1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI

62 526 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói chung là vậy, tuy nhiên ở các nền kinh tế Châu Á có xu hướng thiếu một khuôn khổ chính sách tiền tệ được xác định rõ ràng, mà hầu hết cómột sự kết hợp của một số kiểm soát vốn và thi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

BÀI TIỂU LUẬN CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI

Giảng viên hướng dẫn:

ThS Đinh Thị Thu Hồng

Nhóm:

Nguyễn Quốc Pháp _ Lớp: BH01_K35Nguyễn Vũ bão _ Lớp: BH01_K35Phạm Nguyễn Tuấn Hưng _ Lớp: BH01_K35

Lê Quang Vũ _ Lớp: BH01_K35

Trang 2

Mục Lục

LỜI MỞ ĐẦU 3

I Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 4

1 Thuyết bộ ba bất khả thi của GS Robert Mundell 4

2 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian 6

3 Thuyết Tứ Diện (A tetrahedron Hypothesis) 10

3.1 Cơ chế tỷ giá trung gian - nền tảng của thuyết tam giác mở rộng và thuyết tứ diện 10 3.2 Thuyết tứ diện 11

II Phương pháp và phạm vi nghiên cứu 18

1 Phương pháp nghiên cứu 18

2 Phạm vi nghiên cứu: 18

III Nội dung và các kết quả nghiên cứu 19

1 Giới thiệu: 19

2 Kiểm soát vốn và chính sách tỷ giá ở Châu Á: 21

2.1 Kiểm soát vốn: 21

2.2 Mức độ tư do chu chuyển vốn trên thực tế 25

3 Tỷ giá hối đoái 32

3.1 Phương thức 32

4 Phân tích chính sách 37

5 Lựa chọn chế độ 43

IV MỞ RỘNG BÀI NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI VIỆT NAM 45

1 Cái nhìn tổng quan về các chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam thời gian qua: 45

1.1 Tình hình các chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam 45

1.2 Sự phá vỡ mẫu hình bộ ba bất khả thi ở Việt Nam 49

1.3 Quan hệ tuyến tính của các chỉ số trong bộ ba bất khả thi ở Việt Nam 50

1.4 Dự trữ ngoại hối ở Việt Nam và bộ ba bất khả thi: 52

2 Bộ ba bất khả thi và lạm phát 52

2.1 Dòng vốn đầu tư: 52

2.2 Tài khoản vãng lai thâm hụt 53

2.3 Lạm phát và lãi suất ngày càng tăng 54

2.4 Xem xét các nhân tố tác động tới lạm phát 54

2.5 Các đề xuất kiềm chế lạm phát 54

V Kết luận 55

VI PHỤ LỤC: PHÂN TÍCH CHẾ ĐỘ TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI 57

VII DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 60

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, thế giới ngày càng “mở” – mở ở đây có thể hiểu là việc cácnước trên thế giới giờ chỉ còn phân cách nhau qua ranh giới trên mặt đất, hầu hết các vấn

đề của một quốc gia không còn bó buộc trong nội tại của một quốc gia từ chính trị đến

xã hội và đặc biệt là vấn đề kinh tế Hội nhập kinh tế là cụm từ được nhắc đến rất nhiềutrong thập kỷ qua Đi cùng vấn đề hội nhập kinh tế thế giới là vấn đề nội tại các quốc giakhi gia nhập vào một cuộc chơi mới như : chính sách tiền tệ , tỷ giá hối đoái, kiểm soátvốn của một quốc gia Những vấn đề đã hình thành lên một lý thuyết kinh tế học kinhđiển hiện nay là bộ ba bất khả thi Một lý thuyết cốt lõi trong nền kinh tế vĩ mô hiện đại

đó là lý thuyết 'bộ ba bất khả thi ", quan niệm cho rằng một quốc gia chỉ có thể đồng thờichọn bất kỳ hai trong ba lựa chọn ở bất kì tại thời điểm nào trong ba mục tiêu sau đây:tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá hối đoái và hội nhập tài chính Ngoại trừ các nước khu vực

sử dụng đồng tiền chung châu Âu (EU), thì hầu hết các nước phát triển đều hội nhập tàichính, tỷ giá thả nổi, và một chính sách độc lập tiền tệ Ở châu Á, một vài ví dụ như

Hồng Kông, Trung Quốc có một tỷ giá hối đoái cố định, hội nhập tài chính, và không cóquyền tự chủ chính sách tiền tệ Nói chung là vậy, tuy nhiên ở các nền kinh tế Châu Á có

xu hướng thiếu một khuôn khổ chính sách tiền tệ được xác định rõ ràng, mà hầu hết cómột sự kết hợp của một số kiểm soát vốn và thiếu linh hoạt tỷ giá hối đoái Điều này đặt

ra những câu hỏi thú vị về tình trạng hiện tại và sự phát triển của chính sách tiền tệ ởchâu Á, và nhấn mạnh sự cần thiết cho một khuôn khổ chính sách tiền tệ phù hợp Chính

vì những lí do đó chúng tôi xin chọn đề tài ” Châu Á đương đầu với bộ ba bất khả thi”.

Thông qua bài viết này chúng tôi hy vọng giải đáp phần nào về bộ ba bất khả thi ở Châu

Á nói chung và liên hệ một phần với Việt Nam

 Đồng Euro là một tỷ giá hối đoái linh hoạt đối với các đồng tiền khác Các nước khu vực sử dụng đồng

Trang 5

I Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây.

1 Thuyết bộ ba bất khả thi của GS Robert Mundell

Khởi đầu của lý thuyết bộ ba bất khả thi là từ mô hình Mundell-Fleming Đây làkết quả nghiên cứu của Robert Mundell (1962, 1963) và J.M.Fleming (1962) trongthời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF Mô hình Mundell-Fleming là sự mởrộng của nền tảng lý thuyết IS-LM khi có tính đến tác động của cán cân thanh toán.Đây được xem là điểm khởi đầu cho lý thuyết bộ ba bất khả thi Mô hình Mundell-Fleming chỉ ra sự hiệu quả hay không hiệu quả của chính sách tiền tệ và chính sách tàikhoá dưới các chế độ tỷ giá khác nhau Mô hình Mundell-Fleming cho thấy rằng: hiệuquả của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái

và mức độ kiểm soát vốn Ví dụ, quốc gia nào có chuyển dịch dòng vốn tự do và tỷ giá

cố định, thì các nhà quản lý tiền tệ không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập.Trong một quốc gia có cơ chế tỷ giá cố định thì không có rủi ro tỷ giá, và lãi suấttrong nước biến động cùng với lãi suất nước ngoài Từ những nhận định trên, các nhàkinh tế như Krugman (1979) và Frankel (1999) đã mở rộng mô hình Mundell-Flemingthành “mô hình bất khả thi” Giống như trong hình 1.3, Frankel (1999) cho rằng, mộtquốc gia phải từ bỏ một trong 3 mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định củachính sách tỷ giá, và hội nhập thị trường tài chính Các nội dung này được tóm tắt trongbảng 1.1

Hình 1.3 là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi Mỗi cạnhthể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn địnhcủa tỷ giá, và hội nhập tài chính hoàn toàn Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mụctiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược vớiđỉnh kiểm soát vốn; mục tiêu ổn định t ỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn;mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ Bất kỳ cặpmục tiêu nào cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa Ví dụ, mục tiêu chính sách

Trang 6

chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với đỉnh thảnổi hoàn toàn Cuối cùng, mục tiêu tỷ giá ổn định và hội nhập tài chính đạt được bởiđỉnh liên minh tiền tệ Hoàn toàn không khả thi để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu.

Bảng 1.1- Nguyên lý của bộ ba bất khả thi

Dòng vốn lưu động hoàn toàn

Chính sách tiền tệ độc lập

Hệ thống

Kiểm soát vốn Không Có Có Trung Quốc trước cuộc

cải cách tháng 7/2005

Trang 7

Liên minh tiền tệ Có Không Có Hồng Kông, EU

2 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian

Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi củaMundell và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng Nền tảng của thuyết này là nhữngquan niệm mới về sự độc lập của chính sách tiền tệ và ổn định tỷ giá Theo đó, bộ ba bấtkhả thi của Mundell kết luận rằng một quốc gia không thể có một chính sách tỷ giá ổnđịnh một nửa (half-stability) và chính sách tiền tệ độc lập một nửa (half- independence).Nói rõ hơn, tam giác bất khả thi của Mundell chỉ mới tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm

ở các đỉnh (hay góc) tam giác mà chưa đề cập đến một cơ chế tỷ giá trung gian nằm đâu

đó trong tam giác bất khả thi Sự tồn tại của cơ chế tỷ giá trung gian sẽ được bàn luận kỹhơn trong phần sau Yigang và Tangxian đã mở rộng mô hình này và kết luận rằng mộtquốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau và không phải chấp nhận sự đánhđổi hoàn toàn như tam giác của Mundell

Tương tự như hình 1.3, ba cạnh trong tam giác mở rộng (hình 1.4) cũng tương ứngcho 3 mục tiêu chính sách Giả định: cạnh M tượng trưng cho chính sách tiền tệ độc lập;cạnh đáy K, tượng trưng cho dòng vốn lưu động hoàn hảo; và cạnh phải E, tượng trưngcho ổn định tỷ giá Ba đỉnh của góc tam giác tượng trựng cho 3 cam kết tỷ giá: A1 = cốđịnh, A2 = Thả nổi hoàn toàn, A3 = liên minh tiền tệ Gọi Ms, Kc và Ev là các khoảngcách từ điểm O tuỳ ý đến 3 cạnh, tượng trưng lần lượt cho mức độ của độc lập chính sáchtiền tệ, mức độ kiểm soát vốn và mức độ biến động tỷ giá Một tính chất quan trọng củatam giác đều là: tổng khoảng cách của bất kỳ điểm nào ở bên trong tam giác đến ba cạnhbằng chiều cao của tam giác Do đó ta có Ms + Kc + Ev = Mh Để đơn giản, đặt chiềucao của tam giác đều Mh = 1, thì ta có Ms + Kc + Ev = 1 và 0 <= Ms, Kc hoặc Ev <=

Trang 8

Hình 1.4: Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian

Trường hợp 1: Khi Kc = 0, dòng vốn hoàn toàn lưu động, ta có Ms + Ev = 1 Ở đây

nếu Ms=0 thì Ev=1; nếu Ms=1 thì Ev=0; nếu 0<Ms<1 thì 0<Ev<1 Do đó, có ba sự kếthợp: (1) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách độc lập tiền tệ hoàn toàn ∩ tỷ giá thảnổi tự do; (2) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ mất độc lập về chính sách tiền tệ ∩ tỷ giá

cố định; (3) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ độc lập chính sách tiền tệ có giới hạn ∩ tỷgiá thả nổi có giới hạn

Trường hợp 2: Khi Kc=1, kiểm soát vốn hoàn toàn, chúng ta có Ms + Ev = 0 Ở

đây, Ms=0 và Ev=0, chúng ta có các kết hợp: kiểm soát vốn hoàn toàn ∩ chính sách tiền

tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định Thực tế, chế độ tỷ giá cố định thường có trong cácquốc gia đang phát triển với thị trường tài chính yếu kém

Trang 9

Trường hợp 3: Khi 0<Kc<1, dòng vốn lưu động giới hạn, chúng ta có 0<Ms+Ev<1.

Nếu Ms=0, thì 0<Ev<1; nếu 0<Ms<1 thì 0<Ev<1 hoặc Ev=0 Có ba sự kết hợp: (1) dòngvốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giớihạn; (2) dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thảnổi có giới hạn; (3) dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn

∩ tỷ giá cố định

Tóm tắt trong bảng dưới đây:

Ms = 1,

Ev = 0

Dòng vốn l ư u đ ộng hoàn toàn ∩ Mất di

sự độc lập của chính sách tiền tệ ∩ Tỷ giá

có giới hạn

Trang 10

Ms = 0,

Ev = 0

——

Kiểm soát vốn hoàn toàn ∩ Chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ Tỷ giá

Tỷ giá thả nổi cógiới hạn

Trang 11

cố dịnh.

3 Thuyết Tứ Diện (A tetrahedron Hypothesis)

3.1 Cơ chế tỷ giá trung gian - nền tảng của thuyết tam giác mở rộng và

thuyết tứ diện

Như đã nói, tam giác bất khả thi của Mundell chỉ tập trung đến các đỉnh (hay góc)của tam giác Điều này đồng nghĩa với sự thừa nhận, thế giới chỉ tồn tại 3 cơ chế tỷ giátương ứng với ba góc tam giác: cam kết tỷ giá thả nổi tự do, cam kết tỷ giá cố định,

và liên minh tiền tệ (Eichengreen, 1994,1998; Obstfeld và Rogoft 1995) Eichengreen

(1994) nói: “ Các quy định chính sách bất ngờ làm thất bại các mục tiêu tỷ giá

không bao giờ tồn tại trong thế kỉ 20… Các quốc gia…sẽ buộc phải lựa chọn giữa hoặc một tỷ giá thả nổi hoặc một liên minh tiền tệ” Dựa trên luận điểm cho rằng:

luân chuyển dòng vốn càng cao sẽ làm tổn thương các cam kết tỷ giá, Obstfeld và

Rogoff (1995), Summers (2000) và Fisher (2001) đã nâng lên thành giả thiết “lưỡng cực - bipolar” hoặc giả thiết “ không có vùng trung gian- intermediate hollowing

- out” Nghĩa là cơ chế tỷ giá trung gian nằm giữa cơ chế tỷ giá cố định và cơ chế thả

nổi tự do không thể được duy trì Do đó, theo quan điểm của các tác giả này: trongtương lai chúng ta sẽ không thấy sự xuất hiện của các cơ chế tỷ giá trung gian Các cơchế tỷ giá trung gian bao gồm: tỷ giá cố định có thể điều chỉnh, tỷ giá cố định theo kiểu

Trang 12

Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế không đồng ý với giả thuyết “không có vùng trunggian” Ví dụ, Frankel (1999) tin rằng, đối với nhiều quốc gia, giải pháp trung gian làphù hợp hơn so với giải pháp ở góc Điều này là đúng, đặc biệt là đối với các quốc giađang phát triển để dòng vốn có quy mô lớn không trở thành vấn đề Sử dụng chuỗiMarkow (Markov chains) và các ma trận quá độ (transition matrices) cho đồng thời cảloại dữ liệu Ghosh (Ghosh et al Data), dữ liệu Levy Yeyati và Sturzenegger, Masson(2000) để kiểm tra giả định “lưỡng cực-bipolar” hay “ không có vùng trung gian” Kếtquả, giả định trên bị bác bỏ bởi cả hai loại dữ liệu Thực sự đối với các quốc gia đangphát triển, thả nổi tự do không hẳn là một chọn lựa đúng vì không có thị trường tàichính phát triển Kết quả là, cơ chế tỷ giá tại các nước đang phát triển không cần thiếtphải ổn định, mà có thể thay đổi giữa nhiều loại cơ chế tỷ giá trung gian khác nhau,phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế, lạm phát, và các cú sốc từ bên ngoài.

3.2 Thuyết tứ diện

Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian (2001) thực sự đã chuẩn hoá tamgiác bất khả thi của Mundell Tuy nhiên, giống như mô hình của Mundell, lý thuyết nàychưa xem xét đến sự khác nhau về khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ trong cácnền kinh tế khác nhau sẽ tác động trực tiếp đến biến động tỷ giá Hausmann (2000) pháthiên ra một mối quan hệ vững chắc giữa mẫu hình thả nổi tỷ giá của một quốc gia với khả

năng vay mượn quốc tế bằng nội tệ của quốc gia đó Cụ thể, quốc gia nào có khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ nhiều hơn có khuynh hướng nắm giữ mức dự trữ ngoại hối nhỏ hơn, và cho phép tỷ giá biến động cao hơn so với biến động trong dự trữ ngoại hối hoặc lãi suất Hausmann cũng phát hiện một bằng chứng yếu hơn và ít bền

vững hơn về tầm quan trọng của tác động tỷ giá đến giá cả (exchange rate pass-through)như là một yếu tố xác định sự khác nhau trong quản lý tỷ giá của các quốc gia

Guobing Shen (2004) đã đưa biến số khả năng vay mượn nước ngoài bằng đồng nội

tệ vào các yếu tố khác để xác định việc lựa chọn cơ chế tỷ giá, và đã mở rộng tam giácbất khả thi của Mundell thành thuyết tứ diện

Trang 13

Hình 1.5: Thuyết tứ diện

Trong hình 1.5, chúng ta có một tứ diện đều Đặt mặt dưới C tượng trưng cho khảnăng vay mượn nước ngoài bằng đồng nội tệ; mặt M bên trái tượng trưng cho chính sáchtiền tệ độc lập hoàn toàn; mặt đối diện K tượng trưng cho dòng vốn lưu động hoàn toàn;mặt phải E tượng trưng cho sự ổn định tỷ giá Giống như trước đây, chúng ta có tổngkhoảng cách từ bất kỳ điểm O nào đến các mặt của tứ diện đúng bằng chiều cao của tứdiện Đặt Cb, Ms, Kc và Ev là khoảng cách từ điểm O đến bốn mặt, lần lượt tượng trưngcho khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ, mức độ độc lập tiền tệ, mức độ kiểmsoát vốn và mức độ biến động tỷ giá Về phía các góc, 3 góc mà chúng ta đề cập ban đầu

là giống như hình trên, chỉ riêng góc A4 thể hiện cho khả năng cao nhất để vay mượnquốc tế bằng đồng nội tệ Để đơn giản, đặt chiều cao của tứ diện Mh=1, thì sau đó 0<=

Cb, Ms, Kc hoặc Ev<=1 và Cb+Ms+Kc+Ev=1

Chúng ta lần lượt xét các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Khi Cb=0, tức là không có khả năng vay mượn nước ngoài bằngđồng nội tệ, thì Ms +Kc+Ev=1

- Đầu tiên, khi Kc=0 thì Ms+Ev=1 Ở đây có ba khả năng: nếu Ms=0, thì Ev=1; nếuMs=1 thì Ev=0; nếu 0<Ms<1 thì 0<Ev<1 Như vậy, ba sự kết hợp có được là: (1) không

Trang 14

độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi tự do; (2) không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ mất đi tính độc lập trong chính sách tiền tệ ∩ tỷ giá cốđịnh (3) không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn.

- Thứ hai, khi Kc=1, thì Ms+Ev=0 Ở đây Ms= 0 và Ev=0, nghĩa là: không có khảnăng vay nợ nước ngoài ∩ kiểm soát vốn hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàntoàn ∩ tỷ giá cố định Đây là sự kết hợp thường thấy trong các nước đang phát triển vớithị trường tài chính yếu kém

- Thứ ba, khi 0<Kc<1, thì 0<Ms+Ev<1 Ở đây, nếu Ms=0, thì 0<Ev<1; nếu 0<Ms<1thì sau đó 0 <Ev<1 hoặc Ev=0 Như vậy, có ba sự kết hợp khác: (1) không có khả năngvay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàntoàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (2) không có khả năng vay nước ngoài ∩ dòng vốn lưuđộng có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ gía thả nổi có giới hạn; (3)không có khả năng vay nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệđộc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố đinh

Trường hợp 2: Khi Cb=1, điều này nghĩa là có khả năng cao nhất để vay nước ngoàibằng nội tệ, chúng ta sẽ có Ms+Kc+Ev=0 Vì 0<=Ms, Kc hoặc Ev<=1, nên Ms=0, Kc=0

và Ev=0, chúng ta có sự kết hợp: Hoàn toàn có khả năng vay nước ngoài ∩ lưu đôngdòng vốn hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định Thực tế, cơchế tỷ giá dưới chế độ chuẩn vàng cổ điển (classical gold standard) thuộc về sự kết hợpkiểu này

Trường hợp 3: Khi 0<Cb<1, nghĩa là khả năng vay nước ngoài bằng nội tệ có giớihạn, thì 0<Ms+Kc+Ev<1

- Đầu tiên, khi Kc=0, thì 0<Ms+Ev<1 Ở đây nếu Ms=0, thì 0<Ev<1; nếu 0<Ms<1thì 0<Ev<1 hoặc Ev=0 Có ba kết hợp là : (1) khả năng vay nước ngoài có giới hạn ∩dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi cógiới hạn; (2) khả năng vay nợ có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách

Trang 15

tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ gía thả nổi có giới hạn; (3) khả năng vay nợ nước ngoài

có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷgiá cố định

- Thứ hai, khi 0<Kc<1, thì 0<Ms+Ev<1, hoặc Ms+Ev=0 Ở đây, nếu Ms=0, thì0<Ev<1; nếu 0<Ms<1, thì 0<Ev<1 hoặc Ev=0; và Ms=0 và Ev=0 Có 4 kết quả là: (1)khả năng vay nước ngoài có giới hạn ∩ lưu động vốn có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độclập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (2) khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi

có giới hạn; (3) khả năng vay nợ giới hạn ∩ dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sáchtiền tệ độc lập giới hạn ∩ tỷ giá cố định; (4) khả năng vay nợ có giới hạn ∩ dòng vốn lưuđộng có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định

So sánh những kết hợp lựa chọn cơ chế tỷ giá trong bảng 1.2 và bảng 1.3, chúng tathấ y tam giác bất khả thi của Mundell chỉ là một trường hợp đặc biệt của thuyết tứ diệnvới Cb=0 Khi Cb=0, hàm ý quốc gia đó không có khả năng vay nợ nước ngoài bằng nội

tệ, góc thứ tư là A4 và ba cạnh sẽ không xuất hiện trong mặt dưới C Do đó tứ diện đềutrở thành tam giác đều (hình 1.6)

Hình 1.6: Tam giác bất khả thi là trường hợp đặc biệt của Thuyết tứ diện

Trang 16

Ms =

1, Ev = 0

Không có khảnăng vay mượn ∩Dòng vốn lưu độnghoàn toàn ∩ Mất ditính độc lập chính sáchtiền tệ ∩ Tỷ giá cố dịnh

0<Ms<1,

0<Ev<1

Không có khả năngvay mượn ∩ Dòngvốn lưu động hoàntoàn ∩ Chính sách tiền

tệ độc lập giới hạn

∩ Tỷ giá thả nổi cógiới hạn

Trang 17

Ms = 0,

Không có khả năngvay mượn ∩ Kiểmsoát vốn hoàn toàn

∩ Chính sách tiền tệhoàn toàn độc lập ∩

∩ Dòng vốnlưu động cógiới hạn ∩Chính sách tiền

tệ độc lập hoàntoàn ∩ Tỷ giáthả nổi có giớihạn

∩ Dòng vốnlưu động cógiới hạn ∩Chính sách tiền

tệ độc lập giớihạn ∩ Tỷ giáthả nổi giới hạn

Trang 18

∩ Dòng vốnlưu động cógiới hạn ∩Chính sách tiền

tệ độc lập giớihạn ∩ Tỷ giá cốđịnh

Trang 19

II.Phương pháp và phạm vi nghiên cứu.

1 Phương pháp nghiên cứu.

a. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: Bằng dữ liệu Chinn – Ito và Bằng chứng từ

Lane và cơ sở dữ liệu Milesi - Ferretti

b Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu thứ cấp trên

các báo, tạp chí chuyên ngành kinh tế, trên các báo điện tử, các nghị định, nghị quyết vàcác tài liệu có liên quan đến vấn đề bộ ba bất khả thi trên thế giới, châu Á cũng như ViệtNam

c Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp phân tích và so sánh, thống kê mô

tả

2 Phạm vi nghiên cứu:

Không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và một số nước trên thếgiới, chủ yếu là Châu Á, đặc biệt là 3 nước Ấn Độ, Trung quốc, Hàn Quốc

Thời gian: Số liệu liên quan chủ yếu lấy từ năm 2001 đến năm 2010

Nguồn số liệu: Số liệu thứ cấp : tổng cục thống kê, ngân hàng trung ương,

Đối tượng nghiên cứu: Châu Á đương đầu với bộ ba bất khả thi

Trang 20

III Nội dung và các kết quả nghiên cứu

1 Giới thiệu:

a. Một lý thuyết cốt lõi trong nền kinh tế vĩ mô hiện đại đó là lý thuyết 'bộ ba bấtkhả thi ", quan niệm cho rằng một quốc gia chỉ có thể đồng thời chọn bất kỳ hai trong balựa chọn ở bất kì tại thời điểm nào trong ba mục tiêu sau đây: tiền tệ độc lập, ổn định tỷgiá hối đoái và hội nhập tài chính Ở châu Á, một vài ví dụ như Hồng Kông, Trung Quốc

có một tỷ giá hối đoái cố định, hội nhập tài chính, và không có quyền tự chủ chính sáchtiền tệ Nói chung là vậy, tuy nhiên ở các nền kinh tế Châu Á có xu hướng thiếu mộtkhuôn khổ chính sách tiền tệ được xác định rõ ràng, mà hầu hết có một sự kết hợp củamột số kiểm soát vốn và thiếu linh hoạt tỷ giá hối đoái Điều này đặt ra những câu hỏi thú

vị về tình trạng hiện tại và sự phát triển của chính sách tiền tệ ở châu Á, và nhấn mạnh sựcần thiết cho một khuôn khổ chính sách tiền tệ phù hợp

Trong bài tài liệu này, tác giả tập trung vào 11 nền kinh tế lớn ở châu Á: Ấn Độ; Cộnghòa Nhân dân Trung Quốc(PRC); Hong Kong, Trung Quốc; Đài Loan, Trung Quốc;Singapore; Malaysia, Thái Lan; In-đô-nê-xi-a; Phi-líp-pin; Việt Nam và Đại Hàn DânQuốc (sau đây gọi là Hàn Quốc).Nhóm 11 quốc gia này không đồng nhất ở nhiều mặt,khác nhau từ thành phố-quốc gia nhỏ Singapore đến gã khổng lồ như Trung Quốc, và từnền kinh tế nghèo như Ấn Độ với các nền kinh tế giàu có như Đài Bắc, Trung Quốc hayHàn Quốc Tác giả gọi nhóm này là các nước châu Á-11

Tác giả đánh giá vị thế của Châu Á-11 dựa trên đến ba khía cạnh của Bộ Ba Bất Khả Thi:kiểm soát vốn, chế độ tỷ giá hối đoái, và quyền tự chủ chính sách tiền tệ Tác giả thựchiện những thống kê tóm tắt cho mỗi nền kinh tế trong 11 nước Châu Á, và cũng tậptrung vào các giá trị cho ba nền kinh tế lớn nhất: Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc

Mặc dù các nước không làm như họ đã nói, tài liệu này tập trung vào thực tế chứkhông phải là theo luật định.kiểm soát vốn, chế độ tỷ giá hối đoái, và các khuôn khổchính sách tiền tệ.Cụ thể hơn nữa, tác giả tập trung vào điều kiện thực tế cho sự tự do hóa

Trang 21

tài chính và tỷ giá hối đoái linh hoạt, và tác động của chúng đối với chính sách tiền tệđược đo bằng lãi suất thực ngắn hạn.

Tác giả thấy rằng trong khi khu vực 11 nước Châu Á đã trải qua một số mức độkiểm soát hợp pháp tài khoản vốn tự do hóa, trong hầu hết các nền kinh tế hạn chế cácdòng vốn lưu thông thường được thực hiện Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của

hệ thống tài chính, điều này không thể ngăn cản tài khoản vốn dần tiến đến mức độ tự dohóa cao hơn

Bên cạnh đó, châu Á được đặc trưng bởi sự thiếu linh hoạt đáng kể tỷ giá hối đoái.Mặc dù tỷ giá hối đoái tăng tính linh hoạt sau năm 2000, điều này vẫn còn thấp so vớitiêu chuẩn thế giới Thậm chí, tỷ giá hối đoái của Hàn Quốc được đánh giá có tính linhhoạt khá cao nhưng vẫn bị coi là chậm thực hiện tỷ giá thả nổi

Chu kỳ ngược của chính sách tiền tệ là một trong những chiến lược mà theo đó cơquan quản lý tiền tệ đạt được các mục tiêu ổn định lạm phát và đầu ra Tác giả tập trungvào mục tiêu này trong bối cảnh của sự mâu thuẫn phát sinh từ bộ ba bất khả thi Ngàynay, hầu hết các thị trường châu Á đặc trưng bởi sự phát tài khoản vốn mở và tỷ giá hốiđoái linh hoạt hơn.Với quan điểm chu chuyển vốn là một chu kỳ, tiền tệ kinh doanh củacác ngân hàng trung ương sẽ chuyển đổi các dòng chu kì vốn thành chính sách tiền tệtheo chu kỳ Trung Quốc và Ấn Độ là các trường hợp thú vị của hiện tượng này, cho thấygiới hạn trên thực tế tự do hóa nguồn vốn ở cả hai nước và hệ thống tài chính tương đốiyếu kém Tuy nhiên, ngay cả ở hai nước này, chúng ta thấy rằng chính sách tiền tệ khá

ổn định theo chu kì

Tác giả cho rằng có những khó khăn tiềm tàng phải mà các nền kinh tế phảiđối mặt khi cố gắng thực hiện tự do hội nhập trong khi tiếp tục có tỷ giá hối đoái kémlinh hoạt Đây là vấn đề đáng quan tâm của Malaysia và Đài Loan, Trung Quốc, các nước

có sự kết hợp (i) hiện đại hệ thống tài chính làm giảm hiệu quả của các biện pháp kiểmsoát vốn, (ii) sự cởi mở trên thực tế và (iii) tính thắt chặt trong tỷ giá hối đoái

Trang 22

2 Kiểm soát vốn và chính sách tỷ giá ở Châu Á:

2.1 Kiểm soát vốn:

Để đo lường mức độ kiểm soát dòng vốn hay mức độ tư do hóa trong chu chuyểnvốn của các nước Châu Á, tác giả bài viết dùng 2 công cụ Một công cụ để do mức độ tư

do chu chuyển vốn theo lý thuyết hay theo tuyên bố chính thức của quốc gia và một công

cụ để đo mức độ chu chuyển dòng vốn trên thực tế

a. Mức độ tư do chu chuyển vốn theo lý thuyết

Để đo mức độ tư do trong chu chuyển dòng vốn theo tuyên bố chính thức, tác giả dùng

phương pháp Cơ sở dữ liệu Chinn-Ito Chinn và Ito (2008) đã xây dựng một cơ sở dữ liệu

để đánh giá mức độ kiểm soát vốn dựa trên thông tin được cung cấp bởi các nền kinh tế

để làm cở sở dữ liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) AREAR Theo đó các, nền kinh tế

với các tài khoản vốn hoàn toàn khép kín ứng với giá trị từ -1,81 điểm và +2,53 điểm cho những nền kinh tế khác với các tài khoản vốn hoàn toàn tự do hóa Tuy nhiên, cơ sở dữ

liệu để phân tích theo phương pháp này có những giới hạn nhất định Đầu tiên, nó khôngđạt được sự tương xứng về việc giảm dần kiểm soát vốn, từ khi nó tiếp tục cung cấp chomột số điểm tương đồng ngoại trừ tất cả các hạn chế được loại bỏ Thứ hai, chỉ số tăngđáng kể đối với hầu hết các nước công nghiệp trong những năm gần đây, khi họ thận

Trang 23

trọng giới thiệu các biện pháp bảo đảm an toàn liên quan đến phòng chống rửa tiền,chống khủng bố tài chính, và các biện pháp liên quan

Hình 1: Mức độ mở cửa tài khoản vốn của tất cả các nền kinh tế từ 1970 - 2007

Source: Chinn and Ito (2008) and authors' calculations

Các cơ sở dữ liệu Chinn-Ito cho thấy rằng trong những năm qua, trên thực tế việc bãi bỏ kiểm soát tài khoản vốn của Chính phủ đã diễn ra trên toàn thế giới Hình

1 cho thấy mật độ ô hạt nhân của biện pháp Chinn-Ito trên tất cả các nền kinh tế, đối với năm 1970 và năm 2007 Trong cả hai năm, mật độ là hai đỉnh, với một nhóm các nền kinh tế với các tài khoản vốn chủ yếu là mở và một cụm của nền kinh tế với các tài khoản vốn chủ yếu là đóng cửa Điều này cho thấy một sự thay đổi liên tục không ngừng theo xu hướng chủ yếu từ đóng cửa sang mở cửa

Hình 2 Mức độ mở cửa tài khoản vốn của cho khu vực châu Á - 11

Source: Chinn and Ito (2008) and authors' calculations

Các cơ sở dữ liệu Chinn-Ito có thông tin cho tất cả 11 nền kinh tế châu Á, ngoại trừ

Trang 24

pháp Chinn-Ito Tại cả hai điểm bắt đầu và kết thúc, kiểm soát vốn tại châu Á-11 là tương tự với mức trung bình thế giới Tuy nhiên, có một giai đoạn mức độ bãi bỏ sự kiểm soát ở châu Á-11 đã tiến nhanh hơn so với mức trung bình thế giới khi châu Á-11 khuyến khích dòng vốn dài hạn như đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Bảng 1: Đo lường quá trình tự do chu chuyển vốn

Bảng này cho thấy quá trình tự do hóa tài khoản vốn của Ấn Độ, Trung Quốc, vàHàn Quốc, so sánh với khu vực châu Á-11 Các chỉ số Chinn-Ito của Ấn Độ và TrungQuốc duy trì gần như không đổi ở -1,13, tương ứng với trường hợp ‘'đóng cửa chủyếu" Trong khi ở Hàn Quốc, Kiểm soát vốn đã thay đổi nhiều lần Sau khủng hoảng tàichính châu Á, Hàn Quốc cũng duy trì chỉ số ở mức -1,13 đến năm 2000, tuy nhiên, ở năm

2007 đã tăng lên đến mức 0,18

Quốc

Trung bình của Châu Á-11

Trang 25

2007 -1.13 -1.13 0.18 0.36

Chênh lệch

Bảng 1 cho thấy mức tự do hóa tài khoản vốn của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc

và mức trung bình của khu vực châu Á-11 Trong khi chỉ số của Trung Quốc và Ấn Độduy trì ở mức -1,13, thì xu hướng của Hàn Quốc lại có nhiều thất thường Tự do hóa tàikhoản vốn cho đến trước khủng hoàng tài chính châu Á năm 1997 đã dẫn đến sự sụt giảmchỉ số từ -1,13 đến -0,09 vào năm 1995 Tuy nhiên, năm 1996, chỉ số giảm trở lại -1,13,

và không có thay đổi cho đến khi đất nước đã trở lại với tự do hóa tài khoản vốn vào năm

2001 Đến năm 2007, Hàn Quốc đạt được giá trị 0,18 Tuy vậy, Hàn Quốc ẫn tiếp tục tụthậu phía sau các nước OECD về sự cởi mở tài khoản vốn

Việc mở cửa tài khoản vốn của khu vực châu Á-11 tăng mạnh từ -0,07 trong 1970đến 0,96 trong 1985.Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, việc kiểm soát vốn lại nổilên và điểm trung bình giảm xuống còn 0,41 năm 1998 Giá trị 0,96 trước khủng hoảngvẫn chưa đạt đươc kể từ đó Tuy nhiên, một số các tiến bộ gần đây của nền kinh tế châu

Á trong việc mở cửa thị trường có thể không được phản ánh trong biện pháp Chinn-Ito do

sự thay đổi trong định nghĩa của biện pháp, cũng như sự bất lực của nó để nắm bắt nớilỏng điều khiển mà không liên quan đến sự hoàn thành việc loại bỏ các hạn chế

2.2 Mức độ tư do chu chuyển vốn trên thực tế

a. Tính theo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Tỷ lệ tổng xuất khẩu/GDP và tổng nhập khẩu / GDP thể hiện tỷ lệ của tổng nguồntài chính/GDP chảy qua biên giới trong cán cân thanh toán (BOP) hay mức độ hội nhậptài chính

Khả năng tác động đên tỷ giá của Ngân hàng Trung ương phụ thuộc vào sản lượng

Trang 26

doanh thu xuất khẩu, và các dòng tài chính ảnh hưởng đến tỷ giá hàng ngày Ngoài tàikhoản vãng lai và các giao dịch tài khoản vốn, các giao dịch lớn hiện nay có thể thôngqua thương mại tiểu ngạch Patnaik, Sengupta, và Shah (2009) đã chỉ ra rằng thương mạitiểu ngạch xảy ra khi các tài khoản vãng lai lớn hơn, và rất khó kiểm soát các giao dịchthương mai này Ngoài ra, các tập đoàn đa quốc gia đóng một vai trò đáng kể đối với hộinhập tài khoản vốn trong nền kinh tế

Hình 3 cho thấy quá trình toàn cầu hóa theo thời gian tại khu vực châu Á-11(không bao gồm Việt Nam, do không có dữ liệu) Việc mở cửa tài khoảng vốn làm GDPtrung bình tăng từ khoảng 100% vào năm 1998 lên khoảng 160% vào năm 2008

Hình 3: Trung bình giá trị của dòng chảy tổng GDP khu vực châu Á-11

Biểu đồ này đánh giá mức độ toàn cầu hóa dựa trên phân tích GDP Giá trị 1 tương ứng với mức 100% của GDP trong một năm Hai ước lượng vị trí (trung bình

và trung vị) chỉ ra tốc độ hội nhập đáng kể vào nền kinh tế thế giới của Châu Á-11

Nguồn: datastreamBảng 2 cho một cái nhìn cụ thể hơn về kinh tế của châu Á-11 Tốc độ hội nhập ở cảTrung Quốc và Ấn Độ tương đối chậm cho đến năm 2000, sau đó tốc độ thay đổi gia tăngđáng kể Trong khi ở Ấn Độ, GDP tăng 56% từ 2000 - 2008 Tương tự ở Trung Quốc(30% GDP), Hàn Quốc (69% GDP) và mức trung bình của châu Á-11 (45% GDP)

Trang 27

Những kết quả này cho thấy rằng mặc dù trên tuyên bố, châu Á để tài khoản vốn mở

tự do một cách miễn cưỡng hay có kiểm soát, nhưng trong thực tế, nó đã nhanh chóng hộinhập vào nền kinh tế thế giới

Bảng 2: Tổng lưu lượng vào GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc

Bảng này cho thấy tỷ lệ tăng theo GDP của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và khu vực châu Á-11 Giá trị 1 tương ứng với mức 100% của GDP trong một năm Giữa năm

2000 và 2008, tỷ lệ này đã tăng 56% ở Ấn Độ, 30% ở Trung Quốc; 69% ở Hàn Quốc, và 45% cho nền kinh tế của châu Á-11.

Nguồn: Data stream

b. Phát triển khu vực tài chính

Có rất nhiều thứ cần quan tâm trong lĩnh vực tài chính nếu muốn kiểm soát vốn cóhiệu quả Tính phức tạp ngày càng tăng trong hệ thống tài chính có xu hướng làm giảmhiệu quả của kiểm soát vốn Khi đánh giá khả năng kiểm soát tài khoản vốn của một quốcgia, quan trọng là nhìn vào năng lực của hệ thống tài chính nội địa chứ không phải nghe

Năm Ấn Độ Trung Quốc Hàn Quốc Trung bình của

Trang 28

Do vậy, Dorrucci, Meyer-Circel và Santabarbara (2009) đã phát triển một cơ sở dữliệu với bảng dữ liệu về phát triển khu vực tài chính tại 26 nền kinh tế mới nổi - bao gồmchâu Á -11, trừ Việt Nam Các giá trị của chỉ số này dao động từ 0 (hệ thống tài chínhtrong nước không phát triển) đến 1 (hệ thống tài chính trong nước có năng lực)

Hình 4: Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer Circel-, và Santabarbara - Biện

pháp phát triển ngành tài chính châu Á-11

Theo biểu đồ ta thấy một sự suy giảm đáng kể trong lĩnh vực tài chính sau khủng hoảng tài chính châu Á Từ năm 2000 trở đi, sau khi kinh tế bắt đầu hồi phục, tình hình tài chính tại các quốc gia đã được cải thiện đáng kể.

Nguồn: Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) theo tính toán của tác giả

Bảng 3 cho thấy năng lực hệ thống tài chính ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, vàtrung bình của châu Á-11 Bàng số liệu cho thấy Châu Á-11 đạt đỉnh 0,55 vào năm 1995,giảm mạnh đến 0,45 vào năm 2000 dưới tác động của khủng hoảng tài chính Năm 2001,châu Á-11 bắt đầu hồi phục, đạt giá trị 0,51 ở 2006 Điều này cho thấy kiểm soát củachính phủ được dường như hiệu quả hơn trong giai đoạn 1998-2004

Bảng 3: Số đo năng lực của hệ thống tài chính

Bảng này cho thấy dù đã có nhiều bước tiến tích cực nhưng giai đoạn 2000-2006 ít

có sự biến động Nhìn chung, Ấn Độ và Trung Quốc tiếp tục tụt hậu phía sau khu vực

Trang 29

châu Á-11 có nghĩa là, và thậm chí cả các nền kinh tế khá cao cấp như Hàn Quốc vẫn còntụt hậu phía sau các nền kinh tế OECD như Anh.

Nguồn: Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) và theo tính toán của tác giả

c. Phương pháp cơ sở dữ liệu của Lane và Milesi-Ferretti

Phương pháp khác để đo mức độ hội nhập thực tế vào nền kinh tế thế giới làphương pháp sử dụng các thông tin của Lane và cơ sở dữ liệu Milesi-Ferretti (Lane vàMilesi-Ferretti 2007) Thước đo của biện pháp này là cổ phiếu của các tài sản nước ngoài

và nợ trong nước, bằng cách tổng hợp các dòng trên các BOP Đây là một cơ sở dữ liệu

có giá trị ở chỗ mức độ kiểm soát tài khoản vốn được phản ánh trong BOP Tuy nhiên, nókhông đo lường dòng vốn chu chuyển qua đường tiểu ngạch

Hình 5: mức độ kiểm soát vốn của tất cả các nền kinh tế từ 1970 – 2007 theo PP

Trang 30

Biểu đồ này cho thấy mức độ mở tài khoản vốn trên thực tế của tất cả các nền kinh

tế theo PP Lane và Milesi-Ferreti Các dòng màu xanh và màu đỏ tương ứng với năm

1970 và 2007 Khác với kết quả theo PP Chinn-Ito, hầu hết các nền kinh tế đóng cửa vào năm 1970, nhưng đến năm 2007, xu hướng này đã đảo ngược.

Nguồn: Lane và Milesi-Ferretti 2007 và theo tính toán của tác giả

Cơ sở dữ liệu này cho thấy trong những năm qua, trên thực tế bãi bỏ sự kiểm soáttài khoản vốn đã diễn ra trên toàn thế giới

Hình 6 áp dụng cho châu Á-11 từ 1994-2004 (dữ liệu sau năm 2004 là không có sẵn)

Hình 6: mức độ kiểm soát vốn của Châu Á - 11 từ 1970 – 2007 theo PP Lane và

Milesi-Ferretti

Theo Lane và Milesi-Ferretti (2007), một nhóm nhỏ các nền kinh tế đã chủ động hội nhập kinh tế thế giới, trong khi những phần còn lại thì không.

Ngày đăng: 09/05/2015, 14:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1- Nguyên lý của bộ ba bất khả thi - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 1.1 Nguyên lý của bộ ba bất khả thi (Trang 5)
Hình 1.4: Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Hình 1.4 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian (Trang 7)
Hình 1.5: Thuyết tứ diện - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Hình 1.5 Thuyết tứ diện (Trang 12)
Hình 1: Mức độ mở cửa tài khoản vốn của tất cả các nền kinh tế từ 1970 - 2007 - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Hình 1 Mức độ mở cửa tài khoản vốn của tất cả các nền kinh tế từ 1970 - 2007 (Trang 22)
Bảng 1: Đo lường quá trình tự do chu chuyển vốn - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 1 Đo lường quá trình tự do chu chuyển vốn (Trang 23)
Bảng 1 cho thấy mức tự do hóa tài khoản vốn của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và mức trung bình của khu vực châu Á-11 - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 1 cho thấy mức tự do hóa tài khoản vốn của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và mức trung bình của khu vực châu Á-11 (Trang 24)
Hình 3 cho thấy quá trình toàn cầu hóa theo thời gian tại khu vực châu Á-11 (không bao gồm Việt Nam, do không có dữ liệu) - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Hình 3 cho thấy quá trình toàn cầu hóa theo thời gian tại khu vực châu Á-11 (không bao gồm Việt Nam, do không có dữ liệu) (Trang 25)
Bảng 2: Tổng lưu lượng vào GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 2 Tổng lưu lượng vào GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc (Trang 26)
Hình 4: Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer Circel-, và Santabarbara - Biện pháp phát triển ngành tài chính châu Á-11 - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Hình 4 Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer Circel-, và Santabarbara - Biện pháp phát triển ngành tài chính châu Á-11 (Trang 27)
Hình 5: mức độ kiểm soát vốn của tất cả các nền kinh tế từ 1970 – 2007 theo PP - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Hình 5 mức độ kiểm soát vốn của tất cả các nền kinh tế từ 1970 – 2007 theo PP (Trang 28)
Hình 6 áp dụng cho châu Á-11 từ 1994-2004 (dữ liệu sau năm 2004 là không có sẵn). - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Hình 6 áp dụng cho châu Á-11 từ 1994-2004 (dữ liệu sau năm 2004 là không có sẵn) (Trang 29)
Bảng 4: Lane và Đo Milesi Ferretti - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 4 Lane và Đo Milesi Ferretti (Trang 30)
Bảng 5: Chế độ tỷ giá hối đoái thực của Ấn Độ - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 5 Chế độ tỷ giá hối đoái thực của Ấn Độ (Trang 33)
Bảng 6: Chế độ tỷ giá hối đoái thực của Trung Quốc - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 6 Chế độ tỷ giá hối đoái thực của Trung Quốc (Trang 34)
Bảng 8 tổng kết các nước châu Á là nơi cố định việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và một chính sách mở cửa tài khoản vốn - Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÂU Á ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BỘ BA BẤT KHẢ THI
Bảng 8 tổng kết các nước châu Á là nơi cố định việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và một chính sách mở cửa tài khoản vốn (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w