1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tài chính quốc tế Tác động của sự độc lập của ngân hàng trung ương lên diễn biến của chế độ lạm phát mục tiêu

44 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 721 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đạt được bao gồmlạm phát và biến động lạm phát thấp hơn, trong khi vẫn giữ tính linh hoạt đủ đểphản ứng với những cú sốc kinh tế vĩ mô và có khả năng ổn định được đầu ra.Thị trườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

BÀI TIỂU LUẬN

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ ĐỘC LẬP CỦA NHTW LÊN DIỄN BIẾN CỦA CHẾ ĐỘ LẠM PHÁT MỤC TIÊU

Trang 2

MỤC LỤC

Tóm tắt tr3

I Giới thiệu tr3

II Phương pháp nghiên cứu tr8

III Nội dung và kết quả nghiên cứu tr8

1 Ảnh hưởng của IT và vai trò của CBI tr8 1.1 Dữ liệu tr9 1.2 Tóm tắt kết quả thống kê tr11

2 Kết quả tr16 2.1 Lạm phát ở các nền kinh tế mới nổi tr21 2.2 Các khảo sát tích cực tr22

3 Các kênh tác động tr23 3.1 Các kênh tiềm năng khác tr26

IV Kết luận tr28 Tài liệu tham khảo tr29 Phụ lục tr33

Trang 3

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ ĐỘC LẬP CỦA NHTW LÊN DIỄN BIẾN CỦA

Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu về IT trước đây cho rằng CBI là một “điều kiện tiên quyết” để thực thi chính sách lạm phát mục tiêu Nhưng kết quảthứ hai của bài nghiên cứu này còn cho thấy, CBI không những là điều kiện tiênquyết để thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu, mà nó còn có hiệu quả lớn tớigiảm lạm phát Nên có thể nói, CBI có tác động cải thiện đối với IT

Ngoài việc chứng minh cho hai kết luận trên, bài nghiên cứu còn chứngminh rằng, kênh ngân sách là một trong những kênh chịu tác động mạnh mẽ nhấtcủa IT lên các nước có CBI thấp Tác dụng làm giảm thâm hụt ngân sách là biểuhiện đáng kể của kênh này

I Giới thiệu:

Ngày nay, ngày càng nhiều các quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu lạmphát Xu hướng này bắt đầu vào đầu những năm 1990, một số ít các nước tiêntiến bắt đầu áp dụng IT Đến giữa thập niên 1990, các quốc gia công nghiệp bắc

Trang 4

chước làm theo Vào cuối thập niên 1990 và thập niên đầu thế kỷ 21, các NHTWcủa những nền kinh tế mới nổi đã bắt đầu áp dụng “lạm phát mục tiêu” (IT).Thống kê hiện tại có 8 nền kinh tế tiên tiến và 13 thị trường các quốc gia mớinổi áp dụng chế độ này Chỉ trong vòng hơn 10 năm, số lượng các nước áp dụng

đã tăng lên đáng kể trên toàn thế giới Có thể thấy được các nước đã thấy đượcnhững lợi ích đáng kể từ việc áp dụng chế độ này Kết quả đạt được bao gồmlạm phát và biến động lạm phát thấp hơn, trong khi vẫn giữ tính linh hoạt đủ đểphản ứng với những cú sốc kinh tế vĩ mô và có khả năng ổn định được đầu ra.Thị trường các quốc gia mới nổi nói riêng đã tìm được một cái “neo”danh nghĩathay thế cho chế độ tỷ giá hối đoái cố định, mà không có sự bất ổn như chế độ tỷgiá hối đoái cố định

Khi số lượng của các quốc gia áp dụng IT đã tăng lên, các nhà khoa họcngày càng quan tâm đến ảnh hưởng của chế độ này Các bài nghiên cứu cố gắngxác định các tác động của IT tới : lạm phát trung bình, biến động lạm phát, tăngtrưởng trung bình, và biến động tăng trưởng Tuy nhiên có sự khác nhau nhấtđịnh trong cách chọn mẫu

Nghiên cứu ban đầu tập trung vào các nước công nghiệp (cf Ball vàSheridan, 2005), kết quả cho thấy IT có cải thiện hiệu suất kinh tế vĩ mô, nhưngkhông đưa ra được các bằng chứng thuyết phục Các công trình nghiên cứu gầnđây, cùng với việc mở rộng mẫu bao gồm cả các nền kinh tế mới nổi và có xuhướng tìm thấy bằng chứng thuyết phục hơn (Batini và Laxton, 2007; Gonçalves

và Salles, 2008; Lin và Ye, 2009; Mishkin và Schmidt-Hebbel, 2007) Tuynhiên, nghiên cứu của Brito và Bystedt (2010) đã cho kết quả hơi khác Nghiêncứu này sử dụng hệ thống ước tính GMM trái ngược với các ước tính thườngđược sử dụng trong Ball và Sheridan (2005) Họ chỉ ra tác dụng hỗ trợ yếu đicủa IT lên: lạm phát trung bình, biến động lạm phát, biến động tăng trưởng Vàcung cấp bằng chứng cho thấy tốc độ tăng trưởng trung bình thấp dưới chế độ

Trang 5

IT Trải qua nhiều năm nghiên cứu, Ball (2010) tuyên bố chưa thể kết luận gì vềbằng chứng của các tác động có lợi của IT trong các nền kinh tế mới nổi Mặc

dù tác động của nó là mạnh mẽ hơn các quốc gia tiên tiến

Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả muốn chứng minh rằng, tất cảcác nền kinh tế mới nổi là không giống nhau và IT có thể cho tác dụng khácnhau ở các nước khác nhau Đặc biệt là với các nước có mức CBI riêng, thì cóthể tương tác với chế độ IT để tạo ra những kết quả kinh tế vĩ mô khác nhau Vìthế, trong quá trình chọn mẫu, nếu không phân biệt rõ ràng các nước tiên tiếnhay mới nổi, kết quả của những tác động của IT trong một tập hợp con của cácnước bị yếu đi, vì các quốc gia không áp dụng IT

Trong một phương diện khác, CBI là một nhân tố làm cho IT có hiệu quảnhiều hơn hoặc ít hơn Nói cách khác, sự độc lập của NHTW có thể là một

“điều kiện tiên quyết cho thành công IT” (Mishkin, 2000; 2004; Eichengreen et

al, 1999; Friedman và Ötker-Robe, 2010) Ví dụ, IT có thể không có tác dụng

duy trì mức lạm phát thấp, nếu các NHTW bị áp lực chính trị phải giảm tỷ lệthất nghiệp hoặc phát hành tiền do thâm hụt tài chính lớn Điều này xảy ra trongquốc gia có mức CBI thấp Tương tự như vậy, CBI thấp có thể hàm ý rằng cácđiều kiện tiên quyết khác cũng bị triệt tiêu Chúng bao gồm các ưu tiên của mụctiêu lạm phát cũng như mục tiêu của chính sách tiền tệ: đó là sự không tồn tạicủa sự thống trị tài chính, hạn chế nguy cơ đô la hóa, và thông tin NHTW minh

bạch, và trách nhiệm giải trình (Batini và Laxton, 2007; Friedman và Robe, 2010) Trong trường hợp này, IT ít năng động hơn trong môi trường CBI

Ötker-thấp Chúng tôi gọi điều này là " sự tác động của điều kiện tiên quyết."

Tuy nhiên, có sự không thống nhất về những điều kiện tiên quyết là cácyêu cầu trong thực tế ảnh hưởng lên sự thành công của IT Thực tế các ý kiếnhầu như chắc chắn sẽ đồng ý rằng những điều kiện trên sẽ làm cho bất kỳ chế độtiền tệ nào cũng sẽ thành công hơn Hơn nữa, có lập luận cho rằng IT có thể thúc

Trang 6

đẩy sự phát triển của chúng ( Batini và Laxton, 2007; Friedman và Ötker-Robe, 2009; Mishkin, 1999) Rõ ràng ở đây có một sự tương tác ngược lại của các yếu

tố điều kiện tiên quyết Tác động này được giải thích khi có sự hiện diện củađiều kiện tiên quyết Vì vậy, IT có thể thành công hơn khi những nhân tố nàycòn thiếu và cần cải thiện Khi đó, IT sẽ có tác dụng cải thiện lớn nhất Trongphạm vi mà những nhân tố này đang thiếu ở nước có CBI thấp, hoàn toàn có thể

kỳ vọng ảnh hưởng lớn của IT lên nhân tố CBI thấp Chúng tôi gọi đây là "tácđộng cải thiện" của mức CBI thấp Ngược lại, khi các yếu tố này đã được thựchiện tốt (ở các nước phát triển), có ít điều kiện để IT cải thiện

Một ví dụ khác của hiệu ứng này, CBI thấp có thể cho thấy sự tín nhiệmđối với NHTW thấp, và các kỳ vọng lạm phát thả nổi là yếu, đây là yếu tố giúp

IT có thể có tác động lớn hơn (Bernanke et al, 1999; Mishkin, 1999; Svensson,1997), trong khi đó nếu một ngân hàng trung ương có uy tín, nó không cần sự tincậy và kỳ vọng lạm phát cố định (ball, 2010; Gonçalves và Salles, 2008) Mộtlần nữa, chúng tôi mong đợi để xem hiệu ứng mạnh mẽ của IT ở các nước không

có các ngân hàng trung ương độc lập

Hiệu ứng tác động của CBI thấp tới hiệu quả của IT, phụ thuộc vào sứcmạnh tương đối của các điều kiện tiên quyết và các tác động cải thiện Nghĩa là

sự chênh lệch về so sánh sức ảnh hưởng của điều kiện tiên quyết và tác động cảithiện, quyết định đến mức độ ảnh hưởng của CBI lên IT Bằng cách phân tíchthực nghiệm tác động của CBI đối với diễn biến của chế độ IT, chúng tôi hyvọng làm sáng tỏ cuộc tranh luận này Để kiểm tra kết quả, chúng tôi không tìmthấy bằng chứng về tác dụng có lợi của IT ở các quốc gia tiên tiến hoặc các quốcgia đang phát triển với mức độ cao của CBI (điều kiện tiên quyết > tác động cảithiện) Tuy nhiên chúng tôi phát hiện các tác động đáng kể ở các quốc gia đangphát triển với mức CBI thấp (tác động cải thiện > điều kiện tiên quyết) Nhữngkết quả trên cho ta nhận định mới về quan điểm cho rằng CBI là một điều kiện

Trang 7

cần thiết cho hiệu quả IT Hoàn toàn trái ngược, IT chỉ có hiệu quả khi cácNHTW không phải là độc lập, cho thấy tác dụng cải thiện là quan trọng hơn hiệuứng điều kiện tiên quyết Ý nghĩa của nó là các nền kinh tế mới nổi nên áp dụng

IT như là một chiến lược chính sách tiền tệ trước khi CBI tăng cao

Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích các kênh mà qua đó CBI thấp tạicác nền kinh tế mới nổi, làm tăng hiệu quả của IT (giảm lạm phát) Đặc biệt, saukhi áp dụng IT, chúng tôi xem xét một vài khía cạnh khác nhau thể hiện nước cóCBI thấp có nhiều tiến bộ so với các nước CBI cao Ví dụ, thông qua IT có thểmang lại lợi ích lớn hơn trên thực tế hoặc tăng tính pháp lý trong CBI cho các

quốc gia CBI thấp để giảm lạm phát (Mishkin, 1999; Batini và Laxton, 2007).

Điểm quan trọng hơn là IT có thể mang về sự thống trị về tài chính lớn hơn vàgiảm thâm hụt ngân sách ở các quốc gia CBI Việc tiếp tục tài trợ cho thâm hụtngân sách thông qua việc tạo ra tiền sẽ gây nguy hiểm cho việc đạt được cácmục tiêu lạm phát (IMF, 2006) Nên trên thực tế, để giảm lạm phát, các NHTWbuộc phải giảm tối đa thâm hụt ngân sách IT cũng có thể dẫn đến giảm tráchnhiệm đôla hóa, tăng cường hiệu lực của chính sách tiền tệ và khả năng lạm phátthấp hơn (Mishkin, 2003) IT cũng được kết hợp với những cải tiến nhanh chóngtrong cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông qua các NHTW (Batini và Laxton, 2007) vàtăng thông tin liên lạc, minh bạch và trách nhiệm giải trình cao hơn (Mishkin vàSchmidt-Hebbel, năm 2001)

Mặc dù chúng tôi không thể xác định tất cả các kênh do hạn chế dữ liệu,nhưng chúng tôi tìm thấy bằng chứng chỉ sự giảm thâm hụt ngân sách đó là mộtkênh quan trọng Đặc biệt, thâm hụt ngân sách ở các quốc gia CBI thấp giảmđáng kể, sau khi áp dụng IT, nhiều hơn so với các quốc gia CBI cao Khi chúngtôi kiểm soát cho vai trò của thâm hụt ngân sách trong hồi quy điểm chuẩn,chúng tôi không còn thấy rằng IT là hiệu quả ở các quôc gia CBI thấp Ngượclại, chúng tôi lại không tìm thấy bằng chứng cho rằng trách nhiệm pháp lý, đô la

Trang 8

hóa và phát triển tài chính đóng vai trò như là một kênh quan trọng mà qua đóNHTW có CBI thấp cải thiện hiệu suất lạm phát

II Phương Pháp nghiên cứu:

Đầu tiên dựa vào các kết quả trước đó đưa ra nhận định ban đầu Nghiêncứu chủ yếu dùng phương pháp phân tích định tính, tập hợp dữ liệu từ các bàinghiên cứu trước đây Mục đích chứng minh nhận định ban đầu sau đó, sử dung

mô hình kinh tế cụ thể qua đó với việc chạy mô hình kiểm chứng các kết quảtrước đây cũng như kết quả đạt được trên lý thuyết

III Nội dung và kết quả nghiên cứu:

1 Ảnh hưởng của IT và vai trò của CBI

Trong phần này, chúng tôi giới thiệu mô hình chuẩn của chúng tôi và các dữ liệuđược sử dụng để kiểm tra tác động của IT vào hoạt động kinh tế vĩ mô và vai tròcủa CBI Chúng tôi xem xét một hồi quy của một số chỉ số kết quả kinh tế vĩmô:

Yi,t = β1 Yi,t – 1 + β2 ITi,t + β3 CBIi,t + β4 ( ITi,t * CBIi,t )

+ β5 HIGHINFLi,t + δt + αi + εi,t

Khi chỉ số i của quốc gia và chỉ số t cùng thời điểm Các biến kiểm soátbao gồm một biện pháp của ngân hàng trung ương độc lập, CBI, tương tác vớiCBI, và một biến giả cho thấy lạm phát cao, HIGHINFL Thuật ngữ tương tác IT

* CBI cho phép tác động của IT trên hiệu suất kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào CBI.Như nêu ở trên, CBI được cho là có thể làm cho IT hiệu quả nhiều hơn hoặc íthơn tùy thuộc vào sức mạnh tương đối của các hiệu ứng điều kiện tiên quyết vàtác động cải thiện, do đó hệ số của các thuật ngữ tương tác là mơ hồ Cuối cùng,

đề cập đến một hiệu ứng thời gian, và một quốc gia cụ thể là thành phần của saisố

Để tạo điều kiện thuận lợi so sánh với kết quả trước đó và độc lập bổ

Trang 9

sung thông tin được cung cấp bởi các biện pháp của CBI, chúng tôi sử dụngcùng một phương trình hồi quy (trừ CBI và thời hạn tương tác của nó) và dựtoán các bước giống như Brito và Bystedt (2010), do đó chúng tôi ước lượng môhình sử dụng ước tính hệ thống GMM phát triển trong Arellano và Bover (1995)

và Blundell và Bond (1998)

I.1 Dữ liệu

Dữ liệu từ năm 1980 đến năm 2006 Sau Brito và Bystedt (2010), chúngtôi mất khoảng ba năm thực hiện lấy dữ liệu, kết quả là một mẫu với 9 giai đoạn.Điều này làm giảm hàm số, là bậc hai trong IT, và cũng tao ra điều kiện hợp lýcho độ trễ của các biến số vĩ mô Sự tách biệt của hiệu quả cải thiện từ ảnhhưởng của các sự kiện khác nhau trong "mẫu bao gồm tất cả các nước đã ápdụng IT” tại thời gian lấy mẫu, cũng như một nhóm nước không phải mục tiêunghiên cứu (non-target), và thời gian trước khi áp dụng cho các targeters phục

vụ để kiểm soát Chúng tôi sử dụng cùng một tập hợp các nền kinh tế mới nổi,

cả hai targeters và non- targeters, Brito và Bystedt (2010), người đã kết hợp củacác mẫu trong Batini và Laxton (2007) và Goncalves và Salles (2008) Sự khácbiệt duy nhất là hai trong số các nước không có dữ liệu về CBI, và vì vậy chúngtôi chỉ có 44 nền kinh tế mới nổi, không phải 46 nước như họ Trong hồi quyriêng, chúng tôi mở rộng mẫu và bao gồm các kinh tế tiên tiến Nhóm 22 nềnkinh tế tiên tiến được lấy từ Ball (2010) Tổng hợp lại sẽ cho ra mẫu bao gồm

66 quốc gia

Cũng tương tự các nghiên cứu khác, chúng tôi xem xét các tác động của

IT trên bốn chỉ số về hiệu suất kinh tế vĩ mô: lạm phát, tăng trưởng sản lượng,

độ lệch chuẩn của lạm phát, và độ lệch chuẩn của tăng trưởng sản lượng Lạmphát và biện pháp tăng trưởng sản lượng tăng trưởng liên tục phức tạp hơn ở chỉ

số giá tiêu dùng và GDP thực tế (nhân cho 100) Giá trị trung bình và độ lệchchuẩn sau đó được tính cho từng thời kỳ ba năm

Trang 10

Việc sử dụng của lãi kép liên tục có thay đổi tỷ lệ một phần làm giảm ảnhhưởng của giá trị ngoại lai.

Ngày áp dụng đối với các nền kinh tế tiên tiến được lấy từ Ball (2010), các nền kinh tế mới nổi từ Brito và Bystedt (2010), là những người sử dụng kết quả của Batini và Laxton (2007) Biến IT giả định một giá trị trong một khoảng

thời gian ba năm, nếu một chế độ IT diễn ra trong cả ba năm của thời kỳ này, nóđược thiết lập bằng 2/3 nếu IT diễn ra trong 2 năm, hoặc 1/3 nếu là 1 năm.Chúng ta có thể giải thích hệ số của biến IT, β2, như sau: khi tất cả các yếu tốkhác cân bằng, một quốc gia IT có lạm phát ít hơn so với quốc gia không ápdụng It là một khoảng β2 Nói cách khác, nếu một quốc gia áp dụng IT nó sẽgiảm lạm phát trung bình β2%

Đối với tác động của CBI, chúng ta xem xét các chỉ số CBI của

Cukierman và các đồng nghiệp (1992), mà là dựa trên khía cạnh độc lập về pháp

lý của NHTW (LEGAL) và chỉ số nhiệm kỳ 10 năm của các thống đốc NHTW(biến TURNOVER) Các chỉ số nói chung là có sẵn cho đến năm 1989 cho cảhai nền kinh tế tiên tiến và phát triển và giả định một giá trị mỗi thập kỷ Các chỉ

số biến thiên từ 0 đến 1, hàm ý rằng giá trị LEGAL càng cao (điều kiện pháp lýcao) và TURNOVER càng thấp ( nhiệm kỳ thống đốc càng ngắn) thì CBI càngcao

Chỉ số LEGAL được mở rộng ra năm 2002 cho 24 nước Mỹ Latinh và

Caribbean bởi Jácome và Vázquez (2005), người cũng đã thêm một vài quốc gia mới vào mẫu, và thông qua năm 1999 đối với các nước tiên tiến Siklos (2008) Chỉ số TUNOVER đã được bổ sung với các dữ liệu sau năm 1990 từ Crowe và Meade (2007) và Dreher, và các đồng nghiệp (2008).

Có ba điểm về những chỉ số trên cần được lưu ý Đầu tiên, không phải tất

cả các quốc gia áp dụng IT đều có một mức độ CBI cao, và nếu biến CBI thay

Trang 11

đổi đáng kể thì hoàn toàn có thể được khai thác để xác định vai trò của CBI Thứhai, phương pháp phân tích này cung cấp thêm thông tin về CBI, CBI bây giờ

không phải là công cụ độc lập Theo Batini và Laxton (2007) các NHTW vẫn tồn

tại sự độc lập pháp lý tương đối tại thời điểm áp dụng IT Tuy nhiên, nhiềungười vẫn còn các khía cạnh khác của CBI được phản ánh qua các biện pháppháp lý, bao gồm cả như quyền tự do mua trái phiếu chính phủ, tầm quan trọngcủa lạm phát trong những mục tiêu khác, và mức độ ổn đinh cao của vị trí thống

đốc ngân hàng trung ương (Batini và Laxton, 2007) Thêm vào đó, biến

TURNOVER còn cho biết mức độ ổn định theo khía cạnh thực tế Thứ ba, đốivới các biện pháp pháp lý, những gì được luật pháp ban hành có thể rất khác vớithực tế Điều này đặc biệt đúng trong các nền kinh tế mới nổi Tương tự như

vậy, vẫn tồn tại sự độc trên danh nghĩa Trong thực tế, Cukierman, và các đồng nghiệp(1992), lập luận rằng biến TUNOVER là thích hợp hơn cho nền kinh tế

mới nổi hơn so với các biến LEGAL, trong khi đối với các nước tiên tiến, cácbiện pháp của biến LEGAL có tác dụng hơn Những vấn đề này sẽ được thảoluận thêm trong phần 3 và 4

Cuối cùng, theo tài liệu chúng tôi cho thêm một biến giả là HIGHINFL

để kiểm soát các động lực kinh tế vĩ mô có thể khác nhau ở các nước đang lạm

phát cao (Brito và Bystedt, 2010; Batini và Laxton, 2007, IMF, 2006).

HIGHINFL là biến cho thấy lạm phát trung bình cao (> 40%) trong một khoảngthời gian Chúng tôi cũng thử nghiệm loại bỏ giai đoạn lạm phát cao từ mẫu tạimục 3.1

1.2 Tóm tắt kết quả thống kê

Kết quả thống kê các quan sát được trình bày trong Bảng 1 Thời gianđược khảo sát được chia thành từng giai đoạn kéo dài 3 năm Mẫu bao gồm 66nước, trong đó có 22 nước phát triển và 44 nước mới nổi Các nước phát triểnđóng góp 27% tổng số quan sát Các nước phát triển và mới nổi, gộp chung, áp

Trang 12

dụng IT trong khoảng 13% thời gian được khảo sát Các nước mới nổi có vòngquay nhiệm kỳ thống đốc NHTW cao hơn, nhưng ngạc nhiên là họ lại có chỉ sốCBI về mặt pháp lý cao hơn một chút Điều này nhấn mạnh rằng việc đo lườngtính pháp lý có vẻ không phản ánh chính xác tính độc lập của NHTW ở các nước

mới nổi, như Cukierman và các đồng nghiệp (1992) đã nói Điều này giải thích

cho việc sự độc lập về NHTW trên danh nghĩa của các nước mới nổi Các nướcmới nổi có tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng sản lượng cao hơn Các nướcnày cũng trải qua những thời kỳ siêu lạm phát, điển hình là chỉ số INFLATIONtới 317 ở một quốc gia mới nổi

Bảng 2 trình bày tóm tắt các số liệu thống kê được chia theo các loại quốcgia (tiên tiến hoặc mới nổi), chế độ tiền tệ (áp dụng IT hoặc không áp dụng IT,theo quy định bởi biến IT), và xa hơn nữa bằng thời kỳ (trước-IT với sau-IT).Đối với quốc gia phát triển (mới nổi) trước đây không áp dụng IT, bình quânviệc áp dụng IT vào năm 1995 (1999), được sử dụng để phân chia mẫu Với cácnước phát triển, tác động của IT là cho: lạm phát thấp hơn, tốc độ tăng trưởngcao hơn, và biến động lạm phát và sản lượng thấp hơn Hiệu quả này cũng đạtđược ở các quốc gia không áp dụng IT nhưng không lớn

Mô hình này tương tự cho các nền kinh tế mới nổi, mặc dù những cải thiệnqua thời gian ở các nước áp dụng IT thì đáng kể so với các quốc gia không ápdụng IT Ví dụ, các nước mới nổi áp dụng IT có sự giảm lạm phát trung bình là10%, trong khi các quốc gia không áp dụng IT giảm 4% Điều này gợi nhớ đếncác kết quả trước đó có được trong các tài liệu bằng cách sử dụng các cách ướclượng difference-in-difference Tuy nhiên, nhìn vào lạm phát trung bình trước vàsau khi việc áp dụng IT có thể gây hiểu nhầm và phóng đại các tác dụng có lợi

của IT Theo Brito và Bystedt (2010), các nước áp dụng IT trải qua lạm phát

trung bình cao hơn những nước không áp dụng IT đến cuối những năm 1980.Nhưng đến giữa những năm 1990, thời điểm trước khi áp dụng IT các nước áp

Trang 13

dụng IT có lạm phát thấp hơn so với quốc gia không áp dụng IT Xu hướng lạmphát này có thể gây ra vấn đề đối với cách ước lượng difference-in-difference Kết luận: Bảng 2 cho thấy các nền kinh tế mới nổi, mà bắt đầu với lạm pháttrung bình và biến động lạm phát cao hơn nhiều, thì đạt được sự giảm lạm phátnhanh hơn so với các nền kinh tế tiên tiến

Trong bảng 3, chúng tôi tập trung chú ý đến những nền kinh tế mới nổi vàđưa ra các số liệu thống kê dựa trên chính sách tiền tệ, khoảng thời gian, mức độcủa CBI sử dụng TURNOVER đại diện Cụ thể, chúng tôi trình bày bảng thống

kê tóm tắt về TURNOVER>0.26 và TURNOVER<0.26 Có thể giải thíchTURNOVER=0.26 là mức giới hạn phân chia mà ảnh hưởng của IT lên lạm pháttrung bình (có mức ý nghĩa 10%) Đây cũng là giá trị trung bình củaTURNOVER( trung vị là 0.2)

Những nước áp dụng IT với TURNOVER thấp (CBI cao), trungbình( trung vị) của lạm phát giảm 11 % (mức 8.7) sau khi áp dụng IT, so vớinhững nước ko áp dụng IT thì giảm 8 % ( mức 4.85) Những nước áp dụng ITvới TURNOVER >= 0.26, trung bình( trung vị) của lạm phát giảm 55 % (mức20), trong khi những nước ko áp dụng IT giảm 22 % (mức 5)

Vì vậy, những nước TURNOVER cao(CBI thấp) lạm phát giảm nhiều hơnkhông phụ thuộc vào chính sách tiền tệ, hơn là những nước CBI cao Đây làbiểu hiệncủa thống trị tài chính Thêm vào đó, với mức CBI không đổi, nhữngnước áp dụng IT có sự cải thiện lạm phát nhiều hơn những nước không áp dụng

IT Cuối cùng, đối với những nhóm nước có CBI thấp, sự biến động về mức độgiảm lạm phát qua thời gian giữa những nước áp dụng IT và những nước không

áp dụng IT là lớn hơn Vì thế, kết luận sơ bộ cho thấy rằng, ở những nước CBIthấp, IT làm giảm lạm phát nhiều hơn so với các chính sách tiền tệ khác

Mối quan hệ giữa TURNOVER và thâm hụt ngân sách thì tương tự như

Trang 14

trên Cụ thể là, cả TURNOVER và thâm hụt ngân sách ở các nước CBI cao đềukhông thay đổi nhiều hoặc chỉ tăng nhẹ, cho dù các nước này có thực hiện IThay không Đối với các nước CBI thấp có hoặc không thực hiện IT, thâm hụtngân sách đều giảm; nhưng mức giảm trung bình của các nước có thực hiện IT(từ thâm hụt 3.2% thành thặng dư 0.1%) nhiều hơn mức giảm trung bình của cácnước không thực hiện IT (từ thâm hụt 1.1% thành thặng dư 0.8%) Điều nàykhớp với giả thuyết cho rằng việc áp dụng IT thúc đẩy chính phủ của các nước

có CBI thấp gia tăng kỷ luật tài khóa, giảm nhu cầu in tiền để tài trợ cho thâmhụt ngân sách, theo đó làm giảm tỷ lệ lạm phát trung bình

Với những nước áp dụng IT có TURNOVER thấp (CBI cao), giá trị trungbình và trung vị của biến động lạm phát, giảm tương ứng 3% và 1% sau khi ápdụng IT, trong khi ở các nước không áp dụng IT thì mức giảm tương ứng là 4%

và 2% Ở các nước áp dụng IT với TURNOVER >0.26, các giá trị này giảmtương ứng 19% và 3%; ở các nước không áp dụng IT, mức giảm tương ứng là7% và 2% Cho nên có thể kết luận: thứ nhất, với những nước có TURNOVERcao (CBI thấp), biến động lạm phát giảm nhiều hơn các nước CBI cao, khôngphụ thuộc vào chính sách tiền tệ Thứ hai, trong số các nước TURNOVER thấp,những nước không áp dụng IT có tiến bộ nhiều hơn những nước áp dụng; còntrong số các nước TURNOVER cao thì ngược lại Như vậy có nghĩa là IT cóhiệu quả hơn những chính sách tiền tệ khác, ở những nước CBI thấp

Với các nước áp dụng IT có TURNOVER thấp (CBI cao), giá trị trung bình

và trung vị của tăng trưởng tăng tương ứng 1% và 1.2% sau khi áp dụng IT;trong khi ở các nước không áp dụng IT thì mức tăng tương ứng là 1.2% và 1%

Ở các nước áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26, các giá trị này tăng tươngứng 0.6% và 1.4%; ở các nước không áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26,mức tăng tương ứng là 0.4% và 1.4% Như vậy, những kết quả ban đầu cho thấycác nước có và không áp dụng IT đều có tăng trưởng tăng giống nhau, và xu

Trang 15

hướng tăng này không đáng kể so khi CBI tăng dần.

Cuối cùng, đối với các nước có áp dụng IT có TURNOVER thấp (CBIcao), biến động của tăng trưởng trung bình (trung vị) giảm 1,3% (0,8)%, trongkhi các nước không áp dụng IT giảm 1,8% (1,1%) Còn các nước áp dụng IT cóTURNOVER cao, biến động của tăng trưởng trung bình giảm 1,2% (1,6%),trong khi các nước không áp dụng IT giảm 0,5% (0,65%) Theo thời gian, vớicác nước có TURNOVER thấp, nước không áp dụng IT được cải thiện hơnnhững nước áp dụng IT, điều ngược lại đúng đối với các nước có TURNOVERcao Các kết luận sơ bộ đồng ý là IT thực hiện tốt hơn so với các chế độ khác ởquốc gia CBI thấp

Bảng 4 trình bày các mối tương quan của mẫu nhỏ với mẫu lớn, ở cácnước tiên tiến và các nền kinh tế mới nổi IT có liên quan với lạm phát trungbình thấp, biến động lạm phát, và sự biến động tăng trưởng đối với các nền kinh

tế tiên tiến và mới nổi IT tương quan với tốc độ tăng trưởng trung bình thấptrong các mẫu đầy đủ đối với các nền kinh tế mới nổi, nhưng tương quan với tốc

độ tăng trưởng cao đối với các nền kinh tế tiên tiến Theo dự kiến, LEGAL vàTURNOVER là tương quan âm Hơn nữa, lạm phát và biến động lạm phát cómối tương quan âm với LEGAL, trong khi chúng đang có mối tương quandương với TURNOVER trong các nền kinh tế mới nổi Tuy nhiên, đối với cácnước tiên tiến, dấu hiệu của sự tương quan giữa cả lạm phát, biến động lạm phát

và TURNOVER lại âm Như đã đề cập trong Cukierman, và các đồng nghiệp(1992), TURNOVER không phải là một giải pháp tốt của CBI cho các quốc giatiên tiến, trong khi LEGAL không là biểu hiệu của CBI trong các nền kinh tếmới nổi Chúng tôi sẽ quay trở lại vấn đề này trong phần kết quả nghiên cứu tiếptheo

2 Kết quả:

Trang 16

Bảng 5 trình bày kết quả từ phương trình (1) mà không có chỉ số CBI, để

so sánh với những kết quả trước đây Tuy nhiên, chúng tôi hạn chế lấy mẫu từcác quốc gia có dữ liệu trên CBI Trong dự báo tiêu chuẩn GMM , chúng tôixem xét sự tương tác của hai biến IT và CBI để tìm ra ảnh hưởng của CBI lênlạm phát Các biến khác được cho trước

Vì chúng tôi cho rằng lạm phát hiện nay không ảnh hưởng đến việc áp dụng

IT mặc dù trong quá khứ nó có thể ảnh hưởng Nên trong phần 3.2, chúng tôi thửnghiệm với việc xử lý các biến IT và CBI là “biến nội sinh” Giả thiết HIGHINFđược xử lý như là một biến nội sinh trong tất cả các hồi quy

Kết quả cho thấy rằng, IT so với các chính sách tiền tệ khác, làm giảm lạmphát trung bình 1,7 điểm phần trăm, ở các nước tiên tiến 0,34 điểm phần trăm(không đáng kể), và trong các nền kinh tế mới nổi 2,0 điểm phần trăm Kết quảcho cả các nước tiên tiến cũng như các nền kinh tế mới nổi phù hợp với phần lớncác nghiên cứu trước đây Trong khi IT được dự kiến sẽ giảm biến động lạm

phát (Cecchetti và Ehrmann, 2002), thì những dữ liệu lại cho thấy rằng IT không

có ảnh hưởng đáng kể trong việc giảm biến động lạm phát Trong thực tế, kết

quả này phù hợp với Brito và Bystedt (2010), nhưng không phù hợp với Lin và

Ye (2009) và Batini và Laxton (2007), những người cho rằng IT làm giảm biến

động lạm phát Ảnh hưởng không đáng kể đối với các nền kinh tế tiên tiến phùhợp với kết luận của Ball (2010)

Phần còn lại bảng 5 nghiên cứu về biến tăng trưởng kinh tế GROWTH Tathấy IT làm giảm tốc độ tăng trưởng trung bình tổng thể (-0.75) và các nền kinh

tế mới nổi (-1.26), nhưng lại là tăng tốc độ tăng trưởng đối với các nền kinh tế

tiên tiến (0.63) Kết quả thực tế cho nền kinh tế mới nổi phù hợp với Brito và Bystedt (2010), nhưng kết quả đối với các nền kinh tế tiên tiến tương phản với Ball (2010), cho rằng IT không ảnh hưởng lên nền kinh tế tiên tiến Cột 4-6

trong bảng cuối cùng chỉ ra rằng IT có tác động tiêu cực nhưng không đáng kể

Trang 17

vào biến động tăng trưởng trong tổng thể (p-value = 0,14) và đối với các nềnkinh tế mới nổi (p-value = 0,24) nhưng hiệu quả tích cực và không đáng kể đốivới các nền kinh tế tiên tiến Kết quả cho nền kinh tế mới nổi là tương tự như

Brito và Bystedt (2010), Batini và Laxton (2007), và Gonçalves và Salles (2008),

người đã tìm thấy một tác động tiêu cực và ảnh hưởng đáng kể Kết quả phù hợp

với các nền kinh tế tiên tiến Ball (2010) Cuối cùng, HIGHINFL có mối liên hệ

mật thiết với mức lạm phát trung bình cao hơn, biến động lạm phát, và sự giatăng các biến động, nhưng tốc độ tăng trưởng trung bình lại thấp hơn Đối vớicác nền kinh tế tiên tiến, biến trên được bỏ qua do đa cộng tuyến ở một số nước

đã trải qua lạm phát cao trong một thời gian dài

Bảng 6 trình bày kết quả từ dự báo của phương trình (1) với mức lạm pháttrung bình là biến phụ thuộc, lúc này bao gồm CBI và tương tác của nó tới IT.Chúng tôi đưa ra kết quả cho tổng thể, các nước tiên tiến, và các nền kinh tế mớinổi bằng cách sử dụng hoặc LEGAL hoặc TURNOVER là đại diện cho ảnhhưởng của CBI Để kiểm tra hiệu quả của IT, chúng tôi sử dụng các hệ số của IT

và IT * CBI Đối với tổng thể trong (1), kết quả hàm ý rằng nó không có hiệulực đối với lạm phát, ngay cả khi độc lập Đối với tổng thể trong (2), tuy nhiên,

hệ số của IT * TURNOVER là tiêu cực và có ý nghĩa, ngụ ý rằng IT có hiệu quảhơn trong việc giảm lạm phát trong nước mà có nhiệm kỳ thống đốc NHTW lâuhơn Đặc biệt, tác động của IT đối với lạm phát là 36,3 điểm phần trăm ở cácquốc gia có TURNOVER cao nhất, so sánh với những nước thấp nhất, “nếu cácđiều kiện khác không đổi”10 Hơn nữa tính toán khác cho thấy tác dụng của nó làtiêu cực nhưng chỉ đối với các nước TURNOVER lớn hơn hoặc bằng 0,26, lớnhơn một chút so với mức trung bình của tổng thể Kích thước của các tác động

dự đoán về lạm phát trung bình khi TURNOVER bằng 0,26 là khoảng -3,0 điểmphần trăm Hiệu ứng này làm tăng tăng TURNOVER tối đa -29,9% cho mộtquốc gia với TURNOVER bằng một Vì vậy, tác dụng của nó đối với lạm pháttrung bình trong các mẫu đầy đủ phụ thuộc vào mức độ của CBI Hiệu ứng này

Trang 18

là hiển nhiên, tuy nhiên, chỉ khi chúng ta sử dụng TURNOVER như là thước đoCBI Chúng tôi sẽ giải thích một cách ngắn gọn trong trường hợp này.

Đối với các nước tiên tiến, IT không có ảnh hưởng đáng kể tới tất cả cácgiá trị LEGAL trong cột (3) và TURNOVER trong cột (4) Đối với các nền kinh

tế mới nổi trong bảng chi tiết (5), IT ảnh hưởng không đáng kể đến lạm phát đốivới bất kỳ giá trị của LEGAL Ngoài ra, hệ số IT * LEGAL là không đáng kể,ngụ ý các yếu tố khác cân bằng, sự độc lập hợp lý không làm thay đổi tác độngcủa IT đối với lạm phát.Tuy nhiên, các kết quả trong bảng (6) hàm ý rằng tácđộng của IT khác 57 điểm phần trăm ở các nước có TURNOVER cao nhất sovới những nước có TURNOVER thấp nhất, khi tất cả các yếu tố khác cân bằng(chúng tôi đề cập tới các hệ số lớn và bất thường này tại Mục 3.1) Cụ thể, tácđộng của nó là tích cực đáng kể ở mức ý nghĩa 10% trong khoảng TUNOVERlớn hơn hoặc bằng 0,06 (bốn quốc gia và 11 quan sát) Ngược lại, hiệu quả làđáng kể tiêu cực ở mức 10% khi doanh thu là lớn hơn hoặc bằng 0,26 (25 quốcgia và 114 quan sát), là mức trung bình của các nền kinh tế mới nổi Đối với cácquan sát với doanh thu từ 0,06 và 0,26 (34 quốc gia, 175 quan sát), IT không cótác dụng đáng kể Điều này được mô tả trong Bảng số liệu 1, trong đó trình bàytác động biên của IT đối với lạm phát tại các nền kinh tế mới nổi cho các giá trịkhác nhau của doanh thu và độ tin cậy khoảng 90%

Tóm lại, các kết quả trong bảng (6) có nghĩa là, hầu như không có ảnhhưởng đáng kể khi TURNOVER ít hơn 0,26, nhưng đóng vai trò quan trọngtrong việc giảm lạm phát đối với các chế độ tiền tệ khác, cho nhiều nền kinh tếmới nổi với kim ngạch trên 0,26 Khoảng tác động dự đoán về lạm phát khiTUNOVER bằng 0,26 -4,6 điểm phần trăm Hiệu ứng này làm tăngTURNOVER tối đa 46,6 điểm phần trăm khi TUNOVER bằng một

Cuối cùng, hệ số LEGAL không đáng kể trong cả ba mẫu Các hệ sốTUNOVER có dấu hiệu dự đoán tích cực và có ý nghĩa quan trọng trong các

Trang 19

mẫu đầy đủ và đối với các nền kinh tế đang nổi lên, ngụ ý rằng CBI thấp có liênquan với lạm phát cao hơn Tuy nhiên, trong các mẫu đầy đủ và các nền kinh tếmới nổi, các hệ số của doanh thu và IT *TUNOVER tương đương về độ lớnnhưng ngược nhau Điều này cho thấy rằng IT có thể để trung hòa ảnh hưởngcủa CBI thấp về lạm phát.

Như đã đề cập ở trên, chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng IT làmgiảm lạm phát tương đối so với các chế độ khác trong các mẫu đầy đủ, khichúng ta sử dụng TURNOVER như là ảnh hưởng của CBI Biến LEGAL không

có hiệu lực đối với các nước tiên tiến, dường như không ảnh hưởng từ IT Nócũng không có ảnh hưởng tới các nền kinh tế mới nổi, mặc dù nhiều nền kinh tếnhận được tác động có ích từ IT, có lẽ là bởi vì các biện pháp pháp lý độc lập ít

chính xác hơn ở các nước đang phát triển (Cukierman,và các đồng nghiệp, 1992) Trong khi đó, TUNOVER có ảnh hưởng mạnh mẽ tại các nền kinh tế mới

nổi nhưng hiệu quả nhỏ hơn và thống kê yếu hơn (mặc dù vẫn còn đáng kể)trong các mẫu đầy đủ Sự suy giảm tầm quan trọng và ý nghĩa với các mẫu đầy

đủ có thể được giải thích bởi thực tế rằng một số nước tiên tiến có tỷ lệTURNOVER cao hơn so với các nước đang phát triển, nhưng vẫn không chịu

những tác động có lợi của IT Cukierman, và các đồng nghiệp, (1992) lập luận

rằng biện pháp này là ít dấu hiệu của CBI cho các quốc gia tiên tiến hơn so vớicác biện pháp pháp lý Trong các mẫu đầy đủ, hiệu quả của TURNOVER, cho

dù có yếu, vẫn còn đáng kể Lý do là các nước tiên tiến có tỷ lệ TURNOVERthấp hơn trung bình và ảnh hưởng thấp hơn so với các nền kinh tế mới nổi, trongkhi các nền kinh tế mới nổi với tỷ lệ TURNOVER cao làm giảm lạm phát mạnhhơn, so với những nước có tỷ lệ TURNOVER thấp

Bảng 7 trình bày các kết quả từ phương trình (1) với biến động lạm phát làbiến phụ thuộc Bất kể giá trị của TUNOVER hay LEGAL, tác dụng của nó làkhông đáng kể trong các mẫu đầy đủ và đối với các nền kinh tế mới nổi Tuy

Trang 20

nhiên đối với các nền kinh tế tiên tiến IT làm tăng đáng kể biến động lạm phát,khi LEGAL có giá trị lớn hơn hoặc bằng 0,51 (cao hơn một chút so với trungbình của 0,42) Kích thước của tác động dự kiến trên phạm vi biến động lạmphát từ 0,9 điểm phần trăm (LEGAL bằng 0,51) đến 3.7 (LEGAL bằng 1,0) Vìvậy IT trong các nền kinh tế có CBI cao dẫn đến một sự gia tăng tương đối biếnđộng lạm phát so với nước CBI thấp Điều này không đúng với trường hợpTURNOVER trong các nền kinh tế tiên tiến.

Bảng 8 trình bày các kết quả của phương trình (1) với tốc độ tăng trưởngtrung bình là nghiên cứu Trong các mẫu đầy đủ, IT được kết hợp với tốc độtăng trưởng thấp ở các nước có CBI thấp khi chúng ta sử dụng TURNOVER làtác động củaCBI Cụ thể, IT không ảnh hưởng đến tất cả các giá trị của LEGAL,nhưng lại có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể khi TUNOVER lớn hơn 0,21 Trongcác nền kinh tế tiên tiến, tác dụng của nó là tích cực và đáng kể cho LEGALgiữa 0,22 và 0,46, với sự gia tăng tăng trưởng từ 1,5 đến 1,0 điểm phần trăm.Hiệu quả là không đáng kể cho tất cả các giá trị TURNOVER Đối với các nềnkinh tế mới nổi, tác động của IT là không đáng kể cho tất cả các giá trị củaLEGAL Tuy nhiên, hiệu quả là tiêu cực đáng kể cho TURNOVER lớn hơn hoặcbằng 0,13 Hiệu ứng này dao động từ -0,9 điểm phần trăm khi TUNOVER bằng0,13 - 4,3 điểm phần trăm khi TURNOVER bằng một Vì vậy, một số lượng lớncủa các nền kinh tế tiên tiến với mức CBI thấp được hưởng mức tăng trưởng caohơn so với các chế độ khác là một kết quả của IT, trong khi một số lượng lớncủa các nền kinh tế mới nổi có CBI thấp, tăng trưởng thấp hơn Lưu ý rằng cácgiả định lạm phát cao vẫn còn bao gồm trong dự toán để dễ dàng so sánh với cáctài liệu trước đây đã bao gồm biến này và bởi vì lạm phát cao có thể tăng tácđộng thực tế

Bảng 9 trình bày các kết quả từ phương trình (1) với biến động tăng trưởng

là biến phụ thuộc Đối với mẫu đầy đủ, IT có một hiệu ứng nhỏ nhưng đáng kể

Trang 21

tiêu cực cho các giá trị TURNOVER rất thấp Đối với các nền kinh tế phát triển,

IT có một hiệu ứng nhỏ nhưng có ý nghĩa tích cực cho các giá trị trung bình củaLEGAL Đối với các nền kinh tế mới nổi, không có hiệu lực bất kể LEGAL hayTURNOVER

2.1 Lạm phát ở các nền kinh tế mới nổi:

Các hệ số IT lớn như TURNOVER, và IT *TUNOVER trong cột (6) củaBảng 6 cho thấy rằng các quan sát có lạm phát cao có thể có ảnh hưởng lớn đếnkết quả, mặc dù bao gồm các biến giả lạm phát cao Sau đây, chúng tôi khôngtập trung đến biến TURNOVER như một tác động của CBI Như đã đề cập trướcđây, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng cho thấy nó có tác động tới lạm phátbằng cách sử dụng LEGAL, nó không phản ánh chính xác CBI đối với các nềnkinh tế mới nổi Trong Bảng 10, chúng tôi trình bày kết quả bỏ qua các quan sátlạm phát lớn hơn 100% hoặc 40% Nếu bỏ qua lạm phát lớn hơn 100% (40%)kết quả sẽ mất đi 23 (56) quan sát Kết quả nhìn chung là tương tự nhưng ítchính xác hơn so với những báo cáo trong bảng 5 và 6 Đặc biệt, trong cột (1),nơi chúng tôi hạn chế lạm phát ít hơn 100%, hệ số IT*TUNOVER là khôngđáng kể, mặc dù chúng tôi vẫn thấy rằng ảnh hưởng chung của IT là tiêu cực vàđáng kể khi TURNOVER lớn hơn hoặc bằng 0,25 Kích thước của các tác động

dự đoán về lạm phát khi TUNOVER bằng 0,25 (1,4 điểm phần trăm) Ảnhhưởng của tăng trưởng là TURNOVER tăng lên tối đa là -8,6 điểm phần trămkhi TUNOVER bằng một

Khi chúng tôi giới hạn lạm phát dưới 40% trong cột (2), hệ số củaIT*TUNOVER lại tiêu cực nhưng không đáng kể Hơn nữa, tác động của IT lànhỏ và không đáng kể cho tất cả các giá trị TURNOVER Điều này cho thấyrằng quan sát có lạm phát cao đã ảnh hưởng lớn đến kết quả Điều này không có

gì đáng ngạc nhiên khi trong hồi quy chuẩn của chúng tôi cho thấy ảnh hưởngmạnh của IT tới các nước có CBI thấp các nước mà có tỷ lệ lạm phát cao hơn

Trang 22

nhiều trước khi sử dụng IT Theo như thảo luận sau này, tỷ lệ lạm phát cao cónhiều khả năng là do phát hành tiền để giảm thâm hụt trong môi trường CBIthấp Loại bỏ các yếu tố đó trong mẫu quan sát, khi đó IT là hiệu quả nhất.

2.2 Các khảo sát tích cực.

Chúng tôi tiến hành một số khảo sát để kiểm tra tính chính xác của các kếtquả của chúng tôi Trong Bảng 6-10, chúng tôi coi IT được xác định trước Tuynhiên, nó là có thể xảy ra mối quan hệ nhân quả ngược lại do yếu kém từ hiệusuất kinh tế vĩ mô như lạm phát cao thông qua IT Ngoài ra, một biến bỏ qua cóthể ảnh hưởng đến cả hiệu suất kinh tế vĩ mô và IT Tương tự như vậy, kinh tế vĩ

mô hiệu suất có thể thay đổi CBI, hoặc thứ ba, bỏ qua biến có thể dẫn dắt cả CBI

và hiệu suất kinh tế vĩ mô Là một bài khảo sát mạnh mẽ đầu tiên, chúng tôi lạiước lượng mô hình và xử lý cả IT và CBI như biến nội sinh Các bảng theo yêucầu Đối với lạm phát trung bình, kết quả là gần giống với Bảng 6 Để lạm phát

ổn định, sự khác biệt duy nhất là đối với các nền kinh tế tiên tiến, IT không cóhiệu lực bất kể giá trị của LEGAL Đối với tăng trưởng trung bình, kết quả khácnhau là IT có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể cho các giá trị LEGAL thấp Đối vớităng trưởng ổn định, kết quả là hầu như giống hệt nhau Vì vậy, đối với hầu hếtcác phần, kết quả là rất tương tự khi cho vào biến nội sinh có thể của IT hay cả

IT và CBI

Thứ hai, độ trễ lạm phát và TURNOVER là tương quan tích cực Mặc dùchúng tôi đã dùng lạm phát có độ trễ như là một biến độc lập, chúng tôi bỏ quathời kỳ tương tác IT * INFLt-1 trong hồi quy chuẩn Điều này có thể gây ra sựchênh lệch giảm ước tính hệ số IT*TUNOVER, kể từ khi áp dụng IT có thể cóhiệu quả hơn trong việc giảm lạm phát khi tỷ lệ lạm phát có độ trễ cao (tức là hệ

số của IT * INFLt-1 là âm) Do đó, chúng tôi thêm biến IT * INFLt-1 như là mộtbiến độc lập bổ sung Các kết quả trong hồi quy lạm phát không thay đổi

Ngày đăng: 09/05/2015, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w