1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tài chính quốc tế Tính độc lập của ngân hàng Trung ương tác động đến việc thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu

42 593 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 907,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết luận này đặt ra vấn đề, vậyyếu tố nào có tác động đến hiệu quả của IT ở cả hai nền kinh tế tiên tiến và mới nổi?Tài liệu này cố gắng lý giải điều này bằng cách lập luận rằng cá

Trang 1

TÍNH ĐỘC LẬP CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN CƠ CHẾ LẠM PHÁT MỤC TIÊU

Sami Alpandaa, Adam Honiga

Giảng Viên: ThS Đinh Thị Thu Hồng

Thành viên nhóm 8:

Phạm Dương Tuấn Anh Nguyễn Thị Hải Ngọc Đoàn Thị Bảo Ngọc Phan Trần Huyền Trang Trần Văn Tuấn

Trang 2

MỤC LỤC

I Giới thiệu và tóm tắt nội dung: 2

II Các nghiên cứu trước đây 5

III Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 7

IV Tóm tắt kết quả thống kê 10

V Các phương thức tác động của CBI 28

1 Các phương thức thường gặp 28

2 Những phương thức tiềm năng khác: 29

VI Ứng dụng chính sách IT vào Việt Nam 30

1 Một số yếu tố thuận lợi Việt Nam cho áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu 30

2 Những yếu tố còn tồn tại và cần cải thiện 31

3 Những việc Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cần làm để có thể áp dụng chính sách IT 33

3.1 Nâng cao vị thế độc lập của Ngân hàng Nhà nước 33

3.2 Điều hành chính sách tiền tệ theo khuôn khổ hành lang lãi suất 34

3.3 Cơ chế phối hợp các chính sách vĩ mô 34

3.4 Cơ chế giải trình và tính minh bạch 35

3.5 Đo lường lạm phát và dự báo lạm phát 36

I.

Trang 3

II Giới thiệu và tóm tắt nội dung:

Hiện nay, số lượng các quốc gia sử dụng lạm phát mục tiêu như một chiến lượcchính sách tiền tệ ngày càng gia tăng Xu hướng này bắt đầu từ những năm đầu thậpniên 90 tại một số ít các nền kinh tế phát triển Cho tới những năm giữa thập niên 90,

có thêm một số quốc gia công nghiệp, và những năm cuối thập niên 90 đầu những năm

2000 ở các nền kinh tế mới nổi cũng bắt đầu vận dụng lạm phát mục tiêu Thống kêđến nay có 8 quốc gia tiên tiến và 13 quốc gia có thị trường mới nổi thực hiện IT.Những ngân hàng trung ương thực hiện khung chính sách tiền tệ mới này xuất phát từviệc nhận thức được các lợi ích Đó là việc đạt được lạm phát thấp hơn và biến độnglạm phát, trong khi đó vẫn duy trì tính linh hoạt đủ để phản ứng với những cú sốc kinh

tế vĩ mô và khả năng ổn định sản xuất Ở các thị trường mới nổi nói riêng, lợi ích nàygắn liền với một cái neo danh nghĩa của tỉ lệ lạm phát mà không có sự bất ổn gắn liềnvới cơ chế tỉ giá cố định

Vì số lượng các quốc gia áp dụng IT ngày càng tăng nên những tài liệu đã cốgắng xác định thực tế ảnh hưởng của IT đối với lạm phát bình quân, sự biến động củalạm phát, tăng trưởng bình quân và biến động tăng trưởng Nghiên cứu ban đầu tậptrung vào các nước công nghiệp (cf Ball và Sheridan, 2005) nhìn chung, chỉ tìm thấybằng chứng yếu ớt rằng IT làm cải thiện hiệu suất kinh tế vĩ mô Nhiều nghiên cứu gầnđây mở rộng các nền kinh tế mới nổi và có xu hướng tìm thấy bằng chứng mạnh mẽhơn về những tác động tích cực của IT (Batini và Laxton, 2007;Goncalves và Salles,

2008, Lin và Ye, 2009; Mishkin và Schmidt-Hebbel, 2007) Tuy nhiên, Brito vàBystedt (2010), bằng cách sử dụng hệ thống ước lượng GMM trái ngược với cách ướclượng difference-in-difference đươc sử dụng trong Ball và Sheridan (2005), đem lạikết quả hơi khác Họ thấy rằng hiệu quả của IT trợ giúp yếu ớt đối với lạm phát bìnhquân, biến động lạm phát, và biến động tăng trưởng và cung cấp các chứng cứ rằngtăng trưởng bình quân thấp khi có IT Khảo sát tài liệu học Ball (2010) thì chưa thuyếtphục khi cho rằng bằng chứng về những tác động có lợi của IT trong nền kinh tế mới

Trang 4

nổi, trong đó mạnh hơn cả ở các nước tiên tiến Những kết luận này đặt ra vấn đề, vậyyếu tố nào có tác động đến hiệu quả của IT ở cả hai nền kinh tế tiên tiến và mới nổi?

Tài liệu này cố gắng lý giải điều này bằng cách lập luận rằng các nền kinh tếmới nổi là không giống nhau và rằng IT có thể hiệu quả hơn trong một số nền kinh tếkhác Đặc biệt, các ngân hàng trung ương khác nhau về mức độ độc lập (CBI), và sựkhác nhau này có thể tương tác với một cơ chế IT để tạo ra kết quả khác nhau về kinh

tế vĩ mô Do đó, nếu không phân biệt các quốc gia này về các mức độ độc lập củangân hàng trung ương thì các kết quả nghiên cứu đạt được chưa có tính thuyết phục

Có một số ý kiến trái chiều về việc liệu CBI khiến cho một cơ chế IT hiệu quảhơn hay kém hiệu quả hơn Một mặt, ngân hàng trung ương tự chủ có thể là một điềukiện tiên quyết cho thành công IT (Mishkin, 2000, 2004; Eichengreen et al, 1999,Friedman và-Robe Ötker, 2010) Ví dụ, IT có thể không tạo ra lạm phát thấp nếu ngânhàng trung ương chịu áp lực của chính phủ để tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn hoặc phát hànhtiền khi thâm hụt tài chính lớn CBI thấp ngụ ý rằng những điều kiện tiên quyết khác bịmất đi Những điều kiện đó bao gồm xem lạm phát như mục tiêu hàng đầu của chínhsách tiền tệ, không có sự thống trị về tài chính, đô la hóa khoản nợ, và hệ thống thôngtin ngân hàng trung ương hiệu quả, minh bạch, và có trách nhiệm giải trình (Batini vàLaxton, năm 2007, Friedman và Ötker-Robe, 2010) Trong trường hợp này, IT ít hiệuquả trong môi trường CBI thấp và được nhắc đến như là "hiệu ứng điều kiện tiênquyết."

Tuy nhiên, có các ý kiến khác cho rằng liệu các điều kiện tiên quyết này trongthực tế là tiền đề cho IT thành công hay trái ngược, chỉ đơn thuần là các yếu tố mongmuốn có tại đó để khiến cho bất kỳ chế độ tiền tệ thành công hơn Các tranh luận đã đềcập về việc IT có thể thúc đẩy sự phát triển của một số các đặc điểm này (Batini vàLaxton, 2007, Friedman và Ötker-Robe, 2009; Mishkin, 1999) Do đó, IT có thể thànhcông hơn so với các chế độ tiền tệ khác khi những yếu tố này đang thiếu và có rấtnhiều phần cần cải thiện Ở các nước có CBI thấp với sự thiếu hụt các yếu tố này, có

Trang 5

thể mong đợi hiệu ứng lớn hơn của IT Điều này được gọi là "Cải tiến có hiệu quả" khiCBI thấp Ngược lại, khi đã có sẵn các đặc điểm này, có thể khiến cho sự hiệu quả của

IT ít hơn

Một ví dụ khác của hiệu ứng này, CBI thấp có thể ngụ ý rằng độ tin cậy ngânhàng trung ương yếu và lạm phát kỳ vọng không neo đậu, cho thấy rằng IT có thể tạomột tác động lớn (Bernanke et al.1999; Mishkin, 1999; Svensson, 1997) Trong khi đó,nếu một ngân hàng trung ương có uy tín, nó không cần độ tin cậy và neo lạm phát kìvọngđạt được khi thực hiện IT (Ball, 2010; GoncalvesSalles, 2008)

Ảnh hưởng thuần của CBI thấp lên hiệu quả của IT như vậy, phụ thuộc vào sứcmạnh tương đối các điều kiện tiên quyết và hiệu quả cải thiện của IT.Bằng cách phântích thực nghiệm ảnh hưởng của CBI đến thành công của cơ chế IT, tác giả hy vọnglàm sáng tỏ cuộc tranh luận này Tác giả không tìm thấy bằng chứng về tác động có lợicủa IT ở các nước tiên tiến hoặc các quốc gia đang nổi lên với CBI ở mức độ cao.Tuynhiên, họ lại phát hiện các lợi ích lớn ở các nước mới nổi với mức độ thấp của CBI.Những kết quả này nghi ngờ quan điểm cho rằng CBI cao là một điều kiện cần thiếtcho IT hiệu quả trái ngược hoàn toàn, IT chỉ có hiệu quả khi các ngân hàng trungương không độc lập Điều này cho thấy rằng sự “cải tiến có hiệu quả của IT” thì quantrọng hơn hiệu ứng “điều kiện tiên quyết” Do đó, các nền kinh tế mới nổi không nênchờ cho CBI cao hơn trước khi áp dụng IT như là một chiến lược chính sách tiền tệ

Sau đó tác giả nghiên cứu các cách thức mà thông qua đó CBI thấp tại các nềnkinh tế mới nổi làm tăng hiệu quả của IT trong việc giảm lạm phát Cụ thể, tác giả xemxét các cách thức mà thông qua đó, nước CBI thấp sẽ có nhiều cơ hội hơn khi thựchiện IT so với các nước CBI cao.Ví dụ, ở các quốc gia có CBI thấp, khi các chính trịgia càng có trách nhiệm trong việc đảm bảo lạm phát thấp, việc áp dụng IT sẽ khiếncho tăng CBI thực tế hoặc danh nghĩa(Mishkin, 1999; Batini và Laxton, 2007) Quantrọng hơn, IT có thể mang về kỷ luật tài khóa cao hơn và giảm thâm hụt ngân sách ởquốc gia CBI thấp, bởi vì việc tài trợ thâm hụt ngân sách tiếp tục thông qua việc phát

Trang 6

hành tiền sẽ gây nguy hiểm cho việc đạt được các mục tiêu lạm phát (IMF, 2006) ITcũng có thể dẫn đến giảm đô la hóa khoản nợ, tăng cường hiệu lực và khả năng làmgiảm lạm phát của chính sách tiền tệ (Mishkin, 2003) IT cũng gắn liền với những cảitiến nhanh chóng trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông qua việc thực hiện của ngân hàngtrung ương( Batini và Laxton, 2007) cùng với hệ thống thông tin, minh bạch và tráchnhiệm giải trình của họ (Mishkin và Schmidt-Hebbel, 2001).

Mặc dù không thể xác định riêng biệt tất cả các cách thức vì hạn chế dữ liệu, tácgiả tìm thấy bằng chứng cho thấy sự suy giảm trong thâm hụt ngân sách là một cáchthức quan trọng Trong đó, có một sự suy giảm đáng kể trong thâm hụt ngân sách trongnước CBI thấp sau khi áp dụng IT, nhiều hơn so với trong nước CBI cao Khi tác giảkiểm định sự xuất hiện của yếu tố thâm hụt ngân sách trong hồi quy chuẩn, tác giảnhanh chóng nhận ra IT đạt được hiệu quả hơn hẳn ở các quốc gia có CBI thấp Tráilại, tác giả không tìm thấy bằng chứng cho thấy đô la hóa khoản nợ và sự phát triển tàichính đóng vai trò như là cách thức quan trọng mà qua đó CBI thấp cải thiện hiệu quảcủa IT

Phần còn lại của bài nghiên cứu được sắp xếp như sau: Phần 2 giới thiệu các dữliệu và phương trình hồi quy chuẩn mà tác giả sử dụng để kiểm tra tác dụng của IT trênhiệu suất kinh tế vĩ mô và vai trò của CBI Phần 3 trình bày các kết quả thống kê Phần

4 phân tích các cách thức tiềm năng ảnh hưởng đến IT Phần 5 kết luận

III Các nghiên cứu trước đây

Bài nghiên cứu Does Inflation Target Matter? (Ball và Sheridan, 2005) xem xét

xem chính sách lạm phát mục tiêu có giúp cải thiện thành quả của nền kinh tế haykhông, bằng việc kiểm tra lạm phát, sản lượng và lãi suất Các tác giả thực hiện sosánh 7 nước OECD đã áp dụng lạm phát mục tiêu vào những năm 1990 với 13 nướckhông áp dụng trong cùng thời gian Mặc dù một số nước áp dụng IT đã đạt đượcthành quả tốt hơn (thể hiện qua việc lạm phát giảm nhiều hơn), sự hơn kém nhau nàylại được giải thích bằng lập luận cho rằng trước thập niên 1990, các nước áp dụng IT

Trang 7

vốn dĩ đã tạo ra thành quả kém hơn các nước không áp dụng Do vậy, các tác giả chorằng không có bằng chứng cho thấy IT giúp cải thiện thành quả kinh tế.

Bài nghiên cứu Under what conditions can inflation targeting be adopted? The

experience of emerging markets (Batini và Laxton, 2007) phân tích hiệu quả của chính

sách IT tại các nước mới nổi Họ thực hiện nghiên cứu trên 31 NHTW, và cho thấy ITđem lại lợi ích to lớn cho các nước này so với khi thực hiện các chính sách tiền tệ khác.Kết quả cho thấy có sự cải thiện rõ rệt về việc ổn định lạm phát và kỳ vọng về lạmphát, mà không phải đánh đổi về tăng trưởng Họ cũng cho rằng các quốc gia khôngcần phải đợi đến khi đạt được những “điều kiện tiên quyết” thì mới có thể thực hiện ITthành công

Bài nghiên cứu Does inflation targeting make a difference? (Mishkin và

Schmidt-Hebbel, 2007) xem xét hiệu quả của chính sách IT tại 8 nước công nghiệp và

13 nước mới nổi Kết quả nghiên cứu cho thấy IT giúp các quốc gia giảm lạm pháttrong dài hạn, giảm mức độ phản ứng trước những cú sốc giá dầu và tỷ giá hối đoái, cảithiện tính độc lập và hiệu quả của chính sách tiền tệ, giúp đạt được lạm phát gần đúngvới mục tiêu Họ cho rằng chính sách này đặc biệt đem lại lợi ích nhiều nhất cho cácquốc gia mới nổi

Bài nghiên cứu Does inflation targeting really make a difference? (Lin và Ye,

2009) xem xét tác động của IT đối với lạm phát và biến động lạm phát tại 13 nướcđang phát triển cho đến cuối năm 2004 Họ nhận thấy IT có tác động mạnh đến lạmphát và biến động lạm phát tại các nước phát triển Trong khi đó, so sánh với bàinghiên cứu trước đây của chính mình (Lin và Ye, 2007), họ kết luận rằng IT có tácđộng rất hạn chế đối với lạm phát và biến động lạm phát tại các nước công nghiệp

Bài nghiên cứu Inflation targeting in emerging economies: Panel evidence

(Brito và Bystedt, 2010) xem xét tác động của chính sách lạm phát mục tiêu lên mức

độ và biến động của lạm phát và của tăng trưởng sản lượng tại các nước mới nổi

Trang 8

Trong khi các nghiên cứu trước đó, Batini và Laxton (2007) và Goncalves và Salles(2008) sử dụng phương pháp ước lượng difference-in-difference tham khảo từ Ball vàSheridan (2005), hai tác giả này lại áp dụng phương pháp ước lượng GMM mà họ chorằng ưu việt hơn Bằng cách này, họ nhận thấy có một số bằng chứng cho thấy IT giúplàm giảm lạm phát, nhưng không khớp với kỳ vọng đối với những nước không áp dụng

IT Ngoài ra, tác động của IT lên biến động lạm phát, biến động tăng trưởng cũng nhỏ.Kết quả phù hợp nhất so với lý thuyết là bằng chứng cho thấy IT gây cản trở đối vớităng trưởng Các tác giả kết luận rằng không có bằng chứng đủ mạnh để cho thấy ITgiúp đạt được mục tiêu ổn định lạm phát tại các nước mới nổi Quan trọng hơn, ngượclại với các nghiên cứu trước vốn cho rằng việc thực hiện IT không gây hại gì cho tăngtrưởng, các tác giả cho thấy thực sự các nước áp dụng IT phải trả giá bằng tăng trưởng

bị cản trở

IV Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này Sami Alpanda và Adam Honig sử dụng phương phápước lượng GMM (Generalized Method of Moments), phương pháp này được đánh giá

là hiệu quả và tối ưu trong việc khắc phục các hiện tượng đa cộng tính và phương saisai số thay đổi trong mô hình hồi quy hơn các phương pháp truyền thống Việc sử dụngước lượng GMM nhằm hiệu chỉnh vấn đề nội sinh của các biến độc lập, và đưa vào môhình tác động cố định cụ thể mỗi quốc gia (country-specific fixed effects)

Mô hình đánh giá và các dữ liệu được dùng để kiểm tra tác động của IT lênthành quả kinh tế vĩ mô và ý nghĩa của CBI đối với IT Ta sẽ xem xét sự hồi quy củamột biến sản lượng của nền kinh tế (gamma-ε) có độ trễ, biến giả IT và một số biến) có độ trễ, biến giả IT và một số biếnkhác Mô hình được mô tả như sau:

Y i,t = β 1 Y i,t-1 + β 2 IT i,t + β 3 CBI i,t + β 4 (ITIT i,t *CBI i,t ) + β 5 HIGHINFL i,t + δ t + ε it +

α i

Trong đó:

Trang 9

i: quốc gia

t: thời gian

Các biến độc lập gồm có:

CBI: mức độ độc lập của NHTW

IT*CBI: biến tương quan giữa tính độc lập NHTW và tác động của IT lên

thành quả của nền kinh tế

HIGHINFL: biến giả biểu thị cho lạm phát cao

δ: thành phần của sai số do tác động thời gian

α: thành phần của sai số giữa các quốc gia

Do CBI có thể khiến cho IT trở nên hiệu quả hơn hoặc kém đi, tùy thuộc cácđiều kiện hỗ trợ có chặt chẽ hay không nên hệ số tương quan ở đây chưa có tính chắcchắn

Nhằm so sánh với những nghiên cứu trước đây và tách biệt các kết quả có đượcthêm từ dữ liệu về CBI, ta sẽ dùng phương trình hồi quy và phương pháp ước lượnggiống như Brito và Bystedt (2010) đã làm và bổ sung thêm hai biến CBI và biến tươngquan

Mẫu dữ liệu nghiên cứu được các tác giả thu thập trong khoảng thời gian

1980-2006, nghiên cứu của Brito và Bystedt (2010) chia 27 năm này thành 9 giai đoạn, các

dữ liệu của mỗi giai đoạn sẽ là dữ liệu trung bình của 3 năm giai đoạn đó Trong mẫunghiên cứu gồm 66 nước có sẵn dữ liệu về chỉ số CBI, trong đó có 44 nước mới nổi và

22 nước phát triển, gồm các quốc gia vận hành IT và quốc gia không vận hành IT trongkhoảng thời gian này

Trang 10

Các nhà nghiên cứu đánh giá các tác động của IT dựa vào các chỉ số thuộc vềkinh tế vĩ mô như là lạm phát (INF), tăng trưởng (Growth), độ biến động lạm phát(sd.INF) và độ biến động tăng trưởng (Sd.Growth) Giá trị trung bình và độ lệch chuẩncủa 2 chỉ tiêu này được tính theo từng giai đoạn (3 năm).

Dữ liệu về thời gian áp dụng chính sách LPMT tại các nước phát triển được lấy

từ nghiên cứu của Ball (2010), tại các nước mới nổi được lấy từ nghiên cứu của Brito

và Bystedt (2010), ngoài ra họ cũng lấy dữ liệu từ nghiên cứu của Batini và Laxton(2007) Biến số IT được cho bằng 1 nếu chính sách LPMT được áp dụng trong toànthời gian của một giai đoạn(3 năm), tương tự sẽ bằng 1/3 hay 2/3 nếu áp dụng trong 1năm hoặc 2 năm

Biến IT có hệ số là β2, hệ số này được diễn giải như sau: với các điều kiện kháckhông đổi, một quốc gia áp dụng LPMT sẽ có lạm phát ít hơn một quốc gia không ápdụng LPMT một khoảng là β2 Hay là khi một quốc gia thực thi LPMT, thì lạm phátcủa nó sẽ giảm trung bình β2 %

Để đo lường biến CBI, tác giả tham khảo chỉ số CBI của Cukierman et al.(1992), dựa trên sự độc lập của NHTW về mặt pháp lý (biến LEGAL) và vòng quaynhiệm kỳ của các thống đốc NHTW (biến TURNOVER) Các chỉ số này có dữ liệuđến năm 1989 ở cả các nước phát triển và đang phát triển, và đưa ra một giá trị trongmỗi 10 năm Các chỉ số biến thiên từ 0 đến 1, hàm ý rằng giá trị LEGAL càng cao vàTURNOVER càng thấp thì CBI càng cao

Chỉ số LEGAL được tính đến năm 2002 tại 24 nước Mỹ Latin và Caribê, thamkhảo Jácome và Vázquez (2005), và đến năm 1999 đối với các nước phát triển thamkhảo Siklos (2008)

Chỉ số TURNOVER được mở rộng đến sau 1990 lấy từ nghiên cứu của Crowe

và Meade (2007) và Dreher, et al (2008)

Trang 11

Có ba điểm lưu ý về các chỉ số này, đó là:

Thứ nhất, không phải tất cả các nước có áp dụng IT đều có CBI cao và giá trị

của biến CBI có sự biến thiên giữa các quốc gia, vấn đề này có thể khai thác để tìmhiểu vai trò của CBI (đối với IT)

Thứ hai, các dữ liệu cung cấp thêm thông tin về tính độc lập NHTW vượt quá

tính độc lập của các công cụ thực thi Như Batini và Laxton (2007) đã thảo luận, hầuhết các NHTW đều có sự độc lập về công cụ thực thi danh nghĩa trong thời gian thựchiện IT Tuy nhiên, xét về mặt thực tế, nhiều NHTW thiếu đi những đặc điểm khác củatính độc lập, như quyền tự do mua trái phiếu chính phủ, khả năng tự do đánh giá vai tròcủa lạm phát đối với các mục tiêu chính sách khác, và mức độ ổn định của chức vụthống đốc NHTW (Batini và Laxton, 2007) Thêm vào đó, biến TURNOVER còn chobiết mức độ ổn định của chức vụ thống đốc theo khía cạnh thực tế

Thứ ba, một rủi ro tiềm ẩn đối với biến LEGAL là những gì được viết trong luật

có thể khác biệt nhiều so với thực tế Điều này đặc biệt đúng với các nước mới nổi.Tương tự, tính độc lập của các công cụ thực tế không có nghĩa là độc lập một cáchdanh nghĩa, Cukierman, et al (1992) cho rằng biến TURNOVER phù hợp với cácnước mới nổi hơn là biến LEGAL, trong khi ở các nước phát triển, biến LEGAL biểuthị tính độc lập NHTW tốt hơn

Cuối cùng, biến HIGHINFL - giá trị trung bình của lạm phát cao (trên 40%)

trong các giai đoạn, giải thích cho biến động khác thường của các nền kinh tế có lạmphát cao (Brito và Bystedt, 2010; Batini và Laxton, 2007; IMF, 2006)

V Tóm tắt kết quả thống kê

Bảng 1: Đây là bảng thống kê các quan sát Thời gian khảo sát từ năm

1980-2006 và được chia cứ 3 năm của một quốc gia là là một giai đoạn Mẫu bao gồm 66nước, trong đó có 22 nước phát triển và 44 nước mới nổi

Trang 12

Nhận xét: Các nước phát triển đóng góp 27% (126/460) tổng số quan sát Cácnước phát triển và mới nổi, gộp chung, áp dụng IT trong khoảng 13% thời gian đượckhảo sát (mean IT/ 66 quốc gia =0.13) Các nước mới nổi có vòng quay nhiệm kỳthống đốc NHTW ( TURNOVER) cao hơn (0.26>0.16), nhưng ngạc nhiên là họ lại cóchỉ số CBI về mặt pháp lý (LEGAL) hơi cao hơn (0.43>0.42) Điều này nhấn mạnhrằng ở các nước mới nổi, việc đo lường tính pháp lý (LEGAL) không phản ánh chínhxác tính độc lập của NHTW (CBI), như Cukierman, et al (1992) đã nói Các nước mớinổi có tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng sản lượng cao hơn (20.91>4.51 và3.96>2.75) Các nước này cũng trải qua những thời kỳ siêu lạm phát, như số liệu vềlạm phát chỉ ra (s.d INFLATION =38.74 và có một sự chênh lệch lớn ở MinInflation=-0.6 và max Inflation=317).

Trang 13

Bảng 2: Trình bày tóm tắt các số liệu thống kê được chia theo các loại quốc gia

(nâng cao hoặc mới nổi), chế độ tiền tệ (áp dụng IT hoặc không áp dụng IT, theo quyđịnh bởi biến IT), và xa hơn nữa bằng thời kỳ (trước-IT với sau-IT) : Đối với quốc giaphát triển (mới nổi) trước đây không áp dụng IT, bình quân việc áp dụng IT vào năm

1995 (1999), được sử dụng để phân chia mẫu

Nhận xét:

 Nhóm 22 nước phát triển: 10 quốc gia trong thời kỳ áp dụng IT có lạmphát thấp hơn (1.88<6.19), tốc độ tăng trưởng cao hơn (3.35>2.45), và biến động lạmphát và sản lượng thấp hơn (0.98<1.86 và 1.26<1.5) so với trước khi áp dụng IT Hiệuquả này cũng đạt được ở 12 quốc gia phát triển không áp dụng IT nhưng không lớnbằng Ví dụ, sự giảm lạm phát từ 5.06 xuống 1.92 và tăng trưởng tăng từ 2.56 đến 3.36

Trang 14

 Nhóm 44 nước mới nổi: Mô hình này tương tự cho các nền kinh tế mớinổi, mặc dù những cải thiện qua thời gian ở các nước áp dụng IT thì lớn hơn đáng kể

so với các quốc gia không áp dụng IT Ví dụ, các nước mới nổi áp dụng IT có sự giảmlạm phát trung bình là 10% (từ 10.97 xuống còn 1.52), trong khi các quốc gia không ápdụng IT giảm 4% (từ 8.75 xuống còn 3.03) Điều này gợi nhớ đến các kết quả trước đó

có được trong các tài liệu bằng cách sử dụng ước lượng difference-in-difference.Tuynhiên, nhìn vào lạm phát trung bình trước và sau khi việc áp dụng IT có thể gây hiểunhầm và phóng đại các tác dụng có lợi của IT (từ 33.53 xuống 4.03) Như đã chỉ ra bởiBrito và Bystedt (2010), các nước áp dụng IT trải qua lạm phát trung bình cao hơnnhững nước không áp dụng IT đến cuối những năm 1980 Nhưng đến giữa những năm

1990, thời điểm trước khi áp dụng IT các nước áp dụng IT có lạm phát thấp hơn so vớiquốc gia không áp dụng IT Xu hướng lạm phát này có thể gây ra sai lệch đối với cáchước lượng difference-in-difference.Cuối cùng, bảng 2 cho thấy các nền kinh tế mớinổi, mà bắt đầu với lạm phát trung bình và biến động lạm phát cao hơn nhiều, thì đạtđược sự giảm lạm phát nhanh hơn so với các nền kinh tế tiên tiến ( ở các nền kinh tếtiên tiến lạm phát giảm từ 6.19 xuống 1.88, còn các quốc gia mới nổi từ 33.53 xuống4.03)

Bảng 3: Tập trung vào những nền kinh tế mới nổi và đưa ra các số liệu thống kê

dựa trên việc có áp dụng IT hay không, thời kì trước và sau khi áp dụng IT, mức độcủa CBI (sử dụng TURNOVER như là đại diện) Cụ thể, tác giả trình bày bảng thống

kê tóm tắt về TURNOVER dưới (CBI cao) và trên 0.26 (CBI thấp) Được mô tả trongphần kết quả, TURNOVER=0.26 là mức giới hạn phân chia về ảnh hưởng của IT lênlạm phát trung bình ( mức ý nghĩa 10%) Đây cũng là giá trị trung bình củaTURNOVER( trung vị là 0.2)

Trang 15

Nhận xét:

Trang 16

● Những nước áp dụng IT với TURNOVER thấp/CBI cao sau khi áp dụng

IT, trung bình( trung vị) của lạm phát giảm 11 ( 8) % (từ 15.16% xuống 3.92% và11.6% xuống 3.45%), so với những nước không áp dụng IT thì giảm 8 (4) % (từ15.53% xuống 7.16% và 8.7% xuống 4.85%)

Những nước áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26 (CBI thấp), trung bình( trungvị) của lạm phát giảm 55 (20) % (từ 59.6% xuống 4.3% và 23% xuống 3.4%), trongkhi những nước không áp dụng IT giảm 22 (5) % (từ 31.34% xuống 9.23% và 14.8%xuống 10%) Vì vậy, nếu không xét chính sách tiền tệ ( dù có áp dụng IT hay không)những nước TURNOVER cao (CBI thấp) thì lạm phát giảm nhiều hơn là những nướcCBI cao.Thêm vào đó, với cùng TURNOVER, những nước áp dụng IT có sự cải thiệnlạm phát nhiều hơn những nước không áp dụng IT Cuối cùng, đối với những nhómnước có TURNOVER>=0.26 (CBI thấp), sự chênh lệch về mức độ giảm lạm phát quathời gian giữa những nước áp dụng IT và những nước không áp dụng IT là lớn hơn.Vìthế, kết luận sơ bộ cho thấy rằng IT làm giảm lạm phát nhiều hơn so với các chính sáchtiền tệ khác trong những nước CBI thấp

● Mối quan hệ giũa TURNOVER và thâm hụt ngân sách thì tương tự nhưtrên Cụ thể là, cả TURNOVER và thâm hụt ngân sách ở các nước cóTURNOVER<0.26 (CBI cao) cho dù các nước này có thực hiện IT hay không, đềukhông thay đổi nhiều hoặc chỉ tăng nhẹ (TURNOVER thay đổi từ 0.14 đến 0.12 hoặcgiữ nguyên là 0.16, deficit từ 2.54 lên 3.19 và 2.16 lên 3.21)

Đối với các nước TURNOVER>=0.26 (CBI thấp) có hoặc không thực hiện IT,thâm hụt ngân sách đều giảm (từ 3.2 xuống -0.14 và 1.12 xuống -0.79); nhưng mứcgiảm trung bình của các nước có thực hiện IT (từ thâm hụt 3.2% thành thặng dư 0.1%)nhiều hơn mức giảm trung bình của các nước không thực hiện IT (từ thâm hụt 1.1%thành thặng dư 0.8%) Điều này khớp với giả thuyết cho rằng việc áp dụng IT thúc đẩychính phủ của các nước có CBI thấp gia tăng kỷ luật tài khóa, giảm nhu cầu in tiền đểtài trợ cho thâm hụt ngân sách, theo đó làm giảm tỷ lệ lạm phát trung bình

Trang 17

● Với những nước áp dụng IT có TURNOVER thấp/ CBI cao, giá trị trungbình và trung vị của biến động lạm phát, giảm tương ứng 3% và 1% sau khi áp dụng

IT, trong khi ở các nước không áp dụng IT thì mức giảm tương ứng là 4% và 2% Ởcác nước áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26, các giá trị này giảm tương ứng 19% và3%; ở các nước không áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26, mức giảm tương ứng là7% và 2% Với những nước có TURNOVER cao/ CBI thấp, biến động lạm phát giảmnhiều hơn các nước CBI cao, không phụ thuộc vào chính sách tiền tệ.Thứ hai, trong sốcác nước TURNOVER thấp, những nước không áp dụng IT có tiến bộ nhiều hơnnhững nước áp dụng; còn trong số các nước TURNOVER cao thì ngược lại.Như vậy

có nghĩa là IT có hiệu quả hơn những chính sách tiền tệ khác, ở những nước CBI thấp

Với các nước áp dụng IT có TURNOVER thấp/ CBI cao, giá trị trung bình vàtrung vị của tăng trưởng tăng tương ứng 1% và 1.2% sau khi áp dụng IT; trong khi ởcác nước không áp dụng IT thì mức tăng tương ứng là 1.2% và 1% Ở các nước ápdụng IT với TURNOVER >= 0.26, các giá trị này tăng tương ứng 0.6% và 1.4%; ở cácnước không áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26, mức tăng tương ứng là 0.4% và1.4% Như vậy, những kết quả ban đầu cho thấy các nước có và không áp dụng IT đều

có tăng trưởng tăng giống nhau, và xu hướng tăng này không đáng kể so khi CBI tăngdần

Cuối cùng, đối với các nước có áp dụng IT có TURNOVER thấp (CBI cao),biến động của tăng trưởng trung bình (trung vị) giảm 1,3% (0,8)%, trong khi các nướckhông áp dụng IT giảm 1,8% (1,1%) Còn các nước áp dụng IT có TURNOVER cao,biến động của tăng trưởng trung bình giảm 1,2% (1,6%), trong khi các nước không ápdụng IT giảm 0,5% (0,65%) Theo thời gian, với các nước có TURNOVER thấp, nướckhông áp dụng IT được cải thiện hơn những nước áp dụng IT, điều ngược lại đúng đốivới các nước có TURNOVER cao.Các kết luận sơ bộ đồng ý là IT thực hiện tốt hơn sovới các chế độ khác ở quốc gia CBI thấp

Trang 18

Bảng 4 trình bày các mối tương quan của mẫu nhỏ với mẫu lớn, ở các nước tiên

tiến và các nền kinh tế mới nổi.IT có liên quan với lạm phát trung bình thấp, biến độnglạm phát, và sự biến động tăng trưởng đối với các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi.ITtương quan với tốc độ tăng trưởng trung bình thấp trong các mẫu đầy đủ đối với cácnền kinh tế mới nổi, nhưng tương quan với tốc độ tăng trưởng cao đối với các nền kinh

tế tiên tiến.Theo dự kiến, LEGAL và TURNOVER là tương quan âm.Hơn nữa, lạmphát và biến động lạm phát có mối tương quan âm với LEGAL, trong khi chúng đang

có mối tương quan dương với TURNOVER trong các nền kinh tế mới nổi.Tuy nhiên,đối với các nước tiên tiến, dấu hiệu của sự tương quan giữa cả lạm phát, biến động lạmphát và TURNOVER lại âm Như đã đề cập trong Cukierman, et al.(1992),TURNOVER không phải là một giải pháp tốt của CBI cho các quốc gia tiên tiến, trongkhi LEGAL không là biểu hiệu của CBI trong các nền kinh tế mới nổi Tác giả sẽ quaytrở lại vấn đề này trong phần kết quả nghiên cứu tiếp theo

Trang 19

Bảng 5 trình bày kết quả ước lượng phương trình (1) đã loại trừ biến CBI, nhằm

so sánh với các nghiên cứu trước đây.Mặc dù loại bỏ biến CBI, nhưng tác giả vẫn sửdụng mẫu gồm các nước có dữ liệu về CBI.Trong phương pháp ước lượng GMM, tácgiả xem các biến IT và CBI cùng với biến phụ thuộc có độ trễ là những biến hồi quy đãxác định.Vì vậy, tác giả giả định rằng lạm phát hiện thời không tác động đến việc vậnhành IT mặc dù lạm phát của quá khứ có thể tác động.Trong phần 3.2, tác giả thử bằngviệc xem IT và CBI là các biến nội sinh.Biến giả HIGHINFL được xem là biến nộisinh trong tất cả các phép hồi quy

Trang 20

Kết quả cho thấy: so với những chính sách tiền tệ khác, IT làm giảm lạm phátvới tất cả quốc gia trong mẫu với mức giảm trung bình 1.7%, ở nhóm các nước pháttriển 0.34% (không đáng kể), và ở nhóm các nước mới nổi 2% (với p-value=0.11) Kếtquả đối với các nước phát triển và các nước mới nổi đều phù hợp với đa số các nghiêncứu trước.Trong khi IT được kỳ vọng sẽ làm giảm biến động lạm phát (Cecchetti andEhrmann, 2002), thì các cột 4 đến 6 ở phần trên của bảng 5 lại cho thấy IT không cótác động đáng kể Kết quả này với nhóm nước mới nổi thì phù hợp với kết quả củaBrito và Bystedt (2010) nhưng không phù hợp với Lin và Ye (2009) và Batini vàLaxton (2007), khi hai nhóm tác giả này thấy rằng IT có làm giảm biến động lạm phát.Tác động (không đáng kể) với nhóm nước phát triển thì phù hợp với Ball (2010).

Ở phần dưới của bảng, IT làm giảm tăng trưởng trung bình của toàn bộ mẫu vàcủa nhóm nước mới nổi, nhưng làm tăng tăng trưởng của nhóm nước phát triển.Kếtquả này với nhóm nước mới nổi thì phù hợp với Brito và Bystedt (2010), nhưng vớinhóm nước phát triển thì trái với Ball (2010) khi tác giả này thấy không có tác động.Cột 4 đến 6 ở phần dưới của bảng cho thấy IT có tác động làm giảm biến động tăngtrưởng (nhưng không đáng kể) đối với toàn mẫu (p-value=0.14) và với nhóm nước mớinổi (p-value=0.24), nhưng làm tăng (không đáng kể) với nhóm nước phát triển Kếtquả cho nhóm nước mới nổi phù hợp với Brito và Bystedt (2010), Batini và Laxton(2007) và Goncalves và Salles (2008) – họ thấy tác động âm và đáng kể Kết quả chonhóm nước phát triển phù hợp với Ball (2010) Biến HIGHINFL làm tăng lạm phát,biến động lạm phát, biến động tăng trưởng, nhưng làm giảm tăng trưởng Biến nàyđược loại khỏi các nước phát triển do hiện tượng cộng tuyến vì chỉ có một nước trảiqua giai đoạn lạm phát cao

Từ bảng 6 – 9, để kiểm tra tác động của IT lên lạm phát, biến động lạm phát,tăng trưởng, biến động tăng trưởng, tác giả sử dụng các hệ số tương quan IT vàIT*CBI

Trang 21

Bảng 6, trình bày kết quả ước lượng phương trình (1) với lạm phát trung bình là

biến phụ thuộc Các kết quả được đưa ra như sau:

● Hệ số của LEGAL không có ý nghĩa trong cả 3 mẫu, tức là với tất cảnhững yếu tố khác giống nhau thì LEGAL không làm thay đổi sự tác động của IT tớilạm phát

● Đối với toàn mẫu, tác động của IT lên lạm phát phụ thuộc vào mức độCBI ( sử dụng TURNOVER như là CBI) → IT làm giảm lạm phát hiệu quả hơn ởnhững nước có TURNOVER cao

● Trong nền kinh tế mới nổi, IT đóng một vai trò quan trọng trong việcgiảm lạm phát nhiều hơn so với các chính sách tiền tệ khác khi CBI thấp( TURNOVER cao)

Ngày đăng: 09/05/2015, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w