Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện hơn 73 loài đơn bào ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi, trong đó có đơn bào Histomonas meleagridis gây bệnh đầu đen ở gà.. Trong vài năm g
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH ĐẦU ĐEN DO ĐƠN BÀO
HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA Ở GÀ
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của
tôi đã hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn
chân thành tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang, cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim
Lan và NCS.Ths Trương Thị Tính đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của Khoa Chăn
nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Khoa Nông Lâm - Trường
Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng QLĐT Sau
Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ Trạm thú y và nhân
dân của các huyện Phú Bình, Phổ Yên, Võ Nhai, Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp trong suốt thời gian thực hiện luận văn khoa học này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 3
1.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 6
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 30
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 30
2.3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu……… 31
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 31
Trang 52.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 33
2.4.3 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Kết quả nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 40
3.1.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên qua mổ khám 40
3.1.2 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen 42
3.2 Kết quả nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 48
3.2.1 Kết quả gây nhiễm đơn bào H meleagridis cho gà 48
3.2.3 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do gây nhiễm 52
3.2.4 Diễn biến thân nhiệt của gà mắc bệnh sau gây nhiễm 55
3.2.6 Nghiên cứu bệnh tích của gà sau gây nhiễm 59
3.2.7 Khối lượng, thể tích một số cơ quan nội tạng của gà sau gây nhiễm 64
3.3 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6E coli : Escherichia coli
E tenella : Eimeria tenella
H meleagridis : Histomonas meleagridis
H ganillarum : Heterakis ganillarum
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà theo địa phương 40
Bảng 3.2 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra 43
Bảng 3.3 Bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh đầu đendo đơn bào H.meleagridis gây ra 45
Bảng 3.4 Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen 48
Bảng 3.5 Kết quả gây nhiễm đơn bào H meleagridis cho gà 49
Bảng 3.6 Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở gàsau gây nhiễm qua đường miệng 51
Bảng 3.7 Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng ở gàgây nhiễm qua lỗ huyệt 52
Bảng 3.8 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do gây nhiễm 53
Bảng 3.9 Diễn biến thân nhiệt của gà mắc bệnh sau gây nhiễm 56
Bảng 3.10 Thời gian chết của gà sau gây nhiễm 58
Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm 60
Bảng 3.12 Bệnh tích vi thể một số cơ quan của gà mắc bệnh đầu đendo gây nhiễm 62
Bảng 3.13 Khối lượng cơ thể và các nội quan của gà thí nghiệm 64
Bảng 3.14 Sự thay đổi thể tích các nội quan của gà thí nghiệm 66
Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 68
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu dồ tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà theo địa phương 42
Hình 3.2 Đồ thị diễn biến thân nhiệt của gà sau gây nhiễm 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam Ngày nay, nhờ những tiến bộ về di truyền, giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi và công tác thú y mà chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển Hàng năm, chăn nuôi gà
đã cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng Xu hướng phát triển chăn nuôi nói chung theo hướng thâm canh công nghiệp hóa đang
nhu cầu về trứng và thịt, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi
Khi chăn nuôi gà phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp hơn Việt Nam là nướ ậu nhiệt đớ ẩm, rất thích hợp cho các loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh trên đàn gà Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện hơn 73 loài đơn bào ký sinh và gây bệnh cho vật
nuôi, trong đó có đơn bào Histomonas meleagridis gây bệnh đầu đen ở gà
Bệnh đầu đen là bệnh mới xuất hiện ở nước ta trong vài năm gần đây, đến nay
đã thấy ở khắp các vùng miền trong cả nước Bệnh tiến triển khá nhanh với những biểu hiện bất thường ở gà như ủ rũ, xù lông, giảm ăn, uống nhiều nước, phân loãng màu vàng lưu huỳnh; da vùng đầu ban đầu xanh tím sau đó chuyển sang thâm đen (bởi vậy được gọi là bệnh đầu đen) Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột, manh tràng và gan; manh tràng đóng kén trắng
Trong vài năm gần đây, ở tỉnh Thái Nguyên đã xuất hiện bệnh đầ
, người chăn nuôi và cán bộ thú y cơ sở chưa có biện pháp phòng chống
: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào Histomonas meleagridis ở gà nuôi tại
tỉnh Thái Nguyên
Trang 10- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào H
meleagridis gây ra ở gà Từ đó có cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trị bệnh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về một số đặc điểm bệnh lý và
lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà, có một số đóng góp
mới cho khoa học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp người chăn nuôi hiểu về bệnh, phát hiện bệnh kịp thời, từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy nghề chăn nuôi gà phát triển
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm
1.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh
Theo Cepicka và cs (2010) [10], vị trí của H meleagridis trong hệ thống phân
loại nguyên sinh động vật như sau:
1.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis
Cushman (1893) [12] đã mô tả về bệnh đầu đen ở gà
Hình thái của đơn bào gây bệnh đầu đen cho gà đã được Tyzzer (1919) [57]
mô tả như sau: Giai đoạn đơn bào Amoeba meleagridis ký sinh tại khu vực ngoại vi
của các tổn thương gọi là giai đoạn xâm lấn, đơn bào di động kiểu amip và hình thành một chân giả có chiều dài 30 μm Trong các mô cố định, đơn bào có đường kính 8 - 17 μm, giai đoạn này, nguyên sinh chất chứa các hạt không bào và một thể
nhân Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, đơn bào tồn tại ở dạng có tế bào chất mà
không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân Giai đoạn này, đơn bào có kích thước 12 - 21 μm
Khi nghiên cứu hình thái của đơn bào trong môi trường nuôi cấy, Tyzzer E E
(1920) [58] thấy, Amoeba meleagridis xuất hiện roi và có khả năng chuyển động
Trang 12trong điều kiện yếm khí Từ đặc điểm này, Tyzzer đã đổi tên tác nhân gây bệnh
thành Histomonas meleagridis
Tyzzer (1934) [60] cho biết, ở 420C có thể quan sát được sự chuyển động của
H meleagridis, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay
ngược chiều kim đồng hồ
Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H meleagridis, các nhà khoa học đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H meleagridis cấu tạo gồm 3 phần:
màng, tế bào chất và nhân
Màng tế bào H meleagridis là một màng đơn
Tế bào chất của H meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN, một số
không bào và hạt nhân
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid Màng nhân là một màng kép Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule
Histomonas meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể, lưới nội chất của
đơn bào này đã bị thoái hóa
1.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2
con đường: truyền trực tiếp và truyền gián tiếp
* Truyền trực tiếp
Gà có thể bị lây nhiễm bệnh đầu đen khi tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh qua
2 đường, đường miệng và lỗ huyệt Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gà tiếp xúc qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy
ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh
Ngay sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H meleagridis sẽ di chuyển
ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gan
* Truyền gián tiếp qua giun kim
Giun kim là sinh vật truyền bệnh đầu đen cho gà
Trang 13Graybill và cs (1920) [24] cho rằng, đơn bào gây bệnh đầu đen có liên quan
tới trứng giun kim Heterakis gallinarum Trứng giun kim có phôi khi nhiễm vào gà
là điều kiện cần thiết để lây truyền và phát bệnh đầu đen ở gà
Mặc dù, giun kim H gallinarum là ký chủ trung gian lây truyền bệnh đầu đen từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác, nhưng đơn bào H meleagridis vẫn dễ dàng
truyền từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác khi chúng ăn phân gà nhiễm bệnh
mà không cần sự có mặt của H gallinarum (Mc Dougald L R., 2005 [45])
* Truyền gián tiếp qua giun đất
Lund và Chute (1973) [43] cho biết: giun đất là vật chủ chứa trứng H
gallinarum và tích trữ một lượng lớn đơn bào H meleagridis
Ngoài ra, bệnh ở gà và gà tây có thể lây truyền từ con này sang con khác khi
chúng mổ ăn phân của những con bị bệnh Tuy nhiên, H meleagridis tự do trong
phân mà không được bảo vệ bởi trứng giun kim sẽ chết nhanh chóng, đặc biệt là trong thời tiết khô nóng
1.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis
Lê Văn Năm (2010) [1] đã tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào H
meleagridis như sau:
Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), H meleagridis sinh sản theo
phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) hay thể hợp bào Khi theo phân ra khỏi ký chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ sống được trong vòng 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm
trong các trứng của giun kim H gallinarum Do đó, gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức
ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim H gallinarum có chứa thể hợp bào H
meleagridis
H meleagridis có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo và yếm khí
Tại khu vực nuôi gà mắc bệnh, giun đất là vật chủ chứa trứng giun kim H
gallinarum Do đó, trứng H gallinarum và đơn bào H meleagridis sẽ tồn tại khá
lâu ngoài ngoại cảnh
Trang 14Khi gà và gà tây ăn giun đất, trứng H gallinarum vào đường tiêu hóa gia cầm,
làm cho gia cầm vừa bị bệnh giun kim, vừa bị bệnh đầu đen
Ở vùng có kiểu khí hậu và loại đất phù hợp cho sự phát triển của giun kim và
giun đất, cần định kỳ kiểm soát bệnh do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà
1.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà
1.1.2.1 Lịch sử bệnh
Histomonosis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island
(Cushman, 1894 [13]) Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, đã đề cập về một “bệnh khó hiểu” xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da vùng đầu biến đổi màu,
gà mắc bệnh có tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tây Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám,
thậm chí xanh đen nên đã đặt tên bệnh là bệnh đầu đen (Blackhead)
Kể từ khi bệnh đầu đen xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về bệnh Người ta nhận thấy rằng, dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây Theo Smith (1895) [55], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng
bị tổn thương nặng nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm gan và manh tràng để nghiên
cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba
meleagridis), từ đó bệnh được đặt tên là bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis Tyzzer
(1920) [59] đã gọi tên sinh vật đơn bào gây bệnh là Histomonas meleagridis
Vụ dịch đầu tiên bùng phát trên gà vào năm 1908 đã gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Từ đó, các trang trại chăn nuôi ở Mỹ đã thực hiện mọi biện pháp
để cải thiện, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nhưng Histomonosis vẫn xuất hiện ở nhiều
tiểu bang của Mỹ và là nguyên nhân chính gây chết ở gà tây (Lund, 1956 [42]) Năm 1905, bệnh xảy ra tại Nhật Bản
Trang 15Ở Châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở Ireland
(1894), Áo (2006), Bỉ (2007), Anh (2007) và Hà Lan (2009)
Ở Đông Âu, bệnh xuất hiện ở Bungari vào năm 1950
Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, nhất là các nước có
ngành chăn nuôi gà tây và gà ta thả vườn và tập trung công nghiệp (Mc Dougald L R.,
2005 [45])
Ở Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều nơi nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh Lê Văn Năm (2010) [1] đã quan sát thấy hàng loạt đàn gà nuôi tập trung thả vườn tại một số tỉnh phía Bắc bị mắc bệnh Bệnh đã bùng phát dữ dội
và gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi
1.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra
Histomonosis đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc
biệt là gà tây Bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ vào những năm 1930 Năm 1945, tỷ lệ chết do bệnh đầu đen gây ra chiếm 32,2 % tỷ lệ chết của gà tây ở Bắc Carolina
Ổ dịch Histomonosis trên đàn gà tây với tỷ lệ chết 25 - 75 % đã được báo cáo
ở California vào năm 2001 (Jinghui hu, 2002 [35])
Van der Heijden H (2009) [62] cho biết: ở California Histomonosis tiếp tục
gây tỷ lệ chết cao cho gà tây 9 - 11 tuần tuổi Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, tỷ lệ chết tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi Gà tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi, tỷ lệ chết 24 - 68 % Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắng nhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm Thành
manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch màu
vàng nhạt Thận, tuyến tụy, lá lách sưng Quan sát dưới kính hiển vi thấy có nhiều ổ
hoại tử trong gan, manh tràng, phúc mạc, túi Fabricius, thận, phổi, tuyến tụy,…
Mc Dougald L R (2008) [46] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở khu vực Bắc Mỹ
đã báo cáo: bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập trung, tỷ lệ chết lên đến 80 - 100 % Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở gà nhưng tỷ lệ chết chỉ tới 10 % Hauck và cs (2010) [29] cho biết: tại Đức, trong khoảng thời gian từ 2004
đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch Histomonosis xảy ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về
kinh tế cho người chăn nuôi Tác giả đã mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của
Trang 16bệnh đầu đen của một trang trại chăn nuôi gà tây ở Đức Từ tháng 4 năm 2003 đến
tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó
có 15 ổ dịch ở các trang trại gà giống
Lê Văn Năm (2010) [1] cho biết: bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của bộ phận không nhỏ người chăn nuôi ở nước ta Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng giun kim mà giun kim là ký chủ trung gian truyền bệnh đầu đen cho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung
1.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm
* Mầm bệnh: Về mặt dịch tễ học, đơn bào Histomonas không có vai trò truyền
bệnh vì sức đề kháng của chúng rất kém, khi ra khỏi cơ thể vật chủ đơn bào chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn
* Động vật mắc bệnh
Histomonosis thấy ở các đàn gà, gà tây trên toàn thế giới Trong tự nhiên, gà
tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều có thể bị bệnh Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả
Gregory V và Lamann (2010) [25] cho biết, tất cả các giống gà đều dễ bị nhiễm
đơn bào H meleagridis Gà bị bệnh do gan tổn thương ít hơn nên tỷ lệ chết thấp hơn so
với gà tây
* Tuổi mắc bệnh
Gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm
Histomonosis hơn cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonosis càng giảm
* Vật chủ trung gian truyền bệnh
Giun kim có vai trò quan trọng trong việc truyền Histomonosis bởi chúng bảo
vệ H meleagridis trong trứng và truyền bệnh
Ngoài ra, giun đất cũng có vai trò trong việc lưu trữ trứng giun kim chứa H
meleagridis Khi gà, gà tây ăn giun đất, trứng giun kim được giải phóng, đơn bào
cũng được giải phóng và gây bệnh
* Thời kỳ ủ bệnh
Trang 17Các dấu hiệu của Histomonosis xuất hiện rõ ràng từ 7 - 12 ngày và thường xảy
ra 11 ngày sau khi nhiễm bệnh Thời gian ủ bệnh tương tự với các cách nhiễm bệnh
tự nhiên, tức là truyền qua trứng Heterakis chứa H meleagridis
Trên thực nghiệm, gà tây được gây nhiễm bệnh bằng cách truyền H
meleagridis vào lỗ huyệt thì thời gian xuất hiện các tổn thương sớm hơn khoảng 3
ngày so với nhiễm bệnh do nuốt trứng Heterakis qua đường miệng
* Mùa vụ
Ở Việt Nam, Lê Văn Năm (2010) [1] báo cáo rằng, bệnh bùng phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và đầu thu Đối với những gà lớn tuổi (gà già và
gà đẻ), bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông
* Điều kiện vệ sinh thú y
Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn
tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn
tại và phát triển của giun kim - vật chủ trung gian truyền bệnh
Callait - Cardinal M P và cs (2010) [9] cho rằng, chuồng trại không đảm bảo
vệ sinh, phân và rác ướt không thu dọn thường xuyên, thức ăn nước uống không
sạch sẽ là những nguy cơ gây tái phát Histomonosis ở gia cầm
2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh
Việc truyền đơn bào H meleagridis tới gà và gà tây có thể xảy ra riêng lẻ hoặc
đồng thời theo các đường sau:
Thứ nhất, gà và gà tây ăn phân tươi do gà bệnh thải ra có chứa H meleagidis, hoặc do lỗ huyệt tiếp xúc với phân tươi chứa H meleagridis Con đường này không
quan trọng, ngoại trừ trường hợp gà khỏe mạnh và gà mắc bệnh được nuôi chung cùng đàn
Thứ hai, gà có thể nuốt phải trứng Heterakis gallinarum có phôi và có chứa H
meleagridis Vào trong đường tiêu hóa của gà, các đơn bào H meleagridis và ấu
trùng giun kim sẽ giải phóng khỏi vỏ trứng
Trang 18Thứ ba, gà có thể ăn phải những con giun đất chứa trứng giun kim đã mang
đơn bào H meleagridis
Khi vào trong cơ thể gà, đơn bào xâm nhập vào manh tràng rồi vào niêm mạc
manh tràng Tại đây, đơn bào H meleagridis nhân lên rất nhanh bằng sinh sản trực
phân Số lượng lớn đơn bào tác động vào niêm mạc manh tràng, làm cho niêm mạc dày dần lên, sau đó niêm mạc manh tràng bị viêm, loét và hoại tử Màng nhày và dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như
phomat Từ manh tràng, H meleagridis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập vào gan H meleagridis ký sinh ở
gan, gây viêm và gây hoại tử gan Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan Từ gan, đơn bào này sẽ lan đi khắp cơ thể Do đó, ngoài gan và manh tràng,
người ta còn tìm thấy H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H
meleagridis không gây hoặc chỉ gây tổn thương nhẹ ở các cơ quan này
1.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen ở gà
* Triệu chứng
Gà 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm H meleagridis cao, có triệu chứng
điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90 % Những dấu hiệu lâm sàng phát triển sau 12
- 15 ngày nhiễm bệnh và chết sau 15 - 21 ngày Gà mắc bệnh đột ngột sốt cao 43 -
440C, đứng ủ rũ, hai mắt nhắm nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, lông xù, vùng lỗ huyệt lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh (Mc Dougald L R., 2008 [46]) Có hiện tượng sung huyết, phù nề, tăng bạch cầu đa nhân trung tính
ở giai đoạn đầu của bệnh
* Bệnh tích
Các tổn thương ở gan và manh tràng là bệnh tích đặc trưng nhất của bệnh do
H meleagridis gây ra
- Biến đổi ở manh tràng
Trang 19Sự biến đổi của manh tràng được Lê Văn Năm (2010) [1] mô tả: có thể chỉ một hoặc cả hai manh tràng xuất hiện các biến đổi, lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày lên và rắn chắc hơn Màu sắc, độ đàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi Bề mặt manh tràng trở nên sần sùi, màu vàng xám, thành manh tràng tăng sinh dầy lên và rắn chắc Khi bổ đôi manh tràng thấy chất chứa màu trắng vàng, trắng xanh hoặc trắng nâu do dịch thẩm xuất chứa Fibrin đóng quánh cùng các tế bào bị cazein hoá tạo thành các kén màu trắng, vì thế người chăn nuôi gọi
là bệnh kén ruột Niêm mạc manh tràng bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng, chất chứa chảy vào xoang bụng gây viêm phúc mạc, làm gà chết Rất nhiều trường hợp hai manh tràng dính chặt với nhau hoặc một trong hai manh tràng dính vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc Vết loét nhỏ hoặc lớn có thể vỡ ra, tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng, gây viêm dính ruột Khi cắt ngang manh tràng thấy có những đám
bã đậu trắng, thành manh tràng dày làm lòng manh tràng hẹp lại
- Biến đổi ở gan
Theo Lê Văn Năm (2010) [1]: Gan sưng to, gấp 2 - 3 lần bình thường, mềm nhũn và có nhiều ổ viêm, xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan làm cho lá gan lúc đầu
có màu lổ đổ hình hoa cúc Về sau các ổ hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắng xám đỏ, lõm ở giữa Ổ hoại tử có hình tròn, đường kính 1 - 2 cm, rìa mép có hình răng cưa Khi cắt đôi ổ hoại tử thấy chúng có hình nón, chứa đầy chất chứa đặc quánh Nếu phết kính và soi dưới kính hiển vi sẽ thấy các tế bào bạch cầu, đại thực
bào và đơn bào H meleagridis còn sống
1.1.2.6 Chẩn đoán
* Với gà còn sống
Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với
gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn
ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu xạm màu, ỉa chảy, phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà ỉa chảy, phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald
L R., 2008 [46])
Trang 20Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn
* Mổ khám gà
Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám, kiểm tra
bệnh tích kết hợp xét nghiệm tìm đơn bào H meleagridis ký sinh ở các cơ quan nội
tạng như gan, manh tràng
Tiến hành mổ khám gà mắc bệnh, quan sát thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng, gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt
Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa chết hoặc vừa mổ khám, phết
kính, kiểm tra dưới kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis Tuy
nhiên, đơn bào trong các tổn thương tổ chức ở thể lưới, không có hình roi và rất khó
để phân biệt với đại thực bào và các tế bào nấm men
Xét nghiệm phân tươi của gà bệnh trong điều kiện nhiệt độ ấm, đơn bào vẫn hoạt động và điều này giúp việc chẩn đoán dễ dàng hơn Lấy phân tươi của gà nghi mắc bệnh để soi kính hiển vi ở điều kiện 40o
C có thể thấy H meleagridis hình roi còn sống Dưới kính hiển vi quan sát thấy H meleagridis di chuyển không theo một hướng cố định, roi chuyển động xoay ngược chiều kim đồng hồ (Mc Dougald L R.,
2008 [46])
Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn Đặc biệt là phần mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thường được áp dụng là nhuộm Hematoxilin - eosin và nhuộm PAS (Mc Dougald L R, 2008 [46]) Nuôi cấy đơn bào trong môi trường Dwyer cổ điển (Van der Heijden, 2009
[62]), giúp cho việc quan sát H meleagridis dưới kính hiển vi dễ dàng hơn
Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả
nhanh chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể phát hiện ADN của
H meleagridis trong phân hoặc trong ruột Kỹ thuật PCR cũng giúp tìm ra ADN
Trang 21của ký sinh trùng H meleagridis trong các cơ quan khác như trong não, hoặc tuyến
ức,… nơi mà các phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt của ký sinh trùng này
* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
Bệnh do H meleagridis gây ra ở gà cần phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh:
- Bệnh do Leucocytozoon
Cũng có những triệu chứng và biến đổi bệnh lý gần giống với bệnh đầu đen Sự
khác biệt của 2 bệnh này là: gan gà bị bệnh do Leucocytozoon to gấp 4 - 5 lần bình thường, trong bệnh do Histomonosis thì gan gà sưng to gấp 2 - 3 lần bình thường,
mềm nhũn, nhiều ổ viêm hoại tử màu trắng hình hoa cúc trên bề mặt gan Các ổ hoại
tử hình tròn, đặc và lõm ở giữa, rìa mép có hình răng cưa
- Bệnh Marek
Dạng Marek nội tạng thường thấy ở gà 3 - 9 tháng cũng có các khối u phát
triển ở gan, thận, lách, dạ dày tuyến, ruột Vì vậy cần phân biệt bệnh do H
meleagridis với bệnh Marek
đơn bào H meleagridis gây ra giai đoạn giữa của bệnh cũng rất giống bệnh cầu
trùng: chất chứa có màu nâu, đỏ lẫn máu, nhớt như máu cá Giai đoạn sau chất chứa tạo thành kén màu trắng rắn chắc, gạt lớp phủ niêm mạc manh tràng thấy niêm mạc manh tràng bị viêm hoại tử rất nặng, thành manh tràng dày lên và rắn chắc, lòng manh tràng hẹp lại rất nhiều so với bình thường
Trang 22bề mặt gan giống như các ổ lao gà Trong khi các ổ viêm loét, hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm ở giữa (tâm của ổ viêm loét do bệnh đầu đen lõm xuống)
Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phòng bệnh như: vệ sinh chuồng trại, máng
ăn, máng uống, phun thuốc sát trùng, chủng vắc xin và tẩy giun cho gà theo quy
trình chăn nuôi Đơn bào H meleagridis gây bệnh có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh,
do đó cần hạn chế cho gà tiếp xúc với đất, nên nuôi gà trên sàn hoặc nền bê tông Không nuôi nhiều lứa tuổi gà trong cùng một cơ sở chăn nuôi Nếu có diện tích rộng thì chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi gà luân phiên trên các
ô, để trống chuồng một thời gian dài giúp phòng Histomonosis có hiệu quả
Đối với gà từ 20 ngày tuổi trở lên, trong nước uống cần bổ sung CuSO4 hoặc mỗi tuần 1 lần cho uống KMnO4 pha với tỷ lệ 1/10000 (tức một gam thuốc tím pha với 10 lít nước), cho uống trong vòng 1 - 2 giờ/ngày
* Trị bệnh
Ở Hoa Kỳ, dimetridazole và ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị Histomonosis
hiệu quả Cả hai đều thuộc nhóm nitroimidazole Tuy nhiên, vào những năm 1990, các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm và có thể gây ung thư cho người Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng là một loại thuốc đắt tiền
Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị bệnh đầu đen có hiệu quả cao Gần đây, một số tác giả cho rằng, dùng sulfamonomethoxin có tác dụng diệt
H meleagridis rất tốt
Trang 23Công ty thuốc thú y Năm Thái đã khuyến cáo phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà như sau:
Phác đồ 1:
Tiêm bắp T avibrasin 1 ml/5 kg gà 1 lần/ngày, tiêm 2 - 3 ngày
Cho uống: T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T coryzine: 1,5 - 2 gam; Super Vitamin 2 gam Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm
Phác đồ 2:
Tiêm bắp Macavet 1 ml/ 6 - 8 kgTT/lần Sau 48 giờ tiêm mũi thứ 2
Cho uống: T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T coryzine: 1,5 - 2 gam; T flox - C 1,5 gam Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Lê Văn Năm (2010) [1] bắt đầu đề cập đến căn bệnh này tại một số tỉnh phía Bắc (trong đó có huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) Tác giả kết luận rằng, nguyên nhân cơ bản gây nên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là do sự cảm
nhiễm, xâm nhập và nhân lên nhanh chóng của đơn bào H meleagridis trong cơ thể
gà, thông qua tình trạng nhiễm trứng giun kim có đơn bào này Theo tác giả, H
meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và
hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình dạng tương ứng
phù hợp,… H meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30 μm, với hình roi thì
có kích thước 20 - 30 μm, kích thước nhỏ nhất khi H meleagridis ở thể lưới: 5 - 10
μm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H meleagridis thể hình lưới) thì chúng có
kích thước cực đại (60 - 80 μm) Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to
mọc ra 4 roi, H meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu
làn sóng
Theo Lê Văn Năm (2011) [2], đơn bào H meleagridis có sức đề kháng kém Sau
khi theo phân ra ngoài môi trường, ở nhệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể gia cầm, đơn bào này chỉ sống được vài phút hoặc vài giờ tùy thuộc vào nhiệt độ bên ngoài Trong đó,
Trang 24thời gian sống lâu nhất không vượt quá 24 giờ Nhưng H meleagridis có thể tồn tại hàng năm trong trứng của giun kim - Heterakis gallinae, mà vẫn có khả năng gây bệnh
Lê Văn Năm (2010) [1] cho biết, ở miền Bắc Việt Nam, bệnh thường thấy ở
gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài
từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng nhiễm trùng thứ phát Bệnh thể hiện ở thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra ở thể quá cấp
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, bệnh do đơn bào H meleagridis được phát hiện năm 1893 ở
Rhode Island, sau đó bệnh được báo cáo ở khắp các lục địa và nhiều nước khác
Dịch bệnh do H meleagridis nhanh chóng lan xuống các vùng ven biển phía Đông,
miền Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ Bệnh có tỷ lệ chết cao (có thể tới 100 %)
Các nhà khoa học sớm xác định đơn bào H meleagridis là tác nhân gây bệnh
Giống như nhiều ký sinh trùng khác, vòng đời H meleagridis rất phức tạp, liên
quan tới một vật chủ trung gian là giun kim Heterakis gallinae (Mc Dougald L R.,
2008 [46])
Tác nhân gây bệnh đầu đen ở gà đã được nhiều tác giả nghiên cứu và cho biết,
đó là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc hình bầu dục,
đường kính 8 - 14 μm Khi đơn bào được cố định và nhuộm màu, tác giả thấy chúng
có dạng hình bầu dục nhỏ, đường kính 6 - 10 μm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập
trung lại thành thể nhân (Smith, 1895 [55]) Theo Tyzzer và Fabyan (1922) [61], H
meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và dạng có roi) Trong mô (giai đoạn
xâm lấn), đơn bào có dạng amip, trong lòng manh tràng H meleagridis ở dạng có roi H meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 μm, trong khi ở dạng
có roi, đường kính có thể lên tới 30 μm
Popp C và cs (2011) [52] cho biết, ít nhất có hai chủng H meleagridis (A và
B) gây ra các vụ dịch tại các trang trại chăn nuôi gà
Aka J và cs (2011) [4] cho biết, ở Đức, ổ dịch Histomonosis đầu tiên xảy ra
vào năm 2005 trong đàn gà mái 17 tuần tuổi, ổ dịch thứ hai (năm 2009) xảy ra trên
Trang 25đàn gà mái 8 tuần tuổi Trong cả hai vụ dịch, H meleagridis gây bệnh đều thuộc
chủng A
Lollis L và cs (2011) [40] đã thực hiện phản ứng PCR trên vùng ITS- rDNA
với 2 primer ITS1 và ITS2 trên 28 đơn bào H meleagridis trong các mẫu mô thu
thập từ nhiều loài gia cầm nuôi ở các vị trí địa lý khác nhau để nghiên cứu sự đa
dạng di truyền của H meleagridis Kết quả cho thấy, trình tự vùng rDNA 5,8 S và ITS của H meleagridis không có sự biến động Như vậy, không có sự khác biệt về chủng H meleagridis gây bệnh giữa các loài gia cầm nuôi ở các vị trí khác nhau Klodnicki M E và cs (2013) [37] đã tiến hành phân tích bộ gen của H
meleagridis Các dữ liệu thu được từ các thí nghiệm đã xác định được 3425 gen
Khi nghiên cứu sức đề kháng của H meleagridis trong hoặc trên một số vật
liệu nhân tạo bị ô nhiễm trong chuồng nuôi gà ở nhiệt độ phòng (22 + 2oC), Lotfi A
R và cs (2012) [41] thấy rằng, đơn bào sống 1 giờ trên gỗ, cao su và kim loại; 3 giờ trên khay trứng, vỏ trứng và gạch; 6 giờ trên rơm, lông gà tây và thức ăn; và 9 giờ trong nước máy và phân Vì vậy, nước bị ô nhiễm, phân tươi, hoặc cả hai có thể
là nguyên nhân truyền H meleagridis trong và giữa các chuồng gà với nhau
* Nghiên cứu phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2
con đường: truyền trực tiếp và truyền gián tiếp
Horton - Smith và Long (1955, 1956) [32] đã phát hiện ra rằng, đơn bào H
meleagridis sống sót với tỷ lệ thấp khi đi qua đường tiêu hóa do độ pH thấp Tác giả
tiến hành các thí nghiệm như sau: cho gà bị bỏ đói 18 giờ uống huyễn dịch manh tràng của gà bị bệnh nặng, tác giả nhận thấy tỷ lệ nhiễm bệnh của gà thấp Tiếp tục nghiên cứu gây nhiễm qua đường tiêu hóa của gà bị bỏ đói 18 giờ, tác giả đã nâng độ
pH lên rất cao bằng cách bổ sung 1 gam hỗn hợp gồm: canxi cacbonat 40 %, magie
trisilicate 17 % và cao lanh 43 % Tác giả nhận thấy, tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tăng lên Kết quả, H meleagridis có thể sống sót ở nồng độ pH cao
Trang 26Một số tác giả cũng tiến hành gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, theo dõi gà gây nhiễm sau 10 - 15 ngày và cũng thu được những kết quả nhất định
Mc Dougald L R (2003) [44] đã gây nhiễm bệnh cho gà 2 tuần tuổi bằng
cách đưa vào lỗ huyệt mỗi gà 200.000 H meleagridis Kết quả, tất cả gà gây nhiễm
đã chết ở ngày 10 - 18, mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất hiện tổn
thương điển hình của Histomonosis
Hu và cs (2004) [34] đã gây nhiễm H meleagridis qua lỗ huyệt cho gà 2 tuần
tuổi, liều 100.000 đơn bào/gà Theo dõi trong 12 ngày thấy không có gà nào bị chết,
mổ khám thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng
Để nghiên cứu sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen mà không cần sự có mặt
của giun kim (Heterakis gallinarum), Mc Dougald L R (2005) [45] đã bố trí thí
nghiệm với 120 gà 2 tuần tuổi, chia thành 2 lô:
Lô 1: gồm 10 % gà bệnh (đã được gây nhiễm qua lỗ huyệt với liều 200.000 H
meleagridis/ gà) và 90 % gà khỏe cùng nhốt trong chuồng sàn bê tông
Lô 2: gồm 25 % gà bệnh với 75 % gà khỏe
Kết quả: ở lô 2, những gà tiếp xúc với 25 % gà được gây nhiễm bắt đầu chết ở ngày thứ 16 và tất cả đều chết ở ngày thứ 23 Những gà tiếp xúc với 10 % gà được gây nhiễm ở lô 1 bắt đầu chết ở ngày thứ 19, đến ngày thứ 31 mổ khám gà chết và toàn bộ gà còn sống đều thấy tổn thương gan nặng, manh tràng đóng kén Soi chất chứa ở manh tràng và phân không thấy có sự xuất hiện của trứng giun kim
(Heterakis gallinarum)
Một nghiên cứu khác về khả năng truyền bệnh trực tiếp ở gà tây cũng được mô
tả bởi Hess M và cs (2006) [31]: tác giả cũng gây nhiễm qua lỗ huyệt cho gà tây
14 ngày tuổi với liều 380.000 đơn bào H meleagridis Kết quả là những gà được
gây nhiễm bài tiết mầm bệnh ngay sau khi gây nhiễm 2 ngày Sau 14 ngày gây nhiễm, mổ khám tất cả những gà sống sót, kiểm tra manh tràng và gan thấy xuất hiện tổn thương nặng của bệnh đầu đen Ngoài ra, túi Fabricius cũng bị phá hủy nặng nề
Trang 27Liebhart D và Hess M (2009) [38] đã gây nhiễm qua đường miệng cho gà tây
1 ngày tuổi (cho nhịn đói 5 giờ trước khi gây nhiễm) Kết quả là 8 trong 10 gà thí nghiệm mắc bệnh nghiêm trọng với các tổn thương bệnh lý điển hình của
Histomonosis ở gan và manh tràng, chỉ có hai gà còn sống sót sau thí nghiệm và
không có dấu hiệu lâm sàng
Jana Choutková (2010) [67] đã gây bệnh cho gà tây bằng cả 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt Kết quả như sau: Gà gây nhiễm qua đường miệng tỷ
lệ mắc bệnh và chết thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20 %, tỷ lệ chết 2 %, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65 %, tỷ lệ chết 45 %
Gần đây, Armstrong P L và Mc Dougald L R (2011) [5] đã nghiên cứu đường truyền bệnh trực tiếp cho gà tây mà không cần sự có mặt của các vật chủ trung gian và điều tra khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc Tác giả đã tiến hành 3 lô thí nghiệm như sau:
Lô 1: Nuôi nhốt gà chung với những gà đã mắc bệnh đầu đen
Lô 2 và 3: Gây nhiễm trực tiếp qua đường miệng (lô 2) và bơm trực tiếp vào
lỗ huyệt (lô 3) (bằng hỗn hợp phân và manh tràng của gà mắc bệnh Histomonosis)
Theo dõi thí nghiệm: sau 14 ngày gây nhiễm, tiến hành mổ khám và thấy 31 trong số 44 gà ở lô 3 được bơm trực tiếp vào lỗ huyệt có bệnh tích điển hình ở cả gan và manh tràng, trong khi gà ở lô 2 không thấy có tổn thương khi gây nhiễm qua đường miệng Ở lô 1, mổ khám gà nuôi nhốt chung với đàn gà mắc bệnh đầu đen, thấy có 11/36 gà mắc bệnh có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng (30,5 %) Hauck R và Hafe H M (2013) [27] cho biết, trong 10 năm qua, phương pháp
gây nhiễm thông qua lỗ huyệt đối với H meleagridis được tiến hành một cách phổ
biến nhất và đạt độ tin cậy cao Tác giả gây nhiễm cho gà tây (liều nhiễm 10.000
hoặc 100.000 H meleagridis) thấy gà mắc bệnh và tỷ lệ chết trên 70 % Sau gây
nhiễm, gà chết sớm nhất là 6 ngày; tỷ lệ chết cao nhất thường là 13 - 15 ngày Liều gây nhiễm thấp có thể làm chậm chết khoảng 2 ngày Tác giả kết luận rằng, tổn thương manh tràng có thể quan sát được từ 3 - 4 ngày đến 3 tuần sau gây nhiễm; tổn
Trang 28thương gan có thể không thấy hoặc chỉ thấy trong một số ít trường hợp Tác giả
cũng cho biết thêm, khi gây nhiễm bệnh bằng cách cho gà nuốt trứng Heterakis chứa H meleagridis với liều 100 đến 1.000 trứng/ gà đã gây ra tỷ lệ chết rất cao
Ngay cả với liều 58 trứng/ gà tây đã gây ra tỷ lệ chết đến 90 % Triệu chứng lâm sàng bắt đầu từ ngày thứ 9 sau gây nhiễm, gà đầu tiên chết sau 12 ngày, hầu hết gà nhiễm bệnh chết từ 19 đến 21 ngày sau gây nhiễm
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, giun kim H gallinarum là sinh vật truyền
bệnh đầu đen cho gà
Gibbs B J (1962) [23] đã tìm thấy H meleagridis trong đường sinh dục và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học H meleagridis được tìm thấy trong tất cả các bộ phận sinh sản của cả giun cái và giun đực Ở giun đực, H
meleagridis ký sinh trong ruột, xâm nhập vào các tế bào ruột, tinh trùng, ống dẫn
tinh và túi tinh Ở giun cái, chúng ký sinh trong tất cả các bộ phận của đường sinh
dục như buồng trứng, ống dẫn trứng và tử cung Sau đó, H meleagridis đã được thu
thập và gây nhiễm cho gà 10 ngày tuổi Tác giả kết luận rằng, giun cái có khả năng truyền bệnh đầu đen cho gà mà không cần có sự thụ tinh của giun đực
Cơ chế lây nhiễm H meleagridis khi còn trong trứng giun kim cho đến nay
vẫn chưa được xác định rõ ràng
Springer và cs (1970) [56] đã phát hiện ra rằng, trong giun kim đực được lấy
ra từ manh tràng gà bệnh đều chứa H meleagridis còn sống Giun cái ít có khả năng truyền H meleagridis hơn Theo tác giả thì giun cái có thể bị nhiễm H meleagridis
trong khi giao hợp với giun đực và đơn bào đã xâm nhập vào trong trứng trước khi hình thành lớp vỏ trứng
Lund và Chute (1973) [43] đã xác định được tương quan thuận giữa số lượng
Heterakis trong mỗi con gà và tỷ lệ mắc H meleagridis Tác giả cho rằng, đơn bào
được giải phóng khi giun kim chết (có thể chết trong cơ thể gà hoặc ở ngoại cảnh)
Hu J và Mc Dougald L R (2003) [33] kết luận rằng, mặc dù H gallinarum được biết đến là một vật chủ chứa H meleagridis, nhưng bệnh do H meleagridis có
Trang 29thể xảy ra dễ dàng thông qua tiếp xúc thông thường giữa các gia cầm không bị nhiễm bệnh và gia cầm nhiễm bệnh, trong trường hợp xét nghiệm phân của chúng không có trứng giun kim
* Nghiên cứu về môi trường nuôi cấy đơn bào Histomonas meleagridis
Drbohlav (1924) [17] - người đầu tiên tiến hành nuôi cấy đơn bào H
meleagridis đã báo cáo rằng: H meleagridis sinh trưởng tốt nhất ở độ pH 7,2 - 7,8
Bishop (1938) [6] đã thu thập các đơn bào H meleagridis từ các tổn thương ở
gan của gà mắc bệnh nặng, sau đó nuôi cấy trong môi trường huyết thanh ngựa pha với bột gạo theo tỷ lệ 1: 8, đặt ống nghiệm thẳng đứng cũng thu được kết quả tốt
DeVolt (1943) [15] cũng tiến hành thí nghiệm nuôi cấy đơn bào H meleagridis
trong môi trường đơn giản và dễ chuẩn bị (pH = 9) Môi trường nuôi cấy bao gồm: dung dịch Locke (dung dịch đẳng trương với huyết tương có chứa clorua natri, kali, canxi, natri bicarbonate và dextrose được sử dụng tương tự như nước muối sinh lý) với
2 % huyết thanh gà tây, 2 % NaOH, hấp tiệt trùng ở 120oCtrong 20 phút Trước khi nuôi cấy, mỗi ống nghiệm cho thêm một ít tinh bột gạo đã được vô trùng Tác giả báo
cáo rằng, có một số vi khuẩn tồn tại trong môi trường nuôi cấy đơn bào H meleagridis
và chúng có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đơn bào ở một mức độ nào đó Sau đó, một số tác giả đã thay đổi môi trường của DeVolt để nuôi cấy H meleagridis
Môi trường nuôi cấy của Dwyer (1970) [19]; Mc Dougald và Reid (1978) [49] gồm: M199 với dung dịch muối của Hank, 10 % huyết thanh ngựa, 5 % phôi thai gà
8 ngày tuổi và 10 - 12 mg bột gạo/12,5 ml môi trường
Dung dịch muối của Hank (1940) gồm các muối giàu ion bicarbonate, dung dịch này được sử dụng như một hệ thống đệm trong môi trường nuôi cấy tế bào và duy trì pH sinh lý tối ưu (khoảng 7,0 - 7,4) cho sự tăng trưởng của tế bào
Phôi thai gà 8 ngày tuổi được nghiền nhuyễn bằng máy xay sinh tố, bảo quản ở nhiệt độ âm, làm tan băng một lần và được giữ ở nhiệt độ - 20oC cho đến khi sử dụng Tác giả sử dụng pipet vô trùng để thu thập chất chứa manh tràng và niêm mạc manh tràng bị tổn thương rồi cho vào bình nuôi cấy có thể tích 70 ml và bảo quản ở
40oC trong 48 giờ Sau đó, lấy 1 ml chất chứa cấy vào 12,5 ml môi trường Dwyer Sự
phát triển của H meleagridis được đánh giá hàng ngày bằng cách đếm số lượng đơn
bào/1 ml môi trường nuôi cấy bằng thiết bị Haematocytometer Bürker - Türk (thiết bị
Trang 30đếm số lượng tế bào) và kính hiển vi độ phóng đại 200 lần Tác giả đã bổ sung thêm
10 % dimethylsulfoxide như một chất bảo quản lạnh để giữ mẫu nuôi cấy được lâu hơn Mẫu nuôi cấy được lưu giữ trong nitơ lỏng (-175°C) cho đến khi sử dụng
Thông thường, số lượng H meleagridis đạt tối đa trong ống nghiệm ở ngày thứ 2 hoặc ngày thứ 3 sau khi nuôi cấy (Dwyer, 1970 [19]) Số lượng H
meleagridis giảm nhanh chóng và chết sau khoảng 5 ngày, có thể là do sự suy giảm
các chất dinh dưỡng Tyzzer (1934) [60] cho rằng, sự sống của đơn bào trong môi trường nuôi cấy có thể kéo dài bằng cách bổ sung đều đặn lượng nhỏ bột gạo (10 -
12 mg) và đơn bào có thể sống tới 21 ngày
Theo Zaragatzki E và cs (2010) [66], H meleagridis phát triển tốt nhất ở 400C trong môi trường nuôi cấy gồm M 199, huyết thanh bê và tinh bột gạo, pH = 7,8
Nuôi cấy trong điều kiện này, H meleagridis (giai đoạn amoebic) có đường kính 8 -
12 µm Ngược lại, H meleagridis không phát triển hoặc phát triển chậm khi các điều
kiện của môi trường nuôi cấy bị thay đổi: giảm nhiệt độ, thiếu hoặc không bổ sung huyết thanh bê và tinh bột gạo, thay đổi độ thẩm thấu, độ pH … Trong điều kiện này,
H meleagridis có kích thước nhỏ, giai đoạn amoebic chỉ có đường kính 4 - 7 µm
Mc Dougald và Galloway (1973) [48] khẳng định rằng: môi trường nuôi cấy
đơn bào H meleagridis tốt nhất là môi trường Dwyer (1970) Môi trường này bao gồm 85 % M199; 5 % chiết xuất phôi thai gà và 10 % huyết thanh ngựa, pH 7,8 H
meleagridis phát triển nhanh trong môi trường này và được sử dụng để chẩn đoán,
xét nghiệm H meleagridis từ 28 - 48 giờ sau khi nuôi cấy
Khi phân tích môi trường tốt nhất cho sự phát triển của H meleagridis, Hauck
R và cs (2010) [28] cho biết: H meleagridis phát triển nhanh chóng trong môi trường của Dwyer (bao gồm M199, phôi gà, huyết thanh và bột gạo), đạt số lượng khoảng 5 x 105
H meleagridis trong 3 - 4 ngày, sau đó suy giảm nhanh chóng Thay thế M199 bằng L-15, MEM hoặc RPMI cũng có hiệu quả Thiếu huyết thanh hoặc bột gạo môi trường nuôi cấy sẽ không phù hợp cho sự tăng trưởng của đơn bào Môi trường có đường không phù hợp vì đường làm độ pH giảm xuống Oxy ức chế sự tăng trưởng của H meleagridis Đơn bào tăng trưởng tốt trong môi trường có bột
Trang 31gạo, bột bắp, bột yến mạch, bột lúa mạch đen và bột kiều mạch Điều kiện yếm khí
và độ pH gần trung tính là tốt nhất H meleagridis phát triển tốt hơn nếu trong môi
trường nuôi cấy có chứa vi khuẩn
Gerhold R W và cs (2010) [22] cho rằng, thời gian bảo quản và vận chuyển
mẫu bệnh phẩm ảnh hưởng lớn kết quả nuôi cấy đơn bào H meleagridis trong ống nghiệm Tác giả lấy manh tràng của gà bị Histomonosis đem bảo quản ở nhiệt độ
phòng 2 giờ và 24 giờ Sau đó, lấy 0,5 gam chất chứa manh tràng cấy vào môi trường Dwyer trong ống nghiệm Đặt các ống nghiệm trong tủ ấm 400C, hàng ngày kiểm tra
sự tăng trưởng của H meleagridis bằng cách đếm dưới kính hiển vi quang học Kết quả, H meleagridis tăng trưởng tốt từ những mẫu manh tràng bảo quản ở nhiệt độ phòng 2 giờ Ngược lại, H meleagridis không tăng trưởng ở những mẫu manh tràng
bảo quản ở nhiệt độ phòng 24 giờ Như vậy, mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy đơn bào nên thu thập, bảo quản ở nhiệt độ ấm áp và vận chuyển nhanh về phòng thí nghiệm Khi nghiên cứu dịch tễ học bệnh đầu đen ở gà, Lund và Chute (1973) [43] đã gây bệnh cho 8 loài chim thuộc bộ gà và thấy gà lôi trắng Trung Quốc là vật chủ tốt
nhất cho H meleagridis, tiếp theo là gà và gà sao Gà dễ nhiễm bệnh, nhưng khả
năng mẫn cảm của gà thấp hơn so với gà tây Tỷ lệ chết ở gà là 10 %, trong khi con
số này ở gà tây có thể đạt 80 - 100 % (Mc Dougald L R., 2008 [46]) Đáp ứng miễn
dịch với H meleagridis của gà mạnh hơn gà tây Khi mắc bệnh, đơn bào di cư vào
gan gà tây với số lượng lớn hơn so với gà (Powell F L và cs., 2009 [53])
Armstrong P L và Mc Dougald L R (2011) [5] đã tìm thấy H meleagridis trong manh tràng vịt, nhưng vịt không có triệu chứng lâm sàng của bệnh Lấy H
meleagridis ở manh tràng vịt gây nhiễm cho gà tây, gà tây bị mắc bệnh Từ thí
nghiệm này cho thấy, vịt đóng vai trò truyền bệnh cho các loài nhạy cảm
Theo Hu J và cs (2004) [34], gà tuổi càng cao sức đề kháng với Histomonosis
càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất Giai đoạn gà 1 - 2 tháng
tuổi tỷ lệ mắc Histomonosis cao nhất, triệu chứng bệnh điển hình nhất (Hauck và cs.,
2010 [26])
Tỷ lệ chết ở gà do bệnh đầu đen có thể lên tới 80 %, kết quả này đã được Mc Dougald L R (2005) [45] công bố sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây 15
Trang 32ngày tuổi với lượng 200.000 H meleagridis/con Một tỷ lệ chết dưới 50 % cũng đã
được báo cáo bởi Hauck và cs (2006) [30] khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây 3
tuần tuổi với liều 150.000 H meleagridis/con
* Sự tương tác của H meleagridis với tác nhân gây bệnh hoặc điều kiện khác
- Cầu trùng:
Chappel (1973) [11] báo cáo rằng, H meleagridis xuất hiện ảnh hưởng đến sự phát triển của Eimeria tenella Cầu trùng E tenella giúp cho H meleagridis nhanh
chóng xâm nhập vào sâu niêm mạc manh tràng Mức độ tổn thương manh tràng lớn
hơn nhiều so với khi chỉ có E tenella Mc Dougald L R và Hu J., 2001 [47] cho biết,
Histomonosis trầm trọng hơn ở gà thịt bị nhiễm đồng thời cầu trùng manh tràng
- Vi khuẩn:
Một số loài vi khuẩn gây bệnh cho gà có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đơn
bào H meleagridis trong ống nghiệm (Mc Dougald và Reid, 1978 [49])
Tyzzer (1934) [60] là người đầu tiên nhận thấy những vi khuẩn kèm theo các đơn bào tại thời điểm phân lập có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của đơn bào trong quá trình nuôi cấy Bishop (1938) [6] cũng cho rằng, sự tăng trưởng
của H meleagridis trong các môi trường nuôi cấy kém đi do sự vắng mặt của hệ vi
khuẩn “tương thích” Doll và Franker (1963) [16] cho rằng, vi khuẩn có trong các
loài chim có một số yếu tố cần thiết cho sự phát triển của đơn bào H meleagridis Khi Bradley và Reid (1966) [8] tăng số lượng H meleagridis để gây nhiễm cho gà, trong đường ruột gà không có vi khuẩn E coli, tác giả nhận thấy H meleagridis không
phát triển được Thí nghiệm này đã chứng minh mối quan hệ hiệp đồng giữa hai sinh vật
(H meleagridis và vi khuẩn), phải có mặt cả hai sinh vật này mới gây ra Histomonosis Ganas P và cs (2012) [21] cho biết, sự phát triển của đơn bào H meleagridis
phụ thuộc vào sự có mặt các vi khuẩn, đặc biệt là quá trình chuyển hóa năng lượng
của vi khuẩn Escherichia coli được xác định là có vai trò hỗ trợ mạnh sự phát triển của đơn bào, trong khi Salmonella và Pseudomonas kém hiệu quả hơn Các tác giả
đã kết luận rằng, vi khuẩn đóng vai trò như một nguồn cung cấp năng lượng cho các
Trang 33đơn bào Các thí nghiệm của tác giả đã cho thấy sự lây nhiễm của gà tây với H
meleagridis gây nhiễm trùng gan có liên quan đến vi khuẩn E coli
Các tác giả nghiên cứu về bệnh đầu đen ở gà do H meleagridis gây ra đều cho
biết, tổn thương ở gan và manh tràng là bệnh tích đặc trưng nhất
Manh tràng là vị trí ký sinh chính của mầm bệnh Điều này đã được chứng minh bởi Durant (1930) [18], khi các tác giả thắt chặt manh tràng lại và thấy rằng
Histomonosis không phát triển được, mặc dù gia cầm đã được gây nhiễm bằng cách
cho uống trứng giun kim H gallilarum Qua gây nhiễm, Kemp R L và Springer W
T (1978) [36] đã thấy tổn thương đầu tiên trong manh tràng từ ngày thứ 8 sau khi nhiễm bệnh Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau
đó dịch viêm (trong dịch viêm có hồng cầu, bạch cầu, đơn bào) tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc
Windisch M và Hess M (2010) [65] đã gây nhiễm H meleagridis cho gà khỏe, tổn thương nghiêm trọng thấy trong manh tràng của tất cả gà thí nghiệm khi
mổ khám lúc 7 và 14 ngày sau nhiễm Xét nghiệm các mẫu mô manh tràng tổn thương cho thấy, phản ứng miễn dịch thể hiện rất mạnh ở manh tràng với sự xuất hiện kháng thể IgM, IgG ở mức cao và tăng liên tục kháng thể IgA
Tổn thương gan thường bắt đầu từ ngày thứ 10 Gan sưng to gấp 2 - 3 lần, viêm xuất huyết, hoại tử Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan
lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek (Kemp R L và Springer W T., 1978 [36]) Tổn thương ở các cơ quan khác như túi Fabricius, phổi, lá lách, tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng
Khi mổ khám 56 chim cút đã chết tại một trang trại nuôi chim cút, Mc Dougald L R và cs (2012) [51] cho biết, có 55 con có tổn thương manh tràng điển
Trang 34hình của bệnh đầu đen, chỉ có 3 con có tổn thương nhẹ trong gan Tác giả mổ khám các con chim khỏe mạnh không phát hiện bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào Sự hiện
diện của H meleagridis trong manh tràng đã được chứng minh bởi các thử nghiệm
trong phòng thí nghiệm và PCR
- Biến đổi máu trong Histomonosis
Venkataratnam và Clarkson (1963) [63] đã nghiên cứu ảnh hưởng của
Histomonosis tới các tế bào máu của gà sáu tuần tuổi, kết quả thấy số lượng bạch
cầu trong máu tăng ngay sau khi nhiễm bệnh một ngày và đạt tối đa 70.000/ mm3máu sau khi nhiễm 10 ngày Sự gia tăng bạch cầu bao gồm bạch cầu đơn nhân và bạch cầu ái toan Số lượng các tế bào lympho, bạch cầu ái kiềm và hồng cầu không thay đổi
Khi nghiên cứu sự thay đổi công thức máu của gà 3 tuần tuổi nhiễm bệnh, Wilson và Perie (1967) [64] cũng thu được kết quả tương tự Số lượng bạch cầu cao nhất là 92.000/mm3 vào ngày thứ 10 sau khi gây nhiễm Bạch cầu ái toan và bạch cầu đơn nhân tăng, còn số lượng tế bào lympho không thay đổi
- Nghiên cứu về biến đổi tế bào trong Histomonosis
Reid W M (1967) [54] cho biết, sự xâm chiếm và cư trú đầu tiên của H
meleagridis vào thành manh tràng dẫn đến xung huyết và tăng bạch cầu, cùng lúc lại
có sự tác động của vi khuẩn và Heterakis Khoảng 5 - 6 ngày sau khi nhiễm bệnh, số lượng H meleagridis có thể nhìn thấy như một rào chắn nằm sâu trong các lớp biểu
bì niêm mạc manh tràng Một số lượng lớn tế bào bạch huyết và đại thực bào xâm nhập qua các mô trong khoảng thời gian này Hình thành lõi trong ống ruột, lõi bao gồm các tế bào biểu mô đã bị phá hủy, tơ huyết, hồng cầu và bạch cầu Lõi ban đầu không có hình dạng nhất định và màu đỏ nhẹ, sau 12 ngày chuyển sang khô, hơi vàng
ở lớp vỏ của phần lõi Các chất hoại tử đông lại và sự xâm chiếm mô mở rộng Khoảng 17 - 21 ngày mô ruột đã bị phá hủy hoàn toàn Tổn thương sớm nhất ở gan thấy ở 6 - 7 ngày sau khi nhiễm, bao gồm các tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao
Trang 35Springer W T và cs (1970) [56] cho bết, vi khuẩn tạo điều kiện cho H
meleagridis gây bệnh ở gà và gà tây, do đó có thể dùng kháng sinh để kiểm soát
bệnh đầu đen ở gà Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các vi khuẩn Escherichia coli,
Pseudomonas aeruginosa, Streptococcus và Clostridium perfringens đã cung cấp
các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của đơn bào Histomonas Ở gà tây, sự tương tác của vi khuẩn và H meleagridis ít phức tạp hơn, chỉ cần tác động của một mình vi khuẩn E coli cũng đủ để hỗ trợ sự tiến triển của bệnh đầu đen (Bradley R
E và Reid W M., 1966 [8])
Mc Dougald L R và Hu J., 2001 [47] đã thử nghiệm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh đầu đen cho gà Tác giả cho biết, khi điều trị cho gà bệnh bằng apramycin 300 ppm thấy tổn thương gan giảm đáng kể nhưng tổn thương manh tràng và tăng trọng của gà không đươc cải thiện Các kháng sinh (penicillin, chlortetracycline, tylosin, hoặc sarafloxacin) không có hiệu quả trong việc giảm tổn thương ở gan hoặc manh tràng gà mắc bệnh đầu đen Tuy nhiên, penicillin, tylosin và sarafloxacivafcos tác dụng tốt trong việc cải thiện tăng trọng của gà bệnh Các thuốc có hiệu quả cao đối
với E tenella có thể hỗ trợ trong phòng chống dịch bệnh đầu đen vì E tenella và H
meleagridis có sự tương tác hiệp đồng rất lớn Diclazuril đã được thử nghiệm có tác
dụng rất tốt trong điều trị bệnh cầu trùng do E tenella (Mc Dougald L R và cs.,
1990 [50]) Sau điều trị, tác giả không tìm thấy bất kỳ ocyte cầu trùng nào trong gà bệnh Nicarbazin cũng có hiệu quả cao để điều trị bệnh cầu trùng Tuy nhiên, cơ chế tác động của Nicarbazin với những tác động hiệp đồng của cầu trùng trong bệnh đầu đen ở gà vẫn chưa rõ ràng
Thí nghiệm của De Gussem M và De Gussem J (2006) [14]: trộn paromomycin vào thức ăn cho gà tây từ lúc 1 ngày tuổi đến kết thúc thí nghiệm với
các nồng độ 100 - 400 ppm Gây nhiễm cho gà tây 16 ngày tuổi 700.000 H
meleagridis/2 lần gây nhiễm, cách nhau 15 phút Tỷ lệ chết do Histomonosis (với
các tổn thương bệnh lý) xảy ra từ ngày thứ 6 sau gây nhễm Hầu hết gà chết từ ngày thứ 11 - 17 sau gây nhiễm với tổn thương điển hình ở gan và manh tràng (những nhóm không được bổ sung paromomycin) Riêng với các nhóm được bổ sung
Trang 36paromomycin, tỷ lệ chết, tổn thương gan và manh tràng giảm đáng kể Với nhóm
gây nhiễm nặng nhất (700.000 H meleagridis/gà), tỷ lệ chết đã giảm từ 97,5 %
(trong nhóm gây nhiễm nhưng không được dùng thuốc) đến 10 % ở nhóm được dung thuốc với liều cao Tác giả kết luận rằng, paromomycin có hiệu quả tốt trong
việc phòng chống Histomonosis cho gà tây
Bleyen N và cs (2009) [7] cũng đã nghiên cứu và cho biết, paromomycin rất có
hiệu quả đối với phòng Histomonosis và có ảnh hưởng tốt tới tăng trọng của gà tây
Liebhart D và cs (2013) [39] cho biết, đàn gà mái đã được tiêm phòng
Histomonosis thì sau 2 đến 4 tuần tiếp xúc với mầm bệnh, sản lượng trứng sụt giảm
còn 90 %, trong khi đó đàn gà không được tiêm phòng sản lượng trứng giảm chỉ còn 58,7 %
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
- Đơn bào H meleagridis
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Gà các lứa tuổi, ở các phương thức nuôi khác nhau
- Mẫu bệnh phẩm (gan, manh tràng, lách, túi fabricius, thận, phổi, tim) của gà
bị mắc bệnh đầu đen và gà khỏe
- Đơn bào H meleagridis được phân lập từ các mẫu bệnh phẩm của gà mổ
khám bị mắc bệnh tại các địa phương, được nuôi cấy trong môi trường Dwyer
- Động vật gây nhiễm: gà 4 tuần tuổi khoẻ mạnh, đã tiêm phòng các loại vắc xin
* Môi trường và hoá chất:
- Môi trường Dwyer nuôi cấy đơn bào H meleagridis bao gồm: bột gạo, huyết
thanh ngựa, phôi gà 8 - 10 ngày tuổi, muối (KH2PO4, NaCl, KCl, Na2HPO4)
- Dung dịch formaldehyt 5 % - Dung dịch Barbagallo
- Cồn 90o - Nước muối sinh lý (dung dịch NaCl 0,9 %)
- Dầu bạch dương - Thuốc nhuộm giemsa
* Dụng cụ dùng trong nghiên cứu:
- Kính hiển vi quang học, kính lúp - Bộ dụng cụ lấy máu
- Lam kính, lamen - Dụng cụ mổ khám: Panh kẹp, kéo
- Máy phân tích huyết học Lade tự động
Cellta-Mek-6420K-Nihon Kohden (Nhật Bản)
- Chuồng nuôi gà thí nghiệm
Trang 382.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình tại 4 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên: Phú Bình, Phổ Yên, Võ Nhai, Định Hóa
- Địa điểm bố trí thí nghiệm và xét nghiệm mẫu: Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Khoa Kỹ thuật Nông Lâm
- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thái Nguyên
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2013 đến tháng 7/2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại tỉnh Thái Nguyên
- Tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên
- Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen
- Bệnh tích của gà mắc bệnh đầu đen
+ Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen
+ Bệnh tích vi thể của gà bị bệnh đầu đen
2.3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm
- Kết quả gây nhiễm đơn bào H meleagridis cho gà
- Thời gian xuất hiện triệu chứng lâm sàng của gà gây nhiễm
- Triệu chứng lâm sàng của gà sau gây nhiễm
- Diễn biến thân nhiệt của gà sau gây nhiễm
- Thời gian chết của gà sau gây nhiễm
- So sánh khối lượng, thể tích một số cơ quan nội tạng của gà khỏe và gà gây nhiễm
- Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh do gây nhiễm
- Bệnh tích vi thể các nội quan của gà bị bệnh do gây nhiễm
2.3.3 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm
Trang 392.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở
gà tại tỉnh Thái Nguyên
2.4.1.1 Bố trí thu thập gà để mổ khám
Bố trí thu thập gà mổ khám theo phương pháp lấy mẫu phân tầng (2 tầng) Triển khai tại 4 huyện (thành, thị) của tỉnh Thái Nguyên; mỗi huyện/ thành/ thị chọn 3 xã/ phường/ thị trấn; mỗi xã (phường, thị trấn) mổ khám ngẫu nhiên 50 gà
Dung lượng mẫu thu thập được tính toán theo công thức:
Trong đó:
N: là số mẫu p: là tỷ lệ phân lập (lấy p = 15 %) e: là sai số ước lượng 3,8 % (có thể lấy e = 0,038) z: là độ tin cậy giá trị trong bảng z test ( có thể lấy z = 2,58)
Trang 40* Soi tươi chất chứa và niêm dịch ở manh tràng
* Làm tiêu bản tổ chức học theo quy trình tẩm đúc parafin, nhuộm Hematoxilin - Eosin manh tràng và gan gà bệnh
Các phương pháp cụ thể như sau:
* Quan sát triệu chứng lâm sàng: Trước khi mổ khám gà tại các địa phương,
sử dụng các phương pháp chẩn đoán bệnh cơ bản như quan sát, sờ nắn, đo thân nhiệt để xác định những biến đổi lâm sàng của gà bệnh: triệu chứng toàn thân, mào tích, thể trạng, vận động, da vùng đầu và mép, phân (màu sắc và trạng thái phân)
* Mổ khám bệnh tích
- Trước khi mổ khám, ghi nhật ký thí nghiệm các thông tin: chủ hộ, địa chỉ, ngày lấy mẫu, giống gà, tuổi gà, phương thức chăn nuôi, điều kiện vệ sinh thú y, kiểu nền chuồng, tính biệt, trạng thái và màu sắc phân, các biểu hiện lâm sàng khác (nếu có)
- Phương pháp mổ khám gà: mổ khám gà theo phương pháp mổ khám toàn diện của Skrjabin K I (1928), quan sát bằng mắt thường và kính lúp các nội quan như thận, lách, tim, phổi, đặc biệt là gan và manh tràng để xác định những biến đổi đại thể, chụp ảnh vùng có bệnh tích điển hình
* Phương pháp soi tươi chất chứa và niêm dịch ở manh tràng
manh tràng, lấy một ít niêm dịch và chất chứa trong manh tràng cho lên phiến kính đã
có sẵn 1 giọt nước cất; dùng đũa thủy tinh trộn đều rồi đậy lamen lên để dàn thành một lớp mỏng; sau đó soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40) để
phát hiện H meleagridis qua sự di chuyển của đơn bào nhờ sự vận động của roi
* Phương pháp làm tiêu bản tổ chức học theo quy trình tẩm đúc parafin, nhuộm Hematoxilin - Eosin