Ông đã cùng Bộ Chính trị vạch ra một kế hoạch chi tiết và rất tỉ mỉ để có thể sớm giành thắng lợi một cách nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo tránh số lượng thương vong cho quân và dân ta.Và
Trang 1HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN TRUNG THÀNH
MSSV : 107203135
STT : 35
BÀI THU HOẠCH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Chuyến đi thăm bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh thực sự đã để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc.Sâu sắc không chỉ vì được xem lại những hình ảnh hào hung của chiến thắng năm xưa , mà còn sâu sắc và vô cùng tự hào vì mình đã được sinh ra trên đất nước Việt Nam , đất nước của những chiến sĩ mang trong mình “ dòng máu anh hùng”
Trước tiên để có thể có điều kiện tham quan thì cho phép em được gửi tới các thầy, các cô lời cảm ơn chân thành nhất vì sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô để chúng em có được buổi tham quan lý thú như thế này Thực sự theo em cảm nhận được thì bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh
là nơi trưng bày những hiện vật tốt nhất về lịch sử và diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh Sau khi được xem những thước phim tư liệu về chiến dịch thì em đã được đi tham quan và được tận mắt xem những hình ảnh ấn tượng khác về chiến dịch Hồ Chí Minh Điều đầu tiên làm em ấn tượng hơn
cả đó chính là hình ảnh và những tư liệu về các vị tướng lĩnh đã lãnh đạo chiến dịch Hồ Chí Minh
Trang 2
Hình ảnh này chính là hình ảnh về những vị tướng lĩnh trong bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh Họ là những con người tài năng, bản lĩnh và rất sắc sảo.Mặc dù có thể có ai trong số đó đã già nhưng trí tụê của họ thì không bao giờ “ già “ , lúc đó họ chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm sao để có thể sớm đem lại độc lập,tự do cho dân tộc Việt Nam.Và đó có lẽ là lý do mà những con người ưu tú như họ đã cùng tụ hội và hợp sức để lãnh đạo cuộc kháng chiến nhằm đem lại kết quả mong muốn Trong cuộc họp ngày 1 tháng 4, Bộ Chính trị đã chỉ định 3 đồng chí ủy viên Bộ Chính trị có mặt tại chiến trường chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị về chỉ đạo chiến dịch và ra quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch gồm các đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh; Phạm Hùng làm Chính ủy; các đồng chí Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh làm Phó tư lệnh; Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy; Lê Ngọc Hiền, Quyền tham mưu trưởng Các cơ quan của Miền được tăng cường một số đồng chí của Bộ và các tổng cục chuyển thành cơ quan chiến dịch Đó chính là những con người đã đem lại cho đất nước ta niềm vui độc lập tự do và có những mùa xuân hạnh phúc.
Người đầu tiên mà em liên tưởng tới ngay đó chính là đồng chí Đại tướng
Võ Nguyên Giáp,người con xuất sắc của mảnh đất Quảng Bình, người học trò tài năng của Hồ Chí Minh
xâm.Ông không chỉ là một vị tướng có khả năng điều binh khiển tướng linh
Trang 3họat,mà còn là một vị tướng tài mưu lược và có tầm nhìn rất rộng về thế trận chiến tranh giữa ta và địch Do đó không chỉ trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ ,mà ông còn có công rất lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp và là người chỉ huy làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng chấn động khắp năm châu Ông là một con người huyền thoại được nhân dân nhắc đến như là một vị tướng tài năng mà còn là con người làm thay đổi lịch sử Việt Nam Ông đã cùng Bộ Chính trị vạch ra một kế hoạch chi tiết và rất tỉ mỉ để có thể sớm giành thắng lợi một cách nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo tránh số lượng thương vong cho quân và dân ta.Và từ đây được sự thảo luận kỹ càng của Bộ Chính trị thì ngày 1 tháng 4 năm 1975 , Bộ tư lệnh chiến dịch đã được thành lập với mục tiêu trực tiếp chỉ đạo và vạch kế hoạch tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch.Người đầu tiên phải nói tới đó chính là tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng , người trực tiếp chỉ huy chiến dịch
Hồ Chí Minh
một trong những tướng lĩnh danh tiếng của Việt Nam, người chỉ huy trực tiếp chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.Tướng Văn Tiến Dũng, còn có bí
danh là Lê Hoài, sinh ngày 2 tháng 5 năm 1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ
Liêm, Hà Nội Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, cậu bé họ Văn theo cha ra Hà Nội Sau khi cha đột ngột qua đời năm cậu 15 tuổi, Văn Tiến Dũng đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may 17 tuổi, Văn Tiến Dũng lại ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông)
Trang 4Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1937 Từ 1939 đến 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam 3 lần, vượt ngục 2 lần Tháng 11 năm 1939, ông bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La Hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội, ông đã trốn thoát.
Từ tháng 12 năm 1942 đến tháng 3 năm 1943, ông đã hoạt động dưới danh nghĩa nhà sư tại chùa Bột Xuyên (nay thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây) Ông từng đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ năm 1944
Chính trong thời kỳ này, ông đã làm quen với "cô nương" Nguyễn Thị Kỳ (tên khai sinh là Cái Thị Tám) cùng hoạt động cách mạng và sau đó họ đã trở thành vợ chồng
Tháng 1 năm 1945, ông bị chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt
Tháng 4 năm 1945, ông được cử làm Uỷ viên Thường vụ Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ (Bộ Tư lệnh Quân sự miền Bắc Đông Dương), được phân công phụ trách tổ chức Chiến khu Quang Trung, kiêm Bí thư Khu uỷ Chiến khu Quang Trung Tháng 8 năm 1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình và Thanh Hoá
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập chiến khu II (gồm 8 tỉnh phía tây bắc và tây nam Bắc Bộ), làm Chính uỷ Chiến khu, tham gia Quân uỷ Trung ương Tháng 12 năm 1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam), Phó bí thư Quân uỷ Trung ương Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông từng là Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đại đoàn 320
Từ tháng 11 năm 1953 đến tháng 5 năm 1978, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, chỉ gián đoạn một thời gian ngắn vào năm 1954, khi ông làm Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong ủy Ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Genève
Trang 5Ông được giao trọng trách chỉ đạo trực tiếp nhiều chiến dịch lớn: từ chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị - Thiên (1972), Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975) Tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (sau đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh) Người thứ hai đó chính là chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Phạm Hùng.
Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình Do sự phản đối của
dư luận trong nước cũng như ở Pháp, Chính phủ Pháp đã giảm án xuống khổ sai chung thân và đưa ông ra Côn Đảo giam giữ
Sau 14 năm trong tù, năm 1945 ông được chính quyền cách mạng đưa tàu ra đón về và giữ chức Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ
Sau khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông được phân công nhiệm vụ xây dựng lực lượng công an Nam Bộ
Trang 6Tại Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Việt Nam họp năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và công tác ở Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Kháng chiến hành chính miền Đông Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève, năm 1954 ông được cử làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến tại Nam Bộ và năm sau làm Trưởng phái đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban quốc
tế tại Sài Gòn, hàm Đại tá
Năm 1956 ông vào Bộ Chính trị Ông cũng là Bí thư Trung ương Đảng trong các năm 1958-1960
Từ năm 1955 đến năm 1958 ông được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Năm 1958, ông được cử làm Phó Thủ tướng và là một trong 4 Phó thủ tướng lúc bấy giờ
Sau đó, ông lại trở về Nam giữ chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1967-1975) và là Chính ủy Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông làm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Người tiếp theo đó là Phó tư lệnh chiến dịch Đại tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7
Tướng Dương Văn Minh và tướng Trần Văn Trà tại Dinh Độc Lập năm 1975
Trần Văn Trà quê xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, sau vào
cư ngụ tại Sài Gòn Ông còn có bí danh là Tư Chi, Tư Nguyễn, Ba Trà
Xuất thân trong một gia đình làm nghề nông, thời trẻ học tiểu học tại Quảng Ngãi, năm 1936, ông tham gia đoàn Thanh niên Dân chủ Huế khi còn đang
Trang 7học tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế; năm 1938 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương Ông từng bị thực dân Pháp bắt giam hai lần.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Ủy viên Kỳ bộ Việt Minh Nam
Bộ Khi chiến tranh Đông Dương nổ ra tại Nam Bộ, ông tham gia công tác quân sự, giữ chức Chi đội trưởng Chi đội (tương đương trung đoàn) 14, Khu trưởng Khu 8, xứ ủy viên Nam Bộ (1946-1948); Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Tư lệnh Khu 7 (1949-1950); Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ (1951-1954)
Năm 1955, ông tập kết ra miền Bắc, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1955-1962), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958), Giám đốc Học viện quân chính và Chánh án Tòa án quân sự Trung ương (1961) Từ năm 1963, ông được cử vào Nam làm Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1963-1967 và 1973-1975), Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1968-1972), Phó Bí thư Quân ủy Quân giải phóng Miền Nam Sau Hiệp định Paris (1973), ông làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hiệp đình chiến bốn bên ở Sài Gòn
Người tiếp theo và là người có vai trò vô cùng quan trọng trong chiến dịch
đó là Đại tướng Lê Đức Anh
Trang 8
Trung tướng Lê Đức Anh (1975)
Ông sinh năm 1920, quê tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Huế
Thiên-Năm 1944, tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh
Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ trung đội trưởng đến chính trị viên tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301 Từ tháng
10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các quân khu 7, 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ
Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu; hàm Đại tá (1958) Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam
Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức
Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam Năm
1969, được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9
Trang 9Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng Năm 1975, ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.
Một vị tướng khác cũng rất đặc biệt đó là Đại tướng Lê Trọng Tấn, Viện trưởng Học viện Quân sự Cao cấp, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
Ông tên thật là Lê Trọng Toa, sinh ngày 1 tháng 10 năm 1914, tại làng Yên
Nghĩa, thôn An Định (cũ), xã Nghĩa Lộ, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây) Theo cuốn "Họ Trịnh và Thăng Long" (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000) của hai nhà nghiên cứu Bỉnh Di và Trịnh Quang Vũ ở trang 111 đã khẳng định đại tướng là hậu duệ của dòng chúa Trịnh Căn
Có một thời ông đã tham gia lính khố đỏ, đeo lon đội[1], nên dân làng Yên Nghĩa thường gọi là Đội Tố Bà Bích Vân tức Hoàng Ngân khi đó đang phụ trách công tác phụ vận kiêm binh vận của Xứ ủy Bắc Kỳ và một số nhân mối khác được giao nhiệm vụ binh vận Đội Tố và đã thành công Tham gia Việt Minh từ năm 1944 và là ủy viên quân sự Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Hà Đông từ tháng 8 năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương
Trang 10Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ năm 1946, ông tham gia công tác quân sự.
• Từ 1945 đến 1950, là trung đoàn phó rồi trung đoàn trưởng các trung đoàn: Sơn La, Sơn Tây, quyền khu trưởng Khu XIV, khu phó Liên khu X Khi Quân đội Nhân dân Việt Nam thành lập các đại đoàn chủ lực, ông trở thành Đại đoàn trưởng đầu tiên của đại đoàn 312-đại đoàn
Chiến thắng (nay là sư đoàn) ở tuổi 36 Trong trận Điện Biên Phủ, đại
đoàn 312 do ông chỉ huy đã đánh trận mở màn vào cao điểm Him Lam (13 tháng 3 năm 1954) và kết thúc chiến dịch vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, bắt sống tướng Christian de Castries và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm
• Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân
• Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1962 là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam
• Năm 1964, tướng Lê Trọng Tấn nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, tham gia tổ chức chiến dịch Mậu Thân 1968
• Năm 1971 ông là Tư lệnh Mặt trận Đường 9
• Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị
• Năm 1973, là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn I Quyết thắng, quân đoàn đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt nam
• Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng
• Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu
Trang 11tiên.Theo sự nhận định của hầu hết các chuyên gia và tướng lĩnh quân
sự cao cấp thì Lê Trọng Tấn được coi là một trong những tướng đánh trận giỏi nhất Việt nam Ông luôn được tin cậy giao các nhiệm vụ hệ trọng trên chiến trường, là Tư lệnh của các chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất như Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng, Đường 9 Nam Lào, Trị Thiên 1972 Ông nổi tiếng là con người tài năng, cương trực, quyết đoán, "trí-dũng-nhân-chính-liêm-trung"
• Ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp coi là "người chỉ huy kiên
cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết"
Trong một nhận xét khác có tính khẳng định hơn, Võ Nguyên Giáp nhận định :
" (Lê Trọng Tấn) là một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam
qua các thời đại
Thậm chí, Trong cuộc phỏng vấn về xếp hạng tướng lĩnh Việt Nam hiện đại, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã đánh giá: "Tắt nhiên đầu tiên là Đại tướng Võ Nguyên Giáp Thứ hai là tướng Lê Trọng Tấn Thứ ba là tướng Hoàng Văn Thái Đại tướng Lê Trọng Tấn còn nổi tiếng là người sống liêm khiết , giản dị và rất nhân hậu,thậm chí cho đến lúc mất thì ông vẫn chưa hề có nhà riêng của mình
Và một vị tướng khác cũng rất đáng chú ý đó là Người tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Ông là Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, người được Đại tướng Văn Tiến Dũng giao chủ trì việc soạn thảo kế hoạch tác chiến giải phóng miền Nam để trình
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương
Trang 12
Tướng Hiền
Lê Ngọc Hiền sinh Năm 1928, tại xã Đại Đồng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây Năm 1944, ông tham gia cách mạng Tháng 5 năm 1945 ông nhập ngũ, cùng năm đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam Năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, năm 1980 được phong hàm Trung tướng Ông được phong hàm Thượng tướng năm 1986 Chức vụ cao nhất là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân
Việt Nam Ông từng giữ các chức vụ: Cục
trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, Tham
mưu trưởng chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975
Trong cuộc đời binh nghiệp 50 năm của
mình, Thượng Tướng Lê Ngọc Hiền có phân nửa
thời gian làm công tác tác chiến Bạn bè vẫn
thường gọi ông là Hiền “tác chiến” Đại tướng
Võ Nguyên Giáp là người rất yêu mến Thượng
tướng Lê Ngọc Hiền, bởi tính tận tuỵ và kiên
định của ông Quả thật với sự tín nhiệm cao độ của đại tướng Trần Văn Trà dành cho tướng Hiền nên bằng tất cả tài năng của mình kế hoạch tác chiến chiến lược được ông cùng Cục Tác chiến chuẩn bị từ tháng 5 năm 1974 đến cuối tháng 10 năm 1974, tương đối hoàn tất Kế hoạch được chuẩn bị khá tỷ
mỷ về tình hình địch, ta, diễn biến trên khắp các chiến trường từ sau khi ký Hiệp định Paris bằng những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu.Kế hoạch gồm 2 bước: Bước 1, từ ngày 8/4, tiến công chia cắt chiến lược và bao vây đánh trận “rúng động”, đánh vùng ven và 8 mục tiêu trong nội thành, chuẩn bị cho tổng tiến công
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (ngoài cùng, bên trái) cùng BCH Chiến dịch HCM tại Lộc Ninh tháng 4/1975 Ảnh Tư liệu
Trang 13Nếu thuận lợi, địch tan rã thì phát triển thọc sâu ngay, phối hợp với quần chúng nổi dậy đánh chiếm thành phố; Bước 2, dự kiến từ ngày 15 đến ngày 20/4/1975 thực hiện đột kích Sài Gòn trên 5 hướng Lực lượng sử dụng từ 3-
5 sư đoàn chủ lực, 7 đoàn đặc công, 60 tổ biệt động, cùng với lực lượng du kích khoảng 50 ngàn quần chúng nổi dậy tại chỗ Nếu địch co cụm thì chuẩn
bị thêm lực lượng nhưng phải giải quyết xong trong tháng 4/1975 “Cách đánh của ta là táo bạo, kiên quyết tiến công đánh thẳng vào đầu não địch, đè bẹp ý chí đề kháng của địch”, Sau khi kế hoạch tác chiến được hoàn thành,
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị bàn,và đã được hội nghị chấp thuận nhất trí với bản kế hoạch, chỉ yêu cầu bổ sung chi tiết hơn Điểm mấu chốt của kế hoạch tác chiến chọn chiến trường Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975 được các đồng chí trong Bộ Chính trị đánh giá cao”
Từ tháng 10 đến tháng 12/1974, Kế hoạch tác chiến được bổ sung chi tiết đến từng chiến dịch Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm
1975, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp thông qua kế hoạch tác chiến Với quan điểm thông suốt là dự kiến giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-
1976 Năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng miền Nam Ngoài kế hoạch tác chiến này, Bộ Chính trị còn dự kiến: Nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975
Qủa thật kế hoạch tác chiến chiến lược là công sức của tập thể, một sự cố gắng hết mức, hết sức căng thẳng trong suốt nửa năm liền của cán bộ Cục Tác chiến.điều đó cho thấy rằng , tất cả các tướng lĩnh của bộ tư lệnh chiến dịch lúc đó đã quyết tâm phải đem lại hòa bình cho đất nước để nhân dân hưởng những mùa xuân hạnh phúc và cũng là để thực hiện lời di chúc trước khi Bác đi xa Với sự đồng tâm hiệp lực cao của tất cả các tướng lĩnh trong
bộ tư lệnh cùng sự sẵn sàng chiến đấu của lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam, bộ tư lệnh đã phác thảo ra một kế hoạch cực kỳ táo bạo và linh hoạt
Trang 14xạ 367; Lữ đoàn công binh 299; được tăng cường thêm một số đơn vị pháo, tên lửa, và bộ binh Nhiệm vụ của quân đoàn là bao vây tiêu diệt đối phương ở Phú Lợi, Bình Dương, Lai Khê, Tân Uyên, chặn Sư đoàn 5 QLVNCH, chiếm Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, các bộ tư lệnh binh chủng ở Gò Vấp, Bình Thạnh.
Hướng Đông Nam
Quân đoàn 2 với tư lệnh là thiếu tướng Nguyễn Hữu An, chính ủy là thiếu tướng Lê Linh, gồm các Sư đoàn bộ binh 325, 304, 3; Lữ đoàn pháo binh 164; Lữ đoàn tăng thiết giáp 203; Sư đoàn pháo cao xạ 673;
Lữ đoàn công binh 219; Trung đoàn đặc công 116 Nhiệm vụ của quân đoàn là đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu Long Bình, căn
cứ Long Bình, chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, thị xã Bà Rịa, chi khu Đức Thanh, pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, đánh chiếm Vũng Tàu, quận 9 và quận 4 Sài Gòn
Hướng Tây Bắc
Quân đoàn 3 với tư lệnh là thiếu tướng Vũ Lăng, chính ủy là đại tá Đặng Vũ Hiệp, gồm các Sư đoàn bộ binh 316, 320A, 10; hai Trung
Trang 15đoàn pháo mặt đất 40 và 675; Trung đoàn xe tăng 273; hai Trung đoàn pháo cao xạ 232, 234; hai Trung đoàn công binh 575, 7; Trung đoàn đặc công 198 Nhiệm vụ của quân đoàn là thọc sâu vào nội thành Sài Gòn, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, các quận Tân Bình, Phú Nhuận Sư đoàn 316 cùng binh chủng phối thuộc chặn đánh Sư đoàn
25 QLVNCH tại Gò Dầu, Trảng Bàng rồi làm lực lượng dự bị
Đoàn 232 với tư lệnh là thiếu tướng Lê Đức Anh, chính ủy là thiếu tướng Lê Văn Tường, gồm các Sư đoàn 5, 8, 9; bốn trung đoàn độc lập 16, 88, 24, 27B; một tiểu đoàn xe tăng T-54, một tiểu đoàn xe tăng PT-85; một tiểu đoàn pháo 130mm; một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không Nhiệm vụ của đoàn là cắt đường số 4 (Bến Lức - ngã ba Trung Lương), chiếm Tân An, Mỹ Tho, chia cắt Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ, thọc sâu đánh chiếm biệt khu Sài Gòn, cầu Nhị Thiên
Đường, Tổng Nha cảnh sát, các quận 5, 6, 7, 8, 10, 11
• Cả 5 hướng đều hợp điểm tại dinh Độc Lập 17 giờ ngày 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng với 5 hướng tấn công:
hướng Bắc với Quân đoàn 1, hướng Tây Bắc với Quân đoàn 3, hướng Tây với Đoàn 232, hướng Nam với lực lượng chủ lực của Miền,
hướng Đông có Quân đoàn 4 và cánh quân phía đông gồm Quân đoàn
2 và các lực lượng Quân khu 5 vừa chiếm được Phan Rang
• Trưa ngày 30 tháng 4, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện
Trang 161 lữ đoàn và 4 trung đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn tăng thiết giáp; 8 lữ, trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn và 10 tiểu đoàn thông tin; 1 trung đoàn tên lửa, 2 sư đoàn ô tô vận tải, một bộ phận hải quân và không quân, cùng lực lượng địa phương trong địa bàn chiến dịch.Về cách đánh chiến dịch, Bộ tư lệnh nhấn mạnh: Phải thực hiện chia cắt chiến lược, cắt đường bộ, đường không, khống chế sân bay, triệt để bao vây, cô lập Sài Gòn, bao vây, chặn và tiêu diệt chủ lực địch ở vòng ngoài, không cho chúng
co cụm về Sài Gòn, đánh thắng những trận then chốt quan trọng Tổ chức những binh đoàn binh chủng hợp thành (cỡ sư đoàn tăng cường) từ nhiều hướng nhiều mũi tiến công vào nội đô, kết hợp chặt chẽ với đặc công, biệt động, lực lượng địa phương ở bên trong, kết hợp với quần chúng nổi dậy,
Trang 17thực hiện trong ngoài cùng đánh, nhanh chóng táo bạo đánh chiếm các mục tiêu chiến lược, đập tan đầu não chỉ huy quân sự, đầu não ngụy quyền, tiêu diệt và làm tan rã, bắt toàn bộ quân địch đầu hàng; trong đó lấy thọc sâu nhanh chóng đánh ngã quân địch bên trong là chính.
Về chiến thuật, Bộ tư lệnh nhấn mạnh các hình thức chính như tiến công các cụm cứ điểm phòng ngự vững chắc, các căn cứ trung đoàn, sư đoàn, các sở chỉ huy quân đoàn và các trường quân sự của địch Vận động tiến công đánh quân địch rút chạy, tổ chức các binh đoàn thọc sâu, chiến thuật đánh chiếm thành phố, thị xã và chiến thuật của đặc công đánh chiếm và giữ cầu bảo đảm cho cơ động
Bộ tư lệnh chiến dịch không tổ chức đội hình thê đội, không chia bước, chia đợt mà giao khu vực và mục tiêu tiến công cho từng quân đoàn trên từng hướng (trên từng hướng có tổ chức đội hình thành bộ phận)
Trên hướng tiến công chủ yếu tây bắc, sử dụng Quân đoàn 3 (do đồng chí
Vũ Lăng tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp chính ủy), gồm các sư đoàn 316 320A, 10 cùng lực lượng vũ trang của tỉnh Tây Ninh, Củ Chi 2 trung đoàn Gia Định, Các tiểu đoàn của thành đội Sài Gòn, các đơn vị đặc công, biệt động, có nhiệm vụ: tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù, chặn không cho sư đoàn 25 ngụy co cụm về Sài Gòn Tổ chức một lực lượng mạnh (cỡ sư đoàn tăng cường) thọc sâu vào nội đô, đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là sân bay Tân Sơn Nhất và tổ chức một bộ phận hợp điểm ở dinh Độc Lập, chiếm lĩnh các quận Tân Bình, Phú Nhuận Sư đoàn 316 có binh chủng phối thuộc chặn đánh tiêu diệt sư đoàn 25 địch ở Gò Dầu, Trảng Bàng, sau đó về làm dự bị cho chiến dịch và quân đoàn, chủ yếu là tăng cường cho đơn vị thọc sâu Đây chính là một đặc điểm thể hiện tài quân sự thao lược của các tướng lĩnh của ta trong việc sử dụng chiến lược “đánh du kích và bóc gỡ từng mãng hệ thống quân sự của địch , đồng thời cũng để nhằm hạn chế tối đa tổn thất cho lực lượng của ta
Trang 18
Bên cạnh đó , do sự hoang mang cực độ của quân địch cùng sự khủng hoảng trong nội bộ chính quyền Ngụy – Sài Gòn, Bộ tư lệnh nhận thấy đây là cơ
hội “ ngàn vàng” để thọc sâu vào nội đô Sài Gòn nên Trên hướng bắc, sử
dụng Quân đoàn 1 (đồng chí Nguyễn Hòa làm tư lệnh, đồng chí Hoàng Minh Thi làm chính ủy) gồm sư đoàn 312 và 320B, được tăng cường trung đoàn
bộ binh 95B, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn phòng không tự hành, phối hợp với lực lượng vũ trang Bình Phước, Bình Dương và một trung đoàn đặc công vùng ven có nhiệm vụ: bao vây tiêu diệt địch ở căn
cứ Phú Lợi, Bình Dương, Lai Khê, Bến Cát, Tân Uyên, ngăn chặn và tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy không cho chúng co về Sài Gòn
Tổ chức một lực lượng binh chủng hợp thành (cỡ sư đoàn tăng cường) thọc sâu vào nội đô đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là bộ tổng tham mưu ngụy, các
bộ tư lệnh binh chủng ngụy ở Gò Vấp; tổ chức một bộ phận hợp điểm ở dinh
Trang 19Độc Lập, chiếm lĩnh các quận Gò Vấp, Bình Thạnh.
Trên hướng đông nam, sử dụng Quân đoàn 2 (đồng chí Nguyễn Hữu An là
tư lệnh, đồng chí Nguyễn Công Trang là chính ủy) gồm sư đoàn 325 và 304, được phối thuộc sư đoàn 3 Quân khu 5 và trung đoàn đặc công 116 ở vùng ven và Bà Rịa, đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu Long Bình, căn cứ Long Bình, chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ - phà Cát Lái, chi khu Đức Thạnh, thị xã Bà Rịa, pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, đánh chiếm Vũng Tàu phát triển sang Cần Giờ, tiêu diệt địch ở hữu ngạn sông Đồng Nai, đánh chiếm các quận 9 và 4; tổ chức một mũi hợp điểm ở dinh Độc Lập
Trên hướng đông, sử dụng Quân đoàn 4 (đồng chí Hoàng Cầm tư lệnh, đồng chí Hoàng Thế Thiện chính ủy) gồm các sư đoàn 7, 341 và 6, được tăng cường lữ đoàn bộ binh 52, 1 tiểu đoàn pháo 130mm, 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn phòng không hỗn hợp, 1 tiểu đoàn xe tăng, có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực Biên Hòa - Hố Nai (gồm sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy và sân bay);
sử dụng một lực lượng mạnh binh chủng hợp thành thọc sâu vào nội đô, đánh chiếm dinh Độc Lập, chiếm lĩnh quận 1, 2, 3 và một số mục tiêu quan trọng như căn cứ hải quân; bộ quốc phòng ngụy, đài phát thanh
Trên hướng tây và tây nam, sử dụng đoàn 232 (đồng chí Lê Đức Anh là tư lệnh, đồng chí Lê Văn Tưởng là chính ủy) gồm các sư đoàn 3, 5 và 9, bốn trung đoàn độc lập, 1 trung đoàn đặc công, được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng T54, 1 tiểu đoàn PT85, 1 tiểu đoàn pháo 130mm, 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn phòng không, cùng với sư đoàn 8 Quân khu 8 và các lực lượng vũ trang địa phương có nhiệm vụ cắt lộ 4 (đoạn Bến Lức - ngã ba Trung
Lương) chiếm Tân An (Quân khu 8 đánh chiếm Mỹ Tho), cắt Sài Gòn và đồng bằng miền Tây, tiêu diệt địch ở Hậu Nghĩa, mở cửa tuyến sông Vàm
Cỏ, tổ chức một lực lượng binh chủng hợp thành mạnh (cỡ sư đoàn tăng cường), thọc sâu từ phía tây, đánh chiếm biệt khu thủ đô, tổ chức một bộ phận hợp điểm ở dinh Độc Lập; tổ chức một lực lượng cỡ sư đoàn thọc sâu
từ phía nam, đánh chiếm cầu Nhị Thiên Đường, phát triển đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là tổng nha cảnh sát, có một bộ phận hợp điểm ở dinh Độc Lập, chiếm các quận 5, 6, 7, 8, 10, 11, Bình Chánh
Các lực lượng ở vùng ven và nội đô tổ chức đánh phá các sân bay, bến tàu, kho tàng, trận địa pháo dịch, phát động quần chúng nổi dậy, diệt đồn bốt nhỏ, mở rộng địa bàn đứng chân, đánh chiếm, giữ trước các cầu Trong tổng tiến công, phối hợp chặt chẽ với chủ lực đánh chiếm các mục tiêu quan trọng
Trang 20trong thành phố, làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy.
Các binh chủng bảo đảm chỉ huy, cơ động và chi viện cho bộ binh chiến đấu Không quân và hải quân còn sẵn sàng làm nhiệm vụ phối hợp cùng bộ binh giải phóng các đảo
Bộ tư lệnh chiến dịch đã dự kiến ba tình huống cơ bản và một số tình huống khác có thể xảy ra; cử đại diện xuống cánh đông, cánh tây nam và tổ chức sở chỉ huy cơ bản trong giai đoạn chuẩn bị ở tây nam Lộc Ninh, sở chỉ huy trước giờ nổ súng ở đông nam Dầu Tiếng Mọi công tác chuẩn bị dự kiến xong trước 16 giờ ngày 27 tháng 4, thời gian tiến công của toàn mặt trận dự kiến vào 6 giờ ngày 29 tháng 4 và kéo dài từ 3 đến 5 ngày Ngày 7 tháng 4,
Bộ tư lệnh hoàn chỉnh quyết tâm và ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị nhất trí thông qua quyết tâm của Bộ tư lệnh chiến dịch và đồng ý chiến dịch mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh
Công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã được tiến hành kiên quyết khẩn trương
và toàn diện theo tinh thần “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” Bộ Tổng tham mưu cùng các tổng cục và Đoàn 559 bảo đảm vận chuyển quân và vật chất theo yêu cầu của chiến dịch Quân đoàn 1 nhận lệnh ngày 25 tháng 3 ở Ninh Bình, hành quân gấp đến Đồng Xoài vào ngày 25 tháng 4 Quân đoàn
3 nhận lệnh 28 tháng 3 ở Tây Nguyên, hành quân gấp đến Dầu Tiếng vào ngày 20 tháng 4 Quân đoàn 2 nhận lệnh ngày 5 tháng 4 ở Đà Nẵng vừa hành quân vừa chiến đấu, đập tan tuyến phòng thủ của địch ở Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy tiến về Rừng Lá, Xuân Lộc, Bà Rịa
Để đảm bảo chuyển 20.000 tấn hàng từ miền Bắc, Tây Nguyên và Khu 5 vào cung cấp đủ cho yêu cầu của chiến dịch, hậu cần chiến dịch và chiến lược đã huy động 10.000 xe vận tải, mở thêm 2 tuyến vận tải mới vào Lộc Ninh và Long Khánh, mở 6 tuyến vận tải chiến dịch xuống các cánh do hậu cần B2 phụ trách, kéo dài đường ống dẫn dầu từ Bù Đốp vào Lộc Ninh, tăng cường khai thác lương thực tại chỗ
Ngoài công tác bổ sung quân số, củng cố các đơn vị, sửa chữa, mở rộng đường cơ động và chuẩn bị các lực lượng quân sự, chính trị, hậu cần cắm ở nhiều nơi trong địa bàn để phát động và lãnh đạo quần chúng, Bộ tư lệnh chiến dịch đã chỉ đạo mở các đợt hoạt động và chiến dịch tạo thế cho chiến dịch Hồ Chí Minh, như: đợt hoạt động ở Dầu Tiếng - Chơn Thành (đường 13), Định Quán - Lâm Đồng (đường 20), chiến dịch giải phóng Xuân Lộc của Quân đoàn 4 và các hoạt động của đoàn 232 ở Tân An - Thủ Thừa, sư