Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––––
TẠ VĂN TUẤN
PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––––
TẠ VĂN TUẤN
PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH LONG
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 3
c
Tạ Văn Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ và nhân dân Hàm Yên Tuyên Quang đã tạo mọi điều kiện giúp
, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Tạ Văn Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 5
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 5
1.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 5
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa 13
1.2 Cơ sơ thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 19
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước trên thế giới 19
1.2 22
1.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 28
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 30
Trang 62 30
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 32
2.2.4 Phương pháp phân tích, đánh giá 32
2.2.5 Phương pháp chuyên gia 32
2.2.6 33
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 33
Chương 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG 35
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hàm Yên ảnh hưởng đến đầu tư phát triển nông nghiệp 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Tình hình kinh tế Hàm Yên giai đoạn 2009-2013 37
Hàm Yên - 38
3.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Hàm Yên 41
3.2.1 41
ngành trồng trọt 42
49
53
3.3 Đánh giá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp huyện Hàm Yên giai đoạn 2011 - 2013 56
56
60
62
3.4 Phân tích SWOT chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lầm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Hàm Yên 64
Trang 7Chương 4:
HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG 68
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang từ nay đến năm 2020 68
4.1.1 Bối cảnh 68
Hàm Yên 68
sản xuất hàng hóa 69
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Hàm Yên 73
73
4.2.2 Quy hoạch sản xuất hàng hoá gắn liền với chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 74
4.2.3 Hỗ trợ phát triển về số lượng 76
4.2.4 Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp để năng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá 77
78
4.2.6 Tăng cư 79
79
81
4.3 Một số kiến nghị 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 8NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
ện Hàm Yên 37
3.2: ản xuất nông lâm nghiệ Hàm Yên 41
Bảng 3.3: Diện tích và sản lượng cây lương thự ện Hàm Yên 43
Bảng 3.4: 45
Bảng 3.5: 47
Bảng 3.6: Hàm Yên 48
Bảng 3.7: (Đvt: con) 50
Bảng 3.8: 50
3.9: Hàm Yên 51
3.10: Hàm Yên 52
3.11: ản phẩm lâm nghiệp chủ 53
3.12: ản xuất ngành lâm nghiệ 54
3.13: Hàm Yên 55
3.14: 56
3.15: 57
3.16: ấ 57
3.17: 58
3.18: 58
3.19: 59
3.20: 59
3.21: 60
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3 năm 2011-2013 42
năm 2011-2013 52
năm 2011-2013 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sản xuất nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã hội, là ngành sản xuất để cung cấp nhu cầu tối cần thiết về lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội; cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến; cung cấp hàng hoá xuất khẩu; cung cấp lao động và một phần vốn để công nghiệp hoá Nông nghiệp - nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ; là cơ sở để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, trong đó nổi bật nhất là đảm bảo được an ninh lương thực, từng bước trở thành một trong những cường quốc dẫn đầu về xuất khẩu gạo và đang chiếm lĩnh thị trường thế giới về cà phê, hồ tiêu, hạt điều, thuỷ sản, giầy da, may mặc Với sự phát triển mạnh mẽ của dân cư nông thôn đang từng bước được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, tỷ lệ nghèo đói theo tiêu chí mới đến nay chỉ còn khoảng dưới 15% Mặc dù đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá mạnh theo hướng tích cực, nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 67% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và 1/3 kim ngạch xuất khẩu là từ nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam về phương diện việc làm
và an ninh lương thực Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sản xuất nông nghiệp của nước ta vừa có cả những thời
cơ và thách thức mới
Hàm Yên là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, có điều kiện tự nhiên phù hợp để phát triển cây công nghiệp, cây lương thực, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc gia cầm theo hướng hàng hóa Hàm Yên nói riêng và Tuyên Quang nói chung đang dần từng bước phá thế độc canh đa dạng hóa các mặt
Trang 12hàng nông nghiệp Tuy nhiên, nông nghiệp Hàm Yên vẫn mang tính tự cung
tự cấp, trình độ thâm canh còn thấp, giá trị sản phẩm cây công nghiệp còn thấp, chăn nuôi chưa tập trung, chưa tạo được nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp ổn định và chất lượng cao Chính vì điều này, mà vấn
đề đầu tư trong nông nghiệp càng trở nên cấp bách hơn Mặc dù trong những năm vừa qua, huyện đã có chủ trương đẩy mạnh phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, thực hiện việc quy hoạch, giao đất giao rừng và áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông lâm nghiệp Tuy nhiên trên thực tế, sản xuất vẫn mang tính tự phát, chạy theo thị trường; vấn đề sản xuất hàng hóa có chất lượng và mang tính thương hiệu chưa được coi trọng, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới… vì vậy dẫn đến hiệu quả kinh tế sản xuất còn thấp, chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được những giải pháp đồng bộ, phù hợp để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá ở một huyện miền núi còn mang nặng tính sản xuất tự nhiên nhằm đáp ứng được
yêu cầu thực tiễn đặt ra của tỉnh Vì vậy đề tài “Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang”
là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho mục tiêu tìm ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề nêu trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2020
Trang 13- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa ở huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tại huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2020
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề có liên quan đến nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
và vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông sản hàng hoá… từ đó đưa ra quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu và tài liệu sử dụng trong nghiên cứu đề tài được thu thập từ giai đoạn 2011 - 2013
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài
Với kết quả nghiên cứu của đ tài sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn
đề về lý luận về sản xuất nông lâm sản hàng hoá trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Về mặt thực tiễn đưa
ra được định hướng và những giải pháp chủ yếu có cơ sở khoa học và phù
Trang 14hợp với thực tiễn để phát triển sản xuất nông sản hàng hoá và đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở một địa phương khu vực miền núi
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp của huyện Hàm Yên, phân tích những khó khăn và lợi thế về sản xuất nông lâm sản hàng hoá; từ đó xây dựng quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp thúc đẩy phát triển mạnh sản xuất nông sản hàng hoá huyện Hàm Yên trong thời gian tới Những vấn đề nghiên cứu và đề xuất của đề tài vừa mang tính lý luận vừa có tính thực tiễn sẽ có sự đóng góp tích cực vào việc đề xuất các giải pháp và chính sách phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nói chung và sản xuất nông lâm sản hàng hoá nói riêng
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương chính:
- Chương 1: Tổng quan
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Hàm Yên
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
1.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
1.1.1.1 Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp
- Vị trí, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nền kinh
tế quốc dân Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học, kỹ thuật Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản
Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong
phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển là những nước còn nghèo, đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông Tuy nhiên ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nước đó Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà hiện nay, mặc dù trình độ khoa học – công nghệ ngày càng phát triển nhưng vẫn chưa ngành nào có thể thay thế được
Xã hội càng phát triển, đời sống con người ngày càng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng về số lượng, chất lượng và chủng loại Các nhà kinh tế học đều thống nhất cho rằng, điều
Trang 16kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực Có thể chọn con đường nhập khẩu lương thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợi hơn, nhưng điều đó chỉ phù hợp với các nước như Singapore, Ả rập Saudi hay Brunei mà không
dễ gì đối với các nước như Inđônêxia, Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam là những nước đông dân Các nước đông dân muốn nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ổn định thì phần lớn lương thực tiêu dùng phải tự sản xuất được trong nước Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã
có an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự
ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển thì sẽ khó thu hút được đầu tư để phát triển bền vững, lâu dài
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực thành thị, đặc biệt là ở các nước
đang phát triển Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn Vì thế khu vực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho phát triển công nghiệp và đô thị Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường Khu vực nông nghiệp còn là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai
Trang 17đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì nông nghiệp là khu vực lớn nhất, xét cả
về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra từ thuế nông nghiệp, tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… Những điển hình thành công về sự phát triển ở nhiều nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho công nghiệp Ngoài ra cần phải khai thác các nguồn khác một cách hợp lý, không nên cường điệu quá vai trò của vốn tích luỹ trong nông nghiệp
Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp và dịch vụ Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp
bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển
Nông nghiệp còn là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các
loại nông lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các sản phẩm công nghiệp Vì thế ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông lâm thuỷ sản Xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu, giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng
đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là sơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môt trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, làm ô nhiễm đất và
Trang 18nguồn nước Dư lượng độc tố trong sản phẩm tăng ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Nếu rừng bị tàn phá, đất đai sẽ bị xói mòn, thời tiết, khí hậu thuỷ văn thay đổi xấu sẽ đe doạ đời sống của con người Vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm ra các giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường
1.1.1.2 Hàng hóa và sản xuất hàng hóa
* Hàng hoá là một dạng vật chất được đem ra trao đổi:
Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thoả mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi là mua bán Hàng hoá có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng
Từ khái niệm đó ta thấy một sản phẩm sản xuất ra được đem ra trao đổi mới được gọi là hàng hoá; song trao đổi được thì sản phẩm đó đã có một giá trị nhất định (giá trị trao đổi) và sản đó thoả mãn được nhu cầu nào đó của người tiêu dùng (giá trị sử dụng)
Như vậy, sản phẩm hàng hoá trên thị trường chịu sự chi phối của hai quy luật: Quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Nếu sản phẩm cung vượt cầu thì sản phẩm đó hoặc là thừa hoặc phải chịu bán với giá thấp, chịu thua lỗ
Ở khía cạnh khác, cùng một loại sản phẩm lưu thông trên thị trường nhưng sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, có giá cả hợp lý, rẻ hơn thì sản phẩm đó được tiêu thụ dễ dàng Sản phẩm kém chất lượng, giá cả cao, cung cấp không ổn định thì sản phẩm đó bị thừa ế, thua lỗ, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường hàng hoá
* Sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hoá đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của mỗi nước So với nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, kinh tế hàng hoá có nhữg ưu thế nổi bật Vì trong nền sản xuất hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra là để bán nên nó chịu sự chi phối của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh, buộc các tập thể sản xuất, người sản xuất
Trang 19phải tổ chức lại sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, thay đổi mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của
xã hội Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất và càng tạo điều kiện cho nền sản xuất công nghiệp hoá, hiện đại hoá ra đời
Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội gắn liền với hai điều kiện: Sự phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu Phân công lao động xã hội không mất đi mà ngày càng phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu (Hợp tác quốc tế và khu vực, thị trường chung, hội nhập kinh tế, WTO ) Hình thức sở hữu cũng được thay đổi để phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất
Sự chuyên môn hoá và phân công hợp tác quốc tế đã trở thành một yêu cầu tất yếu ngay cả trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Ở nước ta, kinh tế hàng hoá đã ra đời nhưng đang trong dạng sản xuât hàng hoá nhỏ và đang từng bước thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển theo chiến lược kinh tế mở: Đưa nhanh cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại làm cho trình độ xã hội hoá sản xuất ngày càng được mở rộng Sản xuất hàng hoá không chỉ dựa trên cơ
sở điều kiện tự nhiên, kinh tế kỹ thuật mà đã tính đến khả năng liên kết quốc
tế Chính sự giao lưu và hợp tác quốc tế đã làm cho nền kinh tế hàng hoá nước ta có những bước phát triển mới
1.1.1.3 Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
* Phát triển kinh tế sản xuất nông nghiệp hàng hoá bền vững là một đặc trưng cơ bản trong cơ chế thị trường hàng hoá
Nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển bền vững phải dựa trên mấy tiêu chí:
+ Bền vững về mặt sản xuất: Sản phẩm được tạo ra không những phải khai thác được lợi thế tự nhiên của khu vực (đất đai, khí hậu, thời tiết ) lợi thế về mặt kinh tế (lao động, vốn, trình độ sản xuất, cơ sở hạ tầng hiện có )
Trang 20về mặt xã hội và môi trường (tạo ra được sự liên kết trong nông thôn, xây dựng nông thôn mới và cải tạo được môi sinh môi trường )
+ Bền vững về thị trường tiêu thụ: Sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của thị trường trong nước và xuất khẩu về khối lượng, chất lượng và giá cả có tính cạnh tranh cao Có thị trường tiêu thụ ổn định và tạo khả năng mở rộng thị trường mới.Thị trường ở đây được hiểu là thị trường tiêu dùng sản phẩm cùng thị trường nguyên liệu sản phẩm cho công nghiệp chế biến
+ Bền vững về môi trường kinh tế - xã hội nông thôn: Sản xuất sản phẩm hàng hoá (sản phẩm chuyên môn hoá) phải gắn với phát triển sản phẩm
đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và sử dụng lao động, tài nguyên tại chỗ, phải là sản phẩm sạch đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, không gây ô nhiễm môi trường, phá hoại môi trường, môi sinh
+ Gắn được sản xuất, chế biến với môi sinh môi trường nông thôn mới, tạo điều kiện xây dựng một cơ cấu kinh tế mới phù hợp, bền vững: Gắn được sản xuất với chế biến để vừa sử dụng được nguyên liệu tại chỗ, giảm được chi phí vận chuyển, thu hút được lao động tại chỗ, tạo thêm được việc làm Đa dạng hoá sản phẩm nhằm sử dụng tiềm năng đa dạng của điều kiện tự nhiên, đất đai và lao động của từng địa phương, tăng thu nhập cho hộ gia đình, tạo điều kiện để sản phẩm hàng hoá phát triển thuận lợi, hiệu quả
* Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá bền vững là một quá trình
từ một nền nông nghiệp truyền thống,phân tán, lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém lên một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại một nền kinh tế mở, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Ở một nền sản xuất nông nghiệp như nước ta sản xuất hàng hoá phải đi từng bước vững chắc, không chủ quan nóng vội, duy ý chí nhưng không thể ngồi chờ, phải tạo ra thế và lực để phát triển
Trang 21Đi từng bước vững chắc, trước hết phải giải quyết tốt nhu cầu tiêu dùng tại chỗ bằng cách đa dạng hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm Phát huy nội lực của mình, bằng thâm canh tăng năng suất, bằng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến tăng nhanh sản phẩm vừa đáp ứng tiêu dùng vừa có sản phẩm trao đổi Khi đã tạo được thế đứng vươn lên làm giàu, lựa chọn sản phẩm vừa có nhu cầu trên thị trường, vừa có lợi thế của địa phương để sản xuất hàng hoá Khi đã có hàng hoá, có chỗ đứng của hàng hoá rồi mở rộng sản xuất, phát huy cao lợi thế, từng bước đi vào chuyên môn hoá, tranh thủ ngoại lực để phát triển Đó là bước đi của một nền nông nghiệp hàng hoá phát triển bền vững Giai đoạn nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững Đặc trưng của nó là nền nông nghiệp được thương mại hóa và chuyên môn hóa cao, khối lượng hàng hóa nhiều và chủng loại hàng hóa phong phú, có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cho phép hình thành và phát triển các vùng cây con chuyên môn hóa và thâm canh với quy mô lớn, cơ cấu sản xuất hợp lý, khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng, từng địa phương; thị trường được mở rộng
cả trong và ngoài nước Mục đích của sản xuất nông nghiệp hàng hóa là tối đa hóa lợi nhuận, sản phẩm trở thành hàng hóa đã được xác định từ trước khi quá trình sản xuất diễn ra Do đó, sản xuất cái gì và sản phẩm như thế nào không phải xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất mà xuất phát từ nhu cầu người mua, của thị trường Thời kỳ này được tự do thương mại hóa nên con người sản xuất tìm mọi cách đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào công nghiệp hoá
và hiện đại hoá sản xuất nhằm làm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm để tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường
Vai trò của Nhà nước ở thời kỳ này chủ yếu là thiết lập hệ thống luật pháp, chính sách về thị trường, đào tạo cán bộ, cung cấp hàng hóa công cộng,
tổ chức hệ thống dự báo, thông tin cho các cơ sở sản xuất, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh nông nghiệp
Trang 22* Chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi có lợi thế:
Xuất phát từ đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp là đa dạng về tự nhiên và sinh học, để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp hàng hóa phát triển, tăng khối lượng nông lâm sản hàng hóa, điều quan trọng là phải lựa chọn và phân
bố chuyên môn hóa các giống cây, vật nuôi thích hợp cho từng vùng theo hướng cây, con có lợi thế cạnh tranh
- Cây, con được lựa chọn phải thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và môi trường, với khả năng canh tác của từng vùng, tiểu vùng, từng hộ gia đình về khả năng đầu tư và trình độ sản xuất, phát huy khai thác nội lực, tranh thủ ngoại lực
- Cây con được lựa chọn phải có khả năng phát triển tập trung, quy mô lớn để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường hay nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong vùng hoặc liên vùng, trong huyện và liên huyện một cách ổn định
- Cây con được lựa chọn trước mắt lợi dụng những cơ sở hạ tầng sẵn có như cơ sở chế biến, đường giao thông, đường điện để giảm chi phí sản xuất
và tiêu thụ nhưng về lâu dài phải tiếp thu được kỹ thuật mới và cơ sở hạ tầng mới, nguồn nhân lực mới để tăng được năng lực cạnh tranh trên thị trường Quá trình hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững là quá trình thực hiện mục đích tối đa hóa lợi nhuận và cũng là quá trình tái sản xuất hàng hoá mở rộng, ổn định
Hiện nay trên thế giới, tùy điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi nước, mà nền nông nghiệp đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau; ở nước
ta hiện nay về căn bản vẫn là một nước nông nghiệp, hàng hóa nhỏ với một trình độ sản xuất nông nghiệp hàng hóa lạc hậu, chuyên môn hóa thấp, khối lượng nông sản hàng hóa được sản xuất ra chưa tương xứng với tiềm năng
Do vậy, đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp hàng hóa ở nước ta trong thời
Trang 23gian tới không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là một thuộc tính bền vững lâu dài của chính sự phát triển nền kinh tế - xã hội theo hướng XHCN Đối với nông nghiệp ở nước ta hiện nay, một số vùng, địa phương, bên cạnh sản xuất tự cung tự cấp cũng đã có một số sản phẩm trở thành hàng hóa với những quy mô và trình độ phát triển khác nhau như chè, cà phê, cao su, trâu
bò, gà, lợn, nuôi trồng thủy sản Các chính sách của Nhà nước cần có những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện phát triển của mỗi vùng thì có thể đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa
Phát triển nông nghiệp hàng hóa có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó tạo cơ sở cho các ngành trong nền KTQD phát triển, làm tăng khả năng tích lũy và làm biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn Chính vì vậy việc phát triển nông nghiệp hàng hóa là yêu cầu bức thiết trước mắt cũng như lâu dài đối với các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đạt trình độ cao còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố Có thể xem xét các nhân tố chủ yếu sau:
* Thứ nhất: Nhân tố thị trường
Thị trường có vai trò vừa là điều kiện, vừa là môi trường của kinh tế hàng hóa; nó thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng, khối lượng nông sản hàng hóa tiêu thụ trên thị trường, nó điều tiết (thúc đẩy hoặc hạn chế) quan hệ kinh
tế của cả người quản lý, nhà sản xuất và người tiêu dùng thông qua tín hiệu
giá cả thị trường Chính cái "phong vũ biểu" giá cả thị trường sẽ cung cấp tín
hiệu, thông tin nhanh nhạy để điều tiết hành vi kinh tế của các chủ thể kinh tế sao cho có lợi nhất Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường có tác dụng định hướng cho người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, thay đổi mặt hàng, thay đổi kỹ thuật sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường Thị trường ngày càng phát triển góp phần làm cho nông nghiệp hàng hóa cũng ngày càng đa dạng, phong phú Nó cũng lựa chọn, đòi hỏi cao về số lượng và
Trang 24chất lượng, phong phú về chủng loại nông sản hàng hóa Nhân tố thị trường ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đây được xem xét trên 2 góc độ: Thị trường đầu vào và thị trường đầu ra
Thị trường đầu vào: Bao gồm đất đai, lao động, khoa học, công nghệ
sản xuất, vốn trong đó đặc biệt là thị trường đất và lao động Cũng như các hàng hoá khác, đất đai và lao động cũng trở thành hàng hoá
- Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất
ra sản phẩm, nó vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động và là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được; hiệu quả của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất đai Xác định rõ quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho một cá nhân hoặc một nhóm và như vậy nó tạo ra các chủ thể sản xuất thực sự làm chủ các tư liệu sản xuất, làm chủ trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm chủ đối với nông sản phẩm và tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường Việc cho phép nông dân được quyền sử dụng đất sản xuất lâu dài thì nguồn tài nguyên đất đai mới sử dụng có hiệu quả, được bảo vệ và phát triển độ màu mỡ trong quá trình khai thác, phát huy hết khả năng kinh doanh nông nghiệp của mình Mặt khác, quá trình mua - bán, luân chuyển, chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ dẫn đến đất đai vận động theo hướng tập trung, hình thành nên các trang trại, đồn điền, có quy mô sản xuất hàng hóa phù hợp, đem lại lợi nhuận cao Người nông dân làm chủ sử dụng đất là điểm khởi đầu cho sự phát triển nông nghiệp hàng hóa
- Cũng như đất đai, sức lao động là một trong hai yếu tố cơ bản cấu thành quá trình sản xuất và tái sản xuất nông nghiệp Mở rộng thị trường lao động chính là môi trường tạo nên sự chuyển dịch người lao động từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ việc làm không hiệu quả sang việc làm có hiệu quả hơn, tạo điều kiện để phân bố sức lao động hợp lý, phù hợp với khả năng, trình độ của người lao động trong nông nghiệp Chính sự phân công lao động và chuyên môn hóa lao động trong nông nghiệp là cơ sở và là điều kiện để hình thành và
Trang 25Mặt khác, thị trường lao động có được phát triển hay không, nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào một mặt là trình độ dân trí, khả năng lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tính chất cần cù, thông minh Trên trực tế, trình độ của người sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp hàng hóa phải cao hơn người sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế tự nhiên, biểu hiện họ là những người dám kinh doanh làm giàu cho mình và cho xã hội Họ dám bỏ sức lực và tiền của vào sản xuất cái gì có khả năng nhất, có hiệu quả nhất Để thực hiện điều
đó, đòi hỏi người sản xuất cần phải có những kiến thức cơ bản về khoa học - công nghệ, về quản trị kinh doanh, biết tiếp cận và nghiên cứu thị trường, nhận biết nhu cầu của thị trường, từ đó biết lựa chọn những cây, con nào được người tiêu dùng đánh giá cao và có sức mua lớn
Một mặt khác là sản xuất có được mở rộng hay không? có được chuyển đổi từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá hay không? điều này lại phụ thuộc vào thị trường đầu vào, phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học công nghệ sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật và cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ sử dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật sản xuất Tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp được biểu hiện những nội dung cơ bản sau:
- Ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học vào sản xuất
- Hoàn thiện hệ thống quy trình kỹ thuật sản xuất, quy trình công nghệ bảo quản, chế biến sản phẩm
- Tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng cải tạo đất, sử dụng nguồn nước phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường
- Tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng các phương tiện hóa học như phân bón, thuốc bảo vệ cây trồng vật nuôi, thuốc kích thích tăng trưởng, vật liệu hóa học xây dựng
- Những tiến bộ liên quan đến người lao động nông nghiệp bao gồm: Trình độ văn hóa, trình độ quản lý, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ lành nghề, trình
độ tiếp cận thị trường
Trang 26- Tiến bộ kỹ thuật trong việc trang bị và sử dụng các phương tiện cơ khí như: Máy chuyên dụng hay là công cụ lao động nói chung; hệ thống các công trình thủy lợi; các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất như đường
xá, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, nhà xưởng, kho bãi
Các nhân tố nêu trên được coi là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, chính
là "giá đỡ vật chất", là bộ xương sống của sản xuất, là nhân tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái của sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản Ngày nay, ở các nước kinh
tế phát triển, khoa học- công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi và nó đã ảnh hưởng, tác động rất lớn đến trình độ, quy mô phát triển nông nghiệp hàng hóa Trong nền sản xuất hàng hóa, vốn là một trong những yếu tố quan trọng để tiến hành sản xuất kinh doanh Vốn ở đây được xét theo nghĩa hẹp, nó được biểu hiện một lượng tiền mặt nào đó, nó có thể biến thành một nguồn lực cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Thực tế cho thấy, tốc độ và quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hóa tùy thuộc vào mức thu nhập và khả năng tích lũy vốn của các đơn vị, các chủ thể sản xuất kinh doanh nông nghiệp cũng như sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước ở cả hai khía cạnh tỷ trọng vốn đầu tư và chính sách đầu tư Do đó, vốn và việc sử dụng vốn có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa Đối với doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hoặc hộ nông dân, muốn nâng cao trình độ sản xuất hàng hóa thì không những cần có lượng vốn đầu tư đủ lớn mà quan trọng là cần phải biết cách nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn Nhưng trên thực tế cả hai vấn
đề này các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn; hộ nông dân là những người có ít vốn đầu tư và trình độ sản xuất kinh doanh cũng như trình độ quản lý thấp Do vậy, muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp hàng hóa đòi hỏi phải có sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước thông qua hệ thống tài chính, tín dụng và các hình thức huy động vốn khác
Có như vậy mới tạo ra sự đột phá để đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp
Trang 27Thị trường đầu ra: Việc xây dựng thị trường đầu ra cho nông nghiệp
hàng hóa là cơ sở để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển sản xuất hàng hoá Trong nền sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra là nhằm để bán và trao đổi trên thị trường chứ không phải phục vụ nhu cầu của cá nhân Do vậy, điều kiện cơ bản để các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình là phải xác định được thị trường đầu ra, tìm kiếm được khách hàng và lựa chọn được phương thức tiêu thụ sản phẩm thông qua các hợp đồng kinh tế cụ thể Thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, đó có thể là các doanh nghiệp công nghiệp (các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản), các doanh nghiệp thương mại (các nhà bán buôn, bán lẻ, các đại lý ) và những người tiêu dùng nông, lâm sản thông qua các chợ nông thôn các đại lý tiêu thụ, các cơ sở chế biến công nghiệp tiêu thụ
ở thị trường nước ngoài thông qua các nhà xuất khẩu các hợp đồng kinh tế, khả năng khai thác và mở rộng thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp là nhân tố hết sức quan trọng quyết định quy mô và trình độ phát triển nông nghiệp hàng hóa
* Thứ hai: Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Trong nông nghiệp đối tượng của sản xuất là những cây trồng và vật nuôi Nó là những cơ thể sống, phát triển theo quy luật sinh học nhất định, rất nhạy cảm với những yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết - khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến năng suất và chất lượng sản phẩm Trong quá trình sản xuất, người lao động phải nghiên cứu rất cụ thể đặc tính sinh học của các loại cây trồng, vật nuôi liên quan đến điều kiện tự nhiên, nơi định bố trí sản xuất loại cây trồng, vật nuôi
đó để bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng tự nhiên cụ thể mới đưa lại hiệu quả kinh tế và chất lượng Chính vì vậy, đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa, đòi hỏi phải nghiên cứu tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng,
Trang 28từng địa phương Mặt khác, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các vùng lãnh thổ đã hình thành nên các vùng cây con đặc sản có lợi thế cạnh tranh rất cao Đây cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa cần phải nghiên cứu để tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên trong sản xuất hàng hóa nông nghiệp
* Thứ ba: Nhóm nhân tố thuộc về tthể chế, chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Chính sách kinh tế vĩ mô có ý nghĩa tạo ra môi trường kinh doanh để hình thành nền nông nghiệp hàng hóa Vì thế, nếu chính sách đúng đắn, thích hợp nó sẽ phát huy được tính năng động của các chủ thể sản xuất - kinh doanh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và ngược lại nếu các chính sách kinh tế vĩ
mô của Nhà nước không đúng đắn, không thích hợp nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển nông nghiệp hàng hóa Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước thông qua các chính sách để điều tiết thị trường theo định hướng XHCN như: Chính sách đất đai, chính sách đầu tư và tín dụng, chính sách khoa học- công nghệ, chính sách tiêu thụ nông sản các chính sách này vừa tạo điều kiện phát triển sản xuất, vừa tạo điều kiện thu hút, đầu tư để thúc đẩy
sự hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa
Phát triển khoa học- công nghệ, cung cấp dịch vụ thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng: hệ thống đường giao thông, điện, thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc , cung cấp vốn, tín dụng Những vấn đề này thể hiện
sự can thiệp và trợ giúp của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và là nhân
tố không thể thiếu được trong phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững Các nhóm nhân tố nêu trên có mối quan hệ cùng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển bền vững, trong mỗi nhóm nhân tố đều có mặt tích cực riêng song nếu giải quyết không đồng bộ thì sản xuất hàng hoá hoặc không phát triển được hoặc không bền vững
Trang 29Đối với nền nông nghiệp Việt Nam, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, với việc từng bước tham gia các thị trường AFTA, và WTO, thì tất yếu khách quan phải chuyển dịch nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng sang sản xuất hàng hóa Vì thế, nghiên cứu để thực thi một
hệ thống thể chế pháp lý và chính sách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Vì có phát huy được lợi thế so sánh, nhằm làm tăng các loại sản phẩm, giá trị sản xuất hàng hóa ngành nông nghiệp, thỏa mãn ngày càng cao về nhu cầu nông sản phẩm cho sản xuất, đời sống và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
1.2 Cơ sơ thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
ở một số nước trên thế giới
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc rất lớn vào kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Dưới đây xin tóm
chuyển đổi cơ cấu nông lâm nghiệp nhằm thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.1.1
Trong sản xuất nông nghiệp, Trung Quốc chú trọng đặc biệt tới sản
xuất lương thực với quan điểm "phi lương bất ổn" Do vậy Trung Quốc đặt
sản xuất lương thực lên hàng đầu và tập trung mọi nguồn lực để sản xuất lương thực tăng trưởng nhanh và ổn định
Sau khi đảm bảo lương thực vững chắc, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh
cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, trong đó chú trọng phát triển cây công nghiệp và phát triển nghề rừng, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, đẩy mạnh công nghiệp chế biến và dịch vụ nông nghiệp
Trang 30Trung Quốc có sự đầu tư khá bài bản và chu đáo cho công tác khoa
học-kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp, đặc biệt là công tác lai tạo giống cây trồng, vật nuôi Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, năng suất cây trồng, vật nuôi của Trung Quốc tăng lên rất nhanh
Để khai thác thế mạnh của từng địa phương, Trung Quốc đã thành lập
các "Xí nghiệp hương trấn" Các xí nghiệp hương trấn bao gồm nhiều thành
phần kinh tế Xí nghiệp Hương trấn được coi là Quốc sách để xây dựng cơ cấu kinh tế nông thôn trong thời kỳ cải cách Nó vừa là động lực vừa là mục tiêu thúc đẩy quá trình phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn
theo quan điểm: "Ly nông, bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành" (Đặng Kim Oanh, 2007)
1.2
Nông nghiệp của Đài Loan được phát triển ngay từ đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX với 3 chính sách lớn: Cải cách ruộng đất, cải tiến kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và kiến thiết xã hội nông thôn
Chính sách cải cách ruộng đất ở Đài Loan là nhân tố có tính quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Đài Loan sớm thừa nhận thị trường chuyển nhượng và cho thuê quyền sử dụng đất, do vậy sự tích tụ, tập trung ruộng đất để hình thành các trang trại nông nghiệp qui mô lớn phát triển khá nhanh
Đài Loan đặc biệt quan tâm đầu tư cho công tác khoa học-kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp, đặc biệt là công nghệ chọn tạo giống và công nghệ vi sinh Đến nay, Đài Loan có nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất chất lượng cao như: Lúa, mía, vải, các loại rau, lợn nạc, gà
Từ năm 1973, Đài Loan thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp, Chính phủ
đã chi 2 tỷ NTD (New Taiwan Dolas) đầu tư cho các công trình hạ tầng, cải thiện điều kiện vận chuyển tiêu thụ sản phẩm
Về chính sách tín dụng, Đài Loan cải thiện điều kiện vay vốn tín dụng Đài Loan chú trọng xây dựng các tổ chức tín dụng của các Hiệp hội nông dân
Trang 31(Farmers Association) Thông qua các Hiệp hội nông dân, các chủ trang trại
và nông dân vay vốn phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản rất thuận lợi
Về chính sách thị trường, Đài Loan không chủ trương xuất khẩu sản phẩm thô mà chú trọng phát triển công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu Tại thị trường nội địa, Đài Loan xây dựng các chợ đấu giá nông sản, qua đó nông dân nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác về nhu
cầu của thị trường và giá cả các mặt hàng nông sản (Đặng Kim Oanh, 2007) 1.2
Nhật Bản có điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội lúc xuất phát khá giống nước ta: Đất đai manh mún, bình quân ruộng đất trên đầu người thấp, 2/3 dân
số sống dựa vào nông nghiệp Ngày nay, Nhật Bản là một trong những nước phát triển hàng đầu về nông nghiệp Kinh nghiệm về phát triển và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở Nhật Bản là:
- Chính sách an ninh lương thực: Ngay sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản đã coi sản xuất nông nghiệp và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
là quan trọng hàng đầu, đặc biệt là phải giải quyết cơ bản vấn đề lương thực Thực hiện chính sách an ninh lương thực, Nhật Bản đã tập trung đầu tư cho chương trình cải tạo 1,55 triệu ha đất để phát triển sản xuất lương thực và thực hiện định cư cho 1 triệu hộ nông dân Sau 5 năm thực hiện chính sách, từ năm 1949 trở đi Nhật Bản đã cơ bản giải quyết được vấn đề lương thực
- Chính sách cải cách ruộng đất: Trong cải cách ruộng đất, Nhật Bản ban hành chính sách buộc các điền chủ có diện tích trên 1 ha phải bán lại cho nông dân Thực hiện chính sách này, Nhật Bản đã xoá bỏ được quyền chiếm dụng đất bất hợp lý và thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho những nông dân không có đất canh tác
- Nhật Bản là một trong những nước đi đầu thế giới về phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp Được sự đầu tư đủ mạnh của Chính phủ, các cơ sở nghiên cứu đã đưa ra hàng loạt giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao đứng hàng nhất, nhì thế giới
Trang 32- Trong điều kiện đất đai canh tác hạn hẹp, Nhật Bản ban hành chính sách trợ giá gạo và tiến hành chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát huy lợi thế để sản xuất hàng hoá đổi lấy lương thực, đẩy mạnh
phát triển chăn nuôi gắn với công nghiệp chế biến công nghệ cao (Đặng Kim Oanh, 2007)
1.2
Nông nghiệp Thái Lan trong những năm gần đây là tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với đa dạng hoá nông nghiệp, Thái Lan thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá như sau:
- Tăng nhanh diện tích trồng trọt và sản lượng các loại cây trồng "mới"
như: Lúa miến, sắn, mía đường và các loại ngũ cốc khác ngoài lúa gạo
- Đẩy mạnh phát triển ngoài trồng trọt như chăn nuôi, đánh cá và phát triển lâm nghiệp
- Để phát triển sản xuất nông nghiệp hướng ra xuất khẩu, Thái Lan đã thực hiện các chính sách kích thích bằng lợi ích kinh tế như: Tài trợ đầu vào, thực hiện ưu đãi về thuế và tín dụng đối với những mặt hàng mới để giảm rủi
ro khi tham gia thị trường trong nước và thế giới
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để khuyến khích phát triển sản xuất đã dạng hoá sản phẩm, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho sự phát triển của các loại sản phẩm mới và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
- Tập trung triển khai các công trình nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào trồng trọt, chăn nuôi và công nghiệp chế biến
1.2.2.1 Chu
, có diện tích đất tự nhiên hơn 600 nghìn ha, bao gồm nhiều tiểu vùng khí hậu, thích hợp cho phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi; trong đó vùng cao Sa Pa, Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai
có thể phát triển các loại cây trồng ôn đới và nuôi cá nước lạnh (cá hồi, cá
Trang 33tầm) có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp ở Lào Cai cũng gặp nhiều khó khăn do địa hình bị chia cắt mạnh, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,5% so với diện tích tự nhiên, trình độ sản xuất
và khả năng đầu tư cho sản xuất của nhân dân còn hạn chế do tỷ lệ đói nghèo
ở khu vực nông thôn còn khá cao Ðể khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế đất đai, khí hậu, tỉnh Lào Cai đã xây dựng chương trình và các đề án thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chủ động sản xuất và cung ứng giống tốt, tăng nhanh giá trị thu nhập trên một đơn
vị canh tác Theo đó, tập trung khai thác triệt để tiềm năng về đất đai, khí hậu, nhu cầu của thị trường, thực hiện 'liên kết 4 nhà' để nâng cao hiệu quả sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Phát triển mạnh các loại cây trồng vật nuôi tạo ra vùng tập trung khối lượng nguyên liệu lớn, phát triển công nghiệp chế biến để tạo nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng mang thương hiệu Lào Cai, có sức cạnh tranh cao trên thị trường Những loại cây trồng, vật nuôi cần tập trung phát triển đó là: chè, thuốc lá, cao-su và rau sạch, hoa cao cấp mang đặc
trưng vùng khí hậu ôn đới (Trần Đình Tuấn, Trương Mạnh Hùng (2007); http://www.laocai.gov.vn/rss/index.php?pageid=23581&topicid=645&pagenum)
Về cây chè, hiện toàn tỉnh có hơn 4.000 ha chè, chủ yếu là chè đặc sản Tuyết San và chè giống mới chất lượng cao như Bát Tiên,
Ðông, với tổng sản lượng gần 10.000 tấn sản phẩm Nhờ trồng giống mới chất lượng cao, đổi mới công nghệ chế biến, xây dựng thương hiệu đặc trưng nên ngành sản xuất và chế biến chè Lào Cai đã đứng vững và phát triển, giúp người nông dân vùng cao có thu nhập ổn định và làm giàu
Tỉnh Lào Cai đề ra mục tiêu phát triển 2.000 ha cây thuốc lá vào năm
2011, đồng thời mở rộng diện tích, bảo đảm đủ lượng nguyên liệu để xây dựng
tạo nguồn thu cho hàng nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 34Lào Cai có lợi thế để phát triển mạnh cây cao-su, đã hợp tác với Tập đoàn Cao-su Việt Nam để tiến hành trồng, xây dựng nhà máy chế biến cao-su Với quy mô trồng hơn 11.500 ha trong ba năm, từ 2011 - 2013, để có đủ vùng nguyên liệu xây dựng nhà máy chế biến cao-su
Các loại cây ăn quả ôn đới cũng là thế mạnh của Lào Cai vì có lợi thế về khí hậu, đất đai ở vùng cao như Sa Pa, Bắc Hà Mường Khương Ngành nông nghiệp đã khảo nghiệm thành công nhiều loại giống cây ăn quả có chất lượng,
có giá trị kinh tế cao, thích nghi với đất dốc, như lê Tai Nung (Ðài Loan), đào chín sớm và nho Pháp Hiện ở Sa Pa và Bắc Hà, nông dân đã trồng đại trà và cho sản phẩm ra thị trường, đạt giá trị cao gấp 4 - 5 lần giống cũ Trong 5 năm tới, sẽ phát triển thêm khoảng 1.000 ha cây ăn quả ở vùng cao có chất lượng tốt, chín sớm, có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của nước ngoài và khoảng 2.000 - 2.500 ha cây ăn quả ở vùng thấp, chủ yếu là các cây chuối, dứa để bán cho thị trường của Trung Quốc Rau an toàn và hoa cao cấp là loại cây trồng đang đem lại giá trị kinh tế cao Hiện đang có hàng chục Công ty của Ðài Loan (Trung Quốc) và doanh nghiệp trong nước đầu tư trồng các loại rau, quả trái vụ và hoa cao cấp như hoa ly, hoa hồng, phong lan tại Sa Pa Tỉnh Lào Cai đã tạo cơ chế, chính sách cho thuê đất ruộng của nông dân, chuyển đổi đất
dự án trồng rừng kém hiệu quả sang trồng rau, hoa cao cấp để thu hút đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp Riêng ở Sa Pa hiện có gần 400 ha rau chất lượng cao, trong đó 80% cho xuất khẩu, còn lại cung cấp cho các siêu thị trong nước
Bên cạnh đó, Lào Cai tập trung phát triển chăn nuôi đại gia súc ở địa bàn vùng cao Tiếp tục cải tạo tập quán chăn nuôi lạc hậu ở vùng cao; cải tạo chất lượng đàn gia súc để có sản phẩm hàng hóa tốt như đàn trâu, bò Khôi phục đàn ngựa để phát triển sản phẩm hàng hóa (vì thịt ngựa dễ bán và đàn ngựa ít bị dịch bệnh và chết rét) Phát triển mạnh các mô hình sản xuất gia súc, gia cầm công nghiệp và bán công nghiệp như mô hình nuôi gà lạnh, mô
Trang 35hình sản xuất lợn thịt công nghiệp Tiến hành khảo sát và mở rộng sản xuất cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm) ở vùng cao
động từ nông nghiệp sang sản xuất các ngành nghề khác, thông qua các chương trình phát triển hàng hóa cây trồng, vật nuôi gắn với việc xây dựng các cơ sở chế biến sẽ tạo ra rất nhiều công việc để giúp cho nông dân chuyển
từ sản xuất nông nghiệp sang các lĩnh vực khác Mặt khác, khuyến khích mạnh hơn việc phát triển các ngành, nghề truyền thống hoặc nghề mới như làm du lịch cộng đồng , để dần từng bước chuyển một phần số lao động nông nghiệp truyền thống sang làm các ngành nghề khác, hoặc thu nhập của các hộ gia đình nông dân từ các ngành nghề khác chiếm hơn 55% thu nhập của gia đình, đáp ứng về chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp Hình t
hình thức tổ chức sản xuất
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp với các chương trình sản xuất hàng hóa cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề nông thôn theo các chương trình của tỉnh sẽ tạo ra nhu cầu hợp tác của người nông dân, hợp tác giữa nông dân với các doanh nghiệp, từ đó các hình thức hợp tác sản xuất được phát triển Phát triển mô hình các hợp tác xã để chế biến tiêu thụ các loại sản phẩm hàng hóa như rau, hoa, gạo, thủy sản, dược liệu Mặt khác, phát triển nhiều loại ng
, nâng đỡ để phát triển các hình thức liên kết sản xuất và chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Trang 36lệ, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp bình quân đạt 7,08%/năm Cơ cấu nội ngành nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực, tăng tỷ trọng chăn nuôi - dịch vụ, giảm tỷ trọng trồng trọt Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2009 đạt 216.000 tấn, ước năm 2010 đạt 220.000 tấn, bằng 110% mục tiêu Giá trị sản xuất ước năm 2010 đạt 22 triệu đồng/ha, bằng 110% mục tiêu đề án Đề
án đã tạo ra động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, làm thay đổi tư duy của nông dân trong sản xuất nông nghiệp, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững (Trần Đình Tuấn, Trương Mạnh
Hùng (2007); http://www.laocai.gov.vn/rss/index.php?pageid=23581&topicid=645&pagenum)
1.2
, diện tích đất tự nhiên 7.923 km2 Phía Bắc và Tây bắc giáp Trung Quốc với 274 km đường biên giới, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng và phía Tây giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái.Về phạm vi hành chính, Hà Giang có
10 huyện và một thị xã Dân số 68 vạn người gồm 22 dân tộc Trong đó đứng đầu là dân tộc Hmông chiếm 31,3%, Tày chiếm 26%, Dao chiếm 15%, Kinh 11,9% còn lại là các dân tộc khác như Nùng, Pà thẻn, La Chí, Lô Lố… Toàn tỉnh có tới 6 huyện nghèo nhất cả nước và 115/195 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn Xác định việc thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm
vụ hàng đầu; phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, năng suất, chất lượng, hiệu quả; chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi, chế biến nông sản thực phẩm, đảm bảo ổn định và an ninh lương thực trên địa bàn Gắn phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn với tiêu thụ sản phẩmMục tiêu sản xuất nông nghiệp của tỉnh Hà Giang là tiếp tục tập trung mạnh vào ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, chỉ đạo quyết liệt khâu thâm canh để tạo chuyển biến mới về năng suất, chất lượng các loại cây trồng, đồng thời hoàn chỉnh quy hoạch sản xuất nông, lâm, nghiệp (NLN) cấp xã làm cơ sở sản xuất theo quy mô hàng
Trang 37hoá Thực hiện gắn kết giữa “4 nhà” nhằm đảm bảo đầu ra ch
-343.000 tấn (vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Tỉnh Đảng bộ là 83.000 tấn) Các mô hình được chú trọng là: Nhân rộng diện tích cây cải dầu lên 16.000 ha trong năm 2010, 1 vạn ha cây cao su vào năm 2015; trồng cỏ phục
vụ chăn nuôi ở các địa phương, đồng thời đẩy nhanh tiến đ
7,5 t
Cây
Trang 38, nuôi 5 con trâu, 30 con dê, 15
/năm
(Trần Đình Tuấn, 2000); http://www.hagiang.gov.vn/rss/index.php? pageid=12383&topicid=133&pagenum )
1.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu về quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang nhƣ sau:
Trang 39+ Để dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và nông thôn phải tìm mọi cách để giảm tỷ trọng sản phẩm và lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và nông thôn trong tổng sản phẩm và lao động xã hội
+ Chuyển dịch nền nông nghiệp độc canh theo hướng phát triển mạnh công nghiệp nông thôn với nhiều hình thức đa dạng
+ Mở rộng và phát triển hệ thống dịch vụ ở nông thôn là xu thế phổ biến
ở nhiều nước trong khu vực và thế giới
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế , nông thôn gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững
+ Chú trọng thực hiện cách mạng khoa học-kỹ thuật trong nông lâm nghiệp, nông thôn
+ Vai trò của nhà nước luôn mang tính quyết định về định hướng, chiến lược, kế hoạch hoá, thông tin, đầu tư, tổ chức thực hiện, điều tiết, kiểm tra, kiểm soát đối với dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp, nông thôn
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
:
?
Hàm Yên
? 3
Hàm Yên cần phải thực hiện các giải pháp gì?
2.2 Các phương pháp nghiên cứu