Đại hội VI diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, xu thế cầu hòa nổi tội trong quan hệ giữa các nước lớn đã có tác dộng nhất định tới chính sách đối ngoại của nước ta.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội VI của Đảng (tháng12/1986) đã đánh dấu đường lối đổi mới toàn diện
để đưa đất nước ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ CNH-HĐH đất nước Đại hội
VI cũng diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, xu thế toàn cầu hoá,
hoà dịu nổi trội trong quan hệ giữa các nước lớn đã có tác động nhất định tới
chính sách đối ngoại của các nước khác, đòi hỏi các nước này phải có những
thay đổi nhất định trong việc hoạch định chính sách của mình Đảng ta đã nhanh
chóng nắm bắt được sự thay đổi của tình hình thế giới và căn cứ vào hoàn cảnh
thực tế trong nước để có những quyết định về việc phải đổi mới tư duy một cách
toàn diện mà trong đó có tư duy đối ngoại
Tất nhiên, có rất nhiều nguyên nhân và những yếu tố để Đảng ta lấy đó làm
cơ sở để phải đổi mới tư duy đối ngoại Nhưng trong khuôn khổ của bài tiểu
luận này, chúng tôi xin trình bày về những cơ sở cho việc đổi mới tư duy trong
chính sách đối ngoại của Đảng từ năm 1986, mà nói cụ thể hơn thì chúng tôi xin
đi sâu vào những nguyên nhân trực tiếp bên ngoài mà nổi lên 2 vấn đề có tác
động rất lớn đối với Việt Nam đó là: sự cải tổ và sụp đổ của Liên Xô và các
nước Đông Âu và việc giải quyết vấn đề Campuchia
Trang 2Trước khi đi vào vào phân tích cụ thể 2 nguyên nhân trực tiếp bên ngoài trên,
chúng tôi đưa ra 6 nhân tố bên ngoài đó là:
- Xu thế hoà hoãn Đông-Tây
- Cải tổ và sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu
- Xu thế toàn cầu hoá và cạnh tranh kinh tế trong QHQT
- Khu vực châu Á-TBD phát triển năng động nhất thế giới
- Mỹ và các nước phương Tây tiếp tục duy trì bao vây cấm vận đối với Việt
Nam
- Vấn đề Campuchia đang từng bước được giải quyết bằng thương lượng chính
trị
Trong 6 nhân tố này, ngoài 2 nhân tố trực tiếp như chúng tôi đã nói ở trên thì
các nhân tố còn lại đều là những nguyên nhân sâu xa, trong đó nhân tố toàn cầu
hoá là nhân tố quan trọng nhất, nó chi phối đến toàn bộ các nguyên nhân còn lại
Sau đây, chúng ta sẽ bàn về nhân tố trưc tiếp bên ngoài đầu tiên đó là:
I/ Cải tổ và sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu
Vỡ nhõn tố Liờn Xụ là nhõn tố nắm vai trũ quyết định nên nhóm tiểu luận chỉ
đi sâu phân tích những tác động của quá trỡnh cải tổ của Liờn Xụ đến Việt Nam
trong những thời điểm quyết định việc đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam,
đó là khoảng thời gian trước 12/1986 và trước 5/1988
1.Cải tổ quan hệ đối ngoại:
a.Chớnh sỏch Chõu Á mới:
Ngay từ khi lên cẩm quyền vào tháng 3/1985, Goócbachốp đó bắt đầu tiến
hành cải cách ở Liên Xô đến ngày 2/3/1986 thỡ tiến hành một cỏch triệt để về
đối nội cũng như đối ngoại Một trong những chính sách quan trọng về đối ngoại
của Goócbachốp là chính sách Châu Á mới với tuyên bố trong Diễn văn
Vladivostok (7/1986) và Krasnoiark(1988) Trong đó, Goócbachốp đó cam kết
việc phi quõn sự húa, giảm cam kết quõn sự của Liờn Xụ ở Chõu Á cũng như
các khu vực khác trên thế giới Đây cũng có thể xem như một tín hiệu đầu tiên
của Liên Xô đối với các nước thứ ba trong đó có Việt Nam là hóy tập đứng trên
đôi chân của mỡnh Thực chất là Liờn Xụ đang muốn cải thiện quan hệ với
Trang 3Trung Quốc trong khi Trung Quốc đang gây khó khăn rất nhiều cho Việt Nam
trong vấn đề Camphuchia.Tiếp đó, năm 1987 Liên Xô đó chấp nhận dỡ bỏ cỏc
căn cứ quân sự chiến lược ở Châu Á theo yêu cầu của Trung Quốc và Nhật Bản
trong khuôn khổ các cuộc thương lượng song phương với Mỹ (Hiệp ước
Washington 8/12/1987, Liên Xô cam kết tháo bỏ gần 300 tên lửa đẩy chiến lược
ở Châu Á).Vậy mục tiêu của Liên Xô là gỡ?
Thứ nhất, Liờn Xụ muốn tỡm kiếm tầm ảnh hưởng chính trị và kinh tế trong
khu vực rộng lớn này thay vỡ chỉ dựa vào quõn sự như trước đây
Thứ hai, Liên Xô muốn Mỹ giảm các khu căn cứ quân sự ở Viễn Đông
Để đạt mục tiêu thứ nhất, Liên Xô đó bỡnh thường hóa quan hệ với Trung
Quốc, thiết lập quan hệ ngoại giao với Nam Triều Tiên, phát triển quan hệ
thương mại với Nhật Bản và Đài Loan
Đối với mục tiêu thứ hai, Liên Xô đề nghị rút các lực lượng quân sự của
mỡnh ở Chõu Á.Việc rỳt quõn khỏi Afghanistan (1988-1989), Mụng Cổ (1989)
và khỏi căn cứ quân sự ở Cam Ranh (1988-1989) cũng như Hiệp ước
Washington là những bước nhượng bộ đối với Trung Quốc.Tất cả nhằm thúc
đẩy quá trỡnh giải trừ quõn bị ở khu vực Chõu Á-Thỏi Bỡnh Dương
Để thúc đẩy nhanh việc bỡnh thường hóa quan hệ với Trung Quốc bị cắt đứt
từ năm 1960 , Liên Xô đó tiến hành một loạt cỏc nhượng bộ trong các vấn đề mà
Trung Quốc coi là những trở ngại trong quan hệ hai nước như : việc Liên Xô
đóng quân ở Afghanistan ; ủng hộ Việt Nam ở Campuchia ; sự đe dọa quân sự
của Liên Xô ở biên giới Trung Quốc
b.Tác động đối với Việt Nam:
Việc đưa ra và thực hiện chính sách Châu Á mới của Liên Xô đó làm cho
Việt Nam-một đồng minh thân thiết của Liên Xô ở Châu Á phần nào nhận ra vị
trí mới của mỡnh trong chiến lược của Liên Xô Rừ ràng là Liờn Xụ đó đặt quan
hệ với Việt Nam vào hàng thứ yếu so với quan hệ với Trung Quốc Tuy vậy đây
chỉ là những dấu hiệu đầu tiên nên Việt nam vẫn coi Liên Xô là hũn đá tảng
trong chính sách đối ngoại của mỡnh tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
VI(12/1986) Song những động thái mới và những nhượng bộ liên tục của Liên
Trang 4Xô nhằm cải thiện với Trung Quốc ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam nếu xét
trong hoàn cảnh năm 1986,Trung Quốc đang gây khó khăn rất lớn đối với Viêt
Nam trong vấn đề Campuchia.Trong khi đó, Liên Xô không cũn ủng hộ Việt
Nam trong mà cũn gõy sức ộp buộc Việt Nam giải quyết vấn đề này Đặc biệt là
sau thái độ trung lập của Liên Xô đối với cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc
tháng 3/1988 và quyết định rút căn cứ hải quân khỏi Cam Ranh vào tháng
5/1988, Việt Nam đó thay đổi mạnh mẽ trong tư duy đối ngoại, thể hiện trong
Nghị Quyết 13 của Bộ chính trị vào thỏng 5/1988: Liờn Xụ khụng cũn là hũn đá
tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
2.Những khó khăn trong nước của Liên Xô
2.1.1Khó khăn kinh tế
Tỡnh hỡnh kinh tế của Liờn Xụ sau cải tổ 5 năm gặp rất nhiều khó khăn, Liên
Xô không những không thành công trong việc thúc đẩy nền kinh tế mà dường
như không có cách nào để ngăn chặn khủng khoảng hiệu Những kết quả của
năm 1988 không đáp ứng được kỡ vọng của giới lónh đạo mà cũn chứa đựng
nhiều dấu hiệu khủng hoảng GDP và năng suất lao động giảm tương đối, thõm
hụt ngõn sỏch (92 tỷ rỳp).Tỡnh trạng thiếu thốn ngày càng trầm trọng, nhiều mặt
hàng nhu yếu phẩm như đường,sữa, bơ, trà khan hiếm ở nhiều vùng Sản xuất
trong các ngành năng lượng đều giảm(dầu lửa: -2,6%, than: -4,1%).Hơn nữa,
khoảng 6,7 triệu người thất nghiệp (chiếm 3,8% dân số lao động).Kết quả bi
quan này đó chứng tỏ cuộc cải tổ đó thất bại về mạt kinh tế và cú ành hưởng tiêu
cực đến an ninh-xó hội
2.1.2Khó khăn chính trị
Cải tổ thất bại đó gõy ra tỡnh trạng bạo động, lôn xộn tại nhiều nhiều vùng
trên cả nước cũng như tại các nước Capxca, các nước Trung Á Tại các nước
này bùng lên các cuộc biểu tỡnh đũi độc lập(Moldova,Azerbaijan), các cuộc
đỡnh cụng của cỏc thợ mỏ (Ukraina,Kazakhstan), cỏc cuộc xung đột sắc tộc
(3/6/1989 ở Turmenistan) Tuy có những nỗ lực của Goócbachốp nhưng tỡnh
hỡnh ngày càng trở nờn trầm trọng, gõy ra sự bất ổn lớn về an ninh cũng như xó
hội
Trang 5Chính những khó khăn về kinh tế-xó hội cũng như chính trị đó buộc Liờn Xụ
phải cắt giảm rất nhiều viện trợ cũng như cam kết kinh tế đối với các nước thế
giới thứ ba, trong đó có Việt Nam
2.2Tác động đến Việt Nam
Về tác động của tỡnh trạng khú khăn của Liên Xô đối với Việt Nam, những
ảnh hưởng về kinh tế dường như là dễ nhận thấy nhất.Trước tiên, phải công
nhận rằng quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Liên Xô đạt được đỉnh cao trong
giai đoạn 1986-1990 với doanh số 7,8 tỷ rúp (giá 1985), Liên Xô thường chiếm
khoảng 40% xuất khẩu và 60% nhập khẩu của Việt Nam Điều này chứng tỏ
Liên Xô chiếm một vị trí cực kỡ quan trọng đối với kinh tê Việt Nam trong giai
đoạn này Vỡ thế khi Liờn Xụ gặp nhiều khú khăn trong nước từ năm 1987, việc
triển khai các dự án hợp tác, viện trợ chỉ triển khai rất chậm chạp Tỡnh trạng
này xảy ra trong hầu hết cỏc hinh thức hợp tỏc kinh doanh giữa hai nước như
các đề ỏn gia cụng trong cụng nghiệp nhẹ, việc xõy dựng cỏc cụng trỡnh chuyển
tiếp,cỏc chương trỡnh hợp tỏc cú mục tiờu…Cú thể lấy một vớ dụ triển khai hợp
tỏc trong linh vực cụng nghiệp nhẹ để minh chứng cho điều này Chẳng hạn kế
hoạch Liên Xô cho Việt Nam vay 1,5 tỷ rúp gia công 9,5 triệu sản phẩm may
mặc năm 1987-1989, kế hoạch gia công giầy 67,5 triệu sản phẩm (1987-1989)
chỉ thực hiện được không đầy 20% kế hoạch Chính vỡ thế nú gõy khú khăn rất
lớn cho kinh tế-xó hội Việt Nam
Một nhân tố khác đó là việc Liên Xô chuyển đổi hỡnh thức trao đổi hàng hóa
trực tiếp sang hỡnh thức thanh toỏn bằng đồng rúp chuyển đổi bắt đầu từ năm
1987 Điều này có nghĩa là Việt Nam phải chuyển qua hỡnh thức làm ăn “tiền
tươi thóc thật” chứ không được ưu đói như trước đây nữa Điều này trước mắt
cũng gây khó khăn cho Việt Nam nhưng nó cũng giúp Việt Nam nhận thức được
và làm quen dần với những hỡnh thức kinh doanh thị trường, phải tỡm kiếm thị
trường mới cho mỡnh (ASEAN,đầu tiên là Inđônexia)
Những khó khăn lại càng tác động mạnh mẽ vỡ lỳc này Việt Nam đang ở
trong tỡnh trạng khủng hoảng kinh tế-xó hội trầm trọng, mục tiờu tổng thể của
kế hoạch 5 năm 1981-1985 thất bại, nhân dân khủng hoảng niềm tin
Trang 6II/ Vấn đề Campuchia
2.1/ Từ Campuchia dân chủ đến Campuchia nhân dân
Việc giải quyết vấn đề campuchia là thay đổi có tính chất bước ngoặt trong
việc cải thiện quan hệ với các nước lớn đặc biệt là các nước ASEAN Việc giải
quyết vấn đề này cũng đã tạo tiền đề và làm cơ sở cho việc đổi mới tư duy trong
chính sách đối ngoại của Đảng ta Như vậy, trước khi giải thích rõ ràng hơn,
chúng tôi xin khẳng định lại là Đảng ta đã giải quyết vấn đề Campuchia trước và
trong quá trình giải quyết vấn đề này, Đảng ta thấy rằng đã đến lúc phải đổi mới
tư duy cho thích hợp với thời cuộc Tất nhiên là còn có nhiều yếu tố khác nữa
tác động đến sự thay đổi tư duy này
Như chúng ta đã biết, ngày 23 tháng 12 năm 1978, Pôlpốt đã ra lệnh tập trung
19 trên tổng số 23 sư đoàn chủ lực dàn trận đánh sang Việt Nam Trước đó thì
chúng cũng đã có một số hành động khiêu khích như lấn chiếm biên giới, gây ra
nhiều vụ thảm sát mà vụ lớn nhất là ở một làng thuộc tỉnh Tây Ninh làm hơn
2000 người chết Đến ngày 22-12 các sư đoàn tinh nhuệ của Polpốt có xe tăng
và pháo binh yểm trợ, đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh cách Sài
Gòn hơn 100km ý đồ của nhà cầm quyền Campuchia là chớp nhoáng đánh
chiếm thị xã Tây Ninh để mở đường tiến sâu vào miền Nam Việt Nam Trước
khi tấn công Việt Nam thì ở Campuchia bọn Polpốt cũng đã gây ra nạn diệt
chủng làm khoảng hơn 1,2 triệu người chết trong khoảng thời gian từ 1975 đến
1978 Ngày 25 tháng 12, sử dụng quyền tự vệ chính đáng của mình, quân đội
Việt Nam từ Plâyku, Tây Ninh tiến thẳng vào các tỉnh lỵ của Campuchia Từ đó
, với sự phối hợp của nhân dân và các lực lượng cách mạng Campuchia dưới sự
lãnh đạo của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia do Hengxomrin
lãnh đạo Ngày 7-1-1979, quân đội Việt Nam ào ào tiến vào thủ đô Phnôm Pênh
Ba tuần sau quân Việt Nam kiểm soát tất cả các thành phố và đường giao thông
lớn ở Campuchia, tiếp đó quét sạch quân Polpốt ra khỏi đồng bằng Tây
Campuchia và ngày 10tháng 4 chiếm Ta sanh, tổng hành dinh của quan Khmer
đỏ Các lực lượng còn lại của chế độ Polpốt chuyển sang chiến tranh du kích
Trang 7Sau khi chế độ diệt chủng Polpốt bị đập tan Ngày 10-1-1973, Mặt trận đoàn
kết dân tộc của Hengxomrin thành lập chế độ cộng hoà Nhân dân Campuchia
thật sự của nhân dân Campuchia
2.2/ Giải quyết vấn đề Campuchia
Như vậy, sau khi đã giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng
Polpốt, quân tình nguyện Việt Nam đã ở lại và giúp đỡ việc xây dựng, củng cố
quân đội, chính quyền còn non trẻ theo yêu cầu của phía Campuchia Nhưng
bắt đầu từ đây đã nảy sinh thêm nhiều yếu tố mới và vấn đề này đã thực sự bị
quốc tế hoá, trở thành vấn đề mà các nước lớn luôn muốn lợi dụng để thoả mãn
hay chí ít cũng là để dàn xếp lợi ích của họ với nhau, ở đây ta có thể thấy nổi lên
những quan hệ có liên quan tới vấn đề này như: Xô-Trung, Trung-Mỹ, Xô-Mỹ
và Việt Nam-ASEAN Đã có một số nhà báo phương Tây gọi cuộc chiến tranh
giữa Việt Nam và Khmer đỏ là cuộc “chiến tranh uỷ nhiệm” ngụ ý là cuộc chiến
tranh giữa Liên Xô và Trung Quốc qua tay người Việt Nam và người
Campuchia
Vấn đề Campuchia đã bị lợi dụng để phục vụ cho việc tập hợp lực lượng giữa
hai phía Đông-Tây, tạo cân bằng lực lượng mới Một điều quan trọng nữa đó là
Trung Quốc, Mỹ, Phương Tây rất e ngại việc Liên Xô thông qua Việt Nam để
mở rộng ảnh hưởng của mình và các nước ASEAN thì lại rất sợ bị Việt Nam tấn
công theo thuyết Đôminô để trả thù mộ số nước có dính líu đến chiến tranh Việt
Nam của Mỹ Từ đó, các nước này đã có những phản ứng rất quyết liệt trước
việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia như Thái Lan, Philippin,
Malayxia Các nước ASEAN thậm chí đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc lên án Việt Nam “xâm lược” Campuchia, họ cũng vận động phong trào
không liên kết họp tại Lahabana (Cuba) để giữ ghế cho Khmer đỏ, không đáp
ứng đề nghị của ngoại trưởng ba nước Việt Nam, Lào Campuchia đưa ra tháng 1
năm 1980 về việc ký hiệp định song phương và không xâm lược nhau giữa ba
nước Đông Dương và các nước ASEAN và bàn việc xây dựng một khu vực
Đông Nam Á hoà bình, độc lập, tự do, trung lập, ổn định và phồn vinh Như vậy,
hậu quả của việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia là chúng ta đã bị bao vây,
Trang 8cô lập về ngoại giao trong khi cũng đang phải đối mặt với những khó khăn về
kinh tế nên việc giải quyết vấn đề Campuchia đã được Việt Nam đặc biệt coi
trọng để có thể thoát ra khỏi tình trạng bị bao vây, cô lập trên Nhưng thực chất
trong nội bộ các nước ASEAN vẫn còn có khoảng cách về nhận định tình hình
mà cụ thể là giữa ba nước Thái Lan với Malaixia và Indonexia Trong khi
Indonexia và Malaixia đều tuyên bố cần coi trọng những lo lắng của Việt Nam
về an ninh của mình và cho rằng cần có giải pháp chính trị cho vấn đề
Campuchia và giải pháp đó phải tính đến lợi ích chiến lược của Việt Nam, Việt
Nam cần được giải phóng khỏi ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc và cũng
kêu gọi hai nước này không nên can thiệp vào các vấn đề của Đông Nam Á(đây
là công thức Kuantan) thì Thái Lan lại tẳng thừng bác bỏ công thức này
Tuy vậy cả Việt Nam và các nước ASEAN đều đã có những bước đi để giải
quyết vấn đề này Do cả hai phía đều nhận thức được đây là vấn đề có tính then
chốt Cả hai bên đã liên tục có những sáng kiến, đề xuất nhưng do còn tồn tại
một số vấn đề mang tính khách quan và chủ quan nên các sáng kiến và đề xuất
này chưa được thực hiện rõ nét trong giai đoạn này mà chúng mới chỉ mang tính
xây dựng Việc giải quyết vấn đề campuchia chỉ thực chất được thực hiện bắt
đầu từ năm 1985 khi có một số thay đổi có tính bước ngoặt của cả hai phía về
nhận thức vấn đề
Đầu tiên, Ngày 12 tháng 8 năm 1985, tại hội nghị bộ trưởng ba nước Việt
Nam, Lào, Campuchia họp tại Phnôm Pênh đã có sáng kiến ngoại giao quan
trọng, bày tỏ thiện chí mong muốn có một giải pháp ngoại giao cho vấn đề
Campuchia và đưa ra lập trường năm điểm làm khung cho một giải pháp: Việt
Nam sẽ rút quân vào năm 1990 và các nước trong khu vực cần thoả thuận về
khu vực hoà bình và hợp tác Đông Nam Á, thực hiện các nguyên tắc cùng tồn tại
hoà bình Sự phân biệt hai mặt của vấn đề Campuchia này đã thực sự có tác
dụng thúc đẩy các bên đi vào giải pháp vì con bài của Trung Quốc và các bên là
đòi Việt Nam rút quân để ép Việt Nam đi vào thương lượng, nhưng Việt Nam
đang rút quân từng đợt và muộn nhất là năm 1990 thì rút xong, khi đó thì con
bài rút quân không còn tác dụng nữa
Trang 9Tiếp đến, Tháng 3 năm 1986, chính phủ liên hiệp ba phái đưa ra tuyên bố 8
điểm: Việt Nam đàm phán với chính phủ ba phái về tiến trình Việt Nam rút
quân, sẽ ngừng bắn để Việt Nam rút quân, sau khi Việt Nam hoàn thành rút
quân giai đoạn đầu, chính phủ Phnôm Pênh sẽ tham gia đàm phán với chính phủ
liên hiệp ba phái để lập chính phủ liên hiệp bốn phái bao gồm cả chính quyền
Phnôm Pênh, rút quân, ngừng bắn, tổng tuyển cử đều có liên Hiệp Quốc giám
sát Tuy nhiên, Việt Nam cũng chưa thể hiện thái độ đồng tình với tuyên bố này
với lý do không công nhân chính phủ liên hiệp ba phái và cho rằng các vấn đề
nội bộ của Campuchia phải do nhân dân Campuchia tự giải quyết Những đây
cũng là bước đi thể hiện tính xây dựng của các bên mong muốn giải quyết vấn
đề này
Việc giải quyết vấn đề Campuchia chỉ thực sự đi vào giai đoạn quyết định khi
vào tháng 7 năm 1987 đại diện nhóm nước Đông Dương và ASEAN ký thông
cáo chung tại thành phố Hồ Chí Minh, mở đầu quá trình đối thoại nhằm giải
quyết vấn đề Campuchia (gọi tắt là JIM)
1/ Mở đầu là JIM1 họp tại Bogor (Indonesia) từ 25-28 tháng 7 năm 1988
JIM1 kết thúc với tuyên bố của chủ tịch hội nghị về khuôn khổ cho một giải
pháp chính trị về vấn đề Campuchia với hai vấn đề then chốt: quân tình nguyện
Việt Nam rút khỏi Campuchia, ngăn chặn sự trở lại của chế độ diệt chủng và
chấm dứt sự viện trợ quân sự của nước ngoài cho các bên ở Campuchia Tại hội
nghị này Việt Nam cũng đã tuyên bố rút 5 vạn quân và bộ tư lệnh quân Việt
Nam tại Campuchia ngày 26-5-1988 đã góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các
bên.Việc rút quân của Việt Nam cũng làm giảm đi những sức ép từ các bên liên
quan đòi Việt Nam rút quân và cũng làm giảm đi gánh nặng về chi phí quân sự
cho chính Việt Nam còn đang trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế Như vậy,
JIM1 đã kết thúc với những kết quả đạt được là rất khả quan, đã làm giảm tình
trạng đối đầu giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á và mở ra giai đoạn bình
thường hoá quan hệ và hợp tác giải quyết các vấn đề của khu vực
Trang 102/ Tiếp theo thành công của JIM1, từ ngày 19-21 tháng 2 năm 1989 JIM2 đã
được tổ chức tại Jakarta (Indonesia) để tiếp tục công việc của JIM1 Tại hội nghị
này, các nước ASEAN đã nhất trí với nguyên tắc lớn của giải pháp đó là:
- Việt Nam rút hết quân
- Chấm dứt sự viện trợ quân sự và can thiệp từ bên ngoài vào Campuchia, loại
trừ sự quay trở lại của chế độ diệt chủng
3/ Ngày 9 tháng 9 năm 1990, JIM3 họp tại Jakarta (Indonesia) đã có một kết
quả quan trọng đó là các phái Campuchia đã thoả thuận xong việc thành lập hội
đồng dân tộc tối cao (SNC) gồm 12 thành viên trong đó một nửa là chế độ
Hengxomrin, các phái khác mỗi phái hai đại biểu
Nhưng một điểm đáng chú ý ở đây là từ những hội nghị như JIM1, JIM2,
JIM3 đã làm thay đổi nhận thức của ban lãnh đạo của cả hai phía vì trước đây cả
hai bên đều thù địch với nhau (ViệtNam coi các nước ASEAN là khối SEATO
trá hình, chỉ phục vụ cho lợi ích của các nước phương Tây ở khu vực), nhưng
qua quá trình đàm phán cả 2 phía đã hiểu nhau hơn và đều nhận thấy rằng cần
phải thay đổi tư duy và chính sách đối với nhau để phù hợp với tình hình mới
trong khu vực và trên thế giới
Ngoài ra,sau khi thành công của các JIM thì nhóm 5 nước thường trực của
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cũng tổ chức đàm phán để bàn về vấn đề
Campuchia (gọi tắt là P5) vào ngày 17tháng 7 năm 1990 Tại vòng 5 cấp thứ
trưởng ngoại giao các bên đã thoả thuận 2 nội dung chủ yếu đó là tập kết và giải
giáp các bên ở Campuchia và Liên Hợp Quốc tổ chức tổng tuyển cử, kiểm soát 5
bộ và xúc tiến thành lập hội đồng dân tộc tối cao Thực chất của hội nghị P5 là
các nước lớn đều không muốn cuộc xung đột ở Campuchia kéo dài ảnh hưởng
đến việc triển khai các mối quan hệ của họ với nhau nên họ cũng muốn tham gia
vào giải quyết Dù đây chỉ là hội nghị phục vụ cho các nước lớn nhưng cũng đã
góp phần đáng kể giúp giải quyết tình hình Campuchia