình học tập Bản tin không những cung cấp cho họ những tin tức thời sự trong nước và quốc tế cập nhật về các sự kiện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… mà qua bản tin, sinh viên còn được rèn luyện, mở rộng về vốn từ, về cấu trúc chuyên dùng trong các văn bản tin Bên cạnh đó, họ còn được rèn luyện các kỹ năng thực hành tiếng, từ đó nâng cao trình độ ngoại ngữ một cách nhanh chóng Đây chính là lý do chúng tôi chọn khảo sát bản tin tiếng Anh trong một số trang web làm đối tượng nghiên cứu của mình

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Mục đích của đề tài là tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của bản tin trên trang web tiếng Anh khá nổi tiếng, có uy tín xã hội cao và cũng tương đối quen thuộc với các độc giả Việt Nam và thế giới là BBC News từ góc độ phân tích diễn ngôn

3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Để thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi đã lựa chọn được 340 diễn ngôn bản tin được xuất bản trong năm 2010 với nội dung đề cập về ba lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tập trung khảo sát một số vấn đề sau:

- Đặc trưng của chức năng thông tin (liên giao) và chức năng liên nhân của bản tin trên trang web tiếng Anh

- Đặc điểm tổ chức diễn ngôn

- Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ

- Đặc điểm sử dụng các phương thức và phương tiện liên kết và mạch lạc

- Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong việc tạo hiệu quả giao tiếp của

Trang 9

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa trên nguồn tư liệu thu thập được, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

1 Phương pháp của phân tích diễn ngôn

2 Phương pháp phân tích miêu tả

3 Phương pháp so sánh đối chiếu

4 Thủ pháp thống kê

5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài khảo sát diễn ngôn bản tin trên một số trang web tiếng Anh nhằm một số ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

Về phương diện lý luận, đề tài góp một tiếng nói vào lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ báo chí, cụ thể là một thể loại của báo chí từ góc độ phân tích diễn ngôn

Về phương diện thực tiễn, đề tài góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh của người Việt Nam thông qua việc nắm vững và sử dụng thành thạo một kiểu loại văn bản báo chí cụ thể, qua đó mở rộng vốn từ, vốn cấu trúc và cả những thông tin thực tế từ các vản bản này

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chương I: Một số cơ sở lý thuyết

Chương II: Tổ chức nội dung của văn bản tin

Chương III: Mô hình cấu trúc thông tin của văn bản tin

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 DIỄN NGÔN VÀ PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN

Hai tác giả Brown & Yule trong cuốn sách tựa đề “Discourse analysis – phân tích diễn ngôn”, cố gắng phân biệt diễn ngôn với văn bản khi xác định “văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành động giao tiếp” Tuy nhiên, quan điểm này đôi khi không thống nhất bởi sau đó hai tác giả lại khẳng định “văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn”

David Nunan cũng là người có khuynh hướng phân biệt rạch ròi hai khái niệm nhưng cách diễn đạt của ông theo hướng cụ thể hơn Ông dùng thuật ngữ

“văn bản” để chỉ “sự ghi lại (thể hiện) bằng ngôn ngữ viết một sự kiện giao tiếp”,

sự kiện đó có thể sử dụng ngôn ngữ nói (một cuộc hội thoại, một bài thuyết giảng) hoặc sử dụng ngôn ngữ viết (một bài thơ, một quyển sách) Còn thuật ngữ “diễn ngôn” dùng để chỉ “một sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh”

Ở Việt Nam cũng có khá nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này và lẽ dĩ nhiên cũng tồn tại những quan điểm không thống nhất, thậm chí ở mỗi giai đoạn,

Trang 11

Quang Ban, các khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” đã từng được sử dụng qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, văn bản được dùng để chỉ chung các sản phẩm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết; giai đoạn thứ hai có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói; và trong giai đoạn ba, diễn ngôn được hiểu như văn bản ở ý nghĩa thứ nhất [16, tr.31]

Trong khi đó, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt

ngữ” (2004) đã bày tỏ quan điểm của mình rằng - “thuật ngữ diễn ngôn (discourse)

và văn bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn”

Một trong số các tác giả cũng dành nhiều sự quan tâm tới vấn đề này là tác giả Nguyễn Hòa Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” Theo Nguyễn Hòa, “văn bản là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết”, trong khi đó “diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” Mặc

dù đã chỉ ra được sự khác biệt giữa hai khái niệm, song bản thân tác giả cũng thừa nhận sự phân biệt này trên thực tế chỉ mang tính tương đối tùy theo quan điểm của người nghiên cứu, sẽ được coi là “văn bản” khi được xem xét dưới góc độ hình thức, hoặc được coi là “diễn ngôn” khi xem xét dưới góc độ hành chức

1.1.2 Phân tích diễn ngôn

Sự phân biệt giữa hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” tất yếu dẫn đến

hệ quả là sự phân biệt giữa hai khái niệm “phân tích diễn ngôn” (discourse analysis) và “phân tích văn bản” (text analysis)

Trước tiên, với quan điểm cho rằng “diễn ngôn như một tiến trình”, hai tác giả Brown và Yule khẳng định, nhà phân tích diễn ngôn phải nghiên cứu từng từ, ngữ, và câu xuất hiện trong dữ liệu thành văn của diễn ngôn để tìm cho được bằng

Trang 12

chứng về sự nỗ lực của người phát (người nói/người viết) trong việc chuyển giao thông điệp đến người nhận (người nghe/người đọc) Bên cạnh đó, các nhà phân tích diễn ngôn cũng cần tìm hiểu bằng cơ chế nào và lý do tại sao mà người nhận

có thể hiểu được chính xác thông điệp của người phát trong một tình huống nào

đó, và làm thế nào mà các yêu cầu của người nhận, trong một hoàn cảnh có thể xác định được, ảnh hưởng đến kết cấu diễn ngôn của người phát Như vậy, có thể thấy rằng phương hướng nghiên cứu này chủ trương lấy chức năng giao tiếp của ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu chính, và vì thế nó mô tả các hình thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như là phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa [tr.48]

Có một sự tương đồng tương đối giữa quan điểm của hai tác giả trên với quan điểm của tác giả David Nunan khi ông cũng cho rằng, “phân tích diễn ngôn” liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức) – khác với “phân tích văn bản” thiên về nghiên cứu các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ vốn bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng David Nunan nhấn mạnh, giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học và tất cả các nhà ngôn ngữ học nói chung, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu trong ngôn ngữ Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn,

đó là vừa chỉ ra, vừa giải thích mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn Như vậy, ở đây tác giả đã căn cứ vào đối tượng nghiên cứu của nhà phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc hình thức (phân tích văn bản) hay phân tích ngôn ngữ trong quá trình

sử dụng (phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái niệm [tr.21]

Trên cơ sở phân tích quan điểm của David Nunan, tác giả Nguyễn Hòa cũng đồng thuận cho rằng, mối quan hệ giữa phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản

có sự tương đồng như mối quan hệ giữa hai khái niệm diễn ngôn và văn bản bởi theo ông, không nên nhìn nhận đây là hai bộ môn riêng biệt mà thực chất chỉ nên xem đó là hai mặt của quá trình phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội Với định hướng như vậy, tác giả chủ trương quy các yếu tố như

Trang 13

liên kết, cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông tin, cấu trúc diễn ngôn thuộc về địa hạt phân tích văn bản, trong khi đó các khía cạnh của diễn ngôn sẽ bao gồm mạch lạc, các hành động nói, sử dụng tri thức nền trong quá trình sản sinh và hiểu diễn ngôn [tr 34]

1.1.3 Phân loại diễn ngôn

Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại diễn ngôn Nếu dựa vào phương thức biểu đạt, có thể phân chia thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định đối với quan điểm sư phạm như việc dạy đọc, dạy viết, dạy nói Một hướng phân loại khái quát khác là phân biệt diễn ngôn đối thoại với diễn ngôn đơn thoại Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày và cả ngôn ngữ trong văn học Tuy nhiên theo Hausenblas [dẫn theo Diệp Quang Ban] thì muốn có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ Đó là

ngữ pháp và phong cách học Từ đó, tác giả đưa ra các cách phân loại diễn ngôn như sau:

a Cách thứ nhất: Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc

* Phân loại diễn ngôn trên cơ sở cấu trúc nội tại:

Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc văn bản của diễn ngôn, tính độc lập/tính lệ thuộc của các diễn ngôn, tính liên tục/tính gián đoạn của các diễn ngôn, tác giả tiến hành phân loại các diễn ngôn:

- Các diễn ngôn có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc;

- Các diễn ngôn tự do và các diễn ngôn lệ thuộc;

- Diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn

Cách phân loại này đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn đối với việc dạy học ở nhà trường

* Phân loại dựa trên khuôn hình văn bản:

Do tính chất quá phức tạp của diễn ngôn và tính quá đa dạng của các diễn ngôn cụ thể, cho nên để khái quát được người ta chỉ có thể chia tất cả các diễn ngôn thành hai nhóm lớn:

- Thuộc nhóm thứ nhất là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình

Trang 14

cứng nhắc, đã được định sẵn: các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ và một số văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực khoa học - kỹ thuật

- Thuộc nhóm thứ hai là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình mềm dẻo, bao gồm:

+ Nhóm nhỏ có những khuôn hình thông dụng: các văn bản khoa học (bài báo, luận án khoa học) và một số văn bản báo chí

+ Nhóm nhỏ có khuôn hình tự do: các tác phẩm văn học nghệ thuật

b Cách thứ hai: Phân loại diễn ngôn theo phong cách

Một lĩnh vực chú ý nhiều đến sự khác biệt trong các kiểu loại diễn ngôn khác nhau là phong cách học nhất là phong cách chức năng

Ngay từ năm 1984, tác giả Morohovski [dẫn theo Diệp Quang Ban] đã đưa

ra bảng phân loại diễn ngôn với các tiêu chí riêng

Trước hết, tác giả phân định phong cách học thành ba bậc lớn từ trừu tượng đến cụ thể:

+ Hội thoại văn học;

+ Hội thoại đời thường;

Ở bậc phong các học lời nói: liên quan trực tiếp đến các văn bản cụ thể, có

sự phân định các lớp văn bản từ chung đến riêng theo trình tự sau:

Trang 15

+ Phong cách chính thức công vụ có các kiểu loại văn bản: chỉ đạo, pháp lý, quân sự, ngoại giao, thương mại, kinh tế;

+ Phong cách khoa học: khoa học xã hội, khoa học kĩ thuật;

+ Phong cách công luận: chính trị, kinh tế, luật, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo; Theo cách quan niệm trên, Hữu Đạt cho rằng trong tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác nhau, đó là:

- Phong cách sinh hoạt hằng ngày;

- Phong cách hành chính công vụ;

- Phong cách khoa học;

- Phong cách chính luận;

- Phong cách báo chí;

- Phong cách văn học nghệ thuật

Tương ứng, mỗi loại phong cách có các kiểu loại diễn ngôn khác nhau

1.1.4 Diễn ngôn thuộc phong cách báo chí

Xuất phát từ đặc thù của các thể loại diễn ngôn thuộc phong cách báo chí, các nhà phong cách học thường chia thành ba thể loại:

- Loại thể chính luận báo chí gồm: Bình luận, Xã luận, Chuyên luận có mục tiêu là thông tin sự kiện nhưng thông qua đó diễn đạt thông tin lý lẽ;

- Loại thể Ký báo chí gồm: Phóng sự, Ký chân dung, Ký chính luận, Ghi nhanh, mục tiêu là dựa trên thông tin sự kiện, thông tin lý lẽ bộc lộ thông tin thẩm

mỹ (nhưng không nhằm đạt đến hình tượng thẩm mỹ);

- Loại thể Thông tấn gồm: Tin, Phỏng vấn, Tường thuật, Điều tra, Thông tấn có mục tiêu là thông tin sự kiện

1.2 DIỄN NGÔN BẢN TIN

1.2.1 Diễn ngôn bản tin với tƣ cách là một loại hình báo chí

Trong báo chí, bản tin (hoặc văn bản tin) là một thể loại xuất hiện sớm nhất

và luôn giữ vị trí hàng đầu trong số các thể loại báo chí cho đến ngày nay Sở dĩ như vậy vì bản tin có khả năng thông tin nhanh nhất, sớm nhất dưới một hình thức

Trang 16

chặt chẽ nhất về những sự việc, sự kiện vừa mới xảy ra, đang xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra dưới một hình thức ngắn gọn nhất

Trong lý luận báo chí, các tác phẩm báo chí được xem xét kỹ lưỡng trong

hệ thống những mối quan hệ giữa báo chí và quần chúng: nhà báo - tác phẩm - công chúng Các văn bản tin được chuyển tới người đọc là thông tin về một sự kiện nào đó, thông qua đó xác lập mối quan hệ giữa nhà báo và quần chúng, người đọc Viết báo là việc sử dụng những chữ viết để thể hiện bản chất của hiện thực khách quan đã được chọn lọc và đánh giá, để thông tin đến bạn đọc những tin và bài báo theo ý đồ thông tin của người viết phù hợp với đường lối thông tin của một

tổ chức (có thể là một đảng phái, hoặc một tờ báo nhất định) và tâm lý người đọc Nghĩa là một sản phẩm báo chí tuy có nguồn gốc từ hiện thực khách quan nhưng

đã là sự thống nhất giữa khách thể (đối tượng thông tin) và chủ thể (người viết) Trần Ngọc Thêm đã trình bày khái niệm hành vi giao tiếp như một sự tác động hoàn chỉnh, có tính chất cơ sở của người phát tin đối với người nhận tin, thông qua sản phẩm ngôn ngữ (ngôn phẩm), và đã khái quát sơ đồ giao tiếp như sau:

Trong đó các thành tố sau:1 Người phát tin

2 Người nhận tin

3 Ngôn phẩm

Ngôn phẩm Người Phát tin Người Nhận tin

VSp VSn

VNp VNn

Trang 17

4 Vốn ngôn ngữ của người phát VNp

5 Vốn sống của người phát VSp

6 Vốn sống của người nhận VNn

7 Vốn sống của người nhận VSn Khi ngôn phẩm là các văn bản tin, mối quan hệ: “Người phát tin - Ngôn phẩm - Người nhận tin” chính là mối quan hệ: “Nhà báo - văn bản tin - công chúng”

Trong các thành tố của quá trình giao tiếp, vai trò của nhà báo được xem là trung tâm cao nhất để thực hiện truyền tin Tuy nhiên “Trong giao tiếp không phải người phát muốn phát đi cái gì thì phát, phát theo cách nào cũng được” Bởi người nhận là chủ thể tích cực có “thiết kế” riêng, có ý chí riêng, có thể từ chối không nhận thông tin nếu không được chứa đựng cái gì đó khiến anh ta không hài lòng Một thông điệp bị quy định không chỉ một chiều từ người viết (nhà báo) mà bị quy định cả hai chiều (người đọc) Văn bản tin tham gia vào quá trình giao tiếp với tư cách là một ngôn phẩm không có tính chất khép kín, bởi nó phụ thuộc khá nhiều vào bối cảnh “phi ngôn ngữ” bên ngoài Điều này phân biệt các văn bản thuộc phong cách báo chí với một số kiểu loại văn bản khác như văn học nghệ thuật, khoa học…

Văn bản tin cũng tuân thủ những đặc điểm cơ bản nhất, quan trọng nhất của văn bản nói chung Ngoài ra, nó còn có những đặc điểm riêng Việc lựa chọn các phương tiện, cách thức tổ chức sắp xếp ngôn ngữ như thế nào là tùy thuộc ở vai trò của nhà báo, dựa trên chủ ý của nhà báo Nhà báo dựa trên mục đích của mình mà sắp xếp tin tức trong văn bản tin Ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản tin thể hiện rất rõ điều đó

Nhà báo là người có vai trò chủ động trong việc lựa chọn thông tin, trong việc tổ chức sắp xếp các phương tiện ngôn ngữ thành một văn bản cụ thể Tuy nhiên nhà báo phải xây dựng văn bản dựa trên nhu cầu tin tức, trình độ, khả năng thích ứng của người đọc, phải quan tâm đến việc văn bản này chuyển tới công chúng là để xác lập quan hệ giữa giao tiếp nhà báo và công chúng Vì thông tin không chỉ đơn giản là tác phẩm báo chí mà còn là sự tương tác giữa tác phẩm và

Trang 18

người tiêu thụ nó Vậy việc xem xét và đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng là hết sức cần thiết

Việc đưa thông tin, lựa chọn thông tin và tổ chức một văn bản tin như thế nào thể hiện vốn sống, vốn ngôn ngữ của người phát tin Còn việc tri nhận thông tin, hiểu thông tin như thế nào dựa trên vốn sống, vốn ngôn ngữ của người nhận tin (công chúng) Đây là mối quan hệ rất chặt chẽ, nó quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình giao tiếp văn bản

Để người đọc có thể tiếp nhận một cách đầy đủ và chính xác thông tin trong văn bản tin, người viết tin phải lựa chọn vốn ngôn ngữ chung của toàn dân và vốn sống là những thông tin cũ làm tri thức nền cho văn bản Như vậy sự trùng nhau giữa vốn sống, vốn ngôn ngữ giữa nhà báo và công chúng càng lớn thì nội dung thông tin càng được người đọc tiếp nhận chính xác hơn Hơn ai hết, nhà báo - người chủ động trong mối quan hệ này cần phải ý thức rõ phải tổ chức một văn bản tin như thế nào để có thể đem lại hiệu quả lớn nhất

Mục đích giao tiếp hay mục đích thông tin là một vấn đề mà diễn ngôn bản tin với tư cách là một tác phẩm báo chí phải hết sức quan tâm Chính mục đích giao tiếp của văn bản tin sẽ quy định việc lựa chọn các chất liệu, từ ngữ, cách tổ chức văn bản theo những cách thức nhất định Mục đích của văn bản tin là thông tin một cách nhanh nhất những sự kiện thông tin thời sự đến với công chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu, yêu cầu mong muốn của công chúng Để đảm bảo lòng tin của công chúng với báo chí, các thông tin này phải trung thực chính xác

1.2.2 Các yếu tố đặc trƣng của diễn ngôn bản tin

Với tư cách là một thể loại rất điển hình của phong cách báo chí, diễn ngôn bản tin có thể được xem xét từ 5 yếu tố mang tính chất đặc trưng, đó là các yếu tố:

về nội dung, yếu tố về cấu trúc, yếu tố chỉ lượng, yếu tố mạch lạc và liên kết và yếu tố định biên

1.2.2.1 Yếu tố nội dung

Một bản tin phải có một đề tài hoặc một chủ đề xuyên suốt được xác định Yếu tố này là yêu cầu tất yếu đối với mọi diễn ngôn, phân biệt một diễn ngôn hoàn

Trang 19

yêu cầu về nội dung của một bản tin cũng có những đặc điểm riêng Một diễn ngôn tin là phải có nội dung đề cập hoặc thông tin về một sự kiện thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… mang tính thời sự, cô đọng, khiến người đọc tập trung vào sự tồn tại của sự kiện Các sự kiện được đề cập phải đảm bảo tính chính xác, rõ ràng, khách quan Lý lẽ hay bình luận mang tính cá nhân về sự kiện được ẩn giấu hoặc có khi không cần thiết

Có thể nói tính thời sự của bản tin là yếu tố quan trọng nhất, phân biệt bản tin với các thể loại báo chí khác Tính thời sự ở đây bao gồm hai ý nghĩa:

- Thứ nhất: thời sự nghĩa là cái mới Thông tin phải truyền tải những sự kiện mới xảy ra, và là “mới” đối với hầu hết mọi người Thông tin chỉ còn giá trị, chỉ được thừa nhận là mới khi nó là những cái mà trước đó người nhận chưa biết tới hoặc biết tới rất ít Đó chính là lý do từ “tin” hay “tin tức” trong tiếng Anh được định hình bằng từ “News” cùng gốc với từ “New” (mới)

- Thứ hai: Thông tin phải được phản ánh một cách kịp thời, nhanh nhạy đúng nhu cầu thông tin của người đọc và sự quan tâm của họ trong một thời điểm nào đó Và cũng chỉ khi tin tức được truyền đi một cách kịp thời thì nó mới được xem là “mới” Yếu tố nhanh nhạy về mặt thời gian bao giờ cũng đi đôi với yếu tố thời sự về mặt nội dung, đáp ứng nhu cầu tâm lý của độc giả về thông tin

Tính trọn vẹn về mặt nội dung trong diễn ngôn bản tin thể hiện ở sự nhất quán về mặt chủ đề được đưa ra trong văn bản Chủ đề đó, hoặc được người viết khái quát trong một câu chủ đề bao chứa nội dung chủ đề văn bản một cách chung nhất, còn các câu khác đảm nhận chức năng giải thích, thuyết minh, luận giải thêm cho vấn đề được thể hiện ở câu chủ đề Hoặc là nhà báo không sử dụng câu chủ đề

mà nội dung chủ đề của văn bản tin được thể hiện trải đều ở tất cả các câu trong văn bản, trong đó, giá trị thông tin giữa các câu là như nhau

Nội dung được thể hiện trong bản tin thường dưới dạng hiển ngôn, với các

từ đơn nghĩa, rõ nghĩa, kết cấu ngắn gọn và khi tiếp cận người đọc dễ tiếp nhận

Trang 20

được nội dung chính của tin mà không mất thời gian suy diễn, sắp đặt, không sợ bị nhầm lẫn

1.2.2.2 Yếu tố cấu trúc

Mỗi văn bản tin thể hiện được một chủ đề thống nhất bằng một hình thức hoàn chỉnh Dù nói về chủ đề gì, một bản tin luôn nhằm tập trung thông báo về các thông số cơ bản sau:

1 Chuyện gì? (what?)

2 Ở đâu? (where?)

3 Bao giờ? (when?)

4 Ai? (who?)

5 Với những ai? (which?)

6 Như thế nào? (How?)

7 Tại sao? (why?)

Một diễn ngôn bản tin cần phải có cấu trúc rõ ràng, đơn giản giúp người đọc

có thể tiếp cận, hiểu và nhớ những nội dung cơ bản một cách nhanh nhất và đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy, cấu trúc của bản tin luôn là một nội dung mà người viết cần cân nhắc, lựa chọn để sao có thể giúp cho người đọc tiếp cận được thông tin thuộc tất cả các lĩnh vực một cách trực tiếp nhất, nhanh nhất nhưng tuân thủ theo ý

đồ của người viết Dựa trên ý đồ chính trị, thái độ chính trị, lập trường hoặc quyền lợi của cả “nguồn” và “đích” (nghĩa là cả người viết và người đọc) người viết sẽ lựa chọn thông tin được xem là quan trọng nhất, từ đó lựa chọn trọng tâm vào một trong số những câu hỏi trên (6WH + 1H) và sắp xếp vị trí câu hỏi như thế nào cho hiệu quả cao nhất Cấu trúc thông tin trong một văn bản tin không phải luôn được

bố trí theo một trật tự như nhau Các câu trong một văn bản tin cũng không phải luôn có giá trị ngang nhau trong việc thể hiện nội dung chung của cả đoạn văn Trong lý thuyết báo chí, tin thường được mô hình hóa như sau:

Trang 21

1 Mô hình chóp ngược

Khi cắt mô hình này thành những lát nhỏ ta thấy những dữ liệu được sắp xếp theo trình tự giảm dần độ quan trọng Nghĩa là thông tin quan trọng nhất được đặt lên đầu tiên, ở câu đầu tiên của tin

Trang 22

3 Mô hình chữ nhật

Mô hình này không đưa ra thông tin quan trọng nhất, mọi chi tiết đều có giá trị như nhau

4 Mô hình viên kim cương

Mô hình này được bắt đầu từ chi tiết tương đối quan trọng, sau đó tăng dần

độ quan trọng đến chi tiết quan trọng nhất, và lại tiếp tục giảm dần độ quan trọng

từ chi tiết quan trọng nhất đến chi tiết bổ sung

5 Mô hình hình phễu

Đây là mô hình được phái sinh từ hai mô hình chóp ngược và chóp xuôi Tin viết theo mô hình này thường mở đầu bằng chi tiết quan trọng nhất, sau đó giảm dần độ quan trọng đến một chi tiết kém quan trọng nào đấy lại bắt đầu tăng

độ quan trọng lên đến thông tin quan trọng hơn

Trang 23

Trong các mô hình này, theo thống kê của các nhà nghiên cứu, mô hình cấu

trúc 1 và 4 là hai loại được sử dụng phổ biến nhất (Vũ Quang Hào, Ngôn ngữ báo

chí, Nxb Thông tin, năm 2010)

1.2.2.3 Yếu tố chỉ lƣợng

Yếu tố về lượng cũng là một trong những yếu tố tạo nên đặc thù của diễn ngôn bản tin so với các thể loại báo chí khác Nếu diễn ngôn xã luận diễn ngôn phóng sự, ký… có độ dài lớn, hàng nghìn từ (hoặc vài trăm câu) thì một diễn ngôn bản tin thường có dung lượng không lớn, tối đa là 200 - 300 từ (tương đương 15 -

20 câu) Trong đó có thể có những bản tin đặc biệt chỉ gồm một câu, như ví dụ sau:

London‟s 2010 cultural hightlights With its many colourful and vibrant festivals and events, London is always ready to offer residents and tourists alike something special

By Fisseha Tegegn (BBC London)

Các sự kiện văn hóa nổi bật của London năm 2010 Với nhiều lễ hội đầy màu sắc và sôi động với các sự kiện, London luôn luôn sẵn sàng cung cấp cho cư dân và khách du lịch giống như một cái gì đó đặc biệt

Trong đó: - Cultural hightlights  (thông số về sự kiện)

- London  (thông số về địa điểm)

- 2010  (thông số về thời gian)

- Residents and tourists  (thông số về chủ thể)

*

*

Trang 24

Mặc dù có dung lượng không lớn, song thường thường một bản tin có thể cấu tạo từ nhiều đoạn, nhiều câu Tin có khi gồm nhiều đoạn thông tin nhiều sự việc có liên quan đến một sự kiện quan trọng nào đó Đó chính là lý do trong số các bản tin thường được chia thành các loại tin ngắn, tin vắn, tin tổng hợp trong

đó, thông tin liên tục cung cấp những hình ảnh tức thời về các giai đoạn khác nhau của một quá trình, và tất cả các tin ấy hợp lại cho ta một sự kiện đầy đủ và hoàn hảo, cập nhật

Tính liên kết trong văn bản tin thể hiện ở mối quan hệ chặt chẽ giữa các câu trong văn bản Đây là cơ sở để tạo nên tính chỉnh thể của văn bản Tính liên kết cũng nhằm để thể hiện chủ đề và mục đích giao tiếp của văn bản tin Giữa các câu trong văn bản có một sợi dây liên kết chặt chẽ quy định vị trí của mỗi câu trong văn bản, cũng như mối quan hệ giữa các câu Tính hoàn chỉnh giao tiếp của văn bản được thể hiện ở sự kế thừa giao tiếp giữa các thành tố của nó Mỗi câu trong văn bản là sản phẩm của câu đứng trước nó và là sự chuẩn bị cho những câu đứng sau đó

Dựa vào tính liên kết, người viết có những cách thức tổ chức văn bản khác nhau tùy thuộc vào mục đích của mình Và điều kiện cho một chuỗi câu tạo thành một văn bản là các chuỗi câu thông qua biểu hiện về mặt hình thức nhằm diễn đạt những liên kết về một chủ đề và tuân theo các quy tắc logic Diễn ngôn bản tin cũng như các loại diễn ngôn báo chí khác cũng sẽ sử dụng các phương thức và

Trang 25

phương tiện liên kết với những tần suất mang tính đặc trưng nhằm đảm bảo những liên kết về hình thức và liên kết nội dung

1.2.2.5 Yếu tố định biên

Cũng như các loại diễn ngôn khác, diễn ngôn tin có biên giới phía bên trái (biểu thị sự bắt đầu) và biên giới phía bên phải (biểu thị sự kết thúc) Yếu tố này giúp phân biệt với các diễn ngôn khác Một diễn ngôn tin luôn được bắt đầu bằng một tiêu đề (title) và kết thúc bằng một khoảng trống sau tên người viết Việc nhận diện yếu tố định biên đối với diễn ngôn bản tin là rõ ràng và mang tính hiển nhiên khi diễn ngôn được trình bày dưới dạng văn tự Đối với các diễn ngôn được trình bày dưới dạng âm thanh (đọc trên đài phát thanh, truyền hình), yếu tố định biên sẽ được thể hiện bằng những phương thức đặc thù

1.3 DIỄN NGÔN TIN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

Cùng với sự xuất hiện của cơn bão thông tin, sự ra đời của loại hình báo chí mới, báo mạng điện tử, mang tính chất bước ngoặt và có ý nghĩa to lớn đối với nhân loại Có thể thấy đây là loại hình báo chí ra đời muộn nhất nhưng lại có tốc

độ phát triển đáng kinh ngạc, thay đổi hoàn toàn bộ mặt của nền báo chí thế giới, cũng như góp phần vào việc nâng cao và hoàn thiện nền báo chí của mỗi quốc gia

Trước hết chúng ta có thể hiểu, báo điện tử hay báo mạng là loại báo mà người ta

đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng… khi có kết nối internet

Khác với báo in, báo điện tử tin tức được cập nhật thường xuyên, tin ngắn

và thông tin có được từ nhiều nguồn khác nhau Báo điện tử cho phép mọi người trên thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian, sự phát triển của báo điện tử đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống Trong báo điện tử, thể loại tin tức (bản tin) chiếm tỉ lệ rất lớn Các thể loại báo chí khác thường thấy trong báo viết (xã luận, ký, phóng sự…) ít xuất hiện trên báo điện tử

Sau đây là một số đặc trưng nổi bật của báo điện tử:

Trang 26

1.3.1 Cho phép cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và liên tục

Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, máy vi tính và đặc biệt là vai trò của mạng toàn cầu internet, các nhà báo trực tuyến có thể dễ dàng xâm nhập sự kiện, nhanh chóng viết bài và gửi về toà soạn thông qua hệ thống thư điện tử Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các nhà báo có thể đưa tin cùng lúc với sự kiện, ví

dụ như khi tường thuật một trận bóng đá, hay một cuộc họp báo…

Không chỉ tức thời, báo mạng điện tử còn cho phép nhà báo thường xuyên cập nhật thông tin Điều này khác với báo giấy hoặc các loại hình báo chí khác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào mà không phải chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình báo chí khác Chính vì thế

mà người ta còn cho báo mạng điện tử một đặc trưng là tính phi định kì Đặc điểm này giúp cho báo mạng dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả Nhiều người tìm đến báo mạng điện tử để cập nhật thông tin cũng là vì lí

do này

1.3.2 Có tính tương tác cao

Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của báo chí Khi

mà mọi điều kiện của con người được nâng cao, nhu cầu được đáp ứng về thông tin, cũng như sự tương tác với báo chí của độc giả càng được coi trọng Đối với báo mạng, nhờ có những đặc trưng nổi trội về công nghệ mà dường như tính tương tác có vẻ cao hơn so với các loại hình báo chí khác

Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với toà soạn, ở báo mạng điện

tử, còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí Quá trình tương tác trên báo mạng điện tử nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Ngay sau mỗi tác phẩm báo chí đăng trên trang báo mạng điện tử đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum… tiện cho độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó

Trang 27

1.3.3 Tính đa phương tiện

Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình Khi đọc báo mạng độc giả có thể chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bất kì trang nào giống như báo in Đồng thời cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian, không gian Sự tích hợp này giúp cho báo mạng điện tử có được những yếu tố hấp dẫn của các loại hình

báo chí khác, vì thế mà trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn

1.3.4 Khả năng liên kết lớn

Báo mạng điện tử có khả năng liên kết vô cùng lớn nhờ vào các siêu liên kết (hyperlink), các từ khoá, web link, hồ sơ Từ một bài báo, độc giả có thể dễ dàng tìm kiếm những thông tin liên quan thông qua các liên kết để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề quan tâm Hoặc từ một trang báo, có thể dễ dàng đi đến các web liên kết khác chỉ với một thao tác click chuột

1.3.5 Khả năng lưu trữ và tìm kiếm dễ dàng

Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khổng lồ thông tin lưu trữ Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm dễ dàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khoá được đính kèm trên mỗi trang báo mạng điện tử Có thể xem theo ngày, xem theo bài, hoặc theo chủ đề… Nếu không

có điều kiện đọc ngay lúc online, độc giả báo mạng có thể lưu bài viết lại để đọc sau, hoặc là độc giả cũng có thể đọc lại nhiều lần tuỳ thích, mà thao tác hoàn toàn đơn giản Điều này với truyền hình hay phát thanh là vô cùng khó

1.3.6 Tính xã hội hoá cao, khả năng cá thể hoá tốt

Nhờ vào sự phủ sóng của mạng toàn cầu Internet, báo mạng điện tử không có giới hạn về khoảng cách, thêm vào đó là tính tương tác cao, do đó dễ dàng có thể thấy tính xã hội hoá rất cao ở loại hình báo chí mới mẻ này Tuy nhiên, báo mạng điện tử lại cũng có khả năng cá thể hoá tốt Điều này thoạt nghe tưởng như mâu thuẫn, nhưng hoàn toàn không phải Tính cá thể hoá được thể hiện ở chỗ người đọc được chủ động lựa chọn tờ báo, trang báo, bài báo theo nhu cầu, đọc bao lâu tùy

Trang 28

thích Ngoài ra, báo mạng điện tử có độ lan toả cao, dễ dàng đính chính, chi phí thấp

do chỉ phải post bài một lần duy nhất, đồng thời thông tin lại có giá trị sử dụng cao hơn do được đọc theo nhu cầu của độc giả Tuy vậy, báo mạng điện tử còn một vài hạn chế, đó là độ tin cậy của thông tin còn thấp, muốn đọc được báo mạng thì độc giả ít nhất cũng phải có máy tính nối mạng, và biết những thao tác sử dụng đơn giản nhất

Bên cạnh các đặc trưng chung của diễn ngôn bản tin với tư cách là một thể loại báo chí, bản tin trong trang Web còn mang những đặc điểm riêng do phương thức tồn tại và hoạt động có tính đặc thù Do lấy bản tin điện tử làm đối tượng khảo sát của luận văn, chúng tôi thấy rằng việc hiểu biết hay trang bị cho mình một tri thức nghiêm túc về đặc trưng của văn bản tin là hết sức cần thiết Trong luận văn này chúng tôi đi vào khảo sát tìm hiểu quá trình giao tiếp của văn bản tin với mục đích chủ yếu là:

- Khảo sát các cách thức tổ chức văn bản tin trong một số trang web tiếng Anh với những đặc điểm về cấu trúc mô hình dựa trên giá trị thông tin

- Khảo sát các đặc trưng về mạch lạc, liên kết và một số đặc trưng khác nhằm thực hiện chức năng thông tin (liên giao) và chức năng tác động (liên nhân) của diễn ngôn bản tin trong sự so sánh đối chiếu với các kiểu loại văn bản báo chí khác

Trang 29

Chương 2

TỔ CHỨC NỘI DUNG CỦA BẢN TIN

TRÊN TRANG WEB

2.1 MỘT SỐ YẾU TỐ HỖ TRỢ TRUYỀN TẢI NỘI DUNG

Một trong những đặc trưng nổi bật khác hẳn với tin trên báo in mà tin trên Web có được đó là nhờ vào công nghệ kỹ thuật hiện đại ngày nay Chính vì vậy sự liên kết trong các bản tin trên trang Web cũng mang đặc trưng riêng của nó được thể hiện qua những yếu tố sau:

2.1.1 Hyperlinks (siêu liên kết)

Tiêu đề và sapo của tin có chức năng cho bạn biết nội dung chính, khiến bạn đọc đưa ra quyết định để nhấn chuột vào Hyperlinks nào rồi đọc toàn bộ bản tin hay chỉ “lướt mắt”

Việc sử dụng Hyperlinks là một tính năng phân biệt rất lớn đối với tin trên trang web so với tin trên báo in Đối với tin trên báo in, toàn bộ nội dung của tin được trình bày trên báo Mặc dù trong khuôn khổ của môt tờ báo in cũng có sự phân biệt theo chuyên mục, song chúng được phân bố lần lượt trên các trang giấy khác nhau Trong khi đó, trên trang Web, cụ thể là trang BBC News, các chuyên mục được xếp trong cùng một trang vốn được gọi bằng một thuật ngữ chung là Home Page (trang chủ), đánh dấu bằng sự phân biệt theo chủ đề như: Entertainment (giải trí), Health (sức khỏe), Technology (kỹ thuật), Business (thương mại), Science & Entertainment (khoa học và giải trí)

Do vậy người đọc chỉ cần đọc lướt qua các chuyên mục của Home Page để của quyết định lựa chọn mảng thông tin mà mình quan tâm Kết cấu dưới dạng chữ

in đậm và khác màu, cách tổ chức của trang Web tạo nên siêu liên kết Hyperlinks, trở thành công cụ hữu hiệu, dẫn đường dẫn đường cho người đọc tìm đến những mảng tin tức mình quan tâm

Trang 30

Bên cạnh phương thức tổ chức đường dẫn có chức năng siêu liên kết của trang chủ, tổ chức nội dung trong một trang chứa tin của trang Web cũng mang đặc điểm riêng so với tổ chức của bản tin trên báo in Khi mở một bản tin mình quan tâm, cùng với nội dung chính với những bộ phận thuộc bản tin đó, người đọc còn tìm thấy danh mục của những thông tin cùng chủ đề hoặc có liên quan đến chủ đề của bài viết và có thể trực tiếp tham khảo Hệ thống các tin liên quan này cũng tạo thành một hệ thống liên kết riêng được bố trí theo chủ đề Kết cấu này tạo thuận lợi nhiều cho người đọc khi tiếp cận các bản tin điện tử

Với phương thức tổ chức cả về nội dung và hình thức như vậy, mỗi bản tin

sẽ có hai chức năng:

- Là một thành phần thông tin trong một tổng thể thông tin lớn hơn về cùng một chủ đề hoặc lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với nhau Hyperlinks là phương thức duy trì quan hệ mang tính ngoại hướng này Lúc này, mỗi bản tin chỉ mang tính độc lập tương đối về mặt chủ đề

- Là một văn bản độc lập với tổ chức về kết cấu và nội dung như một văn bản thông thường, chịu chế định bởi hệ thống mạch lạc và liên kết mang tính nội hướng của riêng mình Đây là nội dung cơ bản mà luận văn tập trung nghiên cứu

Để có thể hình dung dễ hơn, chúng tôi trích ở đây tổ chức hình thức của một bài viết trong mối quan hệ liên kết ngoại hướng và nội hướng thường thấy ở mọi văn bản tin điện tử

Trang 31

2.1.2 Hình ảnh và chú thích ảnh

Hình ảnh là bản sao sinh động con người hay sự kiện xảy ra trong cuộc sống hàng ngày ở khắp mọi nơi trên thể giới mà nhà báo muốn thông tin tới công chúng Hình ảnh này miêu tả những đặc điểm cơ bản của sự kiện hay nhân vật ở thời điểm điển hình nhất Hình ảnh mang đến cho người xem nắm bắt được chính xác bản chất, đặc tính của sự kiện nhờ tính tài liệu chân thực, trực quan của nhà nhiếp ảnh Nếu chúng ta dùng ngôn ngữ văn tự để miêu tả thì người xem khó có thể hình dung được đầy đủ về nó Hơn nữa người xem phải tưởng tượng nên đôi khi không đúng với thực tế Hình ảnh chính là hạt nhân của sự kiện cần thông báo

Hầu hết các bản tin trên Web đều có hình ảnh kèm theo, giữ chức năng bổ sung hoặc minh họa cho các thông tin bằng văn tự Dưới các ảnh luôn có chú thích (còn gọi là lời chú thích hay chú thích hình ảnh) Đây có thể coi là một bộ phận không thể thiếu của một bản tin điện tử Thực tế, khi khảo sát bản tin trên báo viết, chúng tôi cũng thấy có ảnh kèm theo, nhưng có lẽ do hạn chế của không gian trình

Trang 32

bầy, không phải bản tin nào cũng có, trừ những bản tin quan trọng hoặc được coi là

“hot” Mỗi bản tin nhiều nhất cũng chỉ có một ảnh mang tính minh họa Trong khi

đó, số lượng ảnh trong bản tin điện tử có thể không hạn chế Hầu hết có ít nhất 1 ảnh, còn trung bình có từ 2 - 3 ảnh minh họa Có bản tin đặc biệt có tới 7 - 8 ảnh, giúp người đọc hiểu, cảm nhận sự kiện và nhớ thông tin bằng hình ảnh là chính Trong thời gian gần đây, bên cạnh ảnh minh họa, các thông tin được quay trực tiếp

và được trình bầy trên website dưới dạng video ngày càng phổ biến, tạo điều kiện cho người đọc không chỉ tiếp nhận thông tin bằng mắt qua chữ viết, hình ảnh mà còn qua âm thanh, tiếng động và những hình ảnh động Các phương tiện này làm tăng tính sống động và chân thực của bản tin điện tử Những lúc này, việc diễn đạt bằng ngôn từ chỉ còn mang tính phụ, thường thể hiện bình luận của người viết hoặc diễn đạt những thông số chính xác có thể diễn đạt bằng hình ảnh (thông số thời gian, không gian, địa điểm…) Điều này làm nên sự khác biệt quan trọng của ảnh trong tin trên Web

30 December 2010 Last updated at 01:20 GMT

The most-read stories of 2010 Những câu chuyện hay nhất năm 2010

Freezing weather and a volcano left air passengers fuming, Cameron and Clegg sent Brown packing, and student protests left Westminster - and a royal couple - reeling

Trang 33

Thời tiết giá lạnh và hoạt động núi lửa khiến hành khách hàng không phát cáu, Cameron và Clegg đã gửi đóng gói hãng Brown, các cuộc biểu tình của sinh viên rời Westminster - và một cặp vợ chồng hoàng gia - quay cuồng.

Marshall Islands: Islands 'grow back' after Pacific storm

Quần đảo Marshall: Quần đảo „phát triển trở lại‟ sau cơn bão Thái Bình Dương

News from Elsewhere as found by BBC Monitoring

Nadikdik Atoll, otherwise known as Knox Atoll, was largely destroyed in 1905

Đảo Nadikdik Atoll, hay còn gọi là đảo Knox Atoll, đã bị phá hủy phần lớn vào năm 1905

Continue reading the main story

More News from Elsewhere

Bobsleigh and beer satirise Yanukovych

House of Cards defies Chinese censors

Owls drafted in to fight deadly virus

Locals crowd Kerry's Seoul snack shop

A string of Pacific islands have apparently "grown back" after they were devastated by a typhoon a century ago

Trang 34

Một loạt các hòn đảo ở Thái Bình Dương đã dường như "phát triển trở lại" sau khi đã bị tàn phá bởi một cơn bão cách đây một thế kỷ.

A powerful typhoon in 1905 killed all but two inhabitants of the Nadikdik Atoll - part of the Marshall Islands - and washed away most of the islands' landmass But the islands seem to have re-established themselves - one has become a fully vegetated, stable island again - while several smaller islands have

reports

New Zealand Herald thông báo : Một cơn bão lớn năm 1905 đã giết chết tất

cả trừ hai cư dân của đảo Nadikdik Atoll, một phần của quần đảo Marshall và cơn bão đã cuốn trôi hầu hết vùng đất của các hòn đảo này Nhưng các đảo này dường như đã tự được tái lập, trong đó có một hòn đảo đã trở thành một thảm thực vật đầy đủ và ổn định trở lại Bên cạnh đó còn có nhiều hòn đảo nhỏ hơn đã xuất hiện trở lại và tạo thành các khu đất độc lập lớn hơn

"The storm obviously generated huge amounts of sediment and threw up large amounts of coral on to the islands, which has helped them to re-organise themselves," says Dr Murray Ford of the University of Auckland

Tiến sĩ Murray Ford đến từ Đại học Auckland cho biết: "Rõ ràng là cơn bão đã tạo ra một lượng lớn cặn bã và ném một lượng lớn san hô lên các đảo, điều này đã giúp các hòn đảo tự tái lập lại"

Aerial photographs taken across seven decades since 1945 show that vegetated areas on the previously barren islands has grown by nearly a quarter, a

Theo một báo cáo trên trang web NZCity, hình ảnh trên không được thể hiện qua bảy thập kỷ kể từ năm 1945 cho thấy các khu vực có thảm thực vật trên các đảo trước đây cằn cỗi đã tăng gần một phần tư

Trang 35

The phenomenon could have huge significance for low-lying islands across the Pacific threatened by rising sea levels, scientists say "The take-home message

is really that a high magnitude event can both destroy the islands, and set about a

series of processes that enables them to return," Dr Ford said

Các nhà khoa học cho biết: Hiện tượng này có thể có ý nghĩa rất lớn đối với các hòn đảo nằm ở vị trí thấp trên Thái Bình Dương, bị đe dọa bởi mực nước biển dâng Tiến sĩ Ford nói: "Thông điệp mang lại thực sự là sự kiện quan trọng này có thể phá hủy các đảo và thiết lập một loạt các quá trình mà khiến các hòn đảo này tái tạo trở lại"

The Marshall Islands comprise over 1,000 different islands

Theo khảo sát, trong số 340 bản tin được sử dụng để nghiên cứu, có 32 bản tin có trên 3 ảnh (chiếm 9,41%), có 56 bản tin có 3 ảnh (chiếm 16,47%), 163 bản tin có 2 ảnh (chiếm 47, 94%), 89 bản tin có một ảnh (chiếm 26,17 %)

Trang 36

Bên cạnh hình ảnh còn có phần chú thích ảnh, là những chữ viết giải thích hoặc bổ sung thông tin mà hình ảnh chưa truyền tải hết được Chú thích ảnh có nhiệm vụ xây dựng mối quan hệ giữa chi tiết được thể hiện trong ảnh với toàn bộ

sự kiện được thông báo Ngoài chức năng trên, chú thích ảnh còn nhằm bình luận

sự kiện, phân tích thông tin từ góc độ của người viết Chú thích ảnh phải ngắn gọn nêu được hạt nhân cơ bản của sự kiện Mối quan hệ giữa hình ảnh và chú thích ảnh

là mối quan hệ lệ thuộc Hình ảnh là cốt lõi của thông tin Chú thích không thể thiếu được nhưng phải phù hợp với ảnh và có tác dụng bổ sung thông tin giúp người đọc hiểu bản tin hơn.Chú thích ảnh thường có ba chức năng sau:

- Bổ sung thông tin cho hình ảnh, hoành chỉnh bức ảnh báo chí;

- Tăng tính cụ thể, làm rõ chủ đề, ý đồ chụp ảnh của phóng viên;

- Nâng cao tầm khái quát của bức ảnh, “chắp cánh” cho bức ảnh bay cao, bay xa trong lòng bạn đọc

12 July 2010 Last updated at 11:46 GMT

Afghanistan: civilian casualties 'on the rise'

Dân thường bị thương vong ở Afghanistan gia tăng

Civilians are suffering most in the conflict

Người dân Afghanistan bị thương vong trong các cuộc xung đột

Phương thức chú ảnh của web tiếng Anh theo kiểu thông tin chính xác

Trang 37

4 August 2010 Last updated at 09:08 GMT

Northern Bank revises forecast for growth in NI

Ngân hàng phía Bắc điều chỉnh lại dự báo tăng trưởng ở NI (Bắc Ailen)

Ms McGowan said NI had potential for "sound economic growth"

Bà McGowan nói NI (Bắc Ailen) có “tiềm năng tăng trưởng kinh tế"

Phương thức chú ảnh của Web tiếng Anh theo kiểu thông tin mở

President Thanks U.S interest VN Sea

Chủ tịch nước VN cảm ơn Mỹ quan tâm Biển Đông

Update: 12:43 GMT - Saturday, 12 June 11, 2010

Trang 38

President of Vietnam is Apec meeting in Hawaii

Chủ tịch nước Việt Nam đang tham dự hội nghị Apec ở Hawaii

Tâm lý tiếp nhận thông tin của bạn đọc trước một bài báo, việc xem ảnh và chú thích ảnh là những động tác đầu tiên, đó là thông tin thị giác Chú thích ảnh và ảnh là cái “mở” và có thể nói là để kích thích tích tò mò của độc giả xem tiếp nội dung, sự kiện đó

Theo khảo sát cho thấy kết quả chú thích ảnh theo kiểu thông tin chính xác chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các bản tin Chú thích ảnh bao giờ cũng phải thật đầy

đủ, rõ ràng, chính xác và ngắn gọn Một chú thích thông thường chỉ là một câu Ngôn ngữ của chú thích ảnh là ngôn ngữ cô đọng, là kết tinh của sự lựa chọn khắc nghiệt và đầy ắp thông tin trong từng con chữ Bên cạnh đó còn phương thức chú thích ảnh theo kiểu thông tin mở Nói cách khác là chú thích ảnh vừa bổ sung thông tin cho ảnh, vừa minh họa cho ảnh, thậm chí còn làm cho ảnh trở nên ấn tượng hơn, sâu sắc hơn, hướng sự quan tâm chú ý của người đọc vào đúng ý định nội dung mà tác giả muốn hướng tới Như vậy, chú thích ảnh có tầm quan trọng đặc biệt trong việc sử dụng hình ảnh vào bài viết Loại chú thích ảnh theo phương thức hài hước chiếm tỷ lệ rất ít vì đặc trưng của bản tin Web là phải có tính thời

sự, cập nhật thông tin chính xác các sự kiện trên thế gới từng giờ từng phút

Tâm lý tiếp nhận thông tin của bạn đọc trước một bài báo, việc xem ảnh và chú thích ảnh là những động tác đầu tiên, đó là thông tin thị giác Chú thích ảnh và ảnh là cái “mở” và có thể nói là để kích thích tích tò mò của độc giả xem tiếp nội dung, sự kiện đó

Trang 39

Chú thích ảnh bao giờ cũng phải thật đầy đủ, rõ ràng, chính xác và ngắn gọn Một chú thích thông thường chỉ là một câu Ngôn ngữ của chú thích ảnh là ngôn ngữ cô đọng, là kết tinh của sự lựa chọn khắc nghiệt và đầy ắp thông tin trong từng con chữ

Chú thích ảnh vừa bổ sung thông tin cho ảnh, vừa minh họa cho ảnh, thậm chí còn làm cho ảnh trở nên ấn tượng hơn, sâu sắc hơn, hướng sự quan tâm chú ý của người đọc vào đúng ý định nội dung mà tác giả muốn hướng tới Như vậy, chú thích ảnh có tầm quan trọng đặc biệt trong việc sử dụng hình ảnh vào bài viết

Như vậy khác với một số quan điểm coi hình ảnh không quan trọng trong giá trị thông tin của bản tin, chúng tôi cho rằng cần phải khẳng định một tin trên Web muốn có được sự thành công nhất định phải có sự đóng góp rất lớn của ảnh với các lý do cơ bản sau:

- Ảnh chính là “giai đoạn” đọc đầu tiên, nó thu hút độc giả nhìn vào, khiến độc giả đọc bài viết

- Ảnh làm cho trang Web thông thoáng do không quá nhiều chữ, giúp cho việc tiếp thu thông tin được thực hiện bằng nhiều phương thức chứ không phải bằng phương thức duy nhất là “đọc chữ”

- Độc giả dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận với một hình ảnh hơn một bài viết Không cần phải đọc bài viết hay có trình độ học vấn cao vẫn có thể hiểu được những thông tin cơ bản mà một bức ảnh truyền tải

- Hình ảnh chuyển tải thông tin mà nhiều khi không thể viết hết được bằng câu chữ Vì một bức ảnh được chọn cần phải có ý nghĩa, mang lại nhiều thông tin, còn thậm chí miêu tả được điều mà nhà báo khó có thể miêu tả hết

- Hình ảnh có thể làm tăng độ tin cậy của nội dung bản tin

- Một số hình ảnh và tranh có tác dụng giải trí

Trong thời gian gần đây, thay vì minh họa bằng ảnh, việc sử dụng các đoạn video có âm thanh kèm theo đã nâng cao chất lượng thông tin thông qua thị giác, tăng tính chân thực và tăng hiệu quả tác động tới người bên cạnh tin đã tạo ra

Trang 40

những đặc trưng riêng biệt của tin trên Web Sự kết hợp những yếu tố công nghệ cao này khiến tin Web cập nhật hơn, hấp dẫn hơn

14 May 2010 Last updated at 10:21 GMT

Mr Deripaska called Asia 'the most promising market for aluminium'

Ông Deripaska gọi châu Á là „thị trường hứa hẹn nhất đối với nhôm‟

Ngày đăng: 10/05/2015, 16:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, 1998, Văn bản và liên kết trong lời nói, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong lời nói
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
2. Diệp Quang Ban, 1998, Về mạch lạc trong văn bản, Tạp trí Ngôn ngữ, số 1, trang 47- 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mạch lạc trong văn bản
3. Diệp Quang Ban, 2003, Giao Tiếp – Văn bản – Mạch lạc – Liên kết – Đoạn văn, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao Tiếp – Văn bản – Mạch lạc – Liên kết – Đoạn văn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
4. Diệp Quang Ban, 2005, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Diệp Quang Ban, 2006, Văn Bản, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Bản
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
6. Nguyễn Đức Dân, 1998, Logic và tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Nguyễn Đức Dân, 2004, Ý tại ngôn ngoại – Những thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý tại ngôn ngoại – Những thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí
8. Đức Dũng, 2000, Viết báo như thế nào, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo như thế nào
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
9. Hữu Đạt, 1999, Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
10. Hữu Đạt, 2000, Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
11. Nguyễn Thị Vân Đông, 2003, Đôi điều nên biết về tiêu đề báo chí tiếng Anh và tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều nên biết về tiêu đề báo chí tiếng Anh và tiếng Việt
12. Lê Đông & Nguyễn Văn Hiệp, 2003, Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học, Tạp chí Ngôn ngữ, số 7, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
13. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, 1997, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
14. Nguyễn Thiện Giáp, 2004, Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
15. Nguyễn Thiện Giáp, 2008, Giáo trình ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Vũ Quang Hào, 2004, Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Nguyễn Hòa và Đinh Văn Đức, 1999, Quan yếu trong cấu trúc diễn ngôn bản tin chính trị - xã hội trong báo tiếng Anh và tiếng Việt, T/C Ngôn ngữ, số 2, Tr. 25 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan yếu trong cấu trúc diễn ngôn bản tin chính trị - xã hội trong báo tiếng Anh và tiếng Việt
18. Nguyễn Hòa, 2003, Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và Phương pháp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và Phương pháp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Nguyễn Thị Thanh Hương, Trích dẫn trong báo Tiếng Anh, Tạp chí Ngôn Ngữ số 14, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trích dẫn trong báo Tiếng Anh
20. Nguyễn Lai, 1997, Những bài giảng về ngôn ngữ học đại cương, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về ngôn ngữ học đại cương
Nhà XB: NXB Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2. Hình ảnh và chú thích ảnh - luận văn:  khảo sát đặc trưng các diễn ngôn tin trên một số trang web tiếng anh năm 2010
2.1.2. Hình ảnh và chú thích ảnh (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w