1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014

89 741 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện hơn 73 loài đơn bào ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi, trong đó có đơn bào Histomonas meleagridis gây bệnh đầu đen ở gà.. Trong vài năm g

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH ĐẦU ĐEN DO ĐƠN BÀO

HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA Ở GÀ

TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Thú y

Mã số: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quang

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Xuân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của

tôi đã hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn

chân thành tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang, cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim

Lan và NCS.Ths Trương Thị Tính đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều

kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của Khoa Chăn

nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Khoa Nông Lâm - Trường

Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng QLĐT Sau

Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi

trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ Trạm thú y và nhân

dân của các huyện Phú Bình, Phổ Yên, Võ Nhai, Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) đã

tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè và đồng

nghiệp trong suốt thời gian thực hiện luận văn khoa học này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Xuân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 3

1.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 6

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 30

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 30

2.3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu……… 31

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 31

Trang 5

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 33

2.4.3 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

3.1 Kết quả nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 40

3.1.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên qua mổ khám 40

3.1.2 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen 42

3.2 Kết quả nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 48

3.2.1 Kết quả gây nhiễm đơn bào H meleagridis cho gà 48

3.2.3 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do gây nhiễm 52

3.2.4 Diễn biến thân nhiệt của gà mắc bệnh sau gây nhiễm 55

3.2.6 Nghiên cứu bệnh tích của gà sau gây nhiễm 59

3.2.7 Khối lượng, thể tích một số cơ quan nội tạng của gà sau gây nhiễm 64

3.3 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 67

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69

1 Kết luận 69

2 Đề nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

E coli : Escherichia coli

E tenella : Eimeria tenella

H meleagridis : Histomonas meleagridis

H ganillarum : Heterakis ganillarum

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà theo địa phương 40

Bảng 3.2 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra 43

Bảng 3.3 Bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh đầu đendo đơn bào H.meleagridis gây ra 45

Bảng 3.4 Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen 48

Bảng 3.5 Kết quả gây nhiễm đơn bào H meleagridis cho gà 49

Bảng 3.6 Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở gàsau gây nhiễm qua đường miệng 51

Bảng 3.7 Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở gàgây nhiễm qua lỗ huyệt 52

Bảng 3.8 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do gây nhiễm 53

Bảng 3.9 Diễn biến thân nhiệt của gà mắc bệnh sau gây nhiễm 56

Bảng 3.10 Thời gian chết của gà sau gây nhiễm 58

Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm 60

Bảng 3.12 Bệnh tích vi thể một số cơ quan của gà mắc bệnh đầu đendo gây nhiễm 62

Bảng 3.13 Khối lượng cơ thể và các nội quan của gà thí nghiệm 64

Bảng 3.14 Sự thay đổi thể tích các nội quan của gà thí nghiệm 66

Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 68

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu dồ tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà theo địa phương 42

Hình 3.2 Đồ thị diễn biến thân nhiệt của gà sau gây nhiễm 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam Ngày nay, nhờ những tiến bộ về di truyền, giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi và công tác thú y mà chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển Hàng năm, chăn nuôi gà

đã cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng Xu hướng phát triển chăn nuôi nói chung theo hướng thâm canh công nghiệp hóa đang

nhu cầu về trứng và thịt, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi

Khi chăn nuôi gà phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp hơn Việt Nam là nướ ậu nhiệt đớ ẩm, rất thích hợp cho các loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh trên đàn gà Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện hơn 73 loài đơn bào ký sinh và gây bệnh cho vật

nuôi, trong đó có đơn bào Histomonas meleagridis gây bệnh đầu đen ở gà

Bệnh đầu đen là bệnh mới xuất hiện ở nước ta trong vài năm gần đây, đến nay

đã thấy ở khắp các vùng miền trong cả nước Bệnh tiến triển khá nhanh với những biểu hiện bất thường ở gà như ủ rũ, xù lông, giảm ăn, uống nhiều nước, phân loãng màu vàng lưu huỳnh; da vùng đầu ban đầu xanh tím sau đó chuyển sang thâm đen (bởi vậy được gọi là bệnh đầu đen) Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột, manh tràng và gan; manh tràng đóng kén trắng

Trong vài năm gần đây, ở tỉnh Thái Nguyên đã xuất hiện bệnh đầ

, người chăn nuôi và cán bộ thú y cơ sở chưa có biện pháp phòng chống

: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào

Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào Histomonas meleagridis ở gà nuôi tại

tỉnh Thái Nguyên

Trang 10

- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào H

meleagridis gây ra ở gà Từ đó có cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trị bệnh

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về một số đặc điểm bệnh lý và

lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà, có một số đóng góp

mới cho khoa học

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp người chăn nuôi hiểu về bệnh, phát hiện bệnh kịp thời, từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy nghề chăn nuôi gà phát triển

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm

1.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh

Theo Cepicka và cs (2010) [10], vị trí của H meleagridis trong hệ thống phân

loại nguyên sinh động vật như sau:

1.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis

Cushman (1893) [12] đã mô tả về bệnh đầu đen ở gà

Hình thái của đơn bào gây bệnh đầu đen cho gà đã được Tyzzer (1919) [57]

mô tả như sau: Giai đoạn đơn bào Amoeba meleagridis ký sinh tại khu vực ngoại vi

của các tổn thương gọi là giai đoạn xâm lấn, đơn bào di động kiểu amip và hình thành một chân giả có chiều dài 30 μm Trong các mô cố định, đơn bào có đường kính 8 - 17 μm, giai đoạn này, nguyên sinh chất chứa các hạt không bào và một thể

nhân Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, đơn bào tồn tại ở dạng có tế bào chất mà

không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân Giai đoạn này, đơn bào có kích thước 12 - 21 μm

Khi nghiên cứu hình thái của đơn bào trong môi trường nuôi cấy, Tyzzer E E

(1920) [58] thấy, Amoeba meleagridis xuất hiện roi và có khả năng chuyển động

Trang 12

trong điều kiện yếm khí Từ đặc điểm này, Tyzzer đã đổi tên tác nhân gây bệnh

thành Histomonas meleagridis

Tyzzer (1934) [60] cho biết, ở 420C có thể quan sát được sự chuyển động của

H meleagridis, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay

ngược chiều kim đồng hồ

Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H meleagridis, các nhà khoa học đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H meleagridis cấu tạo gồm 3 phần:

màng, tế bào chất và nhân

Màng tế bào H meleagridis là một màng đơn

Tế bào chất của H meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN, một số

không bào và hạt nhân

Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid Màng nhân là một màng kép Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule

Histomonas meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể, lưới nội chất của

đơn bào này đã bị thoái hóa

1.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis

H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2

con đường: truyền trực tiếp và truyền gián tiếp

* Truyền trực tiếp

Gà có thể bị lây nhiễm bệnh đầu đen khi tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh qua

2 đường, đường miệng và lỗ huyệt Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gà tiếp xúc qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy

ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh

Ngay sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H meleagridis sẽ di chuyển

ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gan

* Truyền gián tiếp qua giun kim

Giun kim là sinh vật truyền bệnh đầu đen cho gà

Trang 13

Graybill và cs (1920) [24] cho rằng, đơn bào gây bệnh đầu đen có liên quan

tới trứng giun kim Heterakis gallinarum Trứng giun kim có phôi khi nhiễm vào gà

là điều kiện cần thiết để lây truyền và phát bệnh đầu đen ở gà

Mặc dù, giun kim H gallinarum là ký chủ trung gian lây truyền bệnh đầu đen từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác, nhưng đơn bào H meleagridis vẫn dễ dàng

truyền từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác khi chúng ăn phân gà nhiễm bệnh

mà không cần sự có mặt của H gallinarum (Mc Dougald L R., 2005 [45])

* Truyền gián tiếp qua giun đất

Lund và Chute (1973) [43] cho biết: giun đất là vật chủ chứa trứng H

gallinarum và tích trữ một lượng lớn đơn bào H meleagridis

Ngoài ra, bệnh ở gà và gà tây có thể lây truyền từ con này sang con khác khi

chúng mổ ăn phân của những con bị bệnh Tuy nhiên, H meleagridis tự do trong

phân mà không được bảo vệ bởi trứng giun kim sẽ chết nhanh chóng, đặc biệt là trong thời tiết khô nóng

1.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis

Lê Văn Năm (2010) [1] đã tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào H

meleagridis như sau:

Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), H meleagridis sinh sản theo

phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) hay thể hợp bào Khi theo phân ra khỏi ký chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ sống được trong vòng 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm

trong các trứng của giun kim H gallinarum Do đó, gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức

ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim H gallinarum có chứa thể hợp bào H

meleagridis

H meleagridis có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo và yếm khí

Tại khu vực nuôi gà mắc bệnh, giun đất là vật chủ chứa trứng giun kim H

gallinarum Do đó, trứng H gallinarum và đơn bào H meleagridis sẽ tồn tại khá

lâu ngoài ngoại cảnh

Trang 14

Khi gà và gà tây ăn giun đất, trứng H gallinarum vào đường tiêu hóa gia cầm,

làm cho gia cầm vừa bị bệnh giun kim, vừa bị bệnh đầu đen

Ở vùng có kiểu khí hậu và loại đất phù hợp cho sự phát triển của giun kim và

giun đất, cần định kỳ kiểm soát bệnh do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà

1.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà

1.1.2.1 Lịch sử bệnh

Histomonosis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island

(Cushman, 1894 [13]) Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, đã đề cập về một “bệnh khó hiểu” xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da vùng đầu biến đổi màu,

gà mắc bệnh có tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tây Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám,

thậm chí xanh đen nên đã đặt tên bệnh là bệnh đầu đen (Blackhead)

Kể từ khi bệnh đầu đen xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về bệnh Người ta nhận thấy rằng, dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây Theo Smith (1895) [55], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng

bị tổn thương nặng nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm gan và manh tràng để nghiên

cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba

meleagridis), từ đó bệnh được đặt tên là bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis Tyzzer

(1920) [59] đã gọi tên sinh vật đơn bào gây bệnh là Histomonas meleagridis

Vụ dịch đầu tiên bùng phát trên gà vào năm 1908 đã gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Từ đó, các trang trại chăn nuôi ở Mỹ đã thực hiện mọi biện pháp

để cải thiện, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nhưng Histomonosis vẫn xuất hiện ở nhiều

tiểu bang của Mỹ và là nguyên nhân chính gây chết ở gà tây (Lund, 1956 [42]) Năm 1905, bệnh xảy ra tại Nhật Bản

Trang 15

Ở Châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở Ireland

(1894), Áo (2006), Bỉ (2007), Anh (2007) và Hà Lan (2009)

Ở Đông Âu, bệnh xuất hiện ở Bungari vào năm 1950

Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, nhất là các nước có

ngành chăn nuôi gà tây và gà ta thả vườn và tập trung công nghiệp (Mc Dougald L R.,

2005 [45])

Ở Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều nơi nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh Lê Văn Năm (2010) [1] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi tập trung thả vườn tại một số tỉnh phía Bắc bị mắc bệnh Bệnh đã bùng phát dữ dội

và gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi

1.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra

Histomonosis đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc

biệt là gà tây Bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ vào những năm 1930 Năm 1945, tỷ lệ chết do bệnh đầu đen gây ra chiếm 32,2 % tỷ lệ chết của gà tây ở Bắc Carolina

Ổ dịch Histomonosis trên đàn gà tây với tỷ lệ chết 25 - 75 % đã được báo cáo

ở California vào năm 2001 (Jinghui hu, 2002 [35])

Van der Heijden H (2009) [62] cho biết: ở California Histomonosis tiếp tục

gây tỷ lệ chết cao cho gà tây 9 - 11 tuần tuổi Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, tỷ lệ chết tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi Gà tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi, tỷ lệ chết 24 - 68 % Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắng nhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm Thành

manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch màu

vàng nhạt Thận, tuyến tụy, lá lách sưng Quan sát dưới kính hiển vi thấy có nhiều ổ

hoại tử trong gan, manh tràng, phúc mạc, túi Fabricius, thận, phổi, tuyến tụy,…

Mc Dougald L R (2008) [46] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở khu vực Bắc Mỹ

đã báo cáo: bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập trung, tỷ lệ chết lên đến 80 - 100 % Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở gà nhưng tỷ lệ chết chỉ tới 10 % Hauck và cs (2010) [29] cho biết: tại Đức, trong khoảng thời gian từ 2004

đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch Histomonosis xảy ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về

kinh tế cho người chăn nuôi Tác giả đã mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của

Trang 16

bệnh đầu đen của một trang trại chăn nuôi gà tây ở Đức Từ tháng 4 năm 2003 đến

tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó

có 15 ổ dịch ở các trang trại gà giống

Lê Văn Năm (2010) [1] cho biết: bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của bộ phận không nhỏ người chăn nuôi ở nước ta Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng giun kim mà giun kim là ký chủ trung gian truyền bệnh đầu đen cho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung

1.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm

* Mầm bệnh: Về mặt dịch tễ học, đơn bào Histomonas không có vai trò truyền

bệnh vì sức đề kháng của chúng rất kém, khi ra khỏi cơ thể vật chủ đơn bào chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn

* Động vật mắc bệnh

Histomonosis thấy ở các đàn gà, gà tây trên toàn thế giới Trong tự nhiên, gà

tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều có thể bị bệnh Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả

Gregory V và Lamann (2010) [25] cho biết, tất cả các giống gà đều dễ bị nhiễm

đơn bào H meleagridis Gà bị bệnh do gan tổn thương ít hơn nên tỷ lệ chết thấp hơn so

với gà tây

* Tuổi mắc bệnh

Gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm

Histomonosis hơn cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonosis càng giảm

* Vật chủ trung gian truyền bệnh

Giun kim có vai trò quan trọng trong việc truyền Histomonosis bởi chúng bảo

vệ H meleagridis trong trứng và truyền bệnh

Ngoài ra, giun đất cũng có vai trò trong việc lưu trữ trứng giun kim chứa H

meleagridis Khi gà, gà tây ăn giun đất, trứng giun kim được giải phóng, đơn bào

cũng được giải phóng và gây bệnh

* Thời kỳ ủ bệnh

Trang 17

Các dấu hiệu của Histomonosis xuất hiện rõ ràng từ 7 - 12 ngày và thường xảy

ra 11 ngày sau khi nhiễm bệnh Thời gian ủ bệnh tương tự với các cách nhiễm bệnh

tự nhiên, tức là truyền qua trứng Heterakis chứa H meleagridis

Trên thực nghiệm, gà tây được gây nhiễm bệnh bằng cách truyền H

meleagridis vào lỗ huyệt thì thời gian xuất hiện các tổn thương sớm hơn khoảng 3

ngày so với nhiễm bệnh do nuốt trứng Heterakis qua đường miệng

* Mùa vụ

Ở Việt Nam, Lê Văn Năm (2010) [1] báo cáo rằng, bệnh bùng phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và đầu thu Đối với những gà lớn tuổi (gà già và

gà đẻ), bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông

* Điều kiện vệ sinh thú y

Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn

tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn

tại và phát triển của giun kim - vật chủ trung gian truyền bệnh

Callait - Cardinal M P và cs (2010) [9] cho rằng, chuồng trại không đảm bảo

vệ sinh, phân và rác ướt không thu dọn thường xuyên, thức ăn nước uống không

sạch sẽ là những nguy cơ gây tái phát Histomonosis ở gia cầm

2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh

Việc truyền đơn bào H meleagridis tới gà và gà tây có thể xảy ra riêng lẻ hoặc

đồng thời theo các đường sau:

Thứ nhất, gà và gà tây ăn phân tươi do gà bệnh thải ra có chứa H meleagidis, hoặc do lỗ huyệt tiếp xúc với phân tươi chứa H meleagridis Con đường này không

quan trọng, ngoại trừ trường hợp gà khỏe mạnh và gà mắc bệnh được nuôi chung cùng đàn

Thứ hai, gà có thể nuốt phải trứng Heterakis gallinarum có phôi và có chứa H

meleagridis Vào trong đường tiêu hóa của gà, các đơn bào H meleagridis và ấu

trùng giun kim sẽ giải phóng khỏi vỏ trứng

Trang 18

Thứ ba, gà có thể ăn phải những con giun đất chứa trứng giun kim đã mang

đơn bào H meleagridis

Khi vào trong cơ thể gà, đơn bào xâm nhập vào manh tràng rồi vào niêm mạc

manh tràng Tại đây, đơn bào H meleagridis nhân lên rất nhanh bằng sinh sản trực

phân Số lượng lớn đơn bào tác động vào niêm mạc manh tràng, làm cho niêm mạc dày dần lên, sau đó niêm mạc manh tràng bị viêm, loét và hoại tử Màng nhày và dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như

phomat Từ manh tràng, H meleagridis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập vào gan H meleagridis ký sinh ở

gan, gây viêm và gây hoại tử gan Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan Từ gan, đơn bào này sẽ lan đi khắp cơ thể Do đó, ngoài gan và manh tràng,

người ta còn tìm thấy H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H

meleagridis không gây hoặc chỉ gây tổn thương nhẹ ở các cơ quan này

1.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen ở gà

* Triệu chứng

Gà 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm H meleagridis cao, có triệu chứng

điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90 % Những dấu hiệu lâm sàng phát triển sau 12

- 15 ngày nhiễm bệnh và chết sau 15 - 21 ngày Gà mắc bệnh đột ngột sốt cao 43 -

440C, đứng ủ rũ, hai mắt nhắm nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, lông xù, vùng lỗ huyệt lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh (Mc Dougald L R., 2008 [46]) Có hiện tượng sung huyết, phù nề, tăng bạch cầu đa nhân trung tính

ở giai đoạn đầu của bệnh

* Bệnh tích

Các tổn thương ở gan và manh tràng là bệnh tích đặc trưng nhất của bệnh do

H meleagridis gây ra

- Biến đổi ở manh tràng

Trang 19

Sự biến đổi của manh tràng được Lê Văn Năm (2010) [1] mô tả: có thể chỉ một hoặc cả hai manh tràng xuất hiện các biến đổi, lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày lên và rắn chắc hơn Màu sắc, độ đàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi Bề mặt manh tràng trở nên sần sùi, màu vàng xám, thành manh tràng tăng sinh dầy lên và rắn chắc Khi bổ đôi manh tràng thấy chất chứa màu trắng vàng, trắng xanh hoặc trắng nâu do dịch thẩm xuất chứa Fibrin đóng quánh cùng các tế bào bị cazein hoá tạo thành các kén màu trắng, vì thế người chăn nuôi gọi

là bệnh kén ruột Niêm mạc manh tràng bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng, chất chứa chảy vào xoang bụng gây viêm phúc mạc, làm gà chết Rất nhiều trường hợp hai manh tràng dính chặt với nhau hoặc một trong hai manh tràng dính vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc Vết loét nhỏ hoặc lớn có thể vỡ ra, tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng, gây viêm dính ruột Khi cắt ngang manh tràng thấy có những đám

bã đậu trắng, thành manh tràng dày làm lòng manh tràng hẹp lại

- Biến đổi ở gan

Theo Lê Văn Năm (2010) [1]: Gan sưng to, gấp 2 - 3 lần bình thường, mềm nhũn và có nhiều ổ viêm, xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan làm cho lá gan lúc đầu

có màu lổ đổ hình hoa cúc Về sau các ổ hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắng xám đỏ, lõm ở giữa Ổ hoại tử có hình tròn, đường kính 1 - 2 cm, rìa mép có hình răng cưa Khi cắt đôi ổ hoại tử thấy chúng có hình nón, chứa đầy chất chứa đặc quánh Nếu phết kính và soi dưới kính hiển vi sẽ thấy các tế bào bạch cầu, đại thực

bào và đơn bào H meleagridis còn sống

1.1.2.6 Chẩn đoán

* Với gà còn sống

Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với

gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn

ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu xạm màu, ỉa chảy, phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà ỉa chảy, phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald

L R., 2008 [46])

Trang 20

Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn

* Mổ khám gà

Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám, kiểm tra

bệnh tích kết hợp xét nghiệm tìm đơn bào H meleagridis ký sinh ở các cơ quan nội

tạng như gan, manh tràng

Tiến hành mổ khám gà mắc bệnh, quan sát thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng, gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt

Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa chết hoặc vừa mổ khám, phết

kính, kiểm tra dưới kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis Tuy

nhiên, đơn bào trong các tổn thương tổ chức ở thể lưới, không có hình roi và rất khó

để phân biệt với đại thực bào và các tế bào nấm men

Xét nghiệm phân tươi của gà bệnh trong điều kiện nhiệt độ ấm, đơn bào vẫn hoạt động và điều này giúp việc chẩn đoán dễ dàng hơn Lấy phân tươi của gà nghi mắc bệnh để soi kính hiển vi ở điều kiện 40o

C có thể thấy H meleagridis hình roi còn sống Dưới kính hiển vi quan sát thấy H meleagridis di chuyển không theo một hướng cố định, roi chuyển động xoay ngược chiều kim đồng hồ (Mc Dougald L R.,

2008 [46])

Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn Đặc biệt là phần mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thường được áp dụng là nhuộm Hematoxilin - eosin và nhuộm PAS (Mc Dougald L R, 2008 [46]) Nuôi cấy đơn bào trong môi trường Dwyer cổ điển (Van der Heijden, 2009

[62]), giúp cho việc quan sát H meleagridis dưới kính hiển vi dễ dàng hơn

Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả

nhanh chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể phát hiện ADN của

H meleagridis trong phân hoặc trong ruột Kỹ thuật PCR cũng giúp tìm ra ADN

Trang 21

của ký sinh trùng H meleagridis trong các cơ quan khác như trong não, hoặc tuyến

ức,… nơi mà các phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt của ký sinh trùng này

* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác

Bệnh do H meleagridis gây ra ở gà cần phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh:

- Bệnh do Leucocytozoon

Cũng có những triệu chứng và biến đổi bệnh lý gần giống với bệnh đầu đen Sự

khác biệt của 2 bệnh này là: gan gà bị bệnh do Leucocytozoon to gấp 4 - 5 lần bình thường, trong bệnh do Histomonosis thì gan gà sưng to gấp 2 - 3 lần bình thường,

mềm nhũn, nhiều ổ viêm hoại tử màu trắng hình hoa cúc trên bề mặt gan Các ổ hoại

tử hình tròn, đặc và lõm ở giữa, rìa mép có hình răng cưa

- Bệnh Marek

Dạng Marek nội tạng thường thấy ở gà 3 - 9 tháng cũng có các khối u phát

triển ở gan, thận, lách, dạ dày tuyến, ruột Vì vậy cần phân biệt bệnh do H

meleagridis với bệnh Marek

đơn bào H meleagridis gây ra giai đoạn giữa của bệnh cũng rất giống bệnh cầu

trùng: chất chứa có màu nâu, đỏ lẫn máu, nhớt như máu cá Giai đoạn sau chất chứa tạo thành kén màu trắng rắn chắc, gạt lớp phủ niêm mạc manh tràng thấy niêm mạc manh tràng bị viêm hoại tử rất nặng, thành manh tràng dày lên và rắn chắc, lòng manh tràng hẹp lại rất nhiều so với bình thường

Trang 22

bề mặt gan giống như các ổ lao gà Trong khi các ổ viêm loét, hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm ở giữa (tâm của ổ viêm loét do bệnh đầu đen lõm xuống)

Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phòng bệnh như: vệ sinh chuồng trại, máng

ăn, máng uống, phun thuốc sát trùng, chủng vắc xin và tẩy giun cho gà theo quy

trình chăn nuôi Đơn bào H meleagridis gây bệnh có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh,

do đó cần hạn chế cho gà tiếp xúc với đất, nên nuôi gà trên sàn hoặc nền bê tông Không nuôi nhiều lứa tuổi gà trong cùng một cơ sở chăn nuôi Nếu có diện tích rộng thì chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi gà luân phiên trên các

ô, để trống chuồng một thời gian dài giúp phòng Histomonosis có hiệu quả

Đối với gà từ 20 ngày tuổi trở lên, trong nước uống cần bổ sung CuSO4 hoặc mỗi tuần 1 lần cho uống KMnO4 pha với tỷ lệ 1/10000 (tức một gam thuốc tím pha với 10 lít nước), cho uống trong vòng 1 - 2 giờ/ngày

* Trị bệnh

Ở Hoa Kỳ, dimetridazole và ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị Histomonosis

hiệu quả Cả hai đều thuộc nhóm nitroimidazole Tuy nhiên, vào những năm 1990, các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm và có thể gây ung thư cho người Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng là một loại thuốc đắt tiền

Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị bệnh đầu đen có hiệu quả cao Gần đây, một số tác giả cho rằng, dùng sulfamonomethoxin có tác dụng diệt

H meleagridis rất tốt

Trang 23

Công ty thuốc thú y Năm Thái đã khuyến cáo phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà như sau:

Phác đồ 1:

Tiêm bắp T avibrasin 1 ml/5 kg gà 1 lần/ngày, tiêm 2 - 3 ngày

Cho uống: T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T coryzine: 1,5 - 2 gam; Super Vitamin 2 gam Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

Phác đồ 2:

Tiêm bắp Macavet 1 ml/ 6 - 8 kgTT/lần Sau 48 giờ tiêm mũi thứ 2

Cho uống: T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T coryzine: 1,5 - 2 gam; T flox - C 1,5 gam Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Lê Văn Năm (2010) [1] bắt đầu đề cập đến căn bệnh này tại một số tỉnh phía Bắc (trong đó có huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) Tác giả kết luận rằng, nguyên nhân cơ bản gây nên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là do sự cảm

nhiễm, xâm nhập và nhân lên nhanh chóng của đơn bào H meleagridis trong cơ thể

gà, thông qua tình trạng nhiễm trứng giun kim có đơn bào này Theo tác giả, H

meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và

hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình dạng tương ứng

phù hợp,… H meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30 μm, với hình roi thì

có kích thước 20 - 30 μm, kích thước nhỏ nhất khi H meleagridis ở thể lưới: 5 - 10

μm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H meleagridis thể hình lưới) thì chúng có

kích thước cực đại (60 - 80 μm) Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to

mọc ra 4 roi, H meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu

làn sóng

Theo Lê Văn Năm (2011) [2], đơn bào H meleagridis có sức đề kháng kém Sau

khi theo phân ra ngoài môi trường, ở nhệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể gia cầm, đơn bào này chỉ sống được vài phút hoặc vài giờ tùy thuộc vào nhiệt độ bên ngoài Trong đó,

Trang 24

thời gian sống lâu nhất không vượt quá 24 giờ Nhưng H meleagridis có thể tồn tại hàng năm trong trứng của giun kim - Heterakis gallinae, mà vẫn có khả năng gây bệnh

Lê Văn Năm (2010) [1] cho biết, ở miền Bắc Việt Nam, bệnh thường thấy ở

gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài

từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng nhiễm trùng thứ phát Bệnh thể hiện ở thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra ở thể quá cấp

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, bệnh do đơn bào H meleagridis được phát hiện năm 1893 ở

Rhode Island, sau đó bệnh được báo cáo ở khắp các lục địa và nhiều nước khác

Dịch bệnh do H meleagridis nhanh chóng lan xuống các vùng ven biển phía Đông,

miền Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ Bệnh có tỷ lệ chết cao (có thể tới 100 %)

Các nhà khoa học sớm xác định đơn bào H meleagridis là tác nhân gây bệnh

Giống như nhiều ký sinh trùng khác, vòng đời H meleagridis rất phức tạp, liên

quan tới một vật chủ trung gian là giun kim Heterakis gallinae (Mc Dougald L R.,

2008 [46])

Tác nhân gây bệnh đầu đen ở gà đã được nhiều tác giả nghiên cứu và cho biết,

đó là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc hình bầu dục,

đường kính 8 - 14 μm Khi đơn bào được cố định và nhuộm màu, tác giả thấy chúng

có dạng hình bầu dục nhỏ, đường kính 6 - 10 μm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập

trung lại thành thể nhân (Smith, 1895 [55]) Theo Tyzzer và Fabyan (1922) [61], H

meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và dạng có roi) Trong mô (giai đoạn

xâm lấn), đơn bào có dạng amip, trong lòng manh tràng H meleagridis ở dạng có roi H meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 μm, trong khi ở dạng

có roi, đường kính có thể lên tới 30 μm

Popp C và cs (2011) [52] cho biết, ít nhất có hai chủng H meleagridis (A và

B) gây ra các vụ dịch tại các trang trại chăn nuôi gà

Aka J và cs (2011) [4] cho biết, ở Đức, ổ dịch Histomonosis đầu tiên xảy ra

vào năm 2005 trong đàn gà mái 17 tuần tuổi, ổ dịch thứ hai (năm 2009) xảy ra trên

Trang 25

đàn gà mái 8 tuần tuổi Trong cả hai vụ dịch, H meleagridis gây bệnh đều thuộc

chủng A

Lollis L và cs (2011) [40] đã thực hiện phản ứng PCR trên vùng ITS- rDNA

với 2 primer ITS1 và ITS2 trên 28 đơn bào H meleagridis trong các mẫu mô thu

thập từ nhiều loài gia cầm nuôi ở các vị trí địa lý khác nhau để nghiên cứu sự đa

dạng di truyền của H meleagridis Kết quả cho thấy, trình tự vùng rDNA 5,8 S và ITS của H meleagridis không có sự biến động Như vậy, không có sự khác biệt về chủng H meleagridis gây bệnh giữa các loài gia cầm nuôi ở các vị trí khác nhau Klodnicki M E và cs (2013) [37] đã tiến hành phân tích bộ gen của H

meleagridis Các dữ liệu thu được từ các thí nghiệm đã xác định được 3425 gen

Khi nghiên cứu sức đề kháng của H meleagridis trong hoặc trên một số vật

liệu nhân tạo bị ô nhiễm trong chuồng nuôi gà ở nhiệt độ phòng (22 + 2oC), Lotfi A

R và cs (2012) [41] thấy rằng, đơn bào sống 1 giờ trên gỗ, cao su và kim loại; 3 giờ trên khay trứng, vỏ trứng và gạch; 6 giờ trên rơm, lông gà tây và thức ăn; và 9 giờ trong nước máy và phân Vì vậy, nước bị ô nhiễm, phân tươi, hoặc cả hai có thể

là nguyên nhân truyền H meleagridis trong và giữa các chuồng gà với nhau

* Nghiên cứu phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis

H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2

con đường: truyền trực tiếp và truyền gián tiếp

Horton - Smith và Long (1955, 1956) [32] đã phát hiện ra rằng, đơn bào H

meleagridis sống sót với tỷ lệ thấp khi đi qua đường tiêu hóa do độ pH thấp Tác giả

tiến hành các thí nghiệm như sau: cho gà bị bỏ đói 18 giờ uống huyễn dịch manh tràng của gà bị bệnh nặng, tác giả nhận thấy tỷ lệ nhiễm bệnh của gà thấp Tiếp tục nghiên cứu gây nhiễm qua đường tiêu hóa của gà bị bỏ đói 18 giờ, tác giả đã nâng độ

pH lên rất cao bằng cách bổ sung 1 gam hỗn hợp gồm: canxi cacbonat 40 %, magie

trisilicate 17 % và cao lanh 43 % Tác giả nhận thấy, tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tăng lên Kết quả, H meleagridis có thể sống sót ở nồng độ pH cao

Trang 26

Một số tác giả cũng tiến hành gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, theo dõi gà gây nhiễm sau 10 - 15 ngày và cũng thu được những kết quả nhất định

Mc Dougald L R (2003) [44] đã gây nhiễm bệnh cho gà 2 tuần tuổi bằng

cách đưa vào lỗ huyệt mỗi gà 200.000 H meleagridis Kết quả, tất cả gà gây nhiễm

đã chết ở ngày 10 - 18, mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất hiện tổn

thương điển hình của Histomonosis

Hu và cs (2004) [34] đã gây nhiễm H meleagridis qua lỗ huyệt cho gà 2 tuần

tuổi, liều 100.000 đơn bào/gà Theo dõi trong 12 ngày thấy không có gà nào bị chết,

mổ khám thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng

Để nghiên cứu sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen mà không cần sự có mặt

của giun kim (Heterakis gallinarum), Mc Dougald L R (2005) [45] đã bố trí thí

nghiệm với 120 gà 2 tuần tuổi, chia thành 2 lô:

Lô 1: gồm 10 % gà bệnh (đã được gây nhiễm qua lỗ huyệt với liều 200.000 H

meleagridis/ gà) và 90 % gà khỏe cùng nhốt trong chuồng sàn bê tông

Lô 2: gồm 25 % gà bệnh với 75 % gà khỏe

Kết quả: ở lô 2, những gà tiếp xúc với 25 % gà được gây nhiễm bắt đầu chết ở ngày thứ 16 và tất cả đều chết ở ngày thứ 23 Những gà tiếp xúc với 10 % gà được gây nhiễm ở lô 1 bắt đầu chết ở ngày thứ 19, đến ngày thứ 31 mổ khám gà chết và toàn bộ gà còn sống đều thấy tổn thương gan nặng, manh tràng đóng kén Soi chất chứa ở manh tràng và phân không thấy có sự xuất hiện của trứng giun kim

(Heterakis gallinarum)

Một nghiên cứu khác về khả năng truyền bệnh trực tiếp ở gà tây cũng được mô

tả bởi Hess M và cs (2006) [31]: tác giả cũng gây nhiễm qua lỗ huyệt cho gà tây

14 ngày tuổi với liều 380.000 đơn bào H meleagridis Kết quả là những gà được

gây nhiễm bài tiết mầm bệnh ngay sau khi gây nhiễm 2 ngày Sau 14 ngày gây nhiễm, mổ khám tất cả những gà sống sót, kiểm tra manh tràng và gan thấy xuất hiện tổn thương nặng của bệnh đầu đen Ngoài ra, túi Fabricius cũng bị phá hủy nặng nề

Trang 27

Liebhart D và Hess M (2009) [38] đã gây nhiễm qua đường miệng cho gà tây

1 ngày tuổi (cho nhịn đói 5 giờ trước khi gây nhiễm) Kết quả là 8 trong 10 gà thí nghiệm mắc bệnh nghiêm trọng với các tổn thương bệnh lý điển hình của

Histomonosis ở gan và manh tràng, chỉ có hai gà còn sống sót sau thí nghiệm và

không có dấu hiệu lâm sàng

Jana Choutková (2010) [67] đã gây bệnh cho gà tây bằng cả 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt Kết quả như sau: Gà gây nhiễm qua đường miệng tỷ

lệ mắc bệnh và chết thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20 %, tỷ lệ chết 2 %, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65 %, tỷ lệ chết 45 %

Gần đây, Armstrong P L và Mc Dougald L R (2011) [5] đã nghiên cứu đường truyền bệnh trực tiếp cho gà tây mà không cần sự có mặt của các vật chủ trung gian và điều tra khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc Tác giả đã tiến hành 3 lô thí nghiệm như sau:

Lô 1: Nuôi nhốt gà chung với những gà đã mắc bệnh đầu đen

Lô 2 và 3: Gây nhiễm trực tiếp qua đường miệng (lô 2) và bơm trực tiếp vào

lỗ huyệt (lô 3) (bằng hỗn hợp phân và manh tràng của gà mắc bệnh Histomonosis)

Theo dõi thí nghiệm: sau 14 ngày gây nhiễm, tiến hành mổ khám và thấy 31 trong số 44 gà ở lô 3 được bơm trực tiếp vào lỗ huyệt có bệnh tích điển hình ở cả gan và manh tràng, trong khi gà ở lô 2 không thấy có tổn thương khi gây nhiễm qua đường miệng Ở lô 1, mổ khám gà nuôi nhốt chung với đàn gà mắc bệnh đầu đen, thấy có 11/36 gà mắc bệnh có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng (30,5 %) Hauck R và Hafe H M (2013) [27] cho biết, trong 10 năm qua, phương pháp

gây nhiễm thông qua lỗ huyệt đối với H meleagridis được tiến hành một cách phổ

biến nhất và đạt độ tin cậy cao Tác giả gây nhiễm cho gà tây (liều nhiễm 10.000

hoặc 100.000 H meleagridis) thấy gà mắc bệnh và tỷ lệ chết trên 70 % Sau gây

nhiễm, gà chết sớm nhất là 6 ngày; tỷ lệ chết cao nhất thường là 13 - 15 ngày Liều gây nhiễm thấp có thể làm chậm chết khoảng 2 ngày Tác giả kết luận rằng, tổn thương manh tràng có thể quan sát được từ 3 - 4 ngày đến 3 tuần sau gây nhiễm; tổn

Trang 28

thương gan có thể không thấy hoặc chỉ thấy trong một số ít trường hợp Tác giả

cũng cho biết thêm, khi gây nhiễm bệnh bằng cách cho gà nuốt trứng Heterakis chứa H meleagridis với liều 100 đến 1.000 trứng/ gà đã gây ra tỷ lệ chết rất cao

Ngay cả với liều 58 trứng/ gà tây đã gây ra tỷ lệ chết đến 90 % Triệu chứng lâm sàng bắt đầu từ ngày thứ 9 sau gây nhiễm, gà đầu tiên chết sau 12 ngày, hầu hết gà nhiễm bệnh chết từ 19 đến 21 ngày sau gây nhiễm

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, giun kim H gallinarum là sinh vật truyền

bệnh đầu đen cho gà

Gibbs B J (1962) [23] đã tìm thấy H meleagridis trong đường sinh dục và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học H meleagridis được tìm thấy trong tất cả các bộ phận sinh sản của cả giun cái và giun đực Ở giun đực, H

meleagridis ký sinh trong ruột, xâm nhập vào các tế bào ruột, tinh trùng, ống dẫn

tinh và túi tinh Ở giun cái, chúng ký sinh trong tất cả các bộ phận của đường sinh

dục như buồng trứng, ống dẫn trứng và tử cung Sau đó, H meleagridis đã được thu

thập và gây nhiễm cho gà 10 ngày tuổi Tác giả kết luận rằng, giun cái có khả năng truyền bệnh đầu đen cho gà mà không cần có sự thụ tinh của giun đực

Cơ chế lây nhiễm H meleagridis khi còn trong trứng giun kim cho đến nay

vẫn chưa được xác định rõ ràng

Springer và cs (1970) [56] đã phát hiện ra rằng, trong giun kim đực được lấy

ra từ manh tràng gà bệnh đều chứa H meleagridis còn sống Giun cái ít có khả năng truyền H meleagridis hơn Theo tác giả thì giun cái có thể bị nhiễm H meleagridis

trong khi giao hợp với giun đực và đơn bào đã xâm nhập vào trong trứng trước khi hình thành lớp vỏ trứng

Lund và Chute (1973) [43] đã xác định được tương quan thuận giữa số lượng

Heterakis trong mỗi con gà và tỷ lệ mắc H meleagridis Tác giả cho rằng, đơn bào

được giải phóng khi giun kim chết (có thể chết trong cơ thể gà hoặc ở ngoại cảnh)

Hu J và Mc Dougald L R (2003) [33] kết luận rằng, mặc dù H gallinarum được biết đến là một vật chủ chứa H meleagridis, nhưng bệnh do H meleagridis

Trang 29

thể xảy ra dễ dàng thông qua tiếp xúc thông thường giữa các gia cầm không bị nhiễm bệnh và gia cầm nhiễm bệnh, trong trường hợp xét nghiệm phân của chúng không có trứng giun kim

* Nghiên cứu về môi trường nuôi cấy đơn bào Histomonas meleagridis

Drbohlav (1924) [17] - người đầu tiên tiến hành nuôi cấy đơn bào H

meleagridis đã báo cáo rằng: H meleagridis sinh trưởng tốt nhất ở độ pH 7,2 - 7,8

Bishop (1938) [6] đã thu thập các đơn bào H meleagridis từ các tổn thương ở

gan của gà mắc bệnh nặng, sau đó nuôi cấy trong môi trường huyết thanh ngựa pha với bột gạo theo tỷ lệ 1: 8, đặt ống nghiệm thẳng đứng cũng thu được kết quả tốt

DeVolt (1943) [15] cũng tiến hành thí nghiệm nuôi cấy đơn bào H meleagridis

trong môi trường đơn giản và dễ chuẩn bị (pH = 9) Môi trường nuôi cấy bao gồm: dung dịch Locke (dung dịch đẳng trương với huyết tương có chứa clorua natri, kali, canxi, natri bicarbonate và dextrose được sử dụng tương tự như nước muối sinh lý) với

2 % huyết thanh gà tây, 2 % NaOH, hấp tiệt trùng ở 120oCtrong 20 phút Trước khi nuôi cấy, mỗi ống nghiệm cho thêm một ít tinh bột gạo đã được vô trùng Tác giả báo

cáo rằng, có một số vi khuẩn tồn tại trong môi trường nuôi cấy đơn bào H meleagridis

và chúng có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đơn bào ở một mức độ nào đó Sau đó, một số tác giả đã thay đổi môi trường của DeVolt để nuôi cấy H meleagridis

Môi trường nuôi cấy của Dwyer (1970) [19]; Mc Dougald và Reid (1978) [49] gồm: M199 với dung dịch muối của Hank, 10 % huyết thanh ngựa, 5 % phôi thai gà

8 ngày tuổi và 10 - 12 mg bột gạo/12,5 ml môi trường

Dung dịch muối của Hank (1940) gồm các muối giàu ion bicarbonate, dung dịch này được sử dụng như một hệ thống đệm trong môi trường nuôi cấy tế bào và duy trì pH sinh lý tối ưu (khoảng 7,0 - 7,4) cho sự tăng trưởng của tế bào

Phôi thai gà 8 ngày tuổi được nghiền nhuyễn bằng máy xay sinh tố, bảo quản ở nhiệt độ âm, làm tan băng một lần và được giữ ở nhiệt độ - 20oC cho đến khi sử dụng Tác giả sử dụng pipet vô trùng để thu thập chất chứa manh tràng và niêm mạc manh tràng bị tổn thương rồi cho vào bình nuôi cấy có thể tích 70 ml và bảo quản ở

40oC trong 48 giờ Sau đó, lấy 1 ml chất chứa cấy vào 12,5 ml môi trường Dwyer Sự

phát triển của H meleagridis được đánh giá hàng ngày bằng cách đếm số lượng đơn

bào/1 ml môi trường nuôi cấy bằng thiết bị Haematocytometer Bürker - Türk (thiết bị

Trang 30

đếm số lượng tế bào) và kính hiển vi độ phóng đại 200 lần Tác giả đã bổ sung thêm

10 % dimethylsulfoxide như một chất bảo quản lạnh để giữ mẫu nuôi cấy được lâu hơn Mẫu nuôi cấy được lưu giữ trong nitơ lỏng (-175°C) cho đến khi sử dụng

Thông thường, số lượng H meleagridis đạt tối đa trong ống nghiệm ở ngày thứ 2 hoặc ngày thứ 3 sau khi nuôi cấy (Dwyer, 1970 [19]) Số lượng H

meleagridis giảm nhanh chóng và chết sau khoảng 5 ngày, có thể là do sự suy giảm

các chất dinh dưỡng Tyzzer (1934) [60] cho rằng, sự sống của đơn bào trong môi trường nuôi cấy có thể kéo dài bằng cách bổ sung đều đặn lượng nhỏ bột gạo (10 -

12 mg) và đơn bào có thể sống tới 21 ngày

Theo Zaragatzki E và cs (2010) [66], H meleagridis phát triển tốt nhất ở 400C trong môi trường nuôi cấy gồm M 199, huyết thanh bê và tinh bột gạo, pH = 7,8

Nuôi cấy trong điều kiện này, H meleagridis (giai đoạn amoebic) có đường kính 8 -

12 µm Ngược lại, H meleagridis không phát triển hoặc phát triển chậm khi các điều

kiện của môi trường nuôi cấy bị thay đổi: giảm nhiệt độ, thiếu hoặc không bổ sung huyết thanh bê và tinh bột gạo, thay đổi độ thẩm thấu, độ pH … Trong điều kiện này,

H meleagridis có kích thước nhỏ, giai đoạn amoebic chỉ có đường kính 4 - 7 µm

Mc Dougald và Galloway (1973) [48] khẳng định rằng: môi trường nuôi cấy

đơn bào H meleagridis tốt nhất là môi trường Dwyer (1970) Môi trường này bao gồm 85 % M199; 5 % chiết xuất phôi thai gà và 10 % huyết thanh ngựa, pH 7,8 H

meleagridis phát triển nhanh trong môi trường này và được sử dụng để chẩn đoán,

xét nghiệm H meleagridis từ 28 - 48 giờ sau khi nuôi cấy

Khi phân tích môi trường tốt nhất cho sự phát triển của H meleagridis, Hauck

R và cs (2010) [28] cho biết: H meleagridis phát triển nhanh chóng trong môi trường của Dwyer (bao gồm M199, phôi gà, huyết thanh và bột gạo), đạt số lượng khoảng 5 x 105

H meleagridis trong 3 - 4 ngày, sau đó suy giảm nhanh chóng Thay thế M199 bằng L-15, MEM hoặc RPMI cũng có hiệu quả Thiếu huyết thanh hoặc bột gạo môi trường nuôi cấy sẽ không phù hợp cho sự tăng trưởng của đơn bào Môi trường có đường không phù hợp vì đường làm độ pH giảm xuống Oxy ức chế sự tăng trưởng của H meleagridis Đơn bào tăng trưởng tốt trong môi trường có bột

Trang 31

gạo, bột bắp, bột yến mạch, bột lúa mạch đen và bột kiều mạch Điều kiện yếm khí

và độ pH gần trung tính là tốt nhất H meleagridis phát triển tốt hơn nếu trong môi

trường nuôi cấy có chứa vi khuẩn

Gerhold R W và cs (2010) [22] cho rằng, thời gian bảo quản và vận chuyển

mẫu bệnh phẩm ảnh hưởng lớn kết quả nuôi cấy đơn bào H meleagridis trong ống nghiệm Tác giả lấy manh tràng của gà bị Histomonosis đem bảo quản ở nhiệt độ

phòng 2 giờ và 24 giờ Sau đó, lấy 0,5 gam chất chứa manh tràng cấy vào môi trường Dwyer trong ống nghiệm Đặt các ống nghiệm trong tủ ấm 400C, hàng ngày kiểm tra

sự tăng trưởng của H meleagridis bằng cách đếm dưới kính hiển vi quang học Kết quả, H meleagridis tăng trưởng tốt từ những mẫu manh tràng bảo quản ở nhiệt độ phòng 2 giờ Ngược lại, H meleagridis không tăng trưởng ở những mẫu manh tràng

bảo quản ở nhiệt độ phòng 24 giờ Như vậy, mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy đơn bào nên thu thập, bảo quản ở nhiệt độ ấm áp và vận chuyển nhanh về phòng thí nghiệm Khi nghiên cứu dịch tễ học bệnh đầu đen ở gà, Lund và Chute (1973) [43] đã gây bệnh cho 8 loài chim thuộc bộ gà và thấy gà lôi trắng Trung Quốc là vật chủ tốt

nhất cho H meleagridis, tiếp theo là gà và gà sao Gà dễ nhiễm bệnh, nhưng khả

năng mẫn cảm của gà thấp hơn so với gà tây Tỷ lệ chết ở gà là 10 %, trong khi con

số này ở gà tây có thể đạt 80 - 100 % (Mc Dougald L R., 2008 [46]) Đáp ứng miễn

dịch với H meleagridis của gà mạnh hơn gà tây Khi mắc bệnh, đơn bào di cư vào

gan gà tây với số lượng lớn hơn so với gà (Powell F L và cs., 2009 [53])

Armstrong P L và Mc Dougald L R (2011) [5] đã tìm thấy H meleagridis trong manh tràng vịt, nhưng vịt không có triệu chứng lâm sàng của bệnh Lấy H

meleagridis ở manh tràng vịt gây nhiễm cho gà tây, gà tây bị mắc bệnh Từ thí

nghiệm này cho thấy, vịt đóng vai trò truyền bệnh cho các loài nhạy cảm

Theo Hu J và cs (2004) [34], gà tuổi càng cao sức đề kháng với Histomonosis

càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất Giai đoạn gà 1 - 2 tháng

tuổi tỷ lệ mắc Histomonosis cao nhất, triệu chứng bệnh điển hình nhất (Hauck và cs.,

2010 [26])

Tỷ lệ chết ở gà do bệnh đầu đen có thể lên tới 80 %, kết quả này đã được Mc Dougald L R (2005) [45] công bố sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây 15

Trang 32

ngày tuổi với lượng 200.000 H meleagridis/con Một tỷ lệ chết dưới 50 % cũng đã

được báo cáo bởi Hauck và cs (2006) [30] khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây 3

tuần tuổi với liều 150.000 H meleagridis/con

* Sự tương tác của H meleagridis với tác nhân gây bệnh hoặc điều kiện khác

- Cầu trùng:

Chappel (1973) [11] báo cáo rằng, H meleagridis xuất hiện ảnh hưởng đến sự phát triển của Eimeria tenella Cầu trùng E tenella giúp cho H meleagridis nhanh

chóng xâm nhập vào sâu niêm mạc manh tràng Mức độ tổn thương manh tràng lớn

hơn nhiều so với khi chỉ có E tenella Mc Dougald L R và Hu J., 2001 [47] cho biết,

Histomonosis trầm trọng hơn ở gà thịt bị nhiễm đồng thời cầu trùng manh tràng

- Vi khuẩn:

Một số loài vi khuẩn gây bệnh cho gà có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đơn

bào H meleagridis trong ống nghiệm (Mc Dougald và Reid, 1978 [49])

Tyzzer (1934) [60] là người đầu tiên nhận thấy những vi khuẩn kèm theo các đơn bào tại thời điểm phân lập có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của đơn bào trong quá trình nuôi cấy Bishop (1938) [6] cũng cho rằng, sự tăng trưởng

của H meleagridis trong các môi trường nuôi cấy kém đi do sự vắng mặt của hệ vi

khuẩn “tương thích” Doll và Franker (1963) [16] cho rằng, vi khuẩn có trong các

loài chim có một số yếu tố cần thiết cho sự phát triển của đơn bào H meleagridis Khi Bradley và Reid (1966) [8] tăng số lượng H meleagridis để gây nhiễm cho gà, trong đường ruột gà không có vi khuẩn E coli, tác giả nhận thấy H meleagridis không

phát triển được Thí nghiệm này đã chứng minh mối quan hệ hiệp đồng giữa hai sinh vật

(H meleagridis và vi khuẩn), phải có mặt cả hai sinh vật này mới gây ra Histomonosis Ganas P và cs (2012) [21] cho biết, sự phát triển của đơn bào H meleagridis

phụ thuộc vào sự có mặt các vi khuẩn, đặc biệt là quá trình chuyển hóa năng lượng

của vi khuẩn Escherichia coli được xác định là có vai trò hỗ trợ mạnh sự phát triển của đơn bào, trong khi Salmonella và Pseudomonas kém hiệu quả hơn Các tác giả

đã kết luận rằng, vi khuẩn đóng vai trò như một nguồn cung cấp năng lượng cho các

Trang 33

đơn bào Các thí nghiệm của tác giả đã cho thấy sự lây nhiễm của gà tây với H

meleagridis gây nhiễm trùng gan có liên quan đến vi khuẩn E coli

Các tác giả nghiên cứu về bệnh đầu đen ở gà do H meleagridis gây ra đều cho

biết, tổn thương ở gan và manh tràng là bệnh tích đặc trưng nhất

Manh tràng là vị trí ký sinh chính của mầm bệnh Điều này đã được chứng minh bởi Durant (1930) [18], khi các tác giả thắt chặt manh tràng lại và thấy rằng

Histomonosis không phát triển được, mặc dù gia cầm đã được gây nhiễm bằng cách

cho uống trứng giun kim H gallilarum Qua gây nhiễm, Kemp R L và Springer W

T (1978) [36] đã thấy tổn thương đầu tiên trong manh tràng từ ngày thứ 8 sau khi nhiễm bệnh Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau

đó dịch viêm (trong dịch viêm có hồng cầu, bạch cầu, đơn bào) tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc

Windisch M và Hess M (2010) [65] đã gây nhiễm H meleagridis cho gà khỏe, tổn thương nghiêm trọng thấy trong manh tràng của tất cả gà thí nghiệm khi

mổ khám lúc 7 và 14 ngày sau nhiễm Xét nghiệm các mẫu mô manh tràng tổn thương cho thấy, phản ứng miễn dịch thể hiện rất mạnh ở manh tràng với sự xuất hiện kháng thể IgM, IgG ở mức cao và tăng liên tục kháng thể IgA

Tổn thương gan thường bắt đầu từ ngày thứ 10 Gan sưng to gấp 2 - 3 lần, viêm xuất huyết, hoại tử Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan

lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek (Kemp R L và Springer W T., 1978 [36]) Tổn thương ở các cơ quan khác như túi Fabricius, phổi, lá lách, tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng

Khi mổ khám 56 chim cút đã chết tại một trang trại nuôi chim cút, Mc Dougald L R và cs (2012) [51] cho biết, có 55 con có tổn thương manh tràng điển

Trang 34

hình của bệnh đầu đen, chỉ có 3 con có tổn thương nhẹ trong gan Tác giả mổ khám các con chim khỏe mạnh không phát hiện bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào Sự hiện

diện của H meleagridis trong manh tràng đã được chứng minh bởi các thử nghiệm

trong phòng thí nghiệm và PCR

- Biến đổi máu trong Histomonosis

Venkataratnam và Clarkson (1963) [63] đã nghiên cứu ảnh hưởng của

Histomonosis tới các tế bào máu của gà sáu tuần tuổi, kết quả thấy số lượng bạch

cầu trong máu tăng ngay sau khi nhiễm bệnh một ngày và đạt tối đa 70.000/ mm3máu sau khi nhiễm 10 ngày Sự gia tăng bạch cầu bao gồm bạch cầu đơn nhân và bạch cầu ái toan Số lượng các tế bào lympho, bạch cầu ái kiềm và hồng cầu không thay đổi

Khi nghiên cứu sự thay đổi công thức máu của gà 3 tuần tuổi nhiễm bệnh, Wilson và Perie (1967) [64] cũng thu được kết quả tương tự Số lượng bạch cầu cao nhất là 92.000/mm3 vào ngày thứ 10 sau khi gây nhiễm Bạch cầu ái toan và bạch cầu đơn nhân tăng, còn số lượng tế bào lympho không thay đổi

- Nghiên cứu về biến đổi tế bào trong Histomonosis

Reid W M (1967) [54] cho biết, sự xâm chiếm và cư trú đầu tiên của H

meleagridis vào thành manh tràng dẫn đến xung huyết và tăng bạch cầu, cùng lúc lại

có sự tác động của vi khuẩn và Heterakis Khoảng 5 - 6 ngày sau khi nhiễm bệnh, số lượng H meleagridis có thể nhìn thấy như một rào chắn nằm sâu trong các lớp biểu

bì niêm mạc manh tràng Một số lượng lớn tế bào bạch huyết và đại thực bào xâm nhập qua các mô trong khoảng thời gian này Hình thành lõi trong ống ruột, lõi bao gồm các tế bào biểu mô đã bị phá hủy, tơ huyết, hồng cầu và bạch cầu Lõi ban đầu không có hình dạng nhất định và màu đỏ nhẹ, sau 12 ngày chuyển sang khô, hơi vàng

ở lớp vỏ của phần lõi Các chất hoại tử đông lại và sự xâm chiếm mô mở rộng Khoảng 17 - 21 ngày mô ruột đã bị phá hủy hoàn toàn Tổn thương sớm nhất ở gan thấy ở 6 - 7 ngày sau khi nhiễm, bao gồm các tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao

Trang 35

Springer W T và cs (1970) [56] cho bết, vi khuẩn tạo điều kiện cho H

meleagridis gây bệnh ở gà và gà tây, do đó có thể dùng kháng sinh để kiểm soát

bệnh đầu đen ở gà Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các vi khuẩn Escherichia coli,

Pseudomonas aeruginosa, Streptococcus và Clostridium perfringens đã cung cấp

các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của đơn bào Histomonas Ở gà tây, sự tương tác của vi khuẩn và H meleagridis ít phức tạp hơn, chỉ cần tác động của một mình vi khuẩn E coli cũng đủ để hỗ trợ sự tiến triển của bệnh đầu đen (Bradley R

E và Reid W M., 1966 [8])

Mc Dougald L R và Hu J., 2001 [47] đã thử nghiệm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh đầu đen cho gà Tác giả cho biết, khi điều trị cho gà bệnh bằng apramycin 300 ppm thấy tổn thương gan giảm đáng kể nhưng tổn thương manh tràng và tăng trọng của gà không đươc cải thiện Các kháng sinh (penicillin, chlortetracycline, tylosin, hoặc sarafloxacin) không có hiệu quả trong việc giảm tổn thương ở gan hoặc manh tràng gà mắc bệnh đầu đen Tuy nhiên, penicillin, tylosin và sarafloxacivafcos tác dụng tốt trong việc cải thiện tăng trọng của gà bệnh Các thuốc có hiệu quả cao đối

với E tenella có thể hỗ trợ trong phòng chống dịch bệnh đầu đen vì E tenella và H

meleagridis có sự tương tác hiệp đồng rất lớn Diclazuril đã được thử nghiệm có tác

dụng rất tốt trong điều trị bệnh cầu trùng do E tenella (Mc Dougald L R và cs.,

1990 [50]) Sau điều trị, tác giả không tìm thấy bất kỳ ocyte cầu trùng nào trong gà bệnh Nicarbazin cũng có hiệu quả cao để điều trị bệnh cầu trùng Tuy nhiên, cơ chế tác động của Nicarbazin với những tác động hiệp đồng của cầu trùng trong bệnh đầu đen ở gà vẫn chưa rõ ràng

Thí nghiệm của De Gussem M và De Gussem J (2006) [14]: trộn paromomycin vào thức ăn cho gà tây từ lúc 1 ngày tuổi đến kết thúc thí nghiệm với

các nồng độ 100 - 400 ppm Gây nhiễm cho gà tây 16 ngày tuổi 700.000 H

meleagridis/2 lần gây nhiễm, cách nhau 15 phút Tỷ lệ chết do Histomonosis (với

các tổn thương bệnh lý) xảy ra từ ngày thứ 6 sau gây nhễm Hầu hết gà chết từ ngày thứ 11 - 17 sau gây nhiễm với tổn thương điển hình ở gan và manh tràng (những nhóm không được bổ sung paromomycin) Riêng với các nhóm được bổ sung

Trang 36

paromomycin, tỷ lệ chết, tổn thương gan và manh tràng giảm đáng kể Với nhóm

gây nhiễm nặng nhất (700.000 H meleagridis/gà), tỷ lệ chết đã giảm từ 97,5 %

(trong nhóm gây nhiễm nhưng không được dùng thuốc) đến 10 % ở nhóm được dung thuốc với liều cao Tác giả kết luận rằng, paromomycin có hiệu quả tốt trong

việc phòng chống Histomonosis cho gà tây

Bleyen N và cs (2009) [7] cũng đã nghiên cứu và cho biết, paromomycin rất có

hiệu quả đối với phòng Histomonosis và có ảnh hưởng tốt tới tăng trọng của gà tây

Liebhart D và cs (2013) [39] cho biết, đàn gà mái đã được tiêm phòng

Histomonosis thì sau 2 đến 4 tuần tiếp xúc với mầm bệnh, sản lượng trứng sụt giảm

còn 90 %, trong khi đó đàn gà không được tiêm phòng sản lượng trứng giảm chỉ còn 58,7 %

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên

- Đơn bào H meleagridis

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Gà các lứa tuổi, ở các phương thức nuôi khác nhau

- Mẫu bệnh phẩm (gan, manh tràng, lách, túi fabricius, thận, phổi, tim) của gà

bị mắc bệnh đầu đen và gà khỏe

- Đơn bào H meleagridis được phân lập từ các mẫu bệnh phẩm của gà mổ

khám bị mắc bệnh tại các địa phương, được nuôi cấy trong môi trường Dwyer

- Động vật gây nhiễm: gà 4 tuần tuổi khoẻ mạnh, đã tiêm phòng các loại vắc xin

* Môi trường và hoá chất:

- Môi trường Dwyer nuôi cấy đơn bào H meleagridis bao gồm: bột gạo, huyết

thanh ngựa, phôi gà 8 - 10 ngày tuổi, muối (KH2PO4, NaCl, KCl, Na2HPO4)

- Dung dịch formaldehyt 5 % - Dung dịch Barbagallo

- Cồn 90o - Nước muối sinh lý (dung dịch NaCl 0,9 %)

- Dầu bạch dương - Thuốc nhuộm giemsa

* Dụng cụ dùng trong nghiên cứu:

- Kính hiển vi quang học, kính lúp - Bộ dụng cụ lấy máu

- Lam kính, lamen - Dụng cụ mổ khám: Panh kẹp, kéo

- Máy phân tích huyết học Lade tự động

Cellta-Mek-6420K-Nihon Kohden (Nhật Bản)

- Chuồng nuôi gà thí nghiệm

Trang 38

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình tại 4 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên: Phú Bình, Phổ Yên, Võ Nhai, Định Hóa

- Địa điểm bố trí thí nghiệm và xét nghiệm mẫu: Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Khoa Kỹ thuật Nông Lâm

- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2013 đến tháng 7/2014

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại tỉnh Thái Nguyên

- Tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên

- Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen

- Bệnh tích của gà mắc bệnh đầu đen

+ Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen

+ Bệnh tích vi thể của gà bị bệnh đầu đen

2.3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm

- Kết quả gây nhiễm đơn bào H meleagridis cho gà

- Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng của gà gây nhiễm

- Triệu chứng lâm sàng của gà sau gây nhiễm

- Diễn biến thân nhiệt của gà sau gây nhiễm

- Thời gian chết của gà sau gây nhiễm

- So sánh khối lượng, thể tích một số cơ quan nội tạng của gà khỏe và gà gây nhiễm

- Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh do gây nhiễm

- Bệnh tích vi thể các nội quan của gà bị bệnh do gây nhiễm

2.3.3 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm

Trang 39

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở

gà tại tỉnh Thái Nguyên

2.4.1.1 Bố trí thu thập gà để mổ khám

Bố trí thu thập gà mổ khám theo phương pháp lấy mẫu phân tầng (2 tầng) Triển khai tại 4 huyện (thành, thị) của tỉnh Thái Nguyên; mỗi huyện/ thành/ thị chọn 3 xã/ phường/ thị trấn; mỗi xã (phường, thị trấn) mổ khám ngẫu nhiên 50 gà

Dung lượng mẫu thu thập được tính toán theo công thức:

Trong đó:

N: là số mẫu p: là tỷ lệ phân lập (lấy p = 15 %) e: là sai số ước lượng 3,8 % (có thể lấy e = 0,038) z: là độ tin cậy giá trị trong bảng z test ( có thể lấy z = 2,58)

Trang 40

* Soi tươi chất chứa và niêm dịch ở manh tràng

* Làm tiêu bản tổ chức học theo quy trình tẩm đúc parafin, nhuộm Hematoxilin - Eosin manh tràng và gan gà bệnh

Các phương pháp cụ thể như sau:

* Quan sát triệu chứng lâm sàng: Trước khi mổ khám gà tại các địa phương,

sử dụng các phương pháp chẩn đoán bệnh cơ bản như quan sát, sờ nắn, đo thân nhiệt để xác định những biến đổi lâm sàng của gà bệnh: triệu chứng toàn thân, mào tích, thể trạng, vận động, da vùng đầu và mép, phân (màu sắc và trạng thái phân)

* Mổ khám bệnh tích

- Trước khi mổ khám, ghi nhật ký thí nghiệm các thông tin: chủ hộ, địa chỉ, ngày lấy mẫu, giống gà, tuổi gà, phương thức chăn nuôi, điều kiện vệ sinh thú y, kiểu nền chuồng, tính biệt, trạng thái và màu sắc phân, các biểu hiện lâm sàng khác (nếu có)

- Phương pháp mổ khám gà: mổ khám gà theo phương pháp mổ khám toàn diện của Skrjabin K I (1928), quan sát bằng mắt thường và kính lúp các nội quan như thận, lách, tim, phổi, đặc biệt là gan và manh tràng để xác định những biến đổi đại thể, chụp ảnh vùng có bệnh tích điển hình

* Phương pháp soi tươi chất chứa và niêm dịch ở manh tràng

manh tràng, lấy một ít niêm dịch và chất chứa trong manh tràng cho lên phiến kính đã

có sẵn 1 giọt nước cất; dùng đũa thủy tinh trộn đều rồi đậy lamen lên để dàn thành một lớp mỏng; sau đó soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40) để

phát hiện H meleagridis qua sự di chuyển của đơn bào nhờ sự vận động của roi

* Phương pháp làm tiêu bản tổ chức học theo quy trình tẩm đúc parafin, nhuộm Hematoxilin - Eosin

Ngày đăng: 10/05/2015, 12:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Năm (2010), “Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, số 3, tập II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm”," Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2010
2. Lê Văn Năm (2011), “Bệnh đầu đen ở gà và gà tây”, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi, số 32, tr. 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đầu đen ở gà và gà tây”, "Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2011
3. Nguyễn Văn Thiện (2008), Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
4. Aka J ., Hauck R ., Blankenstein P ., Balczulat S ., Hafez H. M . (2011), Reoccurrence of Histomonosis in turkey breeder farm, Berl Munch Tierarztl Wochenschr, 124 (1 - 2): 2 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reoccurrence of Histomonosis in turkey breeder farm
Tác giả: Aka J ., Hauck R ., Blankenstein P ., Balczulat S ., Hafez H. M
Năm: 2011
5. Armstrong P. L., McDougald L. R. (2011), The infection of turkeys with Histomonas meleagridis caused by exposure to infected poultry or contaminated cages, SourceDepartment Poultry Science, University of Georgia, Athens, GA 30602, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The infection of turkeys with Histomonas meleagridis caused by exposure to infected poultry or contaminated cages
Tác giả: Armstrong P. L., McDougald L. R
Nhà XB: Department Poultry Science, University of Georgia
Năm: 2011
6. Bishop A. (1938), “Histomonas meleagridis in domestic fowls (Gallus gallus). Cultivation and experimental infection”, Parasitol, 30: 181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histomonas meleagridis "in domestic fowls (Gallus gallus). Cultivation and experimental infection”, "Parasitol
Tác giả: Bishop A
Năm: 1938
8. Bradley R. E. and Reid W. M. (1966), “Histomonas meleagridis and several bacteria as agents of infectious enterohepatitis in gnotobiotic turkeys”, Exp.Parasitol, 19: 91 - 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histomonas meleagridis "and several bacteria as agents of infectious enterohepatitis in gnotobiotic turkeys”, "Exp. "Parasitol
Tác giả: Bradley R. E. and Reid W. M
Năm: 1966
9. Callait-Cardinal M. P., Gilot-Fromont E., Chossat L., Gonthier A., Chauve C., Zenner L. (2010), “Flock management and histomoniasis in free-range turkeys in France: description and search for potential risk factors”, Epidemiol Infect, 138(3): 353 - 363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flock management and "histomoniasis" in free-range turkeys in France: description and search for potential risk factors”, "Epidemiol Infect
Tác giả: Callait-Cardinal M. P., Gilot-Fromont E., Chossat L., Gonthier A., Chauve C., Zenner L
Năm: 2010
10. Cepicka I., Hamp V. and Kulda J. (2010), Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species, Protist, 161, 400 - 433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species
Tác giả: Cepicka I., Hamp V. and Kulda J
Năm: 2010
11. Chappel L. R. (1973), “The effect of Histomonas meleagridis on the development of Eimeria tenella”, J. Parasitol, 59: 637 - 643 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of "Histomonas meleagridis" on the development of "Eimeria tenella”, J. Parasitol
Tác giả: Chappel L. R
Năm: 1973
13. Cushman S. (1894), A study of the diseases of turkeys, In Sixth Annual Report of the Rhode Island Agricultural Experiment Station 1893, pp. 286 - 288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study of the diseases of turkeys
14. De Gussem M. and De Gussem J. (2006), Proceedings of the 6th International Symposium on turkey diseases, Berlin: 210 - 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proceedings of the 6th International Symposium on turkey diseases, Berlin
Tác giả: De Gussem M. and De Gussem J
Năm: 2006
15. DeVolt H. M (1943), “A new medium for the cultivation of Histomonas meleagridis”, J. Parasitol, pp. 29, 353 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new medium for the cultivation of Histomonas meleagridis
Tác giả: DeVolt H. M
Nhà XB: J. Parasitol
Năm: 1943
16. Doll J. P. and Franker C. K. (1963), “Experimental histomoniasis in gnotobiotic turkeys. I. Infection and histopathology of the bacteria-free host”, Jour.Parasitol, 49: 411 - 414 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experimental histomoniasis in gnotobiotic turkeys. I. Infection and histopathology of the bacteria-free host”, "Jour. "Parasitol
Tác giả: Doll J. P. and Franker C. K
Năm: 1963
17. Drbohlav J. J. (1924), “The cultivation of the protozoon of blackhead”, Journal of Medical, pp. 44, 411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The cultivation of the" protozoon "of" blackhead”, Journal of Medical
Tác giả: Drbohlav J. J
Năm: 1924
18. Durant H. J. (1930), Blackhead in turkeys - surgical control by cecal abligation, Mo. Agri.Exper. Sta. Res. Bul, 133: 1 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blackhead in turkeys - surgical control by cecal abligation
Tác giả: Durant H. J
Năm: 1930
19. Dwyer D. M. (1970), “An improved method for cultivating Histomonas meleagridis”, J. Parasitol, 56: 191 - 192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An improved method for cultivating "Histomonas meleagridis"”, "J. Parasitol
Tác giả: Dwyer D. M
Năm: 1970
20. Farmer R. K. and Stephenson J. (1949), “Infectious enterohepatitis (blackhead) in turkeys: Acomparative study of methods of infection”, J. Comp. Path. Therap, pp. 59, 119 - 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infectious enterohepatitis" (blackhead) "in turkeys: Acomparative study of methods of infection”, "J. Comp. Path. Therap
Tác giả: Farmer R. K. and Stephenson J
Năm: 1949
21. Ganas P., Liebhart D., Glửsmann M., Hess C. and Hess M. (2012), “Escherichia coli strongly supports the growth of Histomonas meleagridis, in a monoxenic culture, without influence on its pathogenicity”, J. Parasitol, 42 (10): 893 - 901 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Escherichia" coli strongly supports the growth of "Histomonas meleagridis", in a monoxenic culture, without influence on its pathogenicity”, "J. Parasitol
Tác giả: Ganas P., Liebhart D., Glửsmann M., Hess C. and Hess M
Năm: 2012
22. Gerhold R. W ., Lollis L. A ., Beckstead R. B ., Mc Dougald L. R . (2010), “Establishment of culture conditions for survival of Histomonas meleagridis in transit”, Avian Dis , 54 (2): 948 - 950 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Establishment of culture conditions for survival of "Histomonas meleagridis" in transit”, "Avian Dis
Tác giả: Gerhold R. W ., Lollis L. A ., Beckstead R. B ., Mc Dougald L. R
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà theo địa phương - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà theo địa phương (Trang 50)
Bảng 3.2. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.2. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào (Trang 51)
Bảng 3.3. Bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh đầu đen - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.3. Bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh đầu đen (Trang 53)
Bảng 3.4. Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.4. Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen (Trang 56)
Bảng 3.5. Kết quả gây nhiễm đơn bào H. meleagridis cho gà - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.5. Kết quả gây nhiễm đơn bào H. meleagridis cho gà (Trang 57)
Bảng 3.5 cho thấy: - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.5 cho thấy: (Trang 57)
Bảng 3.7. Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở gà - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.7. Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở gà (Trang 60)
Bảng 3.8. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.8. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do gây nhiễm (Trang 61)
Bảng 3.9. Diễn biến thân nhiệt của gà mắc bệnh sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.9. Diễn biến thân nhiệt của gà mắc bệnh sau gây nhiễm (Trang 64)
Hình 3.2. Đồ thị diễn biến thân nhiệt của gà sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Hình 3.2. Đồ thị diễn biến thân nhiệt của gà sau gây nhiễm (Trang 65)
Bảng 3.10. Thời gian chết của gà sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.10. Thời gian chết của gà sau gây nhiễm (Trang 66)
Bảng 3.11. Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.11. Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm (Trang 68)
Bảng 3.12. Bệnh tích vi thể một số cơ quan của gà mắc bệnh đầu đen - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.12. Bệnh tích vi thể một số cơ quan của gà mắc bệnh đầu đen (Trang 70)
Bảng 3.13. Khối lƣợng cơ thể và các nội quan của gà thí nghiệm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.13. Khối lƣợng cơ thể và các nội quan của gà thí nghiệm (Trang 72)
Bảng 3.15. Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở Gà tại tỉnh Thái Nguyên 2014
Bảng 3.15. Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w