GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG Thương mạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2010”
T Ê N C ÔNG T R Ì N H :
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI Ở BÌNH DƯƠNG.
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
TPHCM, Ngày 18 tháng 6 năm 2010
Trang 2Ngân hàng tại nhà (Home banking)
1.3.2 Các sản phẩm của ngân hàng điện tử
9
1.5 Đôi nét về công nghệ bảo mật, chữ ký điện tử và chứng chỉ số, chứng thực số 10
Trang 5Ngân hàng thươg mại cổ phần Á ChâuMáy rút tiền tự động
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt NamChứng chỉ số
Chứng minh nhân dânCông nghệ thông tinCông nghệ thông tin và truyền thôngNgân hàng phát triển nhà Thành phố Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước
Ngân hàng điện tử Ngân hàng thương mạiNgân hàng Sài Gòn thương tínThương mại điên tử
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Trang 61 Sự cần thiết của đề tài:
Việc gia nhập WTO cũng như sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã đặt ra chongành ngân hàng nhiều thách thức trong vấn đề cạnh tranh để tồn tại và phát triển, và vì vậyviệc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử gần như là một xu thế tất yếu mà các ngân hàng đều phảithực hiện nếu muốn tồn tại Lợi ích mà các dịch vụ này đem lại cho khách hàng và ngân hàng làrất lớn, đó chính là sự nhanh chóng, chính xác và tiện lợi trong giao dịch, và các dịch vụ này cũngđem lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế, giúp nước ta từng bước bắt kịp với sự phát triển củathế giới Hiện nay, ở Việt Nam hầu hết các ngân hàng đều phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử
và đã đạt được những thành công nhất định ở một số thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng, Hà Nội… Tuy nhiên, ở Bình Dương, tỉnh thành có tốc độ phát triển kinh tế khá caotrong những năm gần đây, các dịch vụ này vẫn chưa được phát triển một cách đúng mức, sốlượng khách hàng tiếp cận cũng như sử dụng các dịch vụ này vẫn còn ở một mức hạn chế, vìvậy việc nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn của các ngân hàng ở Bình Dương trong việcphát triển dịch vụ ngân hàng điện tử, và đưa ra những giải pháp để phát triển dịch vụ này tốt hơn
ở Bình Dương là một vấn đề cần thiết, vì với tốc độ phát triển hiện nay của Bình Dương nếu cácdịch vụ đó phát triển tốt sẽ đem lại nguồn lợi nhuận to lớn cho các ngân hàng, từ đó góp phầnthúc đẩy nền kinh tế phát triển Xuất phát vì những lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài “Giảipháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại ở tỉnh Bình Dương” làm
đề tài nghiên cứu khoa học
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Bình
Dương, khảo sát sự hiểu biết của các chuyên viên ngân hàng và khách hàng về dịch vụ ngân 3.-
-4
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: các ngân hàng ở tỉnh Bình Dương
Thời gian: từ năm 2000 đến nay
Nội dung: những dịch vụ ngân hàng điện tử ở các ngân hàng
này
Phương pháp nghiên cứu:
Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: khảo sát, thống kê, so sánh, tổng hợp,
phân tích, đánh giá
Trang 7Bài nghiên cứu được chia làm 3
chương:
-Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử
Chương 2: Thực trạng về việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử trong các ngân hàng thương mại ở Bình Dương hiện nay
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở các ngân hàng tại Bình Dương
Trang 8
-CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1.1 Các khái niệm:
1.1.1 Thương mại điện tử: (E-commerce)
Có nhiều khái niệm về thương mại điện tử (TMĐT), nhưng hiểu một cách tổngquát, TMĐT là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng nhữngphương tiện điện tử TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống.Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại được thực hiệnnhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh
TMĐT càng được biết tới như một phương thức kinh doanh hiệu quả từ khi Internet hìnhthành và phát triển Chính vì vậy, nhiều người hiểu TMĐT theo nghĩa cụ thể hơn là giaodịch thương mại, mua sắm qua Internet và mạng
Lợi ích lớn nhất mà TMĐT đem lại chính là sự tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi chocác bên giao dịch Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với giao dịch truyềnthống và các giao dịch qua Internet có chi phí rất rẻ Với TMĐT, các bên có thể tiến hành giaodịch khi ở cách xa nhau, giữa thành phố với nông thôn, từ nước này sang nước kia, hay nóicách khác là không bị giới hạn bởi không gian địa lý
1.1.2 Dịch vụ ngân hàng điện tử: (electronic banking hay E-banking)
E-banking là một dạng của TMĐT ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Đâychính là sự kết hợp giữa một số dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin(CNTT) và điện tử viễn thông Khi có nhu cầu giao dịch khách hàng không nhất thiết phải đếnngân hàng mà vẫn có thể thực hiện một cách nhanh chóng thông qua các kênh phân phối điện tử.(Trương Đức Bảo, 2003) Với dịch vụ Ngân hàng điện tử (NHĐT), khách hàng có khả năngtruy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựatrên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới
(The Australian Banking, 1999) Hay nói cách khác, dịch vụ NHĐT là một hệ thốngphần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việckết nối mạng máy tính của mình với ngân hàng
Các khái niệm trên đều định nghĩa NHĐT thông qua các dịch vụ cung cấp hoặc quakênh phân phối điện tử Định nghĩa này có thể đúng ở từng thời điểm nhưng không thể kháiquát hết được cả quá trình lịch sử phát triển cũng như tương lai phát triển của NHĐT, một địnhnghĩa tổng
Trang 9giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ
liệu số hoá nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng
1.2 Các hình thái phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử:
Kể từ khi ngân hàng WellFargo, ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạngđầu tiên tại Mỹ (1989) đến nay, đã có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thành công cũng như thất bạitrên con đường xây dựng một hệ thống NHĐT hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng.Tổng kết chung, hệ thống NHĐT được phát triển qua các hình thái sau:
1.2.1 Website quảng cáo: (Brochure-ware)
Đây là hình thái đơn giản nhất của NHĐT Hầu hết các ngân hàng khi mới bắt đầuxây dựng NHĐT đều thực hiện theo hình thái này Việc đầu tiên chính là xây dựng một websitechứa những thông tin về ngân hàng, đưa sản phẩm lên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn,liên lạc…Thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh thông tin truyền thốngnhư báo chí, truyền hình… Mọi giao dịch của ngân hàng vẫn thực hiện qua hệ thống phân phốitruyền thống, tức là qua các chi nhánh ngân hàng
1.2.2 Thương mại điện tử: (E-commerce)
Trong hình thái TMĐT, ngân hàng sử dụng internet như một kênh phân phối mớicho những dịch vụ truyền thống như xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịchchứng khoán… Internet ở đây chỉ đóng vai trò như một dịch vụ cộng thêm vào để tạo sự thuậnlợi thêm cho khách hàng Hầu hết các ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình thái này
1.2.3 Kinh doanh điện tử: (E-business)
Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của ngân hàng cả ở phía khách hàng (front-end)
và phía người quản lý (back-end) đều được tích hợp với Internet và các kênh phân phối khác.Giai đoạn này được phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của ngân hàng với sựphân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng Hơn thế nữa,
sự phối hợp chia sẻ dữ liệu giữa hội sở ngân hàng và các kênh phân phối như chi nhánh, mạnginternet, mạng không dây… giúp cho việc xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng được nhanhchóng và chính xác hơn Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tingiữa ngân hàng, đối tác, khách hàng và cơ quan quản lý… Một vài ngân hàng tiên tiến trên thếgiới đã xây dựng được mô hình này và hướng tới xây dựng được một NHĐT hoàn chỉnh
1.2.4 Ngân hàng điện tử: (E-banking)
Chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự
Trang 10tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chínhcho
khách hàng với chất lượng tốt nhất Từ những bước ban đầu là cung cấp các sản phẩm và dịch
vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc nàynhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt
1.3 Các dịch vụ và sản phẩm của ngân hàng điện tử:
1.3.1 Các dịch vụ của ngân hàng điện tử:
1.3.1.1 Trung tâm cuộc gọi: (Call centre)
Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫngọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung vàthông tin cá nhân Khác với Phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin được lập trìnhsẵn, Call centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng.Nhược điểm của Call centre là phải có người trực 24/24 giờ
Các dịch vụ Call center cung cấp:
- Cung cấp các thông tin về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng như tiền gửi thanh toán,lãi suất, tỷ giá…
- Tư vấn trực tiếp khi khách hàng gọi tới nhằm giải đáp, ghi nhận những thắc mắccủa khách hàng liên quan tới sản phẩm, dịch vụ và chất lượng phục vụ của ngân hàng
- Chủ động liên hệ với khách hàng nhằm thông báo tình hình tài chính, ngày đến hạn cáckhoản tiền hoặc các chương trình khuyến mại, sản phẩm, dịch vụ mới
1.3.1.2 Ngân hàng qua điện thoại: (Phone banking)
Phone banking là hệ thống tự động trả lời hoạt động 24/24, khách hàng chỉ cần nhấncác phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng qui định để yêu cầu hệ thống trảlời các thông tin cần thiết Phone banking phục vụ khách hàng hoàn toàn miễn phí chỉ cầnkhách hàng đến ngân hàng đăng ký sử dụng dịch vụ để được cấp mã số truy cập và mật khẩu.Đây là loại sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động Do tựđộng nên các loại thông tin được ấn định trước, các dịch vụ Phone banking cung cấp như:
- Thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán
- Kiểm tra số dư tài khoản
- Liệt kê năm giao dịch cuối cùng trên tài khoản
- Các thông báo mới nhất…
Trang 11Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên Hiện
nay qua Phone banking, thông tin được cập nhật, khác với trước đây khách hàng chỉ có thông tin của cuối ngày hôm trước
1.3.1.3 Ngân hàng qua mạng di động: (Mobile banking- SMS banking)
Là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động, song hành vớiphương thức thanh toán qua mạng Internet ra đời khi mạng lưới Internet phát triển đủ mạnhvào khoảng thập niên 90 Phương thức này ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giaodịch có giá trị nhỏ (Micro payment) hoặc những dịch vụ tự động không có người phục vụ.Mobile banking- SMS banking là những kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng qua
hệ thống mạng điện thoại di động Đây là qui trình thông tin được mã hóa, bảo mật và trao đổigiữa trung tâm xử lý của ngân hàng và thiết bị di động của khách hàng Muốn tham gia dịch
vụ này, khách hàng cần đăng ký để trở thành thành viên chính thức trong đó quan trọng làcung cấp những thông tin cơ bản như: số điện thoại di động, tài khoản cá nhân dùng trongthanh toán Sau đó, khách hàng được nhà cung ứng dịch vụ thanh toán qua mạng này cung cấpmột mã số định danh (ID) Mã số này không phải số điện thoại và nó sẽ được chuyển thành mãvạch để dán lên điện thoại di động, giúp cho việc cung cấp thông tin khách hàng khi thanh toánnhanh chóng, chính xác và đơn giản hơn tại các thiết bị đầu cuối của điểm bán hàng hay cungứng dịch vụ Cùng với mã số định danh khách hàng còn được cung cấp một mã số cá nhân (PIN)
để khách hàng xác nhận giao dịch thanh toán khi nhà cung cấp dịch vụ thanh toán yêu cầu Saukhi hoàn tất các thủ tục cần thiết thì khách hàng sẽ là thành viên chính thức và đủ điều kiện đểthanh toán thông qua điện thoại di động
Các dịch vụ Mobile banking-SMS banking cung cấp như:
- Nhận tin nhắn khi số dư tài khoản tiền gửi, tài khoản thẻ thay đổi
- Xem số dư tài khoản tiền gửi, số dư thẻ hiện tại
- Xem 5 liệt kê giao dịch gần nhất
- Nạp tiền điện thoại di động từ tài khoản ngân hàng
- Thanh toán các hóa đơn: tiền điện, nước, cước điện thoại bàn…
1.3.1.4 Ngân hàng tại nhà (Home banking)
Với ngân hàng tại nhà (Home banking), khách hàng giao dịch với các ngân hàng qua mạngnhưng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng Thông qua hệ thống máychủ, mạng Internet và máy tính con của khách hàng, thông tin tài chính sẽ được thiết lập, mãhoá, trao đổi và xác nhận giữa ngân hàng và khách hàng Với dịch vụ Home banking, khách
Trang 12dụng được dịch vụ Home banking khách hàng chỉ cần có máy tính (tại nhà hoặc trụ sở) kếtnối
với hệ thống máy tính của Ngân hàng thông qua modem – đường điện thoại quay số, đồng thờikhách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với
hệ thống Home banking của Ngân hàng
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, quy trình thanh toán qua Home banking đượcthực hiện tương đối phức tạp hơn với quy trình bảo mật, xác nhận an toàn hơn
Các dịch vụ Home banking cung cấp:
- Tra cứu số dư tài khoản, yêu cầu xác nhận số dư tài khoản
- Tra cứu thông tin chung về biểu phí, thông tin tài chính, thông tin ngân hàng…
- Chuyển khoản từ tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng đến các tài khoảnkhác trong cùng hệ thống ngân hàng
- Chuyển tiền từ tài khoản của mình đến các tài khoản khác trong cùng hệ thống ngân hànghoặc người nhận tiền mặt bằng CMND, passport… trong hoặc ngoài hệ thống ngân hàng
- Thực hiện các lệnh thanh toán trong nước (ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu…)
- Thực hiện mua bán ngoại tệ qua tài khoản, chuyển đổi các loại ngoại tệ từ tài khoảntiền gửi thanh toán ngoại tệ sang tài khoản tiền gửi thanh toán VNĐ trong hệ thống
1.3.1.5 Ngân hàng qua mạng (Internet banking)
Dịch vụ Internet banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng thông qua các tàikhoản cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này Để tham gia khách hàng truycập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy cập thông tin cần thiết.Thông tin rất phong phú, đến từng chi tiết giao dịch của khách hàng cũng như thông tin khác
về ngân hàng Khách hàng cũng có thể truy cập vào website khác để mua hàng và thực hiệnthanh toán với ngân hàng Tuy nhiên, khi kết nối internet thì ngân hàng phải có hệ thống bảomật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên phạm vi toàn cầu Đây là trở ngại lớn vì đầu tư hệ thốngbảo mật rất tốn kém
Các dịch vụ Internet banking cung cấp như:
- Xem thông tin tỷ giá, lãi suất
- Xem những thông tin mới nhất về ngân hàng (khai trương, quà tặng, khuyếnmãi…), mạng lưới điểm giao dịch, những tin tức kinh tế
- Xem số dư tài khoản tại thời điểm hiện tại
- Vấn tin lịch sử giao dịch
- Khách hàng có thể gửi các thắc mắc, góp ý về các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng và sẽ
Trang 13- Thanh toán hóa đơn điện, nước, điện thoại…
- Thanh toán trực tuyến qua mạng…
1.3.1.6 Kiosk ngân hàng:
Là sự phát triển của dịch vụ ngân hàng hướng tới việc phục vụ khách hàng với chấtlượng cao nhất và thuận tiện nhất Trên đường phố sẽ đặt các trạm làm việc với đường kết nốiInternet tốc độ cao Khi khách hàng cần thực hiện giao dịch hoặc yêu cầu dịch vụ, họ chỉ cầntruy cập, cung cấp số chứng nhận cá nhân và mật khẩu để sử dụng dịch vụ của hệ thống ngânhàng phục vụ mình
1.3.2 Các sản phẩm của ngân hàng điện tử:
1.3.2.1 Tiền điện tử ( Digital Cash)
Tiền điện tử là phương thức thanh toán trên Internet Người muốn sử dụng tiền điện tử phảigửi yêu cầu đến ngân hàng Ngân hàng phát hành tiền điện tử sẽ phát hành một bức điện được kýphát bởi mã cá nhân (private key) của ngân hàng và được mã hóa bởi khóa công khai(Public key) của khách hàng Nội dung bức điện bao gồm thông tin xác định người phát hành, địachỉ Internet, số lượng tiền, số series, ngày hết hạn (nhằm tránh việc phát hành hoặc sử dụng 2lần) Ngân hàng sẽ phát hành tiền với từng khách hàng cụ thể Khách hàng cất giữ tiền điện
tử trên máy tính cá nhân Khi thực hiện một giao dịch mua bán, khách hàng gửi đến nhà cungcấp một thông điệp điện tử được mã hóa bởi khóa công khai của nhà cung cấp hàng hóa,dịch vụ Nhà cung cấp dùng khóa riêng của mình để giải mã thông điệp đồng thời kiểm tra tínhxác thực của thông điệp thanh toán này với Ngân hàng phát hành cũng bằng mã hóa công khaicủa Ngân hàng phát hành và kiểm tra số series tiền điện tử
1.3.2.2 Séc điện tử ( Digital Cheques)
Cũng sử dụng kỹ thuật tương tự như trên để chuyển phát séc và hối phiếu điện tử trênmạng Internet Séc điện tử có nội dung giống như séc thường chỉ khác biệt duy nhất là Séc nàyđược ký điện tử (tức là việc mã hóa thông điệp bằng mật mã cá nhân của người ký phát séc).Khi ngân hàng của người thụ hưởng thực hiện nghiệp vụ nhờ thu séc, họ sẽ đánh dấu lên thôngđiệp điện tử và việc thông điệp này được mã hóa bởi mã khóa công khai của ngân hàng pháthành séc sẽ là cơ sở cho việc thanh toán séc điện tử này
1.3.2.3 Thẻ thông minh ( Stored Value Smart Card)
Là một loại thẻ nhựa gắn với một bộ vi xử lý (micro – processor chip) Người sử dụng thẻ
nạp tiền vào thẻ và sử dụng trong việc mua hàng Số tiền được ghi trong thẻ sẽ được trừ lùi cho tới zero Lúc đó chủ sở hữu có thể nạp lại tiền hoặc vứt bỏ thẻ Thẻ thông minh được sử
Trang 14trong rất nhiều loại giao dịch như ATM, internet banking, home banking, telephone banking hoặc
mua hàng trên internet với một đầu đọc thẻ thông minh kết nối vào máy tính cá nhân
1.4 Ưu, nhược điểm của ngân hàng điện tử
1.4.1 Ưu điểm:
1.4.1.1 Về phía khách hàng
- Nhanh chóng, thuận tiện: Ưu điểm lớn nhất mà các dịch vụ NHĐT mang đến chokhách hàng chính là sự tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu mà cácgiao dịch kiểu truyền thống khó có thể đạt được Khách hàng nắm bắt thông tin ngân hàngnhanh hơn, thông tin nhận được phong phú và tiện ích Đồng thời, thực hiện các lệnh thanh toáncũng nhanh hơn
- Tiết kiệm thời gian, giảm chi phí: Với hệ thống này khách hàng sẽ tiết kiệm đượcthời gian không cần phải đến ngân hàng, không cần phải ngồi chờ ở ngân hàng đến lượt mìnhgiao dịch mà vẫn có thể giao dịch và biết được các giao dịch phát sinh trên tài khoản của mình kể
cả ngoài giờ hành chính Đồng thời, cũng tiết kiệm được chi phí đi lại, giao dịch với ngân hàng
Và hơn nữa, với những tiêu chuẩn chuẩn hóa, khách hàng được phục vụ tận tụy và chính xác thay
vì phải tùy thuộc vào thái độ phục vụ khác nhau của các nhân viên ngân hàng
- Quản lý tài sản hiệu quả: Khách hàng biết chính xác, kịp thời tình trạng tài khoản tiềngửi, tiền vay Quản lý công nợ chính xác, hiệu quả hơn Khách hàng ở bất cứ nơi đâu, bất cứlúc nào vẫn nắm bắt thông tin nhanh chóng, quản lý các tài khoản của mình hiệu quả
1.4.1.2 Về phía ngân hàng:
- Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu: việc phát triển dịch vụ NHĐT giúp ngân hàng tiếtkiệm được chi phí mở các phòng giao dịch và giảm số lượng nhân viên, theo đó các chi phíliên quan đến hoạt động giao dịch, thanh toán, kiểm đếm, chi phí đi lại sẽ được giảm thiểu Chiphí giảm so với giao dịch theo phương pháp truyền thống sẽ góp phần tăng doanh thu chongân hàng Đồng thời, việc mang đến những tiện lợi cho khách hàng sẽ làm cho khách hàng sửdụng dịch vụ ngày càng nhiều, từ đó thu được những khoản tiền nhàn rỗi để đem đi đầu tư, manglại lợi nhuận cho ngân hàng
- Tăng khối lượng giao dịch: do sự thuận lợi trong việc giao dịch không bị giới hạn bởi thờigian, không gian nên khối lượng khách hàng giao dịch ngày đông từ đó dẫn đến khối lượng giaodịch tăng lên một cách nhanh chóng
- Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng: Khả năng giữ và thu hút khách hàng của
Trang 15cung cấp dịch vụ mạng ưu tú, dịch vụ Internet thông thoáng) từ việc thuận lợi trong giao dịchsẽ
thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệ giao dịch với ngân hàng, trở thành khách hàng trungthành của ngân hàng
- Cung cấp dịch vụ trọn gói: Với mô hình ngân hàng hiện đại, kinh doanh đa năng thì khảnăng phát triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, nhiều lĩnh vực kinhdoanh là rất cao Đặc biệt NHĐT có thể cung cấp dịch vụ chéo Theo đó các ngân hàng có thểliên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra cácsản phẩm tiện ích nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ liên quan: ngânhàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán
- Mở rộng phạm vi hoạt động: ưu điểm của NHĐT là có khả năng thu hút trên phạm virộng về khách hàng bất kỳ thời điểm nào (24/24h/ngày) với mọi khoảng cách về không gian,thời gian Chính điều này giúp cho các ngân hàng tiếp cận được khách hàng tốt hơn, tiết kiệmđược chi phí giao dịch với sự trợ giúp của CNTT, dịch vụ NHĐT giúp các ngân hàng có thểcung cấp các dịch vụ với tốc độ cao và liên tục, đồng thời giúp cho các ngân hàng luôn tự đổimới, hoà nhập và phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng tới thị trường nướcngoài, thực hiện chiến lược toàn cầu hóa, vươn tới mọi nơi mà không cần mở thêm chi nhánh
- Nâng cao hình ảnh, khả năng cạnh tranh của ngân hàng: NHĐT là công cụ quảng bá,
khuyếch chương thương hiệu toàn cầu của ngân hàng thương mại (NHTM) một cách sinhđộng và hiệu quả
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: thông qua các dịch vụ của NHĐT, các lệnh về chi trả,
nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn chu chuyển nhanh,thuận lợi, thực hiện tốt quan hệ giao dịch, trao đổi tiền - hàng Qua đó đẩy nhanh tốc độ lưuthông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đây là lợi ích mà các giao dịch kiểungân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với một NHĐT
1.4.1.3 Lợi ích đối với nền kinh tế:
- Về mặt xã hội - kinh tế, NHĐT góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương mại,dịch vụ và du lịch phát triển, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với khu vực
và thế giới Đặc biệt góp phần thúc đẩy các hoạt động TMĐT phát triển
- Việc công nghệ hóa – hiện đại hóa trong giao dịch ngân hàng góp phần thúc đẩy sự pháttriển của nền kinh tế, hạn chế được những thời gian nhàn rỗi vô ích, giúp đất nước ngày càng
Trang 16- Dịch vụ NHĐT làm thỏa mãn khả năng chi trả cho các nhu cầu kinh tế - xã hội ở bất cứ
nơi nào, làm giảm các chi phí xã hội như chi phí in ấn, bảo quản, kiểm tiền, đếm tiền, chuyển tiền…
- Giảm lưu thông tiền mặt trong xã hội từ đó giúp Nhà nước quản lý tốt hơn về tiền tệ,kiểm soát các hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, tham nhũng…
- Tăng lòng tin của người dân với ngân hàng, với Chính phủ từ đó góp phần bình ổn chínhsách tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho việc huy động vốn, góp phần thúc đẩynền kinh tế tăng trưởng hiệu quả
1.4.2 Nhược điểm:
- Vốn đầu tư lớn: Để xây dựng hệ thống E-banking đòi hỏi phải có lượng vốn đầu tưkhá lớn để phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang bị máy móc thiết bị, chưa kể chiphí cho hệ thống dự phòng, chi phí bảo trì, duy trì và phát triển hệ thống, đổi mới công nghệtrong tương lai Bên cạnh đó, mảng dịch vụ này cũng đòi hỏi nguồn nhân lực kỹ thuật có nănglực để quản trị, vận hành hệ thống… một lượng chi phí mà không phải ngân hàng nào cũngsẵn sàng bỏ ra đầu tư Ngoài ra, việc đầu tư vào mảng dịch vụ này có hiệu quả hay khôngcòn phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng truyền thông quốc gia, môi trường kinh tế, môi trườngpháp lý, trình độ phát triển kinh tế của các doanh nghiệp và của cá nhân… tức là còn phụ thuộcvào những nỗ lực chung của cả một quốc gia chứ không riêng một NHTM nào
- Rủi ro cao: vấn đề nan giải chính là ở chỗ tính an toàn và bảo mật của hệ thống, hệthống có thể bị xâm phạm, bị giả mạo, lừa đảo trong thanh toán Khách hàng chưa tin tưởnglắm về độ bảo mật, an toàn của dịch vụ NHĐT, đối với họ nếu có xảy ra tranh chấp thì chứng
từ bằng giấy vẫn luôn là bằng chứng hùng hồn hơn chứng từ điện tử Thực sự rủi ro trongdịch vụ này là không nhỏ bởi vì khách hàng có thể bị mất mật khẩu truy nhập tài khoản từ lúcnào chẳng biết do sơ suất hoặc bị Hacker ăn cắp bằng công nghệ cao Từ đó tiền trong tài khoản
bị mất khách hàng không biết tại bản thân nhầm lẫn hay tại ngân hàng Mặt khác, đặc trưng củadịch vụ NHĐT khác với dịch vụ ngân hàng truyền thống là nhanh chóng đưa sản phẩm, dịch vụmới ra thị trường, thời gian thử nghiệm ngắn nên nguy cơ xảy ra rủi ro cao
- Phụ thuộc vào công nghệ, trình độ kỹ thuật: hầu hết các giao dịch của NHĐT đềuđược thực hiện trên hệ thống mạng máy vi tính, do đó nó phụ thuộc rất nhiều vào thiết kế, cấutrúc, liên kết và quy mô hoạt động của các hệ thống công nghệ, trong khi đó hệ thống CNTT ởViệt Nam
Trang 171.5 Đôi nét về công nghệ bảo mật, chữ ký điện tử và chứng chỉ số, chứng thực
số:
1.5.1 Công nghệ bảo mật:
- SET (Secure Electronic Transaction - Giao dịch điện tử an toàn):
Là tiêu chuẩn bảo mật mới nhất trong TMĐT Một chuẩn mới cho việc giao dịch qua thẻtín dụng trên Internet Là một giao thức bảo mật do Microsoft phát triển, SET có tính riêng tư,được chứng thực và rất khó thâm nhập nên tạo được độ an toàn cao SET đã được chấp thuậnbởi một số tổ chức và công ty đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực TMĐT, trong đó cóMicrosoft, Netscape, Visa và Mastercard Bằng việc sử dụng công nghệ chữ ký điện tử, SETcho phép các công ty bán hàng xác thực người mua một cách an toàn SET cũng bảo vệ ngườimua bằng một cơ chế cho phép chuyển số thẻ tín dụng của khách hàng cho ngân hàng phát hàngthẻ để xác thực và thanh toán, không qua sự can thiệp của công ty bán hàng Nhằm làm tăngkhả năng an toàn cho các giao dịch trên Internet đặc biệt là các giao dịch bán hàng Tuynhiên, SET ít được sử dụng do tính phức tạp và sự đòi hỏi phải có các bộ đọc card đặc biệt chongười sử dụng
- SSL (Secure Socket Layer): là công nghệ bảo mật do hãng Nescape phát triển, tíchhợp sẵn trong bộ trình duyệt của khách hàng, đó là một cơ chế mã hóa (encryption) và thiết lậpmột đường truyền bảo mật từ máy của ngân hàng đến khách hàng (https) Với cơ chế này, kháchhàng của bạn khi trao cho bạn các số thẻ tín dụng sẽ tin tưởng rằng các thông tin cá nhân baogồm cả số thẻ tín dụng sẽ không bị đánh cắp qua Internet SSL đơn giản và được ứng dụng rộngrãi
- Mã hóa đường truyền: Mã hóa thông tin là chuyển thông tin sang một dạng mới khácdạng ban đầu, dạng mới này gọi chung là văn bản mã hóa Việc mã hóa được thực hiện dựatrên một tập các quy tắc mà thực thể gửi và nhận quy ước sử dụng, tập các quy tắc đó gọi là mật
Trang 18đó đồng nghĩa rằng người thực hiện đã ký, chấp nhận nội dung trên văn bản đó Chữ ký điện tử
có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như username, password hoặc nhấn nútsubmit Theo điều
21, Luật giao dịch điện tử “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanhhoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách logicvới thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấpthuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu ký” Đặc điểm của chữ ký điện tử làkhông gắn liền một cách vật lý với tài liệu được ký, được kiểm tra bằng các thuật toán kiểm trachữ ký được công bố công khai, người dùng đều có thể kiểm tra được, bản sao của thông báođược ký số là đồng nhất với bản gốc Do vậy, cần phải có phương pháp để ngăn chặn thông báo
đã được ký số được sử dụng lại Phương pháp ký lên các thông báo gồm 2 phần là ký (được giữ
bí mật) và kiểm tra chữ ký (được công khai) và nó được gọi là lược đồ chữ ký điện tử
Chữ ký số được áp dụng nhiều trong Internet banking bởi nó đảm bảo đủ 4 yếu tố của an toàn thông tin là bí mật, toàn vẹn, xác thực và đặc biệt là tính không chối bỏ Tính không chối
bỏ là yếu tố quan trọng, giúp xác định chính xác người thực hiện các giao dịch, chống tấn công fishing (lừa đảo) trên mạng
1.5.3 Chứng chỉ số (DC), chứng thực số (CA):
Chứng chỉ số (Digital certificate) là tài liệu số được gắn với khóa công khai (pulickey) được dùng để nhận dạng ra đúng người (hay máy) đã gửi (hoặc nhận) dữ liệu điện tử.Chứng chỉ số được phát hành bởi thành viên thứ ba (Certificate Authory –CA), là một tổ chứccung cấp các thuật toán và quản lý chữ ký điện tử (Ví dụ như Verisign, e-Trust), chuyên cung
Trang 192tắc: tính duy nhất (trên toàn thế giới), xác thực được nguồn gốc (đảm bảo không bị giả mạo),xác
thực được thông tin cá nhân, đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu
1.6 Tổng quan về tình hình phát triển dịch vụ NHĐT trên thế giới và ở Việt
Nam:
1.6.1 Tổng quan về tình hình phát triển dịch vụ NHĐT trên thế giới:
Ngày nay, TMĐT đang là một xu thế phát triển tất yếu trên thế giới TMĐT đang pháttriển nhanh và làm biến đổi sâu sắc các phương thức kinh doanh, thay đổi hình thức, nộidung hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của loài người
Để thúc đẩy quá trình hội nhập, thu hút khách hàng cũng như giành giật cơ hội trong kinhdoanh, hầu hết các ngân hàng trên thế giới đang không ngừng tăng cường và đưa ra các dịch
vụ tiện lợi, nhanh gọn và được hỗ trợ mạnh mẽ của các công nghệ hiện đại như máy giaodịch tự động (ATM), máy thanh toán tại các điểm bán hàng (POS), mạng lưới cung cấp dịch
vụ ngân hàng thông qua mạng điện thoại, máy tính cá nhân…
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), củakhoa học kỹ thuật, của công nghệ mới như Internet, mạng điện thoại di động, Web…, môhình ngân hàng với hệ thống quầy làm việc, những tòa nhà cao ốc, giờ làm việc hành chính 7,
8 giờ sáng đến 4, 5 giờ chiều (“brick and mortar” Banking) đang dần được cải tiến và thay thếbằng mô hình ngân hàng mới – ngân hàng điện tử (“ click and mortar” Banking) Khẳng địnhbằng những thành công trong những năm qua, NHĐT đã có những bước phát triển vượt bậc vàtrở thành mô hình tất yếu cho hệ thống ngân hàng trong thế kỷ 21
Tại các nước đi đầu như Mỹ, các nước Châu Âu, Australia và tiếp sau đó là các quốc gia và
vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan… các ngânhàng ngoài việc đẩy mạnh phát triển hệ thống thanh toán điện tử còn mở rộng phát triển các kênhgiao dịch điện tử (E – Banking) như các loại thẻ giao dịch qua máy rút tiền tự động ATM, cácloại thẻ tín dụng Smart Card, Visa, Master card… và các dịch vụ ngân hàng trực tuyến như:Internet Banking, Mobile banking, Telephone Banking, Home Banking Theo thống kê củaStegman, năm
2001 ở Mỹ có trên 14 triệu khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến Ở Anh,theo khảo sát của BACS (Bankers Automated Clearing Services) vào năm 2002, số ngườithanh toán hóa đơn và chuyển tiền qua internet hoặc qua điện thoại đã tăng mạnh Trong năm
2002 đã có 7,2 triệu người thanh toán các loại chi phí và chuyển khoản theo đường này tăng
Trang 20Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Singapore và Hồng Kông đã phát triển các dịch vụ
NHĐT từ rất sớm Tại Hồng Kông, dịch vụ NHĐT có từ năm 1990, còn các ngân hàng
ở Singapore cung cấp dịch vụ ngân hàng qua Internet từ năm 1997 Dịch vụ InternetBanking ở Thái Lan hoạt động từ năm 2001 Trung Quốc mới tham gia hoạt động ngân hàngtrực tuyến từ năm 2000 nhưng đã có rất nhiều cải cách về chính sách cũng như chiến lược đểphát triển lĩnh vực này Theo một khảo sát của IDC, đến hết năm 2002, có 16,8 triệu kháchhàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến ở tám nước và vùng lãnh thổ là Trung Quốc,Australia, Hồng Kông, Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Đài Loan
Tại Mỹ, những ngân hàng lớn tham gia kinh doanh trực tuyến ngày càng nhiều, theobáo cáo của FDIC (tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ), số ngân hàng có tài sản dưới 100 triệuUSD có cung cấp dịch vụ NHĐT chỉ chiếm khoảng 5%, trong khi đó số ngân hàng có tài sảnlớn hơn 10 tỷ USD có dịch vụ NHĐT chiếm tới 84% (Bảng 1)
Bảng 1: Số lượng ngân hàng có mặt trên mạng Internet (năm 2001)
Tổng tài sản (triệu USD)
5,9123,40341831213294
51634425284
Kể từ giai đoạn có mặt trên mạng tới khi cung cấp đầy đủ dịch vụ trực tuyến là cả một quá
trình Vào thời điểm năm 2000, trong số Top 100 ngân hàng của Mỹ thì có 36% không cómặt trên mạng, 41% chỉ cung cấp thông tin và còn lại 23% là cung cấp đầy đủ dịch vụ ngân hàngtrực tuyến Cũng trong năm này đã có khoảng 1.100 ngân hàng lớn nhỏ tại Mỹ cung cấp đầy
đủ mọi dịch vụ ngân hàng qua mạng, con số này tăng lên 1.200 vào cuối năm 2003 và đạt tớihơn 3.000 vào cuối năm 2005 (Trần Hoàng Ngân, Ngô Minh Hải, 2004)
Trong những năm vừa qua, NHĐT đã phát triển lớn mạnh và nhanh chóng Theo nghiên cứu của Jupiter Media, tổng số các giao dịch qua mạng của toàn bộ các ngân hàng tại Mỹ
đã tăng
77,6% chỉ trong vòng một năm từ tháng 07/2000 tới tháng 07/2001, trong khi đó, cùng thờigian, lưu lượng giao thông trao đổi thông tin qua hệ thống World Wide Web chỉ tăng
Trang 214hết năm 2003 số lượng tài khoản NHĐT tại Châu Âu tăng trung bình 34%/năm và tăng từ 14,3
triệu tài khoản năm 2002 lên xấp xỉ 43,2 triệu tài khoản vào cuối năm 2005, và số lượng người sử
dụng dịch vụ NHĐT sẽ tăng lên nhanh chóng Giao dịch qua NHĐT vào năm 2005 chiếm từ 5 –
10% tổng khối lượng giao dịch của các ngân hàng bán lẻ ở Mỹ và Châu Âu Tại Pháp, số lượng tài khoản NHĐT đã tăng 75%/năm, một tốc độ tăng khá cao
(h tt p : / / s i nh v i e nn g a n h a n g c o m)
Theo các số liệu mới nhất, sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử ở Mỹ từ năm
2008 trở về đây đã có những bước phát triển thần tốc:
Theo nhóm nghiên cứu Aite, khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng di động ở Mỹ đã tăngmạnh từ mức không đáng kể của năm 2006 lên 1,7 triệu người vào cuối năm 2007 và đạtmức hơn 8 triệu vào cuối năm 2008 Nhóm này ước tính đến năm 2010 sẽ có khoảng 35 triệungười Mỹ sử dụng các dịch vụ nhiều tiện ích này Nhưng một nghiên cứu của Gartner đượcComputerworld Singapore trích dẫn cho biết dự kiến trong năm 2008 có khoảng 33 triệungười sử dụng cách thanh toán qua điện thoại trên toàn thế giới, trong đó khu vực châu Á - TháiBình Dương dẫn đầu với 28 triệu Gartner thậm chí dự báo đến năm 2011, số người thanhtoán qua điện thoại di động sẽ tăng gấp ba, lên khoảng 103,9 triệu Hiện có 9/10 ngân hànghàng đầu của Mỹ cung cấp dịch vụ ngân hàng di động Tuy nhiên, theo các chuyên gia phântích của nhóm Aite, cung cấp và ứng dụng công nghệ mới chỉ là bước đầu Để tiến xa hơn,các ngân hàng cần phải củng cố uy tín và công nghệ (Nguồn: tuổi trẻ online)
(Văn Hân, 2009) Trong một báo cáo được công ty phân tích thị trường Tower Group
công bố hôm 27/5/2009, số lượng người dùng dịch vụ ngân hàng di động (Mobile Banking)tại Mỹ được dự báo tăng gấp 5 lần vào năm 2013 Chỉ trong năm 2009, số người dùng dịch vụngân hàng di động tại Mỹ được dự báo tăng gấp đôi, đạt 10 triệu người (so với mức 4,9 triệungười dùng trong năm 2008) Tower Group dự báo năm 2013 sẽ có 53,1 triệu người Mỹ sửdụng dịch vụ ngân hàng di động trên smartphone và các thiết bị khác Khảo sát của TowerGroup cho biết 10% số khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến đang sử dụng dịch
vụ ngân hàng di động Cá biệt có ngân hàng có 25% khách hàng trực tuyến sử dụng dịch vụ này.Đầu năm 2008, Ngân hàng Mỹ (BOA) cho biết đã có gần 2 triệu khách hàng sử dụng dịch vụngân hàng di động, tăng gấp đôi con số 9 tháng trước đó
Ngân hàng trung ương Hàn Quốc cho biết ngày 6/5/2010, về tình hình sử dụng dịch
vụ ngân hàng trực tuyến (Internet Banking) của Hàn Quốc đã tăng 11,4% trong quý I với số liệu
Trang 22đã tăng mạnh so với con số 29,7% của quý IV năm 2009 Con số này dựa trên số lượngngười
giao dịch đăng nhập vào tài khoản trực tuyến để kiểm tra lưu trữ tài khoản, chuyển khoản, vay
và trả nợ thông qua Internet Tuy vậy, lượng giao dịch sử dụng dịch vụ ngân hàng cung cấp quađiện thoại di động vẫn chỉ chiếm 7%, đây như một lời ngỏ cho thị trường cung cấp (Nguồn:ht
t p : / / t h on g t i n h a nq u o c c o m)
(Hoàng Dũng, 2008) Theo hãng Juniper Research nghiên cứu, đến năm 2011 thịtrường dịch vụ ngân hàng trực tuyến sẽ thu hút được khoảng 816 triệu người dùng Và uớc tínhtổng giá trị giao dịch thông qua dịch vụ này trên toàn cầu sẽ đạt tới con số 37 tỉ USD – tăng hơn
13 lần so với con số của năm 2007 (2,7 tỉ USD) Juniper dự báo Trung Quốc và khu vực viễnĐông sẽ là những thị trường có số lượng người dùng dịch vụ ngân hàng di động nhiều nhất thếgiới Đứng ở vị trí tiếp theo là Tây Âu và Ấn Độ
1.6.2 Tổng quan về sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển của TMĐT, NHĐT tại Việt Nam cũng đã có được những bước tiếnquan trọng Tuy nhiên, do tính chất còn quá mới mẻ và do khách hàng cũng chưa thực sựquan tâm lắm tới những dịch vụ này, các NHTM tại Việt Nam vẫn rất thận trọng và dè dặt khitung ra những sản phẩm dịch vụ mới Để phục vụ cho hệ thống thanh toán cho TMĐT, công
ty Phần mềm và Truyền thông VASC đã xây dựng cổng thanh toán VASC Payment để làm cơ
sở cho hệ thống thanh toán qua mạng Internet và hệ thống quản lý chứng chỉ số - VASC CA(Certificate Authority), để cung cấp chữ ký điện tử và chứng nhận điện tử làm cơ sở pháp lýcho giao dịch điện tử, tạo niềm tin cho khách hàng cũng như nhà cung cấp dịch vụ, là xươngsống cho sự phát triển TMĐT
Với công nghệ khá giống nhau cho phép bảo mật hai lớp (OTP), hàng loạt ngân hàng trongnăm 2009 đã tung ra dịch vụ thanh toán trực tuyến qua internet Tính đến nay, thậm chí cónhững ngân hàng như Techcombank, Vietcombank, MB, …đã bắt đầu ứng dụng công nghệcho phép khách hàng thanh toán qua điện thoại di động
Trên thực tế, dịch vụ internet banking hay rộng hơn là dịch vụ ngân hàng điện tử đã đượcnhiều ngân hàng triển khai khá sớm từ khoảng 5 năm trở lại đây Tuy nhiên, trong thời gian đầu,mức độ ứng dụng dịch vụ này khá hạn chế, chỉ cho phép khách hàng theo dõi số dư tài khoản, tracứu thông tin giao dịch… qua internet hoặc tin nhắn qua điện thoại di động
Bước phát triển tiếp theo của dịch vụ ngân hàng điện tử là thanh toán qua internet chỉ bắt
đầu vào năm 2008 Techcombank khi đó là ngân hàng tiên phong triển khai đại trà dịch vụ thanh
Trang 2367/4/2010 đã công bố bản báo cáo NetCitizens Việt Nam về tình hình sử dụng và tốc độ pháttriển
của mạng Internet, và mối liên hệ với việc phát triển dịch vụ trực tuyến tại thị trường này.Khảo sát cho thấy ngân hàng trực tuyến đang dần trở nên phổ biến với mức tăng trưởng từ 7%đến 11% ở Hà Nội và TPHCM trong vòng ba năm (2007, 2008 và 2009)” (Nguồn: SaiGonTimes)
Sự nở rộ các dịch vụ ngân hàng điện tử trong hơn một năm qua (năm 2009) mới chỉ là bước
khởi đầu Nó cho thấy một điều, các ngân hàng đã ý thức rất rõ sức mạnh công nghệ trongviệc nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng thị trường Thói quen giao dịch trực tiếp của kháchhàng chắc chắn sẽ chưa thể nhanh chóng thay đổi, nhưng khi những giao dịch hiện đại được cácngân hàng phát triển nhiều hơn nữa thì chắc chắn thói quen đó sẽ dần bị thay thế Lấy minhchứng về dịch vụ thẻ thanh toán, lúc đầu khi số lượng ATM, POS còn ít, số lượng ngân hàngphát hành thẻ chưa nhiều thì mức độ phổ cập thấp Nhưng khi các liên minh thẻ kết hợp cho
Kết luận chương 1
Chương 1 đã đưa ra những khái niệm cơ bản về dịch vụ ngân hàng điện tử cũng nhưnhững lợi ích mà nó đem lại khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế của đất nước Chương nàycũng đưa ra những ưu điểm, nhược điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử và sự phát triển của nótrên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây Tất cả những điều này đã giúp chúng ta
có được một cái nhìn khái quát nhất về dịch vụ ngân hàng điện tử, để từ đó cho thấy việcphát triển dịch vụ này tại các NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay là tất yếu Tuynhiên, để phát triển dịch vụ Ngân hàng hiện đại này cũng cần có sự hiểu biết, chấp nhận củakhách hàng, đồng thời vấn đề về pháp lý và công nghệ cũng góp phần không kém trong việctriển khai thành công dịch
Trang 24CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHĐT TRONG CÁC
NHTM Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY 2.1 Các yếu tố cần thiết cho sự phát triển dịch vụ NHĐT tại Bình Dương:
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành CNTT, đã tácđộng mạnh đến mọi mặt hoạt động của đời sống, kinh tế - xã hội, làm thay đổi nhận thức vàphương pháp sản xuất kinh doanh của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế khác nhau, trong
đó có lĩnh vực hoạt động ngân hàng
Phát triển các dịch vụ của NHĐT là xu hướng tất yếu, mang tính khách quan trong nềnkinh tế hiện đại, trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế Lợi ích đem lại của NHĐT là rấtlớn cho khách hàng, ngân hàng và cho nền kinh tế, nhờ tính tiện ích, tiện lợi, nhanh chóng,chính xác và bảo mật Các yếu tố nền tảng cho sự ra đời của dịch vụ NHĐT tại Việt Nam nóichung và ở tỉnh Bình Dương nói riêng bao gồm:
2.1.1 Cơ sở pháp lý:
Dịch vụ NHĐT với việc sử dụng công nghệ mới đòi hỏi khuôn khổ pháp lý mới Cácdịch vụ NHĐT chỉ có thể triển khai được hiệu quả và an toàn khi các dịch vụ này được côngnhận về mặt pháp lý
Chữ ký điện tử đã được ứng dụng và biết đến từ khá lâu Việt Nam cũng đã triển khai Theo
quyết định 44/2002/QĐ-TTg của Thủ tưởng Chính phủ, từ năm 2002 đã thừa nhận các yếu tốcủa chứng từ điện tử và chữ ký điện tử trong thanh toán của hệ thống ngân hàng
Ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 Luật
này đã chính thức được áp dụng vào ngày 1/3/2006 sau hai năm soạn thảo Tốc độ ra đời củamột bộ luật như vậy phần nào nói lên nhu cầu của thực tiễn Luật giao dịch điện tử ra đời
đã giúp giảm các hoạt động thủ công trong ngành ngân hàng và giảm lượng tiền mặt trên thịtrường, vì đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho các giao dịch điện tử Về cơ bản, bộ Luật gồm 8chương, 54 điều bao gồm hầu hết các yếu tố, bên liên quan đến 1 giao dịch điện tử Việc ra đời
bộ Luật với nội dung về cơ bản giống như các điều của bộ Luật thương mại điện tử mẫu doUNICTRAL (The United Nations' Commission on International Trade Law) biên soạn - Luậtgiao dịch điện tử của một số nước như Úc và Singapor đã dựa trên đó - thể hiện quyết tâmcủa Chính phủ trong việc đẩy mạnh các giao dịch điện tử cũng như việc hội nhập với nềnkinh tế tri thức khu vực và thế giới
Tiếp đó, Chính Phủ cũng đã ban hành một số Nghị định nhằm hướng dẫn chi tiết việc
Trang 25điện tử trong hoạt động tài chính.
- Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 quy định về giao dịch điện tử trong hoạt
động Ngân hàng
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ ban hành và ban hành hệ thốngvăn bản pháp lý khá đồng bộ liên quan đến công tác bảo mật thông tin trong hoạt động ngânhàng:
- Thông tư số 09/2003/TT-NHNN ngày 5/8/2003 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thựchiện một số quy định tại Nghị định 55/2003/NĐ-CP ngày 23/8/2003 của Chính phủ về quản
các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động NHĐT
- Quyết định 39/2006/QĐ-NHNN hành 28/8/2006 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về
ban hành Quy chế quản lý và sử dụng mạng nội bộ NHNN
Sáng 17-9- 2009, tại trường Chính trị tỉnh, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Thông tin
và Truyền thông tỉnh Bình Dương đã tổ chức Hội nghị triển khai Luật Giao dịch điện tử và cácvăn bản hướng dẫn thi hành cho lãnh đạo các Sở, Ủy ban, ban, ngành, các trường đại học, caođẳng, doanh nghiệp, cán bộ tư pháp các huyện thị, xã phường trên địa bàn tỉnh Qua đó thấyđược sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong việc nâng cao sự hiểu biết của mọi người đốivới các giao dịch điện tử cũng như đưa các văn bản pháp luật phổ biến đến mọi người hơn
2.1.2 Điều kiện công nghệ kỹ thuật:
Với tính chất đặc thù, hoạt động ngân hàng gắn bó chặt chẽ với CNTT; CNTT là nềntảng kỹ thuật quan trọng để thực hiện các mặt hoạt động nghiệp vụ ngân hàng Thực tế cho thấy,
Trang 269đứng vững trong cạnh tranh Với phương châm từng bước ứng dụng và đổi mới công nghệtheo
hướng hiện đại, tự động hóa phục vụ sự nghiệp đổi mới hoạt động ngân hàng, các ngân hàng đãcung cấp được những sản phẩm, dịch vụ vừa đa dạng vừa đáp ứng sự nhanh chóng, tiện lợi chokhách hàng Đến nay, hơn 80% nghiệp vụ ngân hàng được xử lý trên máy tính ở các mức độkhác nhau Hầu hết các nghệp vụ đã được chuyển từ xử lý trên máy tính đơn lẻ sang phương thức
xử lý trên mạng Nhiều giao dịch ngân hàng (chuyển tiền điện tử, thẻ thanh toán và rút tiền
tự động ATM, Mobile banking, Home banking, Internet banking…) được xử lý trực tuyếntrên môi trường máy tính và mạng internet, và đang từng bước được triển khai trên diện rộng.Được như trên chính là nhờ sự phát triển nhanh chóng cùng chất lượng ngày càng nâng caocủa hệ thống CNTT và truyền thông ở nước ta Theo ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư kýLiên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) tại Diễn đàn CNTT Thế giới 2009 (WITFOR 2009) diễn ravào ngày 26 - 28/8/2009 tại Hà Nội thì 5 năm trước đây, Việt Nam thua xa các nước trong khuvực về phát triển CNTT nhưng nay Việt Nam đã thu hẹp khoảng cách và trong một số lĩnh vựcnhư truy cập Internet và sử dụng CNTT, Việt Nam thậm chí còn vượt cả Phillippines, “Sựphát triển CNTT-TT (gồm điện thoại di động, cố định và Internet, băng rộng) ở Việt Nam
đã vượt qua nhiều nước châu Á khác”
Theo số liệu chính thức cung cấp tại Diễn đàn WITFOR 2009, năm 2008, doanh thu ngànhCNTT-TT Việt Nam đạt trên 10 tỷ USD, tỷ lệ sử dụng Internet đạt khoảng 25% và phổ cập điệnthoại ở mức độ cao Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có những độngthái khuyến khích cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông – yếu tố quyết định giúp giảm giá cảdịch vụ Thực tế, xu hướng giá viễn thông, Internet tại Việt Nam liên tục giảm, ngày càng tạođiều kiện truy cập cho mọi người dân Người dân ở các vùng nông thôn có thể dễ dàng truy cậpInternet và các dịch vụ viễn thông khác với giá cả phải chăng
2.1.3 Điều kiện con người:
2.1.3.1 Trình độ và mức sống của người dân:
Mức sống của người dân là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xem xét và pháttriển dịch NHĐT Nếu người dân có mức thu nhập thấp hay nói cách khác là có ít tiền thì họ sẽkhông quan tâm đến các dịch vụ ngân hàng, họ sẽ dùng tiền mặt để thanh toán thay vì dùng cácphương thức giao dịch tự động Do vậy, phát triển kinh tế và nâng cao mức sống của ngừờidân luôn là yếu tố tiên quyết cho sự phát triển NHĐT
Hiện nay, mức sống của người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng đã được nâng lên
Trang 27sử dụng internet hiện đã vượt 20 triệu người, số thuê bao di động đạt gần 60 triệu, Việt Namluôn được đánh giá là thị trường mới nổi giàu tiềm năng cho các dịch vụ trực tuyến và diđộng Số chủ thẻ và chủ tài khoản tiền gửi thanh toán ở Việt Nam đạt trên 15 triệu và có tốc
độ tăng trưởng lên đến 200% hàng năm trong 3 năm (2006, 2007, 2008) Tuy nhiên, việc thanhtoán trong lĩnh vực bán lẻ và TMĐT của người dân vẫn chủ yếu bằng tiền mặt” (Nguyễn ChiếnThắng, 2009)
2.1.3.2 Sự hiểu biết và chấp nhận dịch vụ NHĐT:
Hiện nay, thói quen sử dụng tiền mặt và tính “ì” của khách hàng trong việc sử dụngcác dịch vụ mới chính là một trở ngại lớn trong sự phát triển của dịch vụ NHĐT Sự phổ biếncủa các dịch vụ NHĐT liên quan chặt chẽ tới sự chấp nhận của khách hàng hơn là những gì màphía mời chào cung ứng dịch vụ đưa ra Vì thế, sự hiểu biết của đông đảo khách hàng vềcác dịch vụ NHĐT và ích lợi của các dịch vụ này là hết sức cần thiết Rõ ràng, các dịch vụNHĐT là các dịch vụ hiện đại và tốt Tuy vậy, chúng ta không thể cho rằng có các dịch vụ tốt là
đủ Để xúc tiến các dịch vụ NHĐT các Ngân hàng cung cấp các dịch vụ này cần phải làm chokhách hàng biết rằng có những dịch vụ như vậy và hướng dẫn họ sử dụng các dịch vụ đó
2.1.3.3 Nguồn nhân lực của ngân hàng:
Các hệ thống thanh toán điện tử đòi hỏi một lượng lớn lao động được đào tạo tốt vềCNTT- TT để cung cấp các ứng dụng cần thiết, đáp ứng yêu cầu hỗ trợ và chuyển giao các trithức kỹ thuật thích hợp Thiếu các kỹ năng để làm việc trên Internet và làm việc với các phươngtiện hiện đại khác, hạn chế về khả năng sử dụng tiếng Anh - ngôn ngữ căn bản của Internetcũng là những trở ngại cho việc phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử
Hiện nay, đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực về TMĐT, nhiều trườngcũng đã đưa TMĐT vào giảng dạy Theo kết quả điều tra “Tình hình đào tạo TMĐT tại cáctrường đại học và cao đẳng năm 2008” của Cục thương mại điện tử và Công nghệ thông tincho thấy trong số 108 trường tham gia khảo sát, có 49 trường đã triển khai hoạt động đào tạo
Trang 28từ mốc năm 2003 Tuy nhiên, số lượng giảng viên giảng dạy vừa thiếu về số lượng vừa chưađáp
ứng được nhu cầu đào tạo, giảng dạy thiếu sự gắn kết giữa học và hành, có sự khác biệt đáng
kể về nội dung và chất lượng của giáo trình giảng dạy giữa các trường… Kết quả của cuộcđiều tra trên cũng chỉ ra rằng chỉ có 15% trường đại học và cao đẳng có giảng viên được đào tạochuyên ngành TMĐT; 45% có giảng viên khác được bồi dưỡng thêm về TMĐT, 50% trường
có giảng viên tự nghiên cứu để giảng dạy; Về giáo trình, có 13 trường đại học và cao đẳng
có quy định thống nhất, 36 trường do giảng viên tự biên soạn…
Bên cạnh đó, nhân viên của ngân hàng cũng cần được trang bị tốt những kiến thức
về nghiệp vụ để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao trong lĩnh vực phát triển nhanhchóng là ngân hàng, tạo sự đa dạng, nhanh chóng, tiện lợi của những sản phẩm, dịch vụ.Đồng thời, sự năng động, thân thiện của nhân viên cũng rất cần thiết để đưa những sản phẩm,dịch vụ mới đến với khách hàng, để những sản phẩm, dịch vụ này ngày càng phổ biến hơn
2.2 Tình hình phát triển dịch vụ NHĐT trong các NHTM ở Bình Dương hiện
nay:
Bình Dương hiện nay đang là một trong những tỉnh thành có tốc độ phát triển cao nhất cảnước, do đó nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân ở đây cũng ngày càng nhiềuhơn Nắm bắt được điều đó hiện nay các ngân hàng ở Bình Dương cũng đang ra sức thúcđẩy, phát triển các dịch vụ của ngân hàng mình, và dịch vụ NHĐT là một trong những dịch vụđang được chú ý phát triển đặc biệt trong những năm gần đây:
2.2.1 Dịch vụ Call Centre:
Call Centre là một dịch vụ khá đơn giản, khách hàng khi có những thắc mắc chỉ cầnđiện thoại đến tổng đài chung của ngân hàng sẽ được giải đáp Và do sự đơn giản này nên nhiềungân hàng hiện nay đã phát triển dịch vụ này từ rất sớm và đạt được những thành quả nhất địnhtrong những năm qua:
- Ở ngân hàng Á Châu (ACB), khi khách hàng phát sinh yêu cầu sử dụng một số dịch
vụ của Ngân hàng, truy vấn thông tin hoặc yêu cầu giải đáp thắc mắc sẽ thực hiện gọi đến sốđiện thoại của tổng đài 083.8247247 hoặc 1800.577.775 (miễn phí cuộc gọi) để đặt lệnhthực hiện dịch vụ hoặc yêu cầu được tư vấn, hướng dẫn Dịch vụ này được ngân hàng ACBphát triển từ năm 2003 và đến nay nó đã trở nên phổ biến đối với người dân, đem lại những lợiích nhất định cho ngân hàng và khách hàng
- Với ngân hàng Ngoại thương (VCB), trung tâm dịch vụ khách hàng 24x7
(Vietcombank
Trang 292Phone B @ n k i ng , trung tâm còn đảm nhiệm một chức năng rất quan trọng là tư vấn trực tiếpkhi
khách hàng gọi tới nhằm giải đáp, ghi nhận những thắc mắc của khách hàng liên quan tớisản phẩm, dịch vụ và chất lượng phục vụ của Vietcombank Đồng thời, dựa trên ứng dụng côngnghệ hiện đại, Trung tâm Dịch vụ khách hàng 24x7 của Vietcombank còn chủ động liên hệ vớikhách hàng nhằm thông báo tình hình tài chính, ngày đến hạn các khoản tiền hoặc cácchương trình khuyến mại, sản phẩm, dịch vụ mới
- Ngoài 2 ngân hàng lớn kể trên, hiện nay cũng đã có thêm rất nhiều ngân hàng triểnkhai dịch vụ Call Centre như: ngân hàng An Bình với tổng đài 08.38365.365 hoặc 1900.571.581;ngân hàng Đông Á tổng đài 1900.545464… với những cải tiến quan trọng, đáp ứng nhu cầu phục
vụ khách hàng ngày một tốt hơn
2.2.2 Dịch vụ Phone Banking:
Song song với dịch vụ Call Centre thì dịch vụ Phone Banking cũng đã có những bước pháttriển rất tốt trong những năm gần đây khi mà các ngân hàng đã triển khai dịch vụ này từ rấtsớm và liên tục có những bước cải tiến
- Một trong những ngân hàng triển khai dịch vụ Phone Banking khá tốt ở Bình Dương
mà ta có thể kể đến đó là VCB với Dịch vụ ngân hàng 24 x7 qua điện thoại VCB–PhoneB
@ n k i ng , chỉ cần gọi điện đến tổng đài 1900545413, khách hàng có thể tra cứu thông tin tàikhoản, thực hiện một số giao dịch thẻ, thực hiện một số giao dịch điện tử… Sau nhiều lầnnâng cấp, cải tiến và lần gần đây nhất là vào năm 2009, dịch vụ VCB – Phone @B n k i n g đãđáp ứng được hầu hết các nhu cầu và đem lại sự hài lòng cho khách hàng, đưa VCB trở thànhmột trong những ngân hàng phát triển dịch vụ Phone Banking tốt nhất hiện nay
- Ngoài ra cũng có thể kể đến một số ngân hàng khác ở Bình Dương đã phát triển dịch vụ
Phone Banking khá tốt như là Ngân hàng Sài Gòn thương tín (SCB) với tổng đài tựđộng
1900.5555.88, giúp khách hàng có thể truy vấn thông tin tỷ giá vàng, ngoại tệ, lãi suất tiềngửi hiện hành, truy vấn thông tin địa chỉ các điểm đặt máy ATM của SCB, truy vấn thông tin 05giao dịch sau cùng và số dư trên các tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳhạn, tài khoản tiền vay mà khách hàng sở hữu…; hay ACB với tổng đài khu vực TP HCM (08)8.279.999 giúp khách hàng truy cập các thông tin về tỷ giá hối đoái, thông tin về lãi suất cácsản phẫm tiền gởi hiện hành, thông tin giá chứng khoán, các thông báo sản phẫm mới nhất của
Trang 302.2.3 Dịch vụ Mobie Banking – SMS Banking:
Trong các dịch vụ của NHĐT thì dịch vụ Mobie Banking – SMS Banking đượcnhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng nhiều nhất do những tính năng tiện ích của nó, bạnchỉ cần 1 chiếc điện thoại di động và có thể giao dịch với ngân hàng qua chiếc điện thoại đó.Dịch vụ này hiện nay đang được các ngân hàng ở Bình Dương ra sức phát triển và đã đạtđược những bước tiến đáng kể trong những năm vừa qua
- Vào năm 2005, VCB đã cho ra đời gói dịch vụ ngân hàng qua tin nhắn VCB-SMSB
@ n k i n g : đáp ứng nhu cầu 24x7 của khách hàng đối với các giao dịch truy vấn số dư tài khoản,xem chi tiết các giao dịch gần nhất, nhận trợ giúp từ ngân hàng đối với các thông tin về tỉ giá, lãisuất, điểm giao dịch của VCB, nạp tiền điện thoại di động từ tài khoản tại ngân hàng,…
Từ khi ra đời đến nay tốc độ phát triển của dịch vụ này đã tăng trung bình trên50%/năm, cụ thể vào năm 2009 đã tăng thêm 6706 khách hàng sử dụng dịch vụ (tương đương75,05%) đạt
15641 khách hàng, và dự kiến vào năm 2010 sẽ tăng thêm 9385 khách hàng sử dụng tươngứng với tốc độ tăng trưởng 60% (nguồn: kế hoạch dịch vụ bán lẻ năm 2010 ngân hàng Ngoạithương Bình Dương)
(nguồn: ngân hàng Ngoại thương Bình Dương)
- Bên cạnh VCB, vào tháng 6/2009 HD Bank triển khai gói dịch vụ SMS Banking chophép khách hàng tra cứu, nhận thông tin tài khoản ngân hàng qua điện thoại di động, bằngcách dùng điện thoại di động nhắn tin theo cú pháp quy định của HD Bank, gửi tới số 8049.Với dịch vụ này, ngân hàng sẽ thông báo khi có biến động số dư tài khoản hoặc người sử dụng
Trang 31vụ Mobile Banking khá tốt như là Ngân hàng Nam Việt với tổng đài nhận tin nhắn 997, hayngân hàng SCB với tổng đài nhận tin nhắn 1900.5555.88 (đối với các thuê bao di độngMobiFone và VinaFone) hoặc 0168.999.7655 (đối với các thuê bao di động khác), ngân hàngĐông Á với tổng đài nhận tin nhắn 8149; và một số ngân hàng khác nữa.
2.2.4 Dịch vụ Home Banking:
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương dịch vụ Home Banking còn là một dịch vụtương đối mới mẻ đối với các ngân hàng, chưa có nhiều ngân hàng thực hiện triển khai dịch vụnày, vì vậy nó chưa được phổ biến lắm đối với người dân, tuy nhiên trong những năm gầncũng đã có một số ngân hàng chú trọng phát triển dịch vụ này, đem lại một số đột phá nhất định:
- Đi đầu và đạt được những thành quả nổi bật trong việc phát triển dịch vụ Home
là ACB, với việc đăng ký và thực hiện các giao dịch qua website:
- Bên cạnh ACB thì Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng đã pháttriển dịch vụ Home Banking khá tốt, với Techcombank HomeBanking, giờ đây khách hàngkhông phải trực tiếp đến Ngân hàng mà vẫn quản lý được giao dịch của mình mọi lúc, mọinơi thông qua nhiều phương tiện Tuy không có nhiều tiện ích bằng dịch vụ Home Banking củaACB nhưng Techcombank HomeBanking cũng đã thu hút được rất nhiều khách hàng, đem lạimột số thành
Trang 32sẽ có nhiều hơn các ngân hàng thực hiện triển khai và phổ biến dịch vụ này, góp phần nâng caochất lượng phục vụ khách hàng.
2.2.5 Dịch vụ Internet Banking:
Internet Banking là một dịch vụ mà hiện nay hầu hết các ngân hàng đều đã triển khai
và đang phát triển Với những tiện ích rõ nét mà nó đem lại, Internet Banking đã được người dântin dùng và ngày càng phổ biến hơn Trang web của các ngân hàng hiện đã được quan tâm cảithiện với gần như đầy đủ thông tin cùng những tiện ích cần thiết
- ACB là một trong những ngân hàng đầu tiên triển khai dịch vụ Internet Banking ởViệt Nam vào năm 2003 Với dịch vụ này, khách hàng có thể truy cập vào website
www a c b c o m vn để lấy các thông tin và thực hiện các giao dịch sau:
+ Thông tin sản phẩm, dịch vụ mới của Ngân hàng một các nhanh chóng (sản phẩmtiền gửi thanh toán, sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, sản phẩm tín dụng, sản phẩm NHĐT, thanhtoán +
Thông tin về giá chứng khoán
Bảng giá vàng trực tuyến của sàn giao dịch vàng
Đăng ký thẻ trên mạng
Đăng ký vay trên mạng
Xem và in giao dịch từng tháng
Kiểm tra số dư tài khoản, số dư thẻ
Gần đây, vào ngày 8/3/2010 ACB đã nâng cấp dịch vụ Internet Banking của mình với 2
chức năng vượt trội: Thêm phương thức bảo mật mới và thêm tiện ích cho phép khách hàng
tự tạo tài khoản tiền gửi Đầu tư trực tuyến với lãi suất cực hấp dẫn, đã đem lại cho khách hàngnhiều sự lựa chọn hơn
ACB đã áp dụng công nghệ bảo mật đường truyền SSL và firewall đem lại sự an tâm cho
Trang 336dụng dịch vụ Internet Banking của ngân hàng tăng vọt trong những năm gần đây, đem lại một
doanh thu to lớn cho ngân hàng
- Cũng cùng phát triển dịch vụ Intenet Banking vào năm 2003 nhưng ngân hàngTechcombank lại không đạt được nhiều thành công như ngân hàng ACB do cơ sở hạ tầngcòn nhiều hạn chế nên dịch vụ chưa đem lại nhiều tiện ích Tuy nhiên vào năm 2007,Techcombank bỏ ra hơn 1 triệu USD để phát triển dịch vụ ngân hàng trực tuyến Điển hình làviệc triển khai gói dịch vụ F @ s t i-bank cho phép khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngânhàng như: Chuyển khoản giữa các tài khoản trong và ngoài hệ thống Techcombank (có thểchuyển khoản lên tới 500 triệu đồng/giao dịch); Tra cứu số dư và các giao dịch tài khoản;Quản lý và tra cứu các khoản vay, khoản tiết kiệm; Thanh toán hàng hóa và dịch vụ (vé máybay, các loại thẻ nạp tiền tại ht t p s : / / v c a r d v n … ), Hơn thế nữa, khách hàng còn có thể đặt lệnhthanh toán tự động hay đăng ký các sản phẩm, dịch vụ khác của ngân hàng
F @ s t i-bank được áp dụng bởi công nghệ bảo mật RSA, công nghệ đạt tiêu quốc tế kết hợpvới sự hỗ trợ của hệ thống corebanking thế hệ mới nhất T24.R6 do nhà cung ứng hàng đầuthế giới Temenos (Thuỵ Sĩ) thực hiện Công nghệ này được kiểm nghiệm về tính an toàn, hiệuquả đáp ứng nhu cầu khắt khe về sử dụng dịch vụ tài chính, ngân hàng tại các ngân hàng hàngđầu thế giới nên đã đem lại sự an tâm cho khách hàng
Với những tính năng đầy tiện ích, F@ s t i-bank đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng vềmột phương thức sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện lợi và an toàn, phù hợp với xuhướng “số hoá” của cuộc sống Kể từ khi ra mắt từ tháng 8/2007, lượng khách hàng sử dụngsản phẩm này liên tục gia tăng, từ 1.226 năm 2008 (tính gộp cả mấy tháng cuối năm 2007) lên3.278 năm
2009 và dự kiến đến hết năm 2010, Techcombank sẽ có trên 4.500 khách hàng (theo ht t p : / / w w w vn ec on o m y v n )
- Một ngân hàng nữa cũng rất chú trọng đến trang web của ngân hàng mình đó chính
là ngân hàng Đông Á Vừa qua, trang web của Ngân hàng Đông Á vừa được người tiêu dùngbình chọn hai giải nhất, một của website TMĐT mô hình B2C (doanh nghiệp - người tiêudùng) và một của dịch vụ hỗ trợ hoạt động TMĐT trong chương trình bình chọn “Website
và dịch vụ TMĐT được người tiêu dùng ưa thích nhất năm 2009” do Sở Công ThươngTPHCM phối hợp với Văn phòng phía Nam của Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam tổ chức.(Nguồn: http://ww w th e s a i g ont i m e s v n )
- Đối với ngân hàng VCB, vào năm 2006 VCB triển khai gói dịch vụ ngân hàng trực