Trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, các nhà kinh tế học bắt đầu đặt mình bên ngoài tâm lý học nhằm hướng tới những nghiên cứu kinh tế như một khoa học tự nhiên, bắt đầu với những giải
Trang 1PHỤ LỤC 1 - Lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý hành vi:
- Trong thời kỳ cổ điển, kinh tế học có mối liên kết gần gũi với tâm lý học Ví dụ, Adam Smith viết cuốn Lý thuyết về tình cảm lương tâm (The Theory of Moral Sentiments), văn bản quan trọng mô tả những nguyên lý tâm lý học của các hành vi cá nhân; Jeremy Bentham viết bao quát về những hữu dụng (lợi ích) nền của tâm lý học Trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, các nhà kinh tế học bắt đầu đặt mình bên ngoài tâm lý học nhằm hướng tới những nghiên cứu kinh tế như một khoa học tự nhiên, bắt đầu với những giải thích về hành vi kinh tế được suy ra từ các giả định về tính tự nhiên của các thực thể (tác nhân) kinh tế Khái niệm con người kinh tế đã được đề xuất, tâm lý của con người được xem xét cơ bản dựa trên lý trí Tuy vậy, những giải thích thuộc về tâm lý tiếp tục cho ra những hình thái phân tích quan trọng trong quá trình phát triển của trường phái kinh tế học tân cổ điển, những đại diện tiêu biểu như Francis Edgeworth, Vilfredo Pareto, Irving Fisher và John Maynard Keynes Ngoài ra cũng phải kể đến Daniel Kahneman và Amos Tversky là các nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực này Hai ông nhận chung giải Nobel kinh tế năm 2002 vì những đóng góp của mình trong lĩnh vực kinh tế học hành vi
*******
PHỤ LỤC 2 - Bảng 1:Các trường phái tâm lý và ứng dụng trong tài chính hành vi
Trường phái chính Các hiệu ứng chính Ứng dụng trong tài chính
Tâm lý hành vi
Do John B.Watson
sáng lập năm 1913,
nghiên cứu các điều
kiện khiến con người
sẽ hành động theo
một cách nào đó
-Tin vào điều thật ra không tồn tại (magical thinking) -Ưa thích sự chắc chắn (certainty effect)
-Lý thuyết triển vọng (prospect theory)
Hiệu ứng ưa thích sự chắc chắn và lý thuyết triển vọng liên quan đến các vấn đề không ưa thích rủi ro và thích mạo hiểm khi bị lỗ hơn khi đang lời trong tài chính
Trang 2Tâm lý nhận thức
Do Uric Neiser sáng
lập năm 1967,
nghiên cứu về cách
mà suy nghĩ của con
người điều khiển
hành vi của họ
-Hội chứng tự tôn (touchy feely syndrome), lý thuyết nuối tiếc (regret theory) -Mâu thuẫn về nhận thức (cognitive dissonance) -Định nghĩa hẹp, tính toán bất hợp lý
-Bù đắp chi phí đã bỏ ra -Quá tự tin
-Lệch lạc trong nhận thức
về quá khứ (hindsight bias) khẳng định quá mức (confirmatory bias)
Đây là trường phái đóng góp lớn cho tài chính, ngoài những hiệu ứng đã đề cập ở trên, hiệu ứng mâu thuẫn về nhận thức, bù đắp chi phí bỏ ra, lý thuyết tiếc nuối giúp giải thích vì sao chúng ta thường nắm giữ mãi các khoản lỗ và cứ lỗ liên tục
Hội chứng tự tôn giải thích chúng ta
có xu hướng tự đánh giá cao cổ phiếu
mà mình chọn đầu tư
Hiệu ứng lệch lạc trong nhận thức về quá khứ hay khẳng định quá mức cũng giống như hội chứng quá tự tin, làm chúng ta nhận xét rằng mình có khả năng dự đoán thị truờng tốt
Lý thuyết cấu trúc
hình thức (Gestait
theory)
Werrtheirmer sáng
tạo từ 1912, nghiên
cứu cách chúng ta
suy diễn từ những dữ
liệu chúng ta nhận
được
-Hiệu ứng thuyết phục (persuasion effect)
-Hiệu ứng tự thuyết phục (seff-persuasion)
-Lệch lạc do tình huống điển hình
-Xu hướng tự bảo vệ (ego-defensive attitude)
-Hiệu ứng ước đoán sai (false consensus effect) -Lý thuyết phản kháng (somatic market theory)
Đây là trường phái có tác động rất lớn đến các lý thuyết tài chính, đưa ra các luận điểm vì sao chúng ta có thể mắc sai lầm từ nhiều tình huống khác nhau, đặc biệt các lý thuyết phản kháng, lý thuyết ước đoán sai, và hiệu ứng tự thuyết phục, thuyết phục đưa
ra nhiều giải thích khả dĩ cho các hiệu ứng bầy đàn và nguyên nhân hiện tượng định giá sai kéo dài
Phân tâm học
(Psycho-analysis)
Do Sigmund Freud
sáng lập đầu thế kỷ
-Hội chứng hoang tưởng (paranoid personality disorder)
-Quá chú ý đến bản thân
Chúng ta quá lo lắng về việc có thể bị lừa hay có thể sai lầm, hay chúng ta quá chú ý đến việc có thành công hay không, đều sẽ ảnh hưởng đến quyết
Trang 320, nghiên cứu về
các loại bệnh tâm
thần
(narcissistic personality disorder)
-Hội chứng phiền muộn, bi quan (depressed personality disorder)
định của chúng ta trong kinh doanh chứng khoán Vì vậy, trường phái này cũng có đóng góp trong việc giải thích hành vi nhà đầu tư, từ những giải thích về rối loạn tính cách (personality đisorder)
*******
PHỤ LỤC 3 – Các sự kiện nổi bật trên TTCK trong năm qua theo bình chọn của
Vnexpress:
1 Quy mô thị trường tăng mạnh Nếu như năm 2006, vốn hóa của thị trường chứng khoán chỉ chiếm khoảng 22% GDP thì năm nay đã lên tới hơn 40% GDP
2 Vn-Index lập kỷ lục Lần đầu tiên trong lịch sử 7 năm hình thành thị trường chứng khoán, hàn thử biểu đạt đỉnh 1.170,67 điểm vào ngày 12/3
3 Chỉ thị 03 về khống chế dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán ở mức 3% Đây là văn bản được đánh giá ảnh hưởng nhiều nhất tới thị trường trong năm nay Hạn mức này đã buộc các ngân hàng phải dừng hoạt động cho vay và thực hiện thu hồi nợ khiến nhiều nhà đầu
tư thiếu vốn
4 Bùng nổ các đợt IPO lớn Năm đánh dấu tiến trình cổ phần hóa chuyển biến về chất với việc cổ phần hóa nhiều tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế Điển hình là IPO của Bảo Việt, PVFC, Đạm Phú Mỹ, Vietcombank…Trong đó, IPO của Vietcombank có ảnh hưởng lớn nhất và được giới đầu
tư cả trong và ngoài nước quan tâm nhất từ trước tới nay
5 Thực hiện khớp lệnh liên tục tại HOSE từ ngày 30/7 phương thức khớp lệnh mới này
là một đột phá của thị trường tập trung Trước kia HOSE chỉ có 2 đợt khớp lệnh định kỳ
và hạn chế của phương thức khớp lệnh định kỳ là bảng điện tử không hiển thị hết cung cầu cổ phiếu, dễ bị làm giá Với việc khớp lệnh liên tục, cung cầu sẽ thật hơn và biên độ dao động giá cũng mạnh hơn, tạo tính thanh khoản cho thị trường
6 Luật Thuế thu nhập cá nhân được thông qua, trong đó lần đầu tiên thu nhập từ chứng khoán được đưa vào diện chịu thuế Mặc dù mức thuế không quá cao, khá linh hoạt và phải tới năm 2009 mới áp dụng nhưng thị trường cũng đã có một thời gian dài phản ứng tiêu cực
Trang 47 Nhầm lẫn kỹ thuật tại HOSE và HASTC Năm 2007 đã có nhiều sự cố về giao dịch, trong đó đáng kể là việc trục trặc hệ thống số liệu giá tham chiếu khiến HOSE phải ngừng giao dịch một ngày Ngoài ra còn có sự nhầm lẫn về room với STB, nhầm lẫn giá tham chiếu của TLT tại Hà Nội và tính nhầm chỉ số Hastc-Index
*******
PHỤ LỤC 4 - Bảng 2: Phân tích báo cáo tài chính FPT so với các đại gia công nghệ của thế giới như Microsoft, Google, Yahoo, Oracle, và bình quân ngành
Giá trị thị trường (M$) 2,199 305,630 152,790 39,360 88,820 243.12M
Số lượng nhân viên 7,008 71,000 5,680 9,800 56,133 204 Tăng trưởng doanh thu
quý 42,4% 11.00% 70.40% 18.80% 26.50% 16.20% Doanh thu (M$) 729 45,350 9,320 6,220 16,070 51.70M Lợi nhuận gộp/Doanh
Lợi nhuận trước thuế, lãi
vay và giảm trừ
(EBITDA) (M$) 38 19,000 4,050 1,940 6,510 6.53M Lợi nhuận hoạt
động/Doanh Thu 4,78% 39.38% 34.24% 15.46% 33.67% 4.08% Lợi nhuận ròng (M$) 33 12,940 2,420 1,170 3,700 0.276
PEG (Dự báo 5 năm) N/A 1.53 1.43 1.81 1.11 1.48 P/S (Thị Giá/Doanh thu
Nguồn: Tổng hợp từ http://finance.yahoo.com/ và Báo cáo tài chính của FPT đến
31/12/2006 (Tỷ giá quy đổi: 16,037 VND/USD)
*******
Trang 5PHỤ LỤC 5 – Bong bóng là gì, sự hình thành bong bóng và khái niệm về sự sụp đổ
1 Bong bóng là gì?
Một chu kỳ kinh tế đặc trưng bởi quá trình mở rộng nhanh chóng sau một giai đoạn thị trường thu nhỏ trầm lắng
Hiện tượng giá tài sản tăng bùng phát, thường vượt ra ngoài giới hạn đảm bảo của các hệ
số tài chính cơ bản và xuất hiện ở một số ngành nhất định, tiếp sau hiện tượng này là sự sụt giá rất nhanh và mạnh cùng làn sóng ồ ạt bán ra
Là một học thuyết mô tả hiện tượng giá chứng khoán vượt quá giá trị chính xác của chúng và cứ tiếp tục tăng như vậy cho đến khi giá đột ngột rơi tự do và quả bong bóng
vỡ
"Bong bóng", xét trên khía cạnh tâm lý đầu tư, là một hiện tượng thể hiện một điểm yếu nhạy cảm trong cảm xúc của con người Hiện tượng bong bóng hình thành khi nhu cầu của nhà đầu tư với một loại cổ phiếu lên quá cao, từ đó làm cho giá giao dịch vượt xa mọi mức được coi là chính xác và hợp lý tính toán dựa vào kết quả vận hành thực của doanh nghiệp phát hành Giống như một bong bóng xà phòng mà trẻ con thường thích thổi, bong bóng đầu tư hình thành và tạo cho người ta cảm giác nó sẽ tồn tại mãi mãi Nhưng bản chất những bong bóng xà phòng không được cấu tạo từ một vật liệu có thực, vỡ là kết quả tất yếu Khi sự "vỡ" xảy ra, tiền đầu tư theo ảo giác bong bóng đó cũng sẽ bay theo gió
2 Bong bóng hình thành như thế nào?
G Soros nhà kinh doanh chứng khoán nổi tiếng có triết lý riêng của mình về sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng mà ông gọi là chuỗi boom-bust (hưng thịnh-suy sụp) Theo lý thuyết kinh tế truyền thống, giá cổ phiếu của một công ty phản ánh những cái căn bản (fundamentals) của công ty đó Đại loại chúng liên quan đến lĩnh vực và quy mô hoạt động, chiến lược kinh doanh, sản phẩm, khách hàng, doanh thu, lợi nhuận, đội ngũ lãnh đạo của công ty đó, và giá cổ phiếu có thể tính được bằng cách chiết khấu dòng thu nhập dự kiến trong tương lai
Soros coi những cái căn bản là quan trọng, song ông coi thiên kiến về những cái căn bản của những người tham gia thị trường và sự nhận biết về thiên kiến của những người khác mới là cái ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu, ông gọi việc tư duy của chúng ta về giá
cổ phiếu ảnh hưởng đến chính giá cổ phiếu là hiện tượng phản thân (reflexivity) Thực ra
Trang 6hiện tượng phản thân phổ biến ở nhiều lĩnh vực khác (như bất động sản, các quá trình xã hội, chính trị, lịch sử ) song ở đây chỉ giới hạn ở lĩnh vực cổ phiếu
Bong bóng khởi đầu với một thiên kiến thịnh hành và một xu hướng thịnh hành Thí dụ, thiên kiến thịnh hành có thể là sự ưa thích tăng trưởng nhanh thu nhập trên cổ phần dựa vào kỳ vọng giá cổ phiếu tăng mà không chú ý nhiều đến lợi nhuận thực chia cho cổ phần (đến những cái căn bản); xu thế thịnh hành có thể là khả năng của các công ty tạo ra tăng giá nhanh cổ phiếu của mình bằng cách được cổ phần hoá theo giá "bèo", bằng trái phiếu chuyển đổi hay hứa cho quyền mua cổ phiếu với giá ưu đãi
Ở giai đoạn đầu (1) (xem hình), xu thế còn chưa được nhận ra Rồi đến giai đoạn tăng tốc (2), khi xu thế được nhận ra và tự tăng cường bởi thiên kiến thịnh hành Một giai đoạn kiểm tra (3) có thể xen vào khi giá sụt Nếu thiên kiến và xu thế duy trì, cả hai hiện ra mạnh hơn bao giờ hết (4) Rồi đến giờ phút thử thách (5) khi thực tế không còn duy trì được kỳ vọng bị phóng đại, tiếp theo một giai đoạn chạng vạng (6) khi người ta tiếp tục cuộc chơi, mặc dù họ không còn tin vào nó, với hi vọng họ sẽ được cứu giúp do khôn hơn những kẻ khờ dại
Cuối cùng đến một điểm giao (7) khi xu thế sụt giảm và ngay cả những kẻ khờ dại nhất cũng từ bỏ hi vọng Điều này dẫn đến một sự gia tốc thảm khốc theo chiều ngược lại (8), thường được biết đến như một "sự sụp đổ"
Như minh hoạ ở hình trên, chuỗi boom-bust có dạng bất đối xứng, với boom kéo dài hơn bust Đây chỉ là một mô hình, không phải mọi quá trình boom-bust theo cùng hình mẫu
Trang 7này Trong thị trường tiền tệ hình mẫu đối xứng hơn, tức là bên lên và bên xuống ít nhiều thuận nghịch Trong thực tế, các quá trình phản thân tương tác, tạo ra các hình mẫu kỳ lạ
và đơn nhất Mỗi trường hợp là khác nhau
Các giai đoạn khác nhau có thể có biên độ và trường độ khác nhau Quá trình phản thân
tự kích có thể chẳng bao giờ khởi động được bong bóng Trong nhiều trường hợp, cơ chế phản hồi phản thân là tự hiệu chỉnh hơn là tự tăng cường để khởi động
3 Người ta thường gắn khái niệm bong bóng với sụp đổ Vậy sụp đổ là gì?
Sụp đổ là hiện tượng suy giảm nhanh và lớn của tổng giá trị toàn thị trường, thông thường là gắn với sự "vỡ" của một bong bóng Nguyên nhân của mối quan hệ khăng khít này là vì khi bong bóng vỡ, sẽ có rất nhiều nhà đầu tư cố gắng bán hết cổ phiếu để rút tiền ra khỏi thị trường chứng khoán, những hành động này xảy ra cùng một lúc, tạo ra những làn sóng bán ồ ạt trong khi không có, hoặc có rất ít nhu cầu mua vào, kết quả là
thua lỗ trầm trọng Hành động bán một cách hoảng loạn là biểu hiện chung của thị trường sau tiếng vỡ của bong bóng
và là hình tượng sụp đổ của thị trường, ai cũng muốn bán
đi, đẩy loại cổ phiếu đang giảm giá từng giây mà mình nắm giữ cho người khác, nhưng liệu có ai định mua trong tình cảnh đó? Kết quả tiếp theo của tình trạng bán một cách điên cuồng này là thị trường đi xuống rất nhanh, xét trên mọi khía cạnh, dẫn đến suy sụp và tác động trở lại đến tất cả mọi người Thông thường, sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán sẽ là một giai đoạn suy thoái kinh tế
Mối liên hệ giữa bong bóng và sụp đổ có thể so sánh với mây và mưa Có thể có mây nhưng không có mưa, nhưng đã có mưa thì chắc chắn phải có mây, bong bóng là mây và tình trạng sụp đổ thị trường là mưa Lịch sử cho thấy sụp đổ thị trường là hệ quả bắt nguồn từ tình trạng bong bóng thị trường vỡ, mây càng dày - bong bóng càng to thì mưa
sẽ càng lớn
Tuy nhiên, cần phân biệt tình trạng sụp đổ thị trường với trạng thái điều chỉnh thị trường, hai tên gọi có vẻ khác nhau nhưng đôi khi biểu hiện ra của chúng không dễ phân biệt Trạng thái điều chỉnh của thị trường có thể hình dung như một cách thị trường ngăn lại trạng thái tâm lý của những nhà đầu tư đang quá phấn khích Nguyên tắc chung thường
Trang 8được đưa ra đối chiếu là trạng thái điều chỉnh của thị trường (correction) sẽ không làm tổng giá trị thị trường giảm quá 20% Có khá nhiều vụ sụp đổ thị trường bị người ta gán nhầm cho cái tên là trạng thái điều chỉnh, đặc biệt là vụ sụp đổ thị trường nghiêm trọng năm 1987
*******
PHỤ LỤC 6 - Chứng khoán phái sinh
1 Vai trò của chứng khoán phái sinh:
Sau khi Việt Nam hình thành TTCK vào năm 2000, thì các nhà đầu tư háo hức, kỳ vọng vào việc hình thành các thị trường phái sinh như thị trường quyền chọn và thị trường giao sau Nhưng những khó khăn trong TTCK đã phần nào đánh mất niềm tin của nhà đầu tư, mọi người bắt đầu thấy phân vân khi tham gia vào các thị trường tài chính phức tạp Tuy vậy, một số doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và ngay cả Chính phủ đã nhận ra được tính tất yếu của việc hình thành các sản phẩm phái sinh tại Việt Nam, vấn đề chỉ là thời gian Niềm lạc quan đó xuất phát từ những lợi ích thiết thực mà chứng khoán phái sinh mang lại cho các thành phần kinh tế cũng như cho chính nhà nước Vì trong những năm gần đây, chúng ta phải đối mặt với những rủi ro tự thân của nền kinh tế thị trường; nào là sự rớt giá của cà phê, hạt tiêu, điều, sự biến động của giá xăng dầu, giá vàng, thép, ngoại tệ,
và đặc biệt là sự tuột dốc của thị trường chứng khoán
Thị trường phái sinh mang lại 3 lợi ích: bảo hộ, đầu cơ và ổn định giá thị trường Ba lợi ích này tương ứng với người bảo hộ, người đầu cơ trong các thành phần kinh tế và vai trò của nhà nước trong hoạt động quản lý, kiểm soát, điều tiết thị trường
Chứng khoán phái sinh đóng vai trò như một công cụ đầu tư:
Bằng việc sử dụng các công cụ phái sinh, các DN và cá nhân có thể chuyển bất cứ rủi ro nào họ không mong muốn cho các đối tác khác là những người hoặc là có rủi ro được bù đắp hoặc là muốn thừa nhận rủi ro đó
Chứng khoán phái sinh đóng vai trò như một công cụ đầu cơ:
Thị trường phái sinh được hình thành với mục đích ban đầu là dành riêng cho những người bảo hộ, nhưng dần dần lực lượng nhà đầu cơ tham gia thị trường ngày càng đông lấn át cả những người bảo hộ Sở dĩ người đầu cơ mạo hiểm chấp nhận rủi ro để tham gia thị trường phái sinh là vì công cụ đòn bẩy tài chính của chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh còn là một công cụ để bảo hộ:
Trang 9Đối với sự thay đổi của giá cả chứng khoán thì cũng tương tự như đối với trường hợp bảo
vệ giá cả hàng hóa Người dự định mua chứng khoán nhưng không muốn giá quá cao nên
đã mua trước, nếu giá chứng khoán không lên hoặc rớt thì họ sẵn sàng mất một khoản thua lỗ (trong tài khoản bảo chứng) trên số tiền cọc còn hơn mua và nắm giữ chứng khoán thật sự Còn người muốn bán chứng khoán thì lo ngại giá sẽ giảm, nếu giá không giảm mà ngược lại còn tăng thì người bán sẽ chấp nhận một phần thua lỗ mà không bán chứng khoán nữa.Đối với người bảo hộ thì họ có thể lựa chọn, một là thực hiện đúng như hợp đồng (thi hành hợp đồng), hoặc hai là thanh lý hợp đồng bằng thanh toán bù trừ Thông thường, vì những lý do bị động về thời gian, địa điểm giao hàng, người bảo hộ vẫn thích thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ như nhà đầu cơ để bảo vệ cho rủi ro của họ
Người bảo vệ Khóa giá mua
Đạt được mục đích bảo hộ khi giá tăng
Khóa giá bán
Đạt được mục đích bảo hộ khi giá giảm
Người đầu cơ Kiếm lời từ việc tăng giá Kiếm lời từ việc giảm giá
Ngoài ra đối với vai trò quản lý của nhà nước thì thông qua thị trường phái sinh mà nhà nước có cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ của mình Sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất hoặc các chỉ số chứng khoán trong tương lai gần được thể hiện trong TTPS, dựa vào những chuyển biến dự kiến đó mà nhà nước kịp thời đưa ra những chính sách bảo vệ nền tài chính quốc gia
Từ những lợi ích thiết thực trên mà các nước trên thế giới đều đã và đang tích cực xây dựng các sản phẩm phái sinh trên thị trường chứng khoán.Còn ở Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán đã đẩy nhanh việc soạn thảo văn bản báo cáo bộ tài chính vào đầu quý 2/2008 này Tuy nhiên phải mất từ 2-3 tháng thì việc triển khai các sản phẩm phái sinh mới được thực hiện Các phương thức này sẽ hỗ trợ tốt cho thị trường nhưng vẫn phải đảm bảo về khả năng kiểm soát, giám sát, đặc biệt là tránh những ảnh hưởng tác động xấu đến thị trường
2 Những ảnh hưởng của công cụ phái sinh đến các chủ thể trên thị trường:
● Về phía nhà đầu tư cá nhân : việc sử dụng công cụ phái sinh đòi hỏi phải có một trình độ hiểu biết nhất định về nó, trong khi đó, những nhà đầu tư ở nước ta được đào tạo bài bảng về lĩnh vực chứng khoán không phải là nhiều, giờ đây họ lại phải tự mình tìm
Trang 10hiểu về các sản phẩm phái sinh Điều này sẽ gây nên sự lung túng trên thị trường chứng khoán
● Về phía các Doanh nghiệp, tổ chức tham gia đầu tư : Theo kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu khoa tài chính doanh nghiệp ĐH Kinh tế, chỉ có 25% doanh nghiệp được khảo sát thường xuyên sử dụng sản phẩm phái sinh, trong đó phần lớn là các ngân hàng và định chế tài chính, nhưng mức độ hiểu biết về các sản phẩm này chưa nhiều Hiện nay, thị trường VN cũng đã có được vài công cụ cho các DN có thể phòng ngừa rủi
ro cho mình đó là các option tiền tệ, option vàng, và một số giao dịch giao sau (future) như giao sau cà phê …nhưng thị trường này được đánh giá là chưa thực sự sôi động bởi
lẽ DN chưa nhận thức được mình “cần” và “biết xài” các công cụ này Như vậy có thể thấy, trong thời gian qua, công cụ phái sinh đã không thể phát huy hết vai trò của nó do nhà đầu tư chưa có ý thức tự giác về phòng ngừa rủi ro Nếu không tiến hành phổ cập kiến thức, tổ chức các buổi hội thảo về các sản phẩm phái sinh này nhiều hơn trước thì việc bộ tài chính đưa công cụ phái sinh vào để hạn chế rủi ro trên thị trường chứng khoán xem ra cũng không mấy hiệu quả
● Về phía các công ty chứng khoán, các tổ chức cung cấp sản phẩm phái sinh :
- Sự cạnh tranh về nhân lực càng thêm gay gắt : họ sẽ săn lùng, thu hút những nhân viên
có sự hiểu biết chắc chắn về chứng khoán phái sinh
- Các công ty, tổ chức cung cấp sản phẩm phái sinh nếu không tự trang bị cho mình kiến thức vế cách sử dụng cũng như luật lệ quy định cho sản phẩm này thì họ có thể trờ thành
“nạn nhân” của những nhà đầu cơ trên thị trường
● Các sản phẩm phái sinh có thể trở thành công cụ đầu cơ hấp dẫn :
Khi người đầu cơ tham gia vào TTPS, họ không phải bỏ ra đầy đủ số tiền như mình đã ký kết trong hợp đồng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình, thay vào đó là đóng tiền bảo chứng cho mỗi lần giao dịch Thông thường, mức tiền bảo chứng chỉ nằm trong khoảng từ 2% đến 20% giá trị HĐPS tuỳ thuộc vào loại hàng hóa Mức tiền bảo chứng càng thấp thì khả năng đòn bẩy tài chính càng cao Tiền bảo chứng chỉ là một tài khoản cam kết thi hành hợp đồng ở một mức giá cụ thể, (không phải là chi phí cho việc lập HĐPS) do đó sự thay đổi giá cả trên TTPS so với mức giá mà người đó đã thiết lập có thể ảnh hưởng đến tài khoản bảo chứng