Tuy nhiên do khuôn khổ hạn chế của một luận văn, chúngtôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát tư liệu về những từ ngữ chỉ hình tượng ngườianh hùng, người quân tử xuất hiện trong hai cuốn Đường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tõ TIÕNG H¸N SANG TIÕNG VIÖT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Thơ Đường là một thành tựu rực rỡ của văn học đời Đường, văn học TrungQuốc nói riêng hay văn học thế giới nói chung Cho tới nay, ước tính cókhoảng 48900 bài thơ Đường của hơn 2300 tác giả.Thơ Đường vừa có bềrộng, lại vừa có nội dung sâu sắc Nhắc đến thơ Đường, chúng ta không thể bỏ
qua những tên tuổi nổi tiếng như: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu
Thơ Đường vừa có nét độc đáo, cổ điển lại vừa mang màu sắc Trung Quốc rõnét, thể hiện đầy đủ, tập trung ở nhiều thể loại thơ khác nhau Không chỉ vậy,thơ Đường còn mang ý nghĩa hiện đại Trong thơ Đường, chúng ta bắt gặphình tượng người anh hùng, người quân tử đóng vai trò quan trọng trong nềnvăn hoá Trung Quốc và là đề tài bất tận mang lại nguồn cảm hứng cho nhiềutác giả Cho tới nay đã có rất nhiều tác giả dịch thơ Đường có liên quan tớimảng đề tài này, có thể kể ra như các bản dịch thơ Đường của các dịch giảnhư: Phan Huy Vịnh, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Công Trứ, Trương Minh Ký,Nguyễn Khuyến
Ngôn ngữ trong thơ Đường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ (bài ngắn nhất 20 chữ: ngũ ngôn tuyệt cú) Do đó thơ Đường rất súc tích, côđọng Ít khi thơ chịu nói hết ý, và không nói trực tiếp, mà chỉ dựng lên hàngloạt các mối quan hệ để cho độc giả tự suy luận, tức chỉ “vẽ mây” để “nẩytrăng”, ý ở ngoài lời, ý đến mà bút không đến, bút dừng mà ý không dừng, lờihết mà ý chưa hết…Cho nên để hiểu cặn kẽ thơ Đường là rất khó, nhất là hiểucho được hết ý nghĩa biểu trưng của các hình tượng Do đó, việc nghiên cứu vềvấn đề chuyển dịch từ ngữ từ Hán sang Việt luôn là một việc làm thiết thựccủa các nhà nghiên cứu
Làm tốt công tác nghiên cứu dịch thuật từ Hán sang Việt cũng là cách đónggóp ý nghĩa vào sự nghiệp xây dựng con người mới và nền văn hóa mới
Không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi chọn đề tài: Về việc dịch các từ ngữ có tính ẩn dụ liên quan đến hình tượng người anh hùng, người quân tử trong
Trang 4hay càng khó dịch Vì cái hay của nguyên tác đa diện quá, đa dạng quá, sứcchứa phong phú quá, người dịch làm sao chuyển tải nổi Đối với thơ Đường thìviệc dịch lại càng khó khăn hơn nhiều Bởi đó phần nhiều là những bài thơ “ýtại ngôn ngoại”, tình cảm sâu xa, diễn đạt bằng vài trang lời văn chưa chắc đãhết, nói chi đến việc gói gọn trong vài dòng thơ tiếng Việt Mặt khác cũng là
để nhìn nhận lại một trong rất nhiều cách tiếp nhận Đường thi ở Việt Nam –cách tiếp nhận
của những người làm công tác dịch thuật”
2.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong Thơ Đường có rất nhiều tác giả mà tác phẩm của họ đã ghi lại dấu ấnkhông thể phai mờ Tuy nhiên do khuôn khổ hạn chế của một luận văn, chúngtôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát tư liệu về những từ ngữ chỉ hình tượng ngườianh hùng, người quân tử xuất hiện trong hai cuốn Đường Thi tuyển dịch củatác giả Lê Nguyễn Lưu (Nhà xuất bản Thuận Hóa), cuốn
Đường Thi Tam Bách Thủ (Hành đường thoái sĩ, Trần Uyển Tuấn, Ngô VănPhú, Nhà xuất bản Hội nhà văn) và một số những bài thơ của các tác giả
Nguyễn Khuyến, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nguyễn Công Trứ…
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu về vấn đề dịch các từ ngữ có tính ẩn dụ từ Hán sangtiếng Việt liên quan đến hình tượng người anh hùng, người quân tử, luận vănnày bước đầu đi vào tìm hiểu, phân tích rõ hơn và các phương pháp chuyểndịch từ ngữ từ Hán sang Việt Đây là một đề tài mang tính liên ngành, hi vọngđóng góp phần tìm hiểu rõ hơn về các tác phẩm thơ Đường
Để đạt mục đích trên, nội dung nghiên cứu của luận văn gồm ba phần: 1 Cơ sở
lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu, 2 Tìm hiểu vấn đề chuyển dịch ý nghĩa
từ ẩn dụ chỉ hình tượng người anh hùng, người quân tử từ tiếng Hán sang tiếngViệt, 3 So sánh cách sử dụng từ ẩn dụ chỉ hình tượng người anh hùng, ngườiquân tử của một số tác giả Việt Nam
Trang 54 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
Để mô tả, phân tích và tiến hành tìm hiểu về vấn đề dịch các từ ngữ có tính ẩn
dụ từ tiếng Hán sang tiếng Việt liên quan đến hình tượng người anh hùng,người quân tử, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, phân tích vàđối chiếu, lấy tiếng Hán làm ngôn ngữ nguồn, tiếng Việt làm ngôn ngữ đích Tài liệu mà luận văn sử dụng để phục vụ cho đề tài này là một số các tác phẩmthơ Đường của những nhà thơ nổi tiếng đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, ĐàoUyên Minh, Vi Ứng Vật…Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các bản dịchcủa một số dịch giả Việt Nam
5.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là ở chỗ giúp ích việc chuyển dịch các tác phẩmvăn học Từ đó nhằm đóng góp cho các nghiên cứu về mối quan hệ trongngôn ngữ và tư duy, quan hệ giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Việt Nam –Trung Quốc
6.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận
- Chương II: Vấn đề chuyển dịch từ ngữ từ Hán sang Việt (Có liên
quan đến hình tượng người anh hùng, người quân tửtrong thơ Đường)
- Chương III: Cách tiếp nhận ẩn dụ chỉ hình tượng người anh hùng,
người quân tử trong thơ Đường ở Việt Nam
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trang 61.1 Thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ
khuynh hướng sau đây:
a Khuynh hướng thần thánh hoá thơ ca Khuynh hướng này cho thơ làmột cái gì đó thuộc về thần linh tối cao, do thượng đế sáng tạo rồi nhập vàocon người Ở Việt Nam, một số nhà thơ của phong trào Thơ Mới chịu ảnhhưởng của quan niệm này luôn coi thơ là những hình thức nguyện cầu để trở
về với Thượng đế.Sống trong xã hội đương thời, bế tắc, thi sĩ làm thơ coi thơchỉ là những lời than vãn, những tiếng kêu than xót xa khẩn cầu lên đấng tốicao những nguyện ước của người sống trong cõi trần ai bất hạnh
b Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng hình thức chủ nghĩa khi địnhnghĩa thơ ca Khuynh hướng này tuy không duy tâm siêu hình nhưng lại lýtưởng hoá thơ ca Từ chỗ đề cao quá mức tới chỗ coi thơ ca là cõi vô biêntuyệt đối, là cái nơi mà con người không thể vươn tới được
Ở Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền, một nhà thơ lãng mạn cũng đã từng nêu raquan điểm ấy Thơ sẽ còn lại mãi mãi để nhắc nhở cho thời đại, cho lịch sử,cho những người đang sống và những người kế tiếp rằng hành động
của họ chưa đạt tới đích do thơ ca phóng ra
c Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng quan tâm tới mặt phản ánh củathơ, tới sự sáng tạo – hay là tính chất nghệ thuật độc đáo của thơ Ví dụ, nhà
thơ Tố Hữu cho rằng “Thơ là biểu hiện tính chất của cuộc sống” Xuân Diệu
Trang 7thì quan niệm “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự phản ánh vào trong tâm tình” [11, tr.17]
Những quan niệm trên đây tuy đã đề cập tới mặt bản chất của thơ ca và đã nêuđược phần nào vai trò quan trọng của con người trong sự sáng tạo nghệ thuật.Song về cơ bản vẫn chưa nêu được những đặc trưng riêng biệt của thơ ca vớicác thể loại khác
Hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ
Nhà văn Gooc-ki đã từng khẳng định “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Thơ là một thể loại của văn học, vậy không thể có thơ nếu không có
ngôn ngữ Nói cách khác, trong thơ ngôn ngữ là yếu tố quan trọng nhất mà nếunhư thiếu nó thì thơ không còn lý do để tồn tại nữa
Nhưng so với các thể loại khác như văn xuôi, kịch, thơ lại có những đặc điểmngôn ngữ riêng Một trong những phương thức làm nên những đặc điểm ấy làPhương thức tạo hình và phương thức biểu hiện
Phương thức tạo hình của ngôn ngữ thơ
Bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào khi tồn tại cũng phải có hai mặt: Mặt phảnánh (nói về đối tượng) và mặt biểu hiện (thể hiện sự sáng tạo của con người).Hai mặt này bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với nhau và tồn tại không tách rờivới nhau Tuy nhiên, do đặc trưng của từng thể loại, loại hình nghệ thuật, dođặc điểm phong cách của từng nghệ sĩ, có khi mặt này hoặc mặt kia được nổilên vị trí hàng đầu, còn mặt còn lại thì bị đẩy xuống hàng thứ yếu
Ví dụ, người ta thường gọi các ngành như hội hoạ, điêu khắc là các ngànhnghệ thuật tạo hình Còn các ngành như nhảy múa, âm nhạc, văn học…là cácngành nghệ thuật biểu hiện Tất nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, ngay trongnghệ thuật vẫn có tính chất biểu hiện và ngược lại, trong ngành nghệ thuậtcũng có tính chất tạo hình Có điều là, ở mỗi ngành nghệ thuật, chất liệu xâydựng nên phương thức tạo hình là hoàn toàn khác nhau
Trang 8Chẳng hạn, để làm nên phương thức tạo hình thì các nhà nghệ sĩ ở ngành hộihoạ phải dung màu sắc, ở ngành điêu khắc phải dùng ngôn ngữ Cho nên, ngônngữ chính là cái chất liệu mà các nhà thơ sử dụng để làm nên tính chất tạo hìnhtrong thơ
Một đặc điểm nổi bật của phương thức tạo hình là phản ánh trực tiếp đốitượng, nghĩa là miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan.Một tác phẩm thơ ca có tính chất tạo hình là một tác phẩm đem đến cho ngườiđọc những bức tranh sinh động về cuộc sống, hiện thực và thực tế khiến người
ta có thể cảm nhận được Muốn như vậy, nhà nghệ sĩ phải sử dụng hai thao tác
cơ bản là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp.Thao tác lựa chọn cho phép nhànghệ sĩ lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ như là các bức tranh riêng lẻ về hiệnthực Thao tác kết hợp cho phép nhà nghệ sĩ xây dựng những bức tranh chungrộng lớn hơn bằng việc kết hợp những bức tranh riêng lẻ này lại với nhau theonhững quy luật nhất định Tài năng của nhà nghệ sĩ được đánh giá ở chỗ, vớimột số lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ, anh ta phải làm như thế nào đó đểtạo được những bức tranh vô hạn về thế giới khách quan cũng như về thế giớinội tâm của con người
Khi hoạt động với tư cách là chất liệu của ngành nghệ thuật tạo hình thì chứcnăng định danh của ngôn ngữ sẽ nổi lên hàng đầu Trong trường hợp này, tính
đa dạng về ngữ nghĩa, tính giàu có về mặt biểu tượng sẽ bị khử bỏ [11, tr.18]
Phương thức biểu hiên trong ngôn ngữ thơ
Phương thức biểu hiện chính là việc khai thác các khả năng biểu hiện của cácđơn vị ngôn ngữ thông qua thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp trong quátrình tổ chức văn bản Thao tác lựa chọn cho phép nhà nghệ sĩ lựa chọn mộtđơn vịtrong một loạt các đơn vị có giá trị tương đương với nhau, có thể thaythế nhau trên trục dọc Thao tác kết hợp nhà nghệ sĩ, sau khi đã lựa chọn, cóthể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà
ngôn ngữ dân tộc cho phép [11,tr.19]
Trang 91.1.2 Ngôn ngữ và cấu tạo hình tượng thơ
Trong bộ môn lý luận văn học, hiện nay thuật ngữ “hình tượng” và “tính hình tượng” vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Ngay cả trong các công trình
nổi tiếng, nhưng khái niệm này cũng không được bàn đến một cách
thấu đáo.Vậy “hình tượng” là gì và “tính hình tượng” là gì?
Theo tác giả Hữu Đạt [11,tr 32] thì “hình tượng” được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa hẹp, “hình tượng” là cách biểu hiện làm cho lời nói
thêm cụ thể và có nhiều màu sắc Các định nghĩa cổ truyền thường xác định
“hình tượng” là “sự phản ánh hiện thực một cách khái quát dưới hình
thức đơn lẻ”
Nói như Goocki, “Hình tượng nghệ thuật…hầu như bao giờ cũng rộng hơn và sâu hơn tư tưởng, nó hản ánh cuộc sống con người với cuộc sống tinh thần nhiều hình nhiều vẻ cùng với tất cả những mâu thuẫn về tình cảm và ý chí của
nó Tác phẩm nghệ thuật đối với cuộc sống thực tế và sinh động hơn…”
Khi phân tích thơ, việc đầu tiên chúng ta cần phân biệt rõ giữa cái gọi là hìnhtượng nghệ thuật chung và hình tượng văn học nói chung Vì rõ ràng là khôngphải chỉ có văn học mới có hình tượng và mới phản ánh cuộc sống bằng hìnhtượng Điêu khắc, hội họa, âm nhạc đều có những hình tượng riêng của nó, tức
là phản ánh cuộc sống theo cách riêng mang tính chất đặc thù của mình Ta cóthể định nghĩa hình tượng văn học như sau:
“Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sinh động nhất của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ”
“Tính hình tượng là cái tồn tại phụ thuộc vào văn cảnh, nó tồn tại ở bề mặt văn bản, trên những mối quan hệ cụ thể, còn hình tượng là cái thuộc về cấu trúc chiều sâu của văn bản Nó là sự tổng hòa hay là sự đồng hiện của tất
cả những cái hình tượng của văn cảnh ấy Nói một cách khác, hình tượng
là cái nằm ở phía trong của những mối quan hệ.” [11, tr.15]
Trang 101.2 Khái niệm về ẩn dụ
1.2.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ẩn dụ
Ẩn dụ là một hiện tượng đã được nghiên cứu từ thời cổ đại (khoảng thế kỷ thứ
IV trước công nguyên) ở nhiều cấp độ khác nhau Ẩn dụ không chỉ đượcnghiên cứu trong các lĩnh vực thuộc về ngữ văn học, mà còn được nghiên cứu
ở nhiều các lĩnh vực khác như: triết học, tâm lý học, phong cách học, từ vựnghọc và gần đây nhất là dụng học và ngôn ngữ học tri nhận
Lý thuyết về ẩn dụ bắt đầu hình thành từ thời triết học Hy Lạp Ẩn dụ theotiếng Hy Lạp lúc bấy giờ là (metaphor) có nghĩa là chuyển từ chỗ này sangmột chỗ khác, tức có nghĩa là chuyển đổi Sau này khái niệm chuyển đổi ấyđược vận dụng vào việc xác định nghĩa của từ theo phương thức ẩn dụ là hiệntượng chuyển nghĩa Trong ẩn dụ một sự vật được miêu tả hay được địnhnghĩa bằng những từ biểu thị một sự vật khác, có sự tương đồng hay sự giốngnhau với sự vật trước
Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Trung Hoa cổ đại thì ẩn dụđược thể hiện qua cách chỉ sự ví von, bóng bẩy và thường ẩn chứa trong lờikhởi đầu của các bài ca dao dân ca sau này và được ghi lại rất nhiều trong cáctác phẩm Kinh Thi nổi tiếng
Đến thời hiện đại cũng xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhàngôn ngữ học về ẩn dụ Có thể kể ra như: R.Jakobon, J.Cohen, và sau này làGeorge Lakoff và Mark Johnson…Nếu như quan niệm truyền thống chỉ xem
ẩn dụ như là một phương tiện sáng tác của thơ ca hay nghệ thuật hùng biện
Ẩn dụ chỉ được xem như là vấn đề của ngôn ngữ hơn là của tư duy và hànhđộng, thì đến những năm gần đây George Lakoff và Mark Johnson trong tácphẩm “Metaphors we live By” (1980) đã cho rằng ẩn dụ tồn tại không chỉtrong ngôn ngữ mà còn hiện hữu trong tư duy và hành động
Ở Việt Nam, ẩn dụ đã được các nhà Việt ngữ học, các nhà nghiên cứu văn họccũng như phong cách học quan tâm nhiều Có thể kể đến một số công trình
Trang 11nghiên cứu với các tác giả tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,Hữu Đạt, Nguyễn Văn Tu, Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Nguyễn ĐứcTồn…
1.2.2 Một số quan niệm về phép ẩn dụ
Trong tiếng Việt đặc biệt là trong thơ ca Việt Nam từ xưa tới nay việc sử dụngcác biện pháp tu từ luôn đóng một vai trò quan trọng Nó không chỉ giúp thểhiện được nội dung, chủ đề của người nói mà còn có vai trò lớn trong việc tạodựng nên giá trị nghệ thuật bền vững cho mỗi tác phẩm, làm cho sức diễn đạtvừa trong sáng, súc tích, “ý tại ngôn ngoại” lại vừa thể hiện được cái hồn cuảthi nhân Chính vì thế khi nhắc đến các tác phẩm văn chương ta không thểkhông kể tới vai trò của các biện pháp tu từ
Phép tu từ vốn được hiểu là cách dùng các từ ngữ đã được gọt rũa, có hình ảnhbóng bẩy làm cho lời thơ, lời văn hay hơn, ý thơ, ý văn trong sáng, giản dị giàusức biểu cảm và nâng cao hiệu quả của việc diễn đạt
Có rất nhiều các biện pháp tu từ đã được sử dụng trong thơ ca cũng như trongcác văn bản tiếng Việt từ xưa tới nay như: so sánh, nhân hoá, hoán dụ, thậmxưng, liệt kê, câu hỏi tu từ…Mỗi phép tu từ này đều đem lại những giá trị nghệthuật, sức biểu cảm và giá trị thẩm mĩ riêng Ngoài các biện pháp tu từ kể trên
có một biện pháp mà nhờ nó các tác giả đã tạo nên phong cách đặc biệt chomỗi tác phẩm nghệ thuật của mình – Đó là phép ẩn dụ
Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến lýthuyết ẩn dụ Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam cho rằng khi nghiêncứu về lý thuyết ẩn dụ cần xem xét ở hai góc độ
Thứ nhất: Ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của các đơn vị từ vựng Nếu xem xét ở góc độ này, dựa vào mối quan hệ tương
đồng giữa sự vật và đối tượng thì ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của từ vựnghọc Ẩn dụ không chỉ được thể hiện ở một từ, một câu mà có thể ẩn dụ được
Trang 12sử dụng làm khung chiếu vật cho cả một đoạn văn, một khổ thơ hay cả một bàithơ
Theo các công trình nghiên cứu về ẩn dụ trong và ngoài nước cho đến nay, ẩn
dụ thường được xem là phép chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữahai sự vật có sự tương đống hay những nét giống nhau nào đó Tiếng Hy Lạp
“Metaphor” lúc đầu có nghĩa là chuyển từ chỗ này sang một
chỗ khác, tức có nghĩa là “chuyển đổi”
Chẳng hạn, tác giả Đỗ Hữu Châu lý giải hiện tượng ẩn dụ bằng cơ chế chuyển
đổi trường nghĩa từ vựng Ông quan niệm “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng”[7, tr 54] Cơ chế chuyển đổi nghĩa của ẩn dụ được ông
miêu tả như sau:
“ Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật A vốn làtên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật của A) Phương thức ẩn dụ là phương
thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y, nếu như X và Y giống nhau….” [7, tr 145]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào
sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”.[19, tr 162]
Nguyễn Văn Tu nêu ra định nghĩa: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên gọi của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan
hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các vật khác nhau”.[60, tr 159]
Tác giả Hữu Đạt cũng nhấn mạnh: “Ẩn dụ là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất, hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với lối so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và
Trang 13phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh… ” [12 , tr 143]
Có thể thấy các nhà ngôn ngữ học Việt Nam phần nào đánh giá và nhìn nhận
về ẩn dụ như là một phương thức chuyển nghĩa cơ bản của từ Qua nhiều bàiviết của mình, tác giả Hữu Đạt đều khẳng định ẩn dụ chính là một sự so sánh
ngầm Tương tự, tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng : “Bản chất của phép ẩn
dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển địa điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này, sang sự vật hiện tượng khác loại dựa trên có sở sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng” [58, tr 12]
Cả tác giả Hữu Đạt và tác giả Nguyễn Đức Tồn đều chỉ ra rằng bản chất của ẩn
dụ chính là một phép so sánh ngầm Về thực chất chỉ có sự đồng nhất, hoặctương đồng hoàn toàn thì người ta mới có thể sử dụng cái này để thay thế chocái khác được
* Quan niệm thứ hai xem Ẩn dụ là một biện pháp tu từ nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người Ở góc độ này thì ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, ẩn dụ được xem như là biện pháp tu
từ lâm thời (ẩn dụ tu từ), vì thế nó được khảo sát ở những ngữ cảnh cụ thể
gắn liền với những văn bản Ẩn dụ không chỉ xuất hiện trong thơ văn mà nóxuất hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội, trên các phương tiện thông tin đạichúng Vì thế ẩn dụ là một bộ phận hợp thành của sự sáng tạo ngôn ngữ và khảnăng nhận thức của con người về thế giới khách quan
Vì vậy tác giả Đinh Trọng Lạc phát biểu: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang
ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được dùng chuyển sang cho A.[31, tr 52]
Trang 14Còn tác giả Cù Đình Tú thì nói : “Ẩn dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng” [62, tr 179]
Tác giả Hữu Đạt nói kỹ hơn: “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy thực chất của phép ẩn dụ là dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy của ngôn ngữ dân tộc” [12, tr 302 ]
Ở luận văn này, này chúng tôi đưa ra cách hiểu về ẩn dụ như sau: “Ẩn dụ là phép tu từ trong đó dùng tên gọi của sự vật, hiện tượng này để biểu hiện cho sự vật, hiện tượng khác khi mà giữa 2 sự vật, hiện tượng đó có những nét tương đồng dựa trên một cơ chế liên tưởng nào đó Nói cách khác ẩn dụ chính là sự so sánh ngầm trong đó vế được so sánh bị ẩn đi Giá trị chủ yếu của ẩn dụ là biểu cảm, nó được sử dụng nhiều trong ngôn
ngữ và đặc biệt là trong các tác phẩm văn học”
1.2.3 Phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ
Trong Việt ngữ học có rất nhiều cách phân loại ẩn dụ dựa trên những cơ sởkhác nhau từ đó dẫn đến các kiểu , loại ẩn dụ khác nhau Có thể dẫn ra một sốtác giả với những cách phân loại tiêu biểu sau đây:
* Tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng có 2 loại ẩn dụ dựa trên cơ sở sau:
+ Thứ nhất: Khi hai biểu vật có cùng nét nghĩa nào đó như nhau nên được tưduy đồng nhất hoá với nhau nhưng chỉ có một biểu vật đã có gọi tên Ẩn dụloại này được cố định hoá trong hệ thống ngôn ngữ, được dựa vào từ điển và
được toàn dân sử dụng được gọi là ẩn dụ định danh (hay ẩn dụ từ vựng)
+ Thứ hai: Khi hai biểu vật có cùng nét nào đó như nhau, đều vốn đã có têngọi riêng nhưng trên cơ sở tư duy liên tưởng đồng nhất hoá chúng có thể lấytên gọi của sự vật này thay thế lâm thời cho tên gọi của sự vật kia Ẩn dụ loại
Trang 15này được sử dụng như một biên pháp tu từ nhằm là tăng sức gợi hình, gợi cảm
và giá trị thẩm mĩ cho sự diễn đạt Những ẩn dụ này được gọi là ẩn dụ lâm
thời và thường mang ý nghĩa biểu trưng
Theo đó: Ẩn dụ từ vựng là phương thức phát triển nghĩa mới của từ, trong đónghĩa mới tạo thành là một ý nghĩa từ vựng ổn định chứ không lâm thời Nhưvậy ẩn dụ từ vựng có chức năng từ vựng hoá là chủ yếu Nhìn chung ẩn dụ từvựng là sự chuyển nghĩa mang tính chất xã hội, ổn định và cố định Nhữnghiện tượng chuyển nghĩa này được cả cộng đồng sử dụng ngôn ngữ thừa nhận
và sử dụng như nhau
Bên cạnh đó ẩn dụ từ vựng còn có một loại ẩn dụ thứ hai cũng được sử dụngphổ biến và rộng rãi đó là ẩn dụ tu từ Ẩn dụ tu từ được sử dụng rộng rãi vàphổ biến trong thơ ca dân gian, nó gắn liền với phong cách thời đại và phong
cách dân tộc
* Tác giả Đỗ Hữu Châu đƣa ra các kiểu ẩn dụ
+ Ẩn dụ hình thức: là những ẩn dụ có được dựa trên sự giống nhay về hình
thức giữa các vật.Vd: những ẩn dụ trong các từ “chân” trong “chân bàn, chân núi, chân tường”, từ “mũi” trong “mũi thuyền, mũi dao”…là những ẩn
dụ chỉ hình thức
+ Ẩn dụ cách thức: Là ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức thực
hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng
+ Ẩn dụ chức năng: Là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa
các sự vật Vd: cửa trong cửa sông, cửa rừng…
+ Ẩn dụ kết quả: Là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các
sự vật đối với con người Trong ẩn dụ kết quả có một loại ẩn dụ được chú ý đặc biệt đó là ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác này để gọi tên những cảm giác của giác quan khác hay những “cảm giác” của trí tuệ, tình cảm
Trang 16* Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” cho rằng có các kiểu ẩn dụ sau đây:
+ Ẩn dụ hình thức: Vd: mũi là một bộ phận của con người có đặc điểm nhọn,
có phần nhô ra Vì thế phần đất nhô ra cũng được gọi là “mũi đất” + Ẩn dụ
chuyển tính chất của sự vật này sang sự vật hoặc hiện tượng khác
Ví dụ:
Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
+ Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó.Vd:
Tình cảm khô khan, lời nói ngọt ngào
+ Ẩn dụ chức năng: Vd “Bến” trong bến xe, bến đò, bến sông…tất cả các từ
này đều thể hiện một chức năng giống nhau là đầu mối giao thông
+ Ẩn dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài: Vd: Người phụ nữ đẹp được
gọi là Tây Thi
+ Ẩn dụ màu sắc: VD: màu da trời – màu xanh như da trời, màu cánh sen –
màu hồng như màu của cánh sen…
+ Ẩn dụ chuyển tên gọi của con vật thành con người: VD: con cún con của mẹ,con cún con của anh…
+ Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng: VD: hạt nhãn là cái cụ thể chỉ phần bêntrong của quả, nó cũng được dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của mộtvấn đề
* Tác giả Hữu Đạt trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” –
NXBQG 2000 cho rằng: Trong thực tế ngôn ngữ chúng ta thường gặp các kiểu ẩn dụ khác nhau và cụ thể có 3 kiểu loại sau đây Ẩn dụ nhân hoá, ẩn
dụ tượng trưng và ẩn dụ ngụ ngôn
Trang 17Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà gọi ẩn dụ nhân hoá là kiểu
ẩn dụ được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa người với vật Cụ thể đó làphép ẩn dụ được hình thành dựa trên cơ chế chuyển nghĩa giữa trường về conngười và trường về sự vật Theo đó ẩn dụ nhân hoá bao gồm 2 quan hệ biệnchứng đó là:
+ Gán cho con người những hành động cảm nghĩ như đồ vật
+ Gán cho đồ vật những hành động, cảm nghĩ giống con người Ví
dụ:
“ Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi”
( Ca dao) Tác giả Hữu Đạt coi “Ẩn dụ tượng trưng là ẩn dụ được dùng đi, dùng lại nhiều lần trở thành các hình ảnh có giá trị hình tượng” Chẳng hạn người ta
+ “ Mắt phượng”, “mày ngài”….biểu thị cho vẻ đẹp và nét mặt người con gái
+ “ Thắt đáy lưng ong”, “dáng liễu” để biểu thị người con gái có dáng đẹp Vd: “ Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”
( Nguyễn Công Trứ)
- Ẩn dụ ngụ ngôn: Đây là loại ẩn dụ dùng cách nói để nêu ra những giá trị,giáo lý về đạo đức về cách ứng xử giữa con người với con người trong xã hội.Một số tác giả gọi đó là phúng dụ Ẩn dụ ngụ ngôn là những triết lý nhân sinh
đã được đúc rút từ nghìn năm
Trang 18Ví dụ: “ Cà cuống uống rượu la đà
Bao nhiêu ếch nhái nhảy ra chia phần”
Trên đây là cách phân loại ẩn dụ của một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ Quanniệm và cách phân loại về ẩn dụ tu từ của các nhà ngôn ngữ học được trìnhbày theo những cách khác nhau không hề mâu thuẫn, đối lập mà chúng bổsung cho nhau đem lại những cách hiểu thống nhất và đầy đủ nhất về ẩn dụ tu
từ
Với những quan điểm khác nhau về ẩn dụ, chúng tôi chọn quan điểm của tác
giả Hữu Đạt làm cơ sở cho sự nghiên cứu và khảo sát các tư liệu ẩn dụ về hình tượng người anh hùng, người quân tử
1.3 Vài nét về thơ Đường
1.3.1.Khái quát chung về thơ Đường
Ðến nay, giới nghiên cứu văn học Trung Quốc đã thống kê sưu tầm được nămmươi ngàn bài thơ Ðường của hai ngàn ba trăm tác giả Vì sao Ðường thi pháttriển mãnh liệt như vậy? Ðời Ðường, nước Trung Quốc độc lập và thống nhấtsau thời gian dài bị chia cắt và lệ thuộc Tình hình đó kích động cảm hứngsáng tạo cho nhà thơ Ðô thị phồn vinh tạo điều kiện truyền bá văn học vàcung cấp cho thơ ca nhiều đề tài phong phú
TheoTrần Bá Hải viết trong cuốn Đường Thi học dẫn luận thì Thơ Ðường chia
ra bốn giai đoạn Sơ - Thịnh - Trung – Vãn
Thời kỳ Sơ Đường
Trang 19Sơ Ðường là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho thơ, còn mang nặng tính chất uỷ
mỵ với bốn nhà thơ nổi tiếng: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Tân vàLạc Tân Vương Cuộc đời họ gặp nhiều bất hạnh nhưng trong thơ vẫn cónhững tình cảm tích cực lành mạnh Sau đó, Trần Tử Ngang đề xướng chủtrương khôi phục tinh thần phong nhã và đặt nền móng cho thơ hiện thực.Nhược điểm của thời kỳ này là khi viết về chiến tranh, âm hưởng chủ đạo của
họ là khẳng định, ca ngợi
Thời kỳ Thịnh Đường
Thịnh Ðường là giai đoạn rực rỡ nhất của thơ, đạt đến sự thống nhất hoàn mỹgiữa nội dung và hình thức với nhiều nhà thơ lớn Mặc dù thơ Ðường khá đadạng phong phú, ta cũng tạm chia họ ra hai trường phái dựa trên đề tài: pháiđiền viên và phái biên tái
Vương Duy và Mạch Hạo Nhiên là đại biểu lớn của phái điền viên với nghệthuật cao, đôi khi phản ánh được những nét chân thực của sinh hoạt nông thôn
và vẻ đẹp của thế giới tự nhiên, song nhìn chung còn xa rời cuộc sống thực(Bác Hồ có viết bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi: Thơ xưa yêu cảnh thiênnhiên đẹp, Mây gió trăng hoa tuyết núi sông )
Phái biên tái: Hầu như nhà thơ nào cũng viết về chiến tranh, về cảnh biêncương khốc liệt, đặc biệt là miêu tả tâm trạng và đời sống của chinh phu, chinhphụ Có người thiên về ca ngợi như Cao Thích, Sầm Tham, đa số thiên về phêphán như Vương Xương Linh, Lí Kỳ và tiêu biểu nhất là Lí Bạch với cảmquan nhạy bén đã sớm phát hiện ra dấu hiệu suy vong của nhà Ðường nấp sau
vẻ phồn thịnh đương thời
Thời Trung Đường
Ðến thời Trung Ðường, có thể coi Ðỗ Phủ là chiếc cầu nối giữa Thịnh Ðường
và Trung Ðường Thơ ông phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu rộng Hiệntượng nổi bật sau này là phong trào thơ phúng dụ trữ tình của Bạch Cư Dị thểhiện sự đồng tình sâu sắc với nhân dân và phản ánh sinh động mâu thuẫn giai
Trang 20cấp gay gắt trong xã hội (nổi tiếng với bài "Tì bà hành") Trong khi đó, một sốnhà thơ vẫn sáng tác theo lối điền viên Liễu Tôn Nguyên làm thơ ngụ ngôn rất
sở trường, phản ánh nỗi khổ của dân chúng và phê phán bọn thống trị Do bấtmãn, u hoài, bực bội đôi khi ông rơi vào hư vô Lí Hạ là nhà thơ có biệt tài xâydựng tứ thơ độc đáo, hình ảnh kỳ lạ, từ ngữ mới mẻ (quỉ tài)
Thời Vãn Đường
Ðến thời Vãn Ðường vẫn còn nhiều nhà thơ tài năng xuất hiện với cảm hứngÐạo giáo, có ít nhiều tiến bộ như Tào Nghiệp, Ôn Ðình Quân, Lý Thương Ẩn
và Ðỗ Mục, chia thành nhiều nhóm "lãng mạn" khác nhau [64, tr.27]
1.3.2.Thành tựu về nội dung và nghệ thuật của thơ Đường
Thành tựu về nội dung
Các tác giả sách Lịch sử văn học Trung Quốc viết: “Trung Quốc đời Đường (618- 907) là một nước tiên tiến, văn minh trên thế giới đương thời Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, xuất hiện nhiều cảnh tượng cực kỳ phồn vinh Những thành tựu về thơ ca tạo nên thời đại hoàng kim của lịch sử phát triển thơ ca trong xã hội phong kiến Trung Quốc”
Nội dung cuả thơ Đường thật là phong phú, mang tính hơn hẳn so với thời đạiphong kiến trước và sau nó…đó là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố Ngoàiđặc điểm phong cách và đời sống của chính bản thân mình, các tác giả còn biết
kế thừa tinh hoa của truyền thống văn học – nghệ thuật hàng nghìn năm trước,lại tiếp thu được cả một di sản tư tưởng – triết học đa dạng lớn lao, và mỗi nhàthơ một mặt là do chính cái “bản lai diện mục” vốn có của các nhân tố ấy quyđịnh Mặt khác là xuất phát từ cách thế kế thừa, tiếp thu, thâu hóa của từng tácgiả
Thành tựu về nghệ thuật
Thơ Đường được coi là đỉnh cao của thi ca cổ điển Trung Quốc không chỉ vìnội dung phong phú, mà hơn nữa, còn vì nghệ thuật trác việt, kết tụ tinh hoa
Trang 21của quá khứ và làm khuôn mẫu cho thơ đời sau, nhất là luật thi Cống hiến của
nó đối với lịch sử văn học rất lớn
a Nghệ thuật vận dụng thi pháp
Như chúng ta đã biết, vào đời Đường, mọi thể loại đều đạt đến mức hoànchính Nhạc điệu câu thơ bình hòa, ổn luyện, nhất là câu thất ngôn Tiết tấunhẹ nhàng, ngân nga với nhịp câu chẵn cân đối, âm hưởng thấm sâu vào tâmhồn người đọc, tạo nên cảm giác êm ái lâng lâng:
Khứ niên/ hoa lý/ phùng quân biệt Kim nhật/ hoa khai/ hựu nhất niên Thế sự/ mang mang/ nan tự liệu Xuân sầu/ ảm ảm/ độc thành miên…
Vi Ứng Vật, Ký Lý Đảm Nguyên Tích
Nhịp điệu ấy hầu như đã định hình và đạt đến mức độ tối ưu của câu thất ngôn,
có khả năng diễn dạt những cảm xúc điều hòa theo hướng “tiết dục” của triếthọc phương Đông Tuy nhiên, khi cần, tác giả cũng biến đổi nhịp điệu, làmcho câu thơ gợi cảm hơn Những câu được ngắt nhịp đặc biệt như thế sẽ nổibật lên giữa bài thơ, gây nên một ấn tượng sâu sắc:
Kiếm Thủy tự tiền/ phương thảo hợp, Kính Hồ đình thượng/ dã hoa khai
(LÝ THÂN, Giang Nam xuân mộ ký gia) Ngũ canh/ cổ giác thanh/ bi tráng,
Tam giáp/ tinh hà ảnh/ động dao
(ĐỖ PHỦ, Các dạ)
Song song với nhịp điệu, nhiều tác giả còn dùng hệ thống vần đề diễn đạt bổsung cho ý nghĩa Chúng ta đã biết vần vốn là một yếu tố quan trọng cuả thipháp, nhưng ngoài ra nó còn mang một giá trị nghệ thuật nữa Không phảingẫu nhiên mà nhà thơ chọn vần mở hay vần khép, vần bằng hay vần trắc, độc
Trang 22vận hay biến vận, nhất là trong những bài cổ phong trường thiên Vần cũng
“nói lên” được một cái gì, hay tạo nên không khí cho bài thơ, cho
đoạn thơ
b Nghệ thuật vận dụng loại thể
Hai phương pháp chính được các tác giả vận dụng là lãng mạn và hiện thực.LýBạch là bậc thầy của thơ lãng mạn Ông kết hợp nhuần nhuyễn các biện phápkhoa trương, ẩn dụ, thần thoại hóa để biểu hiện những cảm xúc mãnh liệt, hàophóng không ai sánh kịp Những nhà thơ khác như Cao Thích,
Sầm Tham, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên…cũng sáng tác bằng phương phápnày, nhưng mức độ thấp hơn Họ thiên về khía cạnh miêu tả đời sống nội tâm,giải bày những trạng thái tư duy, cảm xúc mang tính cá thể hóa.Thơ hiện thựcthì ít người hơn được Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, nhưng phong cách của hai tácgiả này cũng không giống nhau.Thơ hiện thực của Bạch Cư Dị thì có tính chấtduy lý, nhận thức dựa vào trí tuệ Một bên là tiếng nói của trái tim giúp ta cảm
mà hiểu, một bên là tiếng nói của bộ óc, giúp ta hiểu mà cảm…Tuy nhiên, haiphương pháp lãng mạn và hiện thực không tách ra thành hai tuyến đối lập
nhau Ta có thể nói thơ lãng mạn mang tính hiện thực như các bài Thục đạo nan, Bạch đầu ngâm, Song yến ly…của Lý Bạch và thơ hiện thực mang tính lãng mạng như các bài Mộng Lý Bạch, Đan thanh dẫn, Cổ bá hành, Tráng du…của Đỗ Phủ
c Nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ
Ngôn ngữ thơ Đường kết tinh được nhiều cái đẹp, mang tầm khái quát rất cao,không những có khả năng biểu cảm mà còn có khả năng biểu ý, kết hợp cảmquan và nhận thức, truyền thống và cách tân, kế thừa và sáng tạo Ngôn ngữgiàu hình ảnh và cảm xúc ấy phần lớn là do các biện pháp tu từ tạo ra Nhiềukhi các biện pháp tu từ xen kẽ chồng chéo nhau, làm bật lên cái “tứ” sâu xanhư người ta thường nói “ý tại ngôn ngoại” Bài thơ, nhất là tứ tuyệt và bát cú,
Trang 23rất ngắn gọn, sao cho trong một số câu nhất định, một số từ hữu hạn, phải diễnđạt hết cảm nghĩ của tác giả
Ngôn ngữ thơ Đường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ (bài ngắn nhấthơn hai mươi chữ: ngũ ngôn tuyệt cú) Do thế, thơ Đường rất súc tích, côđọng Ít khi thơ chịu nói hết ý, và “vẽ mây, nẩy trăng” (chỉ tả đám mây, nhưng
ta biết có vầng trăng bị che lấp ở phía sau), ý ở ngoài lời, ý đến mà bút khôngđến, bút dừng mà ý không dừng – lời hết mà ý chưa hết…
1.3.3 Đôi nét về thể loại và thi pháp thơ Đường
Thể loại thơ Đường
Thể thơ
Đường Thi gồm thơ cổ phong và thơ cận thể (thơ Ðường luật, cáchluật)
Thơ Cổ Phong hay Cổ Thể
Cổ phong là lối thơ có từ những triều đại trước Trong thơ cổ phong, người tachia ra hai loại cho dễ nhớ: thơ cổ phong năm lời (ngũ ngôn) và bảy lời (thấtngôn) Thơ cổ phong khác với thơ luật ở chỗ thơ chỉ cần vần chứ không cầnphải theo luật bằng, trắc Khác với thơ luật, thơ cổ phong có thể dài ngắn khácnhau, có loại bài ngắn(đoản thiên), và bài dài (trường thiên)
Số câu trong cổ phong cũng không quy định cụ thể Đoản thiên có thể bốn câu,sáu câu, tám câu hoặc trên mười câu…Trường thiên là những bài thơ dài,nghiêng về trần thuật, hoặc biểu cảm liên tục trước một đề tài không dứt,
do đó cũng cần phải có từng phần, mạch lạc, có cấu trúc hợp lý…
Vần trong thơ cổ phong cũng tự do hơn Có thể là bài thơ chỉ dùng mộtvần(độc vận) trong cả bài, cũng có thể thay nhiều vần (hoán vận) trong lúc viết(Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị) Vần bằng và vần trắc cũng có thể dùng riêngtừng loại hay cả hai
Về lời trong câu thì được phép dài, ngắn khác nhau không phải nhất thiết nămhay bảy chữ (Tương Tiến Tửu của Lý Bạch)…
Trang 24Trong ngũ ngôn trường thiên có bốn điều cốt yếu được các nhà thơ hay vậndụng, gọi là thủ pháp chung cũng được Đó là:
- Phân mạch: chia đoạn, chia tiết, chia câu trong bài
- Quá mạch: chuyển tiếp các ý của phần đầu
- Hồi chiếu: biểu hiện những tứ lạ, ý hay đã róng lên ở các phần trên, phát triển cho sâu sắc
- Tán thán: những ý nghĩ, suy tưởng, cảm nhận xen cài vào các đoạn trên
Thất ngôn cổ phong thì các mạch đoạn cho rõ ràng, ý nghĩa càng thâm trầm,cao thoát Nhiều ý vị ngoài bài thơ thì càng hay So với thơ luật, thơ cổ phongphóng túng hơn, ít bị trói buộc trong niêm luật, câu chữ Chính vì vậy mà tínhhàm súc, cô đọng, những khe khắt đòi hỏi về đối ngẫu, luật thơ, âm nhạckhông tập trung như thơ luật Vả lại, thể cổ phong vốn cũng đã có từ các
thời Hán, Tùy, trước, nên về sau lối thơ luật thịnh hành hơn cả…
Thơ Đường luật
Thơ luật có từ thời nhà Đường nên cũng gọi là Đường Luật Luật dựa trênnhững thanh bằng và thanh trắc trong một câu và niêm giữa các câu với nhau,tạo thành cấu trúc bắt buộc của bài thơ Thơ luật gồm tám câu, cấu trúc quyđịnh như sau:
- Phá: Câu mở đầu ( cũng gọi là Phá đề)
- Thừa: Nhân ý câu phá mà chuyển tiếp
- Thực: Gồm hai câu 3,4 phải đối nhau từng lời và ý, nói rõ chủ đề của bài thơ
- Luận: Gồm hai câu 5,6 cũng theo luật đối lời đối ý của các câu thực, nhằm tăng ý chính của bài
- Kết: hai câu cuối cùng, chuyến ý và thâu tóm ý tưởng của bài thơ hoặc
có một tứ lạ gây thêm cảm xúc cho người đọc
Trang 25Thơ luật có thể năm lời (ngũ ngôn) và thể bảy lời( thất ngôn)
Thi pháp thơ Đường
Con người trong thơ Đường
Con người là đối tượng, đồng thời cũng là mục đích cứu cánh của văn học KhiGorky nói rằng: “Văn học là khoa học về con người”, tức là ông quan niệmvăn học không là gì khác hơn ngoài phản ánh, thể hiện con người vì conngười
Sáng tác văn học là một hoạt động nhận thức và thể hiện con người, tất nhiênvăn học không thể không có quan niệm về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng của thipháp học Nó hướng ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn học, trung tâm củaquan niệm thẩm mỹ của nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật xuất hiện trong tácphẩm bao giờ cũng mang tính quan niệm, tức là cách phản ánh, miêu tả, thể hiện nhân vật, con người bao giờ cũng mang trong nó quan niệm của tác giả Trong thơ Đường, con người khí phách chưa được thể hiện nhiều như trongthơ Tống hay trong thơ cổ Việt Nam Trong thơ hiện đại, ta thấy xuất hiệnnhiều con người hành động Con người trong thơ Đường không khước từ hànhđộng nhưng họ đề cao cái tâm hơn, nên những từ có bộ tâm (心) có tần số xuấthiện cao trong thơ (tâm, tình, ý, ức, tư tưởng, hoài niệm, thương, bi, ưu, sầu,oán, hận…)
Những con người – hữu tâm, con người tri âm ấy được thể hiện đặc biệt rõtrong đề tài bằng hữu Thơ Đường nói nhiều về tình bạn lý giải nguyên nhâncủa hiện tượng này cũng khá thú vị
Thi nhân đời Đường chắc không hiếm kẻ đa tình nhưng đề tài tình yêu chiếmmột vị trí khiêm tốn bên cạnh đề tài tình bạn Có lẽ thơ Đường vốn kín đáo tếnhị nên ngại nói đến tình yêu và có nói cũng nói một cách kín đáo, mơ hồ,thậm chí khó hiểu
Trang 26Mọi sự vật hiện tượng “tồn tại” nghĩa là đều gắn liền với không gian và thời gian “Tồn tại“: tồn: còn (thời gian), tại: ở tại (không gian) Trước hết nghiên
cứu ý niệm “tại” Từ vấn đề phân loại thơ Ðường
Trước đây, giới nghiên cứu văn học thường phân loại Thơ Ðường theo mấycách sau :
Cách 1 - Hai loại :
- Phái thơ điền viên (cảnh sống trong thời bình) - Phái thơ biên tái
(cảnh sống thời chiến tranh) (Giáo trình VHTQ.GS Nguyễn Khắc Phi.
Nxb GD.1987) Cách 2 - Ba loại :
- Phái thơ điền viên
- Phái thơ biên tái
- Phái thơ xã hội
(Thơ Ðường bốn ngữ, ÐHTH Tp HCM.1990, Trần Trọng San) Cách
3 - Bốn loại :
- Phái sơn thủy điền viên
- Phái biên tái
- Phái lãng mạn
- Phái hiện thực
Thời gian nghệ thuật
Thời gian (tồn) cũng được coi là chiều thứ 4 của không gian:
Thôi Hiệu nghĩ “thời gian” như con hạc bay đi không bao giờ trở lại:
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Người Trung Hoa sùng bái quá khứ, coi quá khứ có vẻ đẹp hơn hiện tại vàtương lai, bởi nó hiện lên qua màn sương mù huyền ảo Người nhận biết đượcbước đi của thời gian thì thường lo âu, trăn trở ý thức thời gian biểu lộ phẩmchất của họ
Trang 27Thơ Đường có hai kiểu thời gian nghệ thuật: thời gian vũ trụ và thời gian đời thường, tương ứng với con người vũ trụ và con người đời thường
Ngoài ra, thời gian tâm lý cũng chi phối thời gian nghệ thuật Bên cạnh đó,quan niệm triết học và tôn giáo về thời gian cũng chi phối Thơ Ðường
1 4.Vấn đề dịch thơ Đường
1.4.1.Tình hình dịch thuật từ trước đến nay
Có 3 thời điểm mà phong trào dịch Đường thi thật rầm rộ: Trước 1945, sau
1954 ở miền Nam, và nay, những năm đầu thế kỷ 21 Thể loại dịch ở cả 3 thờiđiểm ấy thật muôn hình vạn trạng Có thể thấy là đủ các kiểu dạng: Lục bát,song thất lục bát có, hát nói có, tự do có, phóng dịch có, dĩ nhiên là Đường luật
có Về ngôn ngữ dịch, ngày nay Đường thi còn được người Việt dịch ra tiếngAnh, tiếng Nhật, tiếng Nga …Về số lượng, đó là cả một sự khổng lồ không tàinào bao quát nổi Đặc biệt là trên Internet với hàng trăm, hàng nghìn trangWeb, Blog cá nhân trong nước và khắp các quốc gia trên thế giới
Từ trước tới nay, dịch chữ Hán sang tiếng Việt có một số thuận lợi như sau:
- Thể điệu, thi cách giống hoặc gần nhau
- Văn phạm giống nhau
- Âm hưởng, tiết tấu có phần dễ bảo tồn hơn là đối với thơ Châu
Âu
- Nhiều từ và nhiều bộ phận câu xưa nay nói như nhau
Nhưng cái khó thì nhiều vô kể:
- Chữ Hán quá nhiều đông âm, khó quán xuyến
- Thơ chữ Hán cô đọng quá Cũng vì muốn cô đọng nên hay dùngđiển tích
Dịch từ Hán sang Việt nói chung và dịch thơ Đường nói riêng, người ta đã bànđến rất nhiều Người thì bảo dịch thơ Đường theo nguyên thể chẳng bao giờhay được Người thì cho rằng, thể cách nào không quan trọng, vấn đề là cái tàicủa người dịch đến đâu Cũng có người lại bảo có thể dùng thể thơ tự do, hoặcphỏng dịch, dịch phóng tác, thế nào cũng được cả, miễn là nghe được và
Trang 28không quá xa nguyên tác Người thì lại chủ trương cứ phải là lối thơ truyềnthống lục bát hoặc song thất lục bát…Có nhiều hình thức và nguyên tắc dịchkhác nhau, tuy nhiên trong luận văn này, chúng tôi xin được đưa ra vài tiêuchuẩn dịch theo Nghiêm Phúc như sau:
Tiêu chuẩn dịch theo “Tín, đạt, nhã” của Nghiêm Phúc đề ra năm 1898 trong
“Thiên dẫn luận dịch lệ ngôn” Từ đó đến nay, tiêu chuẩn này đã có ảnh hưởngsâu rộng và có tác dụng chỉ đạo trong công tác dịch thuật tiêu biểu nhất của Trung Quốc.Tiêu chuẩn “Tín, đạt, nhã” mà Nghiêm Phúc đưa ra, đó là đối với
tư tưởng là Tín, đối với ngôn ngữ là đạt, đối với phong cách là nhã Có thể hiểu vắn tắt tiêu chuẩn này như sau:
• Tín: Tư tưởng ý nghĩa của văn bản dịch không quay lưng lại với văn bản gốc, nghĩa là trung thành với nguyên bản
• Đạt: Hình thức ngôn ngữ của văn bản dịch không câu nệ với hình thức biểu đạt của nguyên bản Nghĩa là bằng mọi khả năng ngôn ngữ của văn bản dịch nhằm đạt được ý nghĩa của nguyên bản
• Nhã: Phong cách của bản dịch, văn phong mạch lạc khi đọc không thấy trái với phong cách của nguyên tác
Tín, đạt, nhã là ba yếu tố có mối quan hệ biện chứng với nhau Tín là cơ sở, làtiền đề của Đạt và Nhã, nếu không Tín thì chẳng bao giờ có Đạt và Nhã.Ngược lại, Đạt và Nhã là thủ pháp và là điều kiện để thực hiện Tín, không cóhai yếu tố này thì Tín hoàn toàn không được thực hiện và chỉ dừng lại ở trạngthái ban đầu
Bên cạnh đó, những vấn đề về quan niệm, phương pháp, nguyên tắc dịch thơĐường, kể cả những vấn đề như điều kiện kiến văn, cách hiểu văn bản Đườngthi cũng như những chi tiết thâm sâu của kỹ thuật dịch…hầu như đã có trongrất nhiều ý kiến sâu sắc của các học giả, dịch giả trước nay và phần lớn được
tập hợp trong sách “Dịch từ Hán sang Việt – Một khoa học, một nghệ thuật” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm -NXB Khoa học xã hội, 1982 Những
Trang 29lập luận kiến giải có tính khoa học và tổng kết thực tiễn đó có thể đã là tiền đềcho một hệ thống lý luận đầy đủ về dịch từ Hán sang Việt nay mai, trong đó códịch thơ Đường
1.4.2 Vấn đề dịch thơ Hán sang thơ Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học
Xét theo quan điểm ngôn ngữ học thì dịch là chuyển một cái mã từ xa củatiếng nước ngoài sang tiếng Việt, cái mã của tiếng Hán sang cái mã của tiếngViệt, hai cái mã này đều khách quan, chỉ cần quên sự chuyển hóa này là câuvăn sẽ không Việt Nam Điều này được áp dụng cho văn xuôi và hiển nhiênmọi người dễ chấp nhận Tuy nhiên dịch thơ chữ Hán sang thơ Việt lại cònphức tạp hơn Bên cạnh cái mã ngôn ngữ còn một mã siêu ngôn ngữ, một mãnghệ thuật, biểu hiện bằng thể loại, bằng vần điệu, niêm luật của tiếng Hán.Chúng ta phải chọn một mã siêu ngôn ngữ khác bằng tiếng Việt để chuyển chothích hợp, bởi nếu chuyển sai thì dù người dịch có giỏi đến đâu cũng không
thể làm ra bài thơ hay [64, trang.112]
Tuy nhiên cho đến nay, cũng chỉ có thể kể đến vài ba công trình dịch thuật thơ
Đường có giá trị: Thơ Đường - 2 tập - NXB Văn học 1962 (NXB
Văn học tái bản năm 1987), do Nam Trân chủ biên, Viện Văn học chủ trì xuấtbản Đây có thể được xem là công trình dịch thuật thơ Đường quan trọng nhất,
có giá trị nhất không chỉ về học thuật, tư liệu mà còn là tập hợp những bảndịch Đường thi tốt nhất từ trước đến đó Những ai nghiên cứu thơ Đường hoặctham khảo để dịch thơ Đường có lẽ đều phải lấy cuốn sách đó làm căn bản
Ngoài ra, có thể kể đến cuốn Thơ Đường – Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn
học thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn NXB Trẻ 1989
-tập hợp 84 bản dịch Đường thi của riêng Tản Đà in trên báo Ngày Nay, báo Tiểu thuyết thứ bảy và sách Việt Nam Văn chương trích điểm
Tiếp đó là sách riêng của các tác giả Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Trần TrọngSan, Khương Hữu Dụng… Cũng cần phải kể đến sách dịch Đường thi của Lê
Trang 30Nguyễn Lưu, Ngô Văn Phú, Nguyễn Hà, Đỗ Trung Lai, Trương NamHương…mới xuất bản những năm gần đây
Xin liệt kê một số bài thơ song thất lục bát nổi tiếng ở Việt Nam Chúng ta đềubiết những bài Chinh phụ ngâm, cung oán ngân, ai tư vãn, văn chiêu hồn…cóbài là do người Việt sáng tác và cũng có bài là do dịch Nội dung của chúng rấtkhác nhau, nhưng chúng đều có những điểm chung rất khác nhau Thứ nhất,
đó là những bài trữ tình, tâm sự, tức là không phải những bài miêu tả, tự sự,đối thoại.Tác giả kể lại một thử nghiệm của bản thân hay của nội tâm ngườikhác.Vấn đề chủ đạo ở đây là một câu chuyện nội tâm Thứ hai, nội dung củacâu chuyện là đi từ hiện đại đến quá khứ, làm một sự hồi tưởng quá khứ, ngườiviết nhớ lại những chuyện đã qua để phục hồi lại trong suy nghĩ mà so sánhvới hiện tại, đó là một sự đối chiếu giữa hiện tại và quá khứ
Chính vì vậy, khi cái mã nghệ thuật của một bài thơ chữ Hán chứa đựng bốnyếu tố là nội tâm, hồi tưởng quá khứ để so sánh với hiện tại, nói lên một nỗikhát khao hạnh phúc, con người đứng một mình, đối diện với chính mình thìnhững người dịch Việt nam ngày xưa không ngần ngại chọn ngay hình thứcsong thất lục bát, bất chấp ở tiếng Hán nó là thể thơ gì, là thể thơ
Nhạc phủ như trong Chinh phụ ngâm, là thể thất ngôn trường thiên như trong
Tỳ Bà hành, Chức cẩm hồi văn…Những người Việt hiện nay có người khôngchấp nhận cách dịch như vậy
Bài thơ Đường hay hay dở do câu nào quyết định? Hầu như trong mọi trườnghợp nó đều là do câu cuối quyết định Vậy khi dịch, sau khi đã nắm được bàithơ phải tìm cách dịch cho được câu cuối thật hay Câu cuối dịch không đạt,không bao giờ bài dịch thành công được Xét theo quan điểm ngôn ngữ học thìdịch như thế là xuất phát từ toàn thể để đi đến yếu tố chứ không phải là xuấtphát từ yếu tố Cái tên tiêu biểu nhất của cái toàn thể là nằm ở câu cuối, vậyphải diễn đạt câu ấy Còn việc diễn đạt bằng vần gì, thể gì thì các cụ coi nhẹ,không tất yếu phải dịch vần bằng thành bằng, vần trắc thành trắc, thậm chí bài
Trang 31thất ngôn thành bài thất ngôn.Vấn đề là nó phải hay Và khi chưa bị gò bó bởicái gì hết, khi chưa phải chấp nhận một quy tắc nào hết, người ta cố nhiên cókhả năng dịch một câu thơ hay bằng một câu thơ khác cũng hay Nhưng khicâu thơ cuối đã dịch xong thì toàn thể bài thơ đã xong không phải về mặt ngônngữ mà về cấu trúc Người ta có thể biết trước nó là loại thơ gì, vần gì…tuychưa thấy sự thể hiện chi tiết Vì đi từ hệ thống vào yếu tố, đi từ tổng thể vàochi tiết chứ không phải làm ngược lại cho nên các cụ xưa không coi trọng việcdịch nghĩa những câu đối nhau, cụ thể bốn câu giữa của bài bát
cú Đường luật, các cụ không chú ý đến mấy
“Chính vì vậy, nếu ta xét cách dịch thơ Đường của những nhà Nho, ta khôngthấy họ dứt khoát dịch bát cú thành bát cú, Đường luật bằng Đường luật.Phảinói họ làm thơ Đường luật rất dễ chẳng kém chúng ta làm ca dao
Điều đó chứng tỏ không phải họ không biết làm thơ Đường mà vì các câu cuối
họ dịch hay không là một câu thất ngôn, mà lại là một câu tám chữ cho nên họ
phải chọn một thể khác” [64, tr.24]
Chúng ta chủ yếu học và đọc thơ Đường qua bản dịch thơ, vì vậy việc tìm hiểubản dịch có ý nghĩa rất quan trọng Dịch thuật là truyền thống lâu đời của dântộc ta, công việc này tiến hành từ khi chữ Nôm xuất hiện và còn kéo dài chođến ngày nay Lịch sử dịch thơ Đường bằng chữ Quốc ngữ bắt đầu bằngnhững bản dịch trên báo và tạp chí đầu thế kỷ XX, sau đó là trong những tuyểntập thơ Đường và cả trong các bộ văn học sử phần văn học đời Đường Dịchthuật là một công việc rất khó, không chỉ đòi hỏi người dịch phải hiểu đượcnguyên lý dịch thuật, nắm rõ văn bản tác phẩm mà còn phải
thấm được vào hồn mình cái hồn của nó, có nghĩa là phải yêu nó
Nếu không làm được những điều ấy thì bản dịch nếu không vụng về về hình thức, câu từ thì cũng làm nhạt đi cái hay, cái sâu sắc của nội dung tác phẩm Thơ Đường là một trong những tinh hoa nghệ thuật của văn học Trung Quốc
và nhân loại Mỗi bài thơ Đường là một thế giới nghệ thuật độc đáo, gợi ít mà
Trang 32ý nhiều, cô đọng, hàm súc về nội dung, có tính chặt chẽ về niêm luật, thể loại, tính ước lê, cổ kính trang nghiêm…tạo thành một thể riêng biệt
Trên thực tế, mỗi dịch giả có một phong cách sáng tạo và cách dịch thâm thuýkhác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng với những nhận thức tinh
tế, những cảm xúc nghệ thuật, những rung động thẩm mĩ đa chiều khi đọc thơĐường, vì vậy, có rất nhiều bài thơ Đường mà số lượng bản dịch của nó lên
đến hàng chục bài như Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế và cả Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu Dịch giả ở nước ta không chỉ
dừng lại ở các nhà cựu học: Tùng Vân, Á
Nam, Tản Đà mà cả những nhà Thơ Mới và thành viên của Tự lực văn đoàn
Về thể loại các bản dịch, ngoài những bản dịch theo nguyên thể còn có thể lụcngôn, song thất lục bát, lục ngôn, hát nói
Tuy nhiên, theo chúng tôi, cho dù áp dụng tiêu chuẩn hay nguyên tắc nào cũngphải đảm bảo được các yếu tố tối thiểu dưới đây:
- Văn bản dịch phải phản ánh được toàn ánh được toàn bộ và thuật lại hoàn toàn nội dung tư tưởng của nguyên tác Đây là yêu cầu quan trọng nhất của nguyên tắc dịch
- Phong cách, bút pháp của văn bản dịch phải tương đương với nguyên bản
- Văn bản dịch phải trôi chảy, lưu loát
1.5 Khái quát về các cách chuyển dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt
Để có thể đưa ra được những mô hình dịch cụ thể nhằm đạt được tiêu chuẩntương đương cao nhât của văn bản dịch như đã nếu ở phần trên, trong chươngnày, chúng tôi muốn đề cập đến một số phương pháp hay thủ pháp thườngđược áp dụng trong quá trình dịch như sau:
1.5.1 Phương pháp dịch sát
Theo từ điển Hán ngữ hiện đại:
Trang 33Dịch sát (hay còn gọi là trực dịch, dịch thẳng) có nghĩa là khi dịch bằng mọicách phải đảm bảo hình thức sử dụng ngôn ngữ, cách dùng từ, thủ pháp sosánh, như nguyên bản Hay nói cách khác thì dịch sát nghĩa là dịch từng từ,từng chữ
- Dịch từng chữ theo nguyên tác
- Cố gắng tái hiện cấu trúc theo nguyên tác (danh từ đối chiếu với
danh từ, động từ đối chiếu với động từ)
- Cố gắng đối chiếu về cấu trúc, quan hệ thời, thể, kể cả ngữ khí
Trong quá trình dịch, phương pháp này được diễn giải như sau:
- Thay đổi cấu trúc ngữ pháp của nguyên tác
- Khi xử lý những yếu tố khác biệt về văn hóa thì thiên về giải
thích
- Có ý định sửa chữa những lỗi của nguyên bản
- Thích giải thích những vấn đề lịch sử bằng quan điểm hiện tại
- Sẵn sàng thay đổi những gì mà mình cho là không phù hợp 1.5.3.Kết hợp giữa dịch sát và dịch thoát
Đây là một lĩnh vực đầy hấp dẫn đã xảy ra không ít các cuộc tranh luận củanhiều trường phái, của nhiều dịch giả nổi tiếng Trong thế kỷ 20, khi mà hoạtđộng phiên dịch đang trở nên phổ biến và mạnh mẽ thì cuộc tranh luận này
Trang 34không còn gay gắt như trước nữa, có chăng nó chỉ xuất hiện trong nhữngngười vừa học dịch hay còn thiếu kinh nghiệm Trong quá trình dịch, nhữngdịch giả đã biết kết hợp một cách khéo léo giữa hai thủ pháp là dịch sát và dịch thoát nhằm đạt được những tác phẩm dịch có chất lượng tốt
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất như sau Dịch sát nghĩa là hoạt động dịch không những trunh thành với nội dung củanguyên tác mà còn trung thành với cấu trúc, phong cách, ngữ điệu của nguyêntác Còn dịch thoát là hoạt động dịch chỉ trung thành với nội dung của nguyêntác mà không trung thành với hình thức, cấu trúc, phương thức biểu đạt củanguyên tác, được coi là dịch ý
Ở đây cần làm rõ một số vấn đề:
Thứ nhất, trong quá trình phiên dịch, hai phương pháp này được coi trọng nhưthế nào? Loại hình nào sử dụng nhiều, loại hình nào sử dụng ít hay tần sốngang nhau?
Chúng ta biết rằng, mỗi dân tộc, quốc gia có sự hình thành ngôn ngữ trong bốicảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau, vì thế mà hệ thống từ vựng,ngữ pháp, cách dùng từ, hay phương thức diễn đạt luôn khác nhau Nói mộtcách khác, giữa các hệ thống ngôn ngữ khác nhau đều có những điểm khácbiệt và có những đặc trưng riêng của nó Vì thế, trong quá trình dịch, mặc dùluôn tồn tại hai phương pháp song song những chúng ta có thể khẳng địnhrằng, tần số dịch sát ít hơn nhiều so với dịch thoát Trong thực tiễn dịch, đại
đa số cho thấy rằng dịch sát chỉ là số ít, cá biệt và không phổ biến, hoặc chỉxảy ra với những câu ngắn hay câu đặc biệt Đối với hoạt động dịch Trung –Việt cũng vậy Tuy hai ngôn ngữ này đều thuộc một loại hình ngôn ngữ, vị trícủa từ trong câu và việc sử dụng tu từ để diễn đạt ý nghĩa là hết sức quan trọngtrong giao tiếp Mặt khác trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, có một khối lượngđược gọi là từ Hán Việt khổng lồ Song không phải vì thế mà khi chuyển dịchgiữa hai loại ngôn ngữ này lại trở nên đơn giản, việc chuyển dịch trực tiếp chỉ
Trang 35xảy ra với những cấu trúc câu đơn giản, ngắn gọn và người dịch không khókhăn lắm trong khi gặp những thành ngữ hay cấu trúc đơn giản
Thứ hai, có một câu hỏi đặt ra là khi dịch sát khác gì với dich máy móc, dịchcứng nhắc, và khác nhau giữa giữa dịch thoát với dịch bừa, dịch ẩu là ở chỗnào?
Trước hết, như ở trên đã nêu, khi mà cấu trúc của nguyên tác phù hợp và tươngđồng với cấu trúc của ngôn ngữ đích, chúng ta chỉ việc chuyển nguyên vẹn cấutrúc ấy sang văn bản dịch, đó là phương pháp trực dịch Nhưng trong trườnghợp cấu trúc của nguyên bản hay phương thức diễn đạt không phù hợp hoặckhông có trong ngôn ngữ dịch mà người dịch vẫn cố tình chuyển dịch, đó đượccoi là dịch máy móc, dịch cứng nhắc Người dịch căn cứ vào từng chữ, từngcâu dịch một cách cứng nhắc và bị phụ thuộc hoàn toàn vào cấu trúc củanguyên bản Trong trường hợp như vậy đã sinh ra rất nhiều cấu trúc hay lốidiễn đạt hết sức khó nghe, khó hiểu, thậm chí còn sai hẳn so với ý nghĩa vốn
có của nguyên tác Đặc biệt là khi chuyển dịch sang tiếng mẹ đẻ đã làm vẩnđục tiếng mẹ đẻ, ảnh hưởng tới tính trong sáng của tiếng mẹ đẻ
Trong quá trình tiến hành dịch thuật có một thực tế đặt ra là, không ít trườnghợp cấu trúc phương thức biểu đạt của nguyên tác không phù hợp hoặc khôngthể diễn đạt như vậy trong văn bản dịch đã buộc phải cải biên, thay đổi cấutrúc mới đảm bảo trọn vẹn ý nghĩa của nguyên tác trong khi chuyển dịch.Ngược lại, trong trường hợp khi mà cấu trúc và phương thức diễn đạt củanguyên bản phù hợp và có thể diễn đạt mà người dịch vẫn cố tình thay đổi haycải biên phương thức diễn đạt thì đây chính là động tác thừa không cần thiết.Cách làm này dẫn tới việc dịch bừa, dịch ẩu Và những người theo đuổi cáchdịch như vậy được coi là những dịch giả theo chủ nghĩa “tự do” Trong trườnghợp này, tất sinh ra những văn bản dịch có nội dung xa rời với nội dung củanguyên tác Trường hợp đó, người dịch không phải là tiến hành dịch nguyêntác mà là tiến hành sửa lại nguyên tác hay biên tập lại nguyên tác Tác phẩm
Trang 36dịch không còn trung thành với nguyên tác và đó không thể được coi là mộthoạt động dịch chân chính
Vậy phải làm thế nào mới có thể tìm ra con đường chân chính để giải quyếtvấn đề đó? Con đường duy nhất đúng trong giải quyết vấn đề này là trước hếtngười dịch phải xuất phát từ quan điểm biện chứng Người dịch phải nhận rađược cấu trúc nào, đơn vị ngôn ngữ nào thì cần áp dụng phương pháp dịch sát,
và chỗ nào cần áp dụng phương pháp dịch thoát
Tuy nhiên không vì thế mà đi đến cực đoan trong việc lựa chọn dịch sát haydịch thoát Trong quá trình dịch, người dịch thường xuyên phải tiếp xúc với rấtnhiều loại hình câu, cấu trúc phức tạp khác nhau Cho nên, ngay trong một vănbản, người dịch cần kết hợp một cách hợp lý nhất trong việc lựa chọn bộ phậnnào trong câu thì tiến hành dịch sát, bộ phận nào trong câu thì tiến hành dịchthoát Làm như vậy, một tác phẩm, một văn bản, thậm chí ngay cả một câu dàiđược coi là hoàn hảo không chỉ còn là một sản phẩm đơn thuần, hay kết quảcủa dịch sát, dịch thoát, mà là một sản phẩm của sự kết hợp giữa hai phươngpháp dịch trên Nói một cách chính xác hơn đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa haiphương pháp dịch Chúng tôi cho rằng, chỉ có cách kết hợp giữa hai phươngpháp dịch đó mới mang lại những tác phẩm dịch tốt, và mới tránh được cáinhìn phiến diện một chiều, khắc phục được những “bệnh” trong phiên dịch Trên thực tế, nhiều nhà phiên dịch sau nhiều năm thực tiễn đã nhận thức mộtcách sâu sắc tính tất yếu và tính tự nhiên trong sự kết hợp giữa hai thủ phápdịch đó Đồng thời đã phủ định tính độc lập của hai phương pháp dịch sát vàdịch thoát trong quá trình dịch
Từ những lý do nêu trên có thể khẳng định rằng, dịch sát hay dịch thoát đều có
lý do và căn cứ của nó Như đã biết, hệ thống ngôn ngữ của các quốc gia trênthế giới mặc dù những điểm khác nhau là cơ bản nhưng giữa các hệ thốngngôn ngữ cũng luôn tồn tại những điểm giống nhau Chính do trong phươngdiện hình thức (cấu trúc cú pháp, phương thức biểu đạt) giữa các ngôn ngữluôn tồn tại sự giống nhau đó, nên trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó về mặt
Trang 37nội dung hay hình thức của hai tác phẩm hay văn bản thuộc loại hình ngôn ngữkhác nhau cũng xuất hiện những tương đương nhau Đây cũng chính là lý do
để phương pháp dịch sát tồn tại Mặt khác do nhận thức rằng giữa các hệ thốngngôn ngữ luôn tồn tại hàng loạt những yếu tố khác nhau, những đặc trưng khácnhau, đặc biệt là trong phương diện biểu đạt hay cấu trúc cú pháp cụ thể nào
đó Đây cũng chính là lý do cho tồn tại của phương pháp dịch thoát Cũng cầnnhận thức rằng: sự tồn tại của hai phương thức dịch đó hoàn toàn không do ýmuốn chủ quan của con người trong trường hợp không thể dịch sát được màlại tiến hành dịch sát hay ngược lại không cần dịch thoát thì đó phải chăng là
đã đưa nó đến chỗ vô ích
Có thể thấy, trong quá trình dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác luônluôn tồn tại một bộ phận nhỏ những cấu trúc có thể dịch sát Ngoài ra chúng tađều phải dịch theo ý nghĩa, đây cũng chính là sự tồn tại khách quan của hoạtđộng dịch Nhưng trong thực tế, có người theo chủ nghĩa dịch sát lại cho rằngtất cả các loại hình câu đều có thể tiến hành dịch sát được Điều này đã phạmvào yếu tố chủ quan hay phiến diện Ngược lại, trong trường hợp không cầndịch theo ý mà người dịch vẫn tiến hành dịch theo ý Cả hai trường hợp trênđều mắc sai lầm và tất yếu dẫn đến một hậu quả đó là làm sai đi nội dung củanguyên tác, làm nghèo đi một hệ thống ngôn ngữ, thậm chí còn sinh ra nhữngvăn bản không còn hấp dẫn người đọc nữa
Theo cách nhìn biện chứng thì dich sát hay dịch thoát trong phiên dịch cũng làmột cặp mâu thuẫn, đồng thời cũng là một cặp quan hệ đối lập thống nhất:Tính đối lập thể hiện ở chỗ cả hai đều giống nhau, đối lập với nhau Tínhthống nhất là ở chỗ cả hai đều có quan hệ với nhau, dựa vào nhau, khống chếnhau, ràng buộc nhau, khi mà không thể tiến hành dịch sát thì tiến hành dịchthoát, ngược lại khi không cần dịch thoát gặp trường hợp có thể
dịch sát thì tiến hành dịch sát, đó là điều hết sức tự nhiên Ngược lại, dịch ý là
cả một quá trình gian khổ không dễ dàng, nó đòi hỏi người dịch phải mất công
Trang 38sức và cũng chính là một quá trình tái sáng tạo trên cơ sở một nội dung có sẵn.
Có thể hình dung dịch sát là một việc đơn giản ngắn gọn “ăn sẵn”
Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho người dịch dễ sinh chủ quan có khi bỏquan cả giai đoạn làm rõ ý nghĩa của câu, câu văn bản, vì thế cũng có lúc sinh
ra những câu rất không đáng có
1.5.4 Dịch thay đổi cấu trúc so với nguyên bản
Dịch là một hoạt động giao tiếp luôn xảy ra trên hai môi trường ngôn ngữ khácnhau Khi tiến hành dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng mẹ đẻ hoặc ngược lại,người dịch luôn gặp một loạt khó khăn là phương thức biểu đạt và cấu trúc củahai loại ngôn ngữ luôn khác nhau, luôn luôn xảy ra mâu thuẫn Dịch chính làviệc giải quyết mâu thuẫn đó, cụ thể là muốn biểu đạt lại ý nghĩa của nguyênbản sang một loại ngôn ngữ khác thì phải tuân thủ cấu trúc, đặc điểm diễn đạtcủa loại ngôn ngữ ấy Vì vậy, phải tiến hành việc cải biên hoàn toàn đối vớicấu trúc của văn bản gốc
1.6 Khái niệm “quân tử” và “người quân tử”
Quân tử là hình mẫu con người lý tưởng theo nhân sinh quan của Nho giáo phùhợp với phương thức cai trị xã hội đức trị (nhân trị) của học thuyết này Banđầu hai cặp phạm trù đối lập: quân tử và tiểu nhân không có nghĩa phái sinhnhư hiện nay Quân tử ban đầu có nghĩa là “kẻ cai trị” như trong Kinh Thi, tứcnhững bậc vua chúa, rồi thứ đến quân tử chỉ những người có học, biết các thithư, lễ nghĩa, biết cách hành xử đúng mực, rộng lượng Còn tiểu nhân nghĩa làngười dân thường, không có học thức, không có hiểu biết và thường hành xửtheo cách nghĩ của họ mà không theo một chuẩn mực nào
Về sau, nói đến người quân tử nghĩa là nói đến con người cao thượng, rộnglượng, không chấp nhất việc nhỏ nhặt, làm việc tốt, tránh việc xấu, mưu cầuhạnh phúc cho nhân dân Còn tiểu nhân nghĩa là bọn người có lòng dạ hẹp hòi,hay đố kỵ, ganh ghét, hay mưu hại người khác để cầu danh cầu lợi cho riêngmình mà bất chấp mọi thủ đoạn dù biết điều mình làm rất có hại cho người
Trang 39khác, thậm chí mang lại tai vạ cho toàn dân tộc nhưng họ vẫn làm vì lợi ích cánhân của họ
Nguyễn Hiến Lê chép một câu chuyện về đức tính quân tử của người Trung
Hoa trong Sử Trung Quốc: “Chỉ có tướng hai bên chiến đấu với nhau thôi, quân lính đứng ở sau ngó, y như trong truyện Tam Quốc Chí Trước khi ra trận họ bói, rồi định ngày, giờ xáp chiến Họ dùng chiến xa, khi gặp nhau, họ tặng nhau một bình rượu, chào hỏi nhau, nếu chức tước ngang nhau thì mới giao chiến; nếu một bên chức tước lớn hơn thì bên kia không dám đánh, sợ mang tiếng là vô lễ”.[Nguyễn Hiến Lê 1997: 68]
Ngay từ đầu thời Chiến Quốc, trong sách Trung Dung, ta đã thấy phân biệtgiữa tính tình người phương bắc và phương nam:
“Khoan nhu mà dạy tha thứ kẻ vô đạo, đó là cái cường của người nam, quân
tử theo đó Nằm trên áo giáp, binh khí, chết mà không sợ, đó là cái cường của người bắc, kẻ anh hùng theo đó.” (Dẫn lại theo Nguyễn Hiến Lê
1997: Sử Trung Quốc, tập 1, tr.24)
1.6.1 Người quân tử theo quan niệm của Khổng Tử:
Khổng tử là người đã khái quát hai từ quân tử thành một phạm trù triết học caonhất Trong bộ Luận Ngữ, rất nhiều trường hợp cụ thể khi được học trò hỏihay ngẫu hứng mà ngài đã đưa ra nhiều câu về người quân tử khác nhau như:
- “Chỉ cầu ở mình, không cầu ở người” (XV.20)
- “Giữ vững chính nghĩa, không cố chấp điều tin nhỏ nhặt”(XV.36)
- “Giữ vững tư cách khi gặp hoạn nạn” (XV.1)
- “Không lo đạt đạo được chứ không lo nghèo” (XV.31)
- “Ăn gạo xấu, uống nước lã, mà thấy vui; chứ không chịu làm điềubấtnghĩa để được giàu sang” (VII.5) [208]
- Quân tử ăn không cần no, ở không cầu lấy yên, chỉ mong làmđược việc lớn.(quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an)
Trang 40Mở đầu Luận ngữ là thiên Học nhi có đoạn viết: “Tử viết: Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ?Nhân bất tri, nhi bất uấn bất diệc quân tử hồ?”(bài 1, thiên Học nhi, Luận ngữ) Nghĩa là:
Khổng tử nói: Khi học xong rồi lại thường ôn tập, có thể ôn cũ mà biết mới,không phải là khiến cho người ta rất hứng thú hay sao? Có bạn từ phương xađến thăm, không phải là khiến cho người ta rất vui hay sao? Người khác khôngbiết tài học của mình, mình cũng không giận đấy chẳng phải là người có tudưỡng đức quân tử hay sao? Quân tử trong bài trên chỉ người có hiểu biết, độlượng Không vì mọi người không biết tới mình mà mình đâm ra tức giận
1.6.2 Người quân tử theo Kinh thi
Có lẽ Kinh Thi là một tác phẩm đề cập đến người “quân tử” nhiều nhất và sớmnhất Mở đầu Kinh Thi thiên Quốc phong có bài ca:
“Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu” (tr 39)
Dịch nghĩa:
Đôi chim thư cưu hót họa nghe quan quan,
Ở trên cồn bên sông Người thục nữ u nhàn, Phải là lứa tốt của bực quân tử
(Trích Kinh Thi tập 1 – bản dịch, Tạ Quang Phát)
Thời nhà Chu, hai từ quân tử chỉ rất nhiều đối tượng, phổ biến nhất là chỉ thiên
tử nhà Chu với những lời tán thán cái đức tốt đẹp của thiên tử và cầu chúc chothiên tử được nhiều phúc lành
Nhiều tiếng chỉ quân tử trong Kinh thi ám chỉ người chồng, người yêu của phụ
nữ, bọn con gái với nhiều lời lẽ khiến cho Khổng tử khuyến cáo học trò mìnhkhi đọc kinh thi thì phải “tư vô tà” (không suy nghĩ xằng bậy) Nhiều bài thơdiễn tả tâm trạng của người vợ, người con gái nhớ nhung chồng, người yêu vớilời lẽ rất mộc mạc, giản dị và người quân tử trong lòng họ chính là người