1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN

118 481 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 38,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự phát triển của khoa học công nghệ thì ngày nay công nghệ thông tin được áp dụng vào mọi ngành nghề trong đời sống – xã hội. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào các mọi ngành nghề giúp tối ưu hóa thời gian cho con người đồng thời mang lại độ chính xác cao trong công việc, giảm bớt sức lao động của con người. Song hành với sự phát triển của công nghệ thông tin như vậy, ngành địa chất cũng xác định được tầm quan trọng của công nghệ thông tin để áp dụng vào xây dựng và giải các bài toán trong địa chất. Ví dụ như việc áp dụng thành lập các bản đồ địa chất, quản lý dữ liệu địa chất, tính toán trữ lượng khoáng sản. . v. . v. . . Việc áp dụng công nghệ thông tin vào ngành địa chất mang lại sự nhanh chóng và chính xác, mang tính vượt trội so với các phương pháp cổ điển mà con người trực tiếp phải xử lý. Áp dụng công nghệ thông tin trong địa chất cũng dẫn đến các nhà địa chất có những phán đoán chính xác hơn trong việc dự đoán, phân tích trong những vấn đề của địa chất học. Hiện nay, trên thế giới việc áp dụng công nghệ thông tin vào ngành địa chất học đã mang lại nhiều thành tựu cho sự vượt bậc của nó. Đã có rất nhiều những chương trình phần mềm được xây dựng phục vụ trong công tác nghiên cứu về địa chất đã được công bố mang lại những hiệu quả rất cao trong công việc, dẫn đến những chương trình này là những phần không thể thiếu và quan trọng trong nghiên cứu. . v. . v. . . Ở Việt Nam hiện nay, trong ngành địa chất cũng đã coi trọng việc áp dụng công nghệ thông tin trong những xử lý tính toán phức tạp mà đòi hỏi con người mất nhiều thời gian và công sức. Một điển hình cho xu thế phát triển hiện đại này là tại phòng Địa Động Lực Hiện Đại – Viện Địa Chất, một đơn vị trực thuộc của Viện Hàn Lâm Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam, trưởng phòng là GS. TS Phan Trọng Trịnh đã có những hướng mang tính hiện đại hóa bằng việc áp dụng nhiều phần mềm của công nghệ GIS trong việc xử lý những vấn đề mà phòng Địa Động Lực nghiên cứu, ví dụ như các phần mềm xử lý trong bản đồ như ArcGis, Surfer, MapInfo, Google Earth Pro. . .

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Với sự phát triển của khoa học công nghệ thì ngày nay công nghệ thôngtin được áp dụng vào mọi ngành nghề trong đời sống – xã hội Việc áp dụngcông nghệ thông tin vào các mọi ngành nghề giúp tối ưu hóa thời gian cho conngười đồng thời mang lại độ chính xác cao trong công việc, giảm bớt sức laođộng của con người Song hành với sự phát triển của công nghệ thông tin nhưvậy, ngành địa chất cũng xác định được tầm quan trọng của công nghệ thông tinđể áp dụng vào xây dựng và giải các bài toán trong địa chất Ví dụ như việc ápdụng thành lập các bản đồ địa chất, quản lý dữ liệu địa chất, tính toán trữ lượngkhoáng sản v v Việc áp dụng công nghệ thông tin vào ngành địa chấtmang lại sự nhanh chóng và chính xác, mang tính vượt trội so với các phươngpháp cổ điển mà con người trực tiếp phải xử lý Áp dụng công nghệ thông tintrong địa chất cũng dẫn đến các nhà địa chất có những phán đoán chính xác hơntrong việc dự đoán, phân tích trong những vấn đề của địa chất học Hiện nay,trên thế giới việc áp dụng công nghệ thông tin vào ngành địa chất học đã manglại nhiều thành tựu cho sự vượt bậc của nó Đã có rất nhiều những chương trìnhphần mềm được xây dựng phục vụ trong công tác nghiên cứu về địa chất đãđược công bố mang lại những hiệu quả rất cao trong công việc, dẫn đến nhữngchương trình này là những phần không thể thiếu và quan trọng trong nghiên cứu v v Ở Việt Nam hiện nay, trong ngành địa chất cũng đã coi trọng việc áp

Trang 2

dụng công nghệ thông tin trong những xử lý tính toán phức tạp mà đòi hỏi conngười mất nhiều thời gian và công sức Một điển hình cho xu thế phát triển hiện

đại này là tại phòng Địa Động Lực Hiện Đại – Viện Địa Chất, một đơn vị trực thuộc của Viện Hàn Lâm Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam , trưởng phòng là

GS TS Phan Trọng Trịnh đã có những hướng mang tính hiện đại hóa bằng việcáp dụng nhiều phần mềm của công nghệ GIS trong việc xử lý những vấn đề màphòng Địa Động Lực nghiên cứu, ví dụ như các phần mềm xử lý trong bản đồnhư ArcGis, Surfer, MapInfo, Google Earth Pro

Trong quá trình thực tập tốt nghiệp tại phòng Địa động lực hiện đại, emđã được biết phần nào đó về những công việc của phòng, một trong nhữngnghiên cứu chính của phòng địa động lực đó là nghiên cứu về các đứt gãy, tìmhiểu quy luật vận động của vỏ Trái đất để có thể dự báo những thiên tai về độngđất và sóng thần để cảnh báo phòng tránh những thiệt hại do nó gây ra đối vớicon người Để nghiên cứu được các đứt gãy có rất nhiều các phương phápnghiên cứu khác nhau và một trong những phương pháp đó là nghiên cứu mặtđất từ xa sử dụng kết quả của những công nghệ hiện đại đó là dữ liệu của các vệtinh viễn thám về Trái đất, từ đó giúp các nhà nghiên cứu về địa động lực có cáinhìn tổng quan về khu vực nghiên cứu từ đó có những định hướng chính xác vềhoạt động địa động lực vùng nghiên cứu Một trong những sản phẩm công nghệcao sử dụng các vệ tinh viễn thám đó là bản đồ mô hình số độ cao (DEM:

Trang 3

Digital Elevation Model), đây là loại dữ liệu bản đồ thể hiện bề mặt địa hình(cao độ) cuả bề mặt đất, nó thể hiện một cách trung thực và trực quan giúp cácnhà nghiên cứu địa động lực có thể đưa ra những phán đoán chung nhất về vị trícũng như hướng dịch chuyển của các đứt gãy nếu có thông qua phân tích cáclineament trên khu vực bản đồ DEM khu vực cần nghiên cứu Từ đó có nhữngphương hướng chính xác cho những phương pháp chuyên sâu khác để đánh giácác đứt gãy đó… Đối với các nhà nghiên cứu địa động lực thì việc tổng quát hóa

là rất quan trọng và bản đồ mô hình số độ cao (DEM) là một trong những côngcụ hữu ích giúp họ có thể khái quát nhất về mặt địa mạo cũng như phân tích cáclineament tạo tiền đề cho phân tích các đứt gãy kiến tạo

Hiện nay nguồn số liệu về bản đồ mô hình số độ cao (DEM) rất đa dạng

và phong phú, đi cùng với sự phát triển công nghệ thì các bản đồ này càng đượcnâng cao về độ chính xác mà mức độ chi tiết (độ phân giải) Đi cùng với bản đồDEM độ phân giải cao thì những bản đồ này có giá rất đắt nếu cho mục đíchnghiên cứu sâu và chi tiết, với những nhà nghiên cứu địa động lực nghiên cứutổng quát thì những nguồn bản đồ DEM miễn phí có độ phân giải 30m-90m/pixel ảnh cũng đã ứng dụng rất tốt cho mục đích nghiên cứu đó Tuy nhiên để cóthể khai thác và sử dụng được những nguồn dữ liệu này để cho ra sản phẩm làbản đồ mô hình số độ cao DEM có thể sử dụng được cho mục đích nghiên cứuđịa động lực thì cần phải có những bước xử lý số liệu từ các nguồn dữ liệu thômiễn phí thu thập được Ứng dụng công nghệ GIS vào việc xử lý số liệu bản đồ

Trang 4

mô hình số độ cao (DEM) phục vụ cho công tác nghiên cứu địa động lực là mộtgiải pháp tôí ưu nhất và mang lại hiệu quả cao, chính xác và nhanh chóng Trongquá trình tôi thực tập tại phòng địa động lực, GS TS Phan Trọng Trịnh hiện

đang là chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước có tên “Nghiên cứu hoạt động địa động lực hiện đại khu vực Tây Nguyên dự báo các dạng tai biến địa chất ở các vùng đập, hồ chứa và đề xuất các giải pháp phòng tránh” trong chương trình phát

triển Tây Nguyên 03 của Viện Hàn Lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam thìtrong đề tài này cũng cần những nguồn số liệu bản đồ DEM của khu vực TâyNguyên để dùng cho công tác nghiên cứu Do vậy em xin mạnh dạn đề xuất đồ

án tốt nghiệp của mình với tên đề tài: “Xử lý số liệu bản đồ mô hình số độ cao (DEM) khu vực Tây Nguyên phục vụ cho nghiên cứu địa động lực” để phục

vụ cho công tác nghiên cứu địa động lực khu vực Tây Nguyên, đây là một phầnnhỏ của các công tác nghiên cứu địa động lực nhưng nó lại có những ý nghĩa lớnvề định hướng nghiên cứu tiếp theo

Đồ án gồm 4 chương và được bố cục như sau:

Đặt vấn đề

Trang 5

Chương 1: Khái quát về mô hình số độ cao (DEM) Chương 2: Khái quát về vùng nghiên cứu (Tây Nguyên) Chương 3: Thu thập dữ liệu mô hình số độ cao (DEM) cho khu

vực Tây Nguyên

Chương 4: Xử lí số liệu mô hình số độ cao (DEM) ứng dụng

cho nghiên cứu địa động lực khu vực Tây Nguyên

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

TÍNH THỰC TẾ VIỆC LỰA CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong nghiên cứu địa động lực ngày nay dữ liệu bản đồ mô hình số độcao (DEM) thể hiện được những ưu điểm vượt trội về sự mô phỏng tổng quanchân thực nhất về bề mặt Trái Đất, nó được ứng dụng cho nhiều mục đíchnghiên cứu của các ngành khoa học Trái đất mang lại hiệu quả cao Đặc biệttrong phân tích địa hình - địa mạo phục vụ cho công tác nghiên cứu địa độnglực, địa động lực hiện đại xác định làm tiền đề nghiên cứu các đứt gãy kiến

tạo… Trong đề tài “Nghiên cứu hoạt động địa động lực hiện đại khu vực Tây Nguyên dự báo các dạng tai biến địa chất ở các vùng đập, hồ chứa và đề xuất các giải pháp phòng tránh” do GS TS Phan Trọng Trịnh làm chủ nhiệm thì nhu

cầu cần có số liệu bản đồ mô hình số độ cao (DEM) của khu vực Tây Nguyêndùng để nghiên cứu Do vậy đề tài đồ án tốt nghiệp này mang ý nghĩa ứng dụngtrong thực tiễn cao, áp dụng trực tiếp vào thực tế nghiên cứu

MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:

Mục đích của đồ án là áp dụng công nghệ GIS để thành lập lên bản đồ môhình số độ cao (DEM) của khu vực Tây Nguyên trước tiên dùng để phục vụcông tác nghiên cứu của phòng Địa động lực hiện đại – Viện địa chất Và qua đócũng xây dựng lên những phương pháp để thành lập bản đồ mô hình số độ cao

Trang 7

từ các nguồn dữ liệu khác nhau để có thể sử dụng cho nhiều mục đích nghiêncứu khác nhau

Yêu cầu của đồ án:

+ Thành lập bản đồ mô hình số độ cao vùng Tây Nguyên độ phân giải30m làm sản phẩm cho nghiên cứu địa động lực khu vực Tây Nguyên

+ Thành lập bản đồ mô hình số độ cao vùng Tây Nguyên độ phân giải90m làm sản phẩm cho nghiên cứu địa động lực khu vực Tây Nguyên

+ Bản đồ Lineament được xây dựng từ trên nền bản đồ mô hình số độ caokhu vực Tây Nguyên được thành lập từ kết quả của đồ án

+ Thành lập những phương pháp để xử lý bản đồ mô hình số độ cao DEMbằng ứng dụng các phần mềm của công nghệ GIS hiện nay như ArcGis,Mapinfor, Global Mapper, Google Earth Pro, GMT…

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM)

I 1 KHÁI NIỆM VỀ MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO

I 1 1 Khái niệm

DEM (Digital Elevation Model) là từ viết tắt tiếng Anh của mô hình số độcao, là sự thể hiện bằng số độ cao của bề mặt đất, độ cao của tầng đất, của mựcnước ngầm… so với độ cao của mực nước biển Có thể hiểu nôm na bản đồ môhình số độ cao (DEM) là bản đồ mô phỏng địa hình của bề mặt đất, của tầng đất,mực nước ngầm…

Độ phân giải bản đồ DEM được thể hiện bằng trong một diện tích vuôngtheo một cạnh dài thì có một dữ liệu độ cao trên một pixel ảnh Ví dụ như bảnđồ DEM có độ phân giải là 30m/pixel có nghĩa là một điểm ảnh chứa một giá trịđộ cao tương ứng với 30m×30m vị trị trên mặt đất Độ phân giải càng cao nghĩa

là một đơn vị diện tích trên mặt đất thể hiện được nhiều giá trị cao độ thì bản đồDEM càng chính xác về mô phỏng địa hình mặt đất và ngược lại

I 1 2 Các kiểu mô hình DEM

DEM là kiểu bản đồ số được lưu trữ theo nhiều kiểu mô hình khác nhau,hai mô hình chủ yếu của loại bản đồ này là DEM dạng raster và DEM dạngvector:

Trang 9

DEM dạng Raster: DEM dạng Raster là kiểu dữ liệu mà số liệu độ

cao được lưu trữ trong một ma trận lưới ô vuông (grid) gồm cáchàng và các cột, trong đó mỗi ô vuông chứa một giá trị độ cao củađiểm trung tâm của ô (Hình 1 1)

Hình 1 1: Mô phỏng kiểu lưu dữ liệu DEM dạng Raster

Trang 10

Hình 1 2: Ví dụ về bản đồ mô hình DEM dạng Raster

Mô hình DEM dạng Vector: Đây là dạng mô hình số độ cao mà

mỗi giá trị độ cao được lưu trữ dưới dạng một điểm trong đó mỗiđiểm này là một đỉnh của tam giác (Hình 1 3) Người ta còn gọi

mô hình này là DEM dạng TIN (Triangle Irregular Network): là tậphợp các đỉnh nối với nhau thành các tam giác, mỗi một tam giácđược giới hạn bởi 3 điểm về giá trị x, y và z (độ cao)

Trang 11

Hình 1 3: Mô phỏng kiểu lưu dữ liệu DEM dạng Vector

Hình 1 4: Ví dụ về bản đồ mô hình DEM dạng TIN

Mô hình số độ cao dạng TIN có những đặc điểm sau:

Trang 12

 TIN biểu diễn bề mặt liên tục từ những tập hợp điểm rời rạc phânbố bất kỳ

 TIN: tập hợp các điểm nối với nhau thành các tam giác tạo nên bềmặt 3 chiều

 Một điểm bất kỳ thuộc vùng biểu diễn sẽ nằm trên đỉnh, cạnh hoặctrong một tam giác của lưới tam giác Nếu một điểm không phải làđỉnh thì giá trị chiếu của nó có được từ phép nội suy tuyến tính (củahai điểm khác nếu điểm này nằm trên cạnh hoặc ba điểm nếu điểmnày nằm trong tam giác)

 Mô hình TIN là mô hình tuyến tính trong không gian 3 chiều: cóhiệu quả trong xây dựng bề mặt, mật độ của điểm trên bề mặt tỷ lệvới độ biến đổi của địa hình Những bề mặt bằng phẳng tương ứngvới mật độ điểm thấp và những địa hình đồi núi có mật độ điểmcao

I 2 PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP VÀ ỨNG DỤNG CỦA BẢN ĐỒ DEM

I 2 1 Các phương pháp thành lập bản đồ DEM

Hiện nay có rất nhiều phương pháp để thành lập bản đồ DEM, trong đó cónhững phương pháp chính như: thành lập DEM từ phương pháp chụp ảnh lậpthể, phương pháp xây dựng DEM từ bản đồ địa hình đường đồng mức và

Trang 13

phương pháp tiên tiến và phức tạp hơn là xây dựng bản đồ DEM từ công nghệgiao thoa radar (In-SAR):

I 2 1 1 Phương pháp chụp ảnh lập thể

Đây là phương pháp sử dụng các dụng cụ chuyên chụp ảnh để thu thập dữliệu của một vùng với các giá trị thuộc tính không gian x, y, z của các điểm trênbề mặt quả đất Đây là phương pháp đòi hỏi số điểm kiểm soát nhiều và đòi hỏi

kỹ thuật cao trong chụp và xử lý ảnh Những công cụ thường xây dựng DEMbằng phương pháp chụp ảnh lập thể sử dụng ảnh hàng không như ảnh vệ tinh(Hình 1 5) hay ảnh máy bay Đặc điểm của ảnh này là có thể kết hợp thông tinảnh của mặt đất kết hợp với mô hình số độ cao thành lập nên bản đồ 3 chiềuchân thực về lớp phủ Trái đất (Hình 1 6) Các dạng DEM phổ biến loại này làDEM xây dựng từ vệ tinh ASTER và DEM từ vệ tinh SPOT…

Trang 14

Hình 1 5: Hình minh họa vệ tinh chụp ảnh thu tín hiệu từ Trái Đất để tạo

DEM

Hình 1 6: Mô hình lớp phủ bề mặt đất trên nền DEM dạng 3D dựa trên công

nghệ chụp ảnh lập thể từ vệ tinh

Trang 15

I 2 1 2 Phương pháp xây dựng DEM từ đường đồng mức

Các bản đồ địa hình dưới dạng đường đồng mức thường được xây dựng từcác phương pháp quan trắc trắc địa được số hóa dưới dạng đường đồng mức,mỗi đường đồng mức thể hiện một giá trị cao độ trên bản đồ (Hình 1 7) Và vớiviệc sử dụng công nghệ của hệ thống thông tin địa lý GIS (GeographicInformation System) ta có thể xây dựng bản đồ mô hình số độ cao DEM từ cácbản đồ địa hình dạng đường đồng mức này bằng các phần mềm GIS nhưMapinfo, ArcGis…

Hình 1 7: Ví dụ minh họa bản đồ địa hình dạng đường đồng mức

Trang 16

Hình 1 8: Mô phỏng trình tự tạo DEM từ bản đồ địa hình đường đồng mức

I 2 1 3 Phương pháp tạo bản đồ DEM sử dụng công nghệ giao thoa Radar

Theo các phương pháp truyền thống, DEM được xây dựng chủ yếu dựatrên đường đồng mức của các các bản đồ đã được số hóa hoặc các kỹ thuật quansát lập thể của ảnh hàng không hay từ dữ liệu khảo sát địa hình thu được trựctiếp từ việc khảo sát thực địa của khu vực tương đối nhỏ Trong những năm gầnđây, radar khẩu độ tổng hợp SAR (Synthetic Aperture Radar) đã được phát triểnkhá mạnh với ưu thế cho phép thu ảnh có độ phân giải cao và từ hai ảnh thuđược bởi kỹ thuật SAR, có thể xây dựng được DEM dựa trên việc sử dụng thôngtin pha của tín hiệu radar

Nếu chúng ta có hai ảnh SAR được thu nhận từ 2 vị trí khác nhau của vệtinh nhưng cùng phủ một vùng diện tích trên mặt đất, giá trị pha của tín hiệurada cho bởi ảnh thứ nhất có thể đem đi trừ đi gía trị pha cho bởi ảnh thứ hai để

Trang 17

có được độ lệch pha của 2 ảnh SAR Ảnh mới tạo ra chứa độ lệch pha được gọi

là ảnh giao thoa Giá trị còn lại (độ lệch pha) cho bởi ảnh mới có thể kết hợp vớithông tin về quỹ đạo để xác định độ cao của mỗi pixel trên ảnh Kỹ thuật dựatrên độ lệch pha của tín hiệu radar để tính toán và xử lý ảnh được gọi là kỹ thuậtInSAR (giao thoa SAR - SAR interferometry)

Ứng dụng kỹ thuật InSAR trong xây dựng DEM đã được đưa ra lần đầutiên bởi Graham năm 1974 và kỹ thuật này được Zebker và Goldstein ứng dụngđầu tiên cho dữ liệu thu được từ bộ cảm SAR đặt trên máy bay vào năm 1986.Sau đó, kỹ thuật được tiếp tục phát triển bởi Li và Goldstein (1990), Rodriguez

và Martin (1992), Zebker (1994)… Các ảnh hiện nay nhận được từ các vệ tinhERS-1 và ERS-2, RADARSAT, JERS-1, ENVISAT đều cho phép sử dụng

kỹ thuật InSAR để xây dựng DEM (Hình 1 9)

Hình 1 9: Ví dụ sử dụng hai ảnh ERS SAR SLC (B = 117m) cho mục đích tạo

DEM

Trang 18

I 2 2 Ứng dụng của bản đồ mô hình số độ cao DEM

DEM là bản đồ dữ liệu đầu vào của các quá trình xử lý liên quan đến độ cao DEM sử dụng cho nhiều mục đích ứng dụng như sau:

- Tính toán độ dốc

- Tính hướng dốc

- Tính mức độ lồi lõm của sườn dốc

- Tính toán khối lượng đào đắp

- Tính độ dài sườn dốc

- Phân tích địa mạo của khu vực

- Xác định lưu vực và kiểu tưới tiêu của khu vực

Tất cả những mục đích ứng dụng kể trên của bản đồ mô hình số độ caoDEM đều là những ứng dụng nghiên cứu chung của nghiên cứu địa động lực.Điều đó thể hiện sự quan trọng của nguồn dữ liệu địa hình của mô hình số độcao DEM là rất quan trọng trong nghiên cứu địa động lực vỏ Trái đất

I 2 2 1 Tính toán độ dốc

Trong các nghiên cứu tai biến trượt lở của vỏ Trái đất không thể thiếuviệc tính đến thông số độ dốc của khu vực nghiên cứu để thành lập bản đồ độdốc từ đó có thể khoanh vùng các vùng có độ dốc lớn sẽ có nguy cơ trượt lở caohơn các vùng có độ dốc nhỏ Đây là một trong những thông tin chỉ tiêu đánh giáchính giúp các nhà nghiên cứu địa động lực có thể khoanh vùng các khu vực tai

Trang 19

biến và đưa ra những cảnh báo và biện pháp xử lý an toàn cho người dân khuvực(Hình 1 11)

Nguyên lý tính độ dốc trên DEM như sau:

Trên hình 1 10 là minh họa việc tính độ dốc cho từng pixel ảnh thì việctính toán độ dốc trên DEM được tính như sau:

Hình 1 10: Minh họa pixel ảnh trên DEM cho tính toán độ dốc

Đầu tiên, sự thay đổi độ cao trung bình trên mỗi đơn vị khoảng cách theo

trục x và trục y ( và ) được tính như sau:

Trang 20

Trong đó: a…i là giá trị độ cao của các pixel trong ma trận hình 1 10 ;

là kích thước của pixel theo trục x =30 m ; là kích thước theo trục y = 30m (vídụ về DEM có độ phân giải 30m/pixel ảnh

Khi đó độ dốc của pixel x, y được tính theo công thức:

(6)

Nếu thì độ dốc % = s × 100

Nếu thì độ dốc %=200 – 100/s

Độ dốc theo độ = arctan-1 (s) × 180/

Trang 21

Ví dụ: tính độ dốc pixel x, y theo ma trận điểm ảnh bảng 1 1:

Vì : Độ dốc (%) = 0, 0967 × 100 =9, 67%

Độ dốc (độ) = arctan-1 (s) × 180/π = tan-1(0, 0967) × 57, 30 = 5, 54

Trang 22

Hình 1 11: Ví dụ về bản đồ độ dốc được tính từ bản đồ DEM

I 2 2 2 Tính hướng dốc

Đi cùng với tính toán độ dốc thì việc tính toán hướng dốc cũng là điềukhông thể thiếu trong đánh giá tai biến địa chất Nó giúp các nhà nghiên cứu địađộng lực biết được hướng dốc trên bản đồ giúp các nhà nghiên cứu phân tíchđược hướng nguy cơ trượt lở theo phương nào trên bản đồ, từ đó đưa ra đượcnhững phán đoán phân tích chính xác trong việc phòng tránh tai biến trượt lởcủa đất đá (Hình 1 13)…

Trang 23

Hình 1 12: Minh họa pixel độ dốc trên bản đồ cho tính toán hướng dốc

Tính toán hướng dốc dựa trên DEM minh họa trên hình 1 12 như sau:

Trang 24

Ví dụ: Tính hướng dốc theo ví dụ pixel như bảng 1 1:

Có:

Như vậy hướng dốc bằng 180 + (theo độ)

1, 98 radian = 113, 60Vậy hướng dốc = 180 + 113, 6 = 293, 60

Hình 1 13: Ví dụ bản đồ minh họa tính hướng dốc dựa trên DEM

I 2 2 3 Ứng dụng trong phân tích địa mạo-kiến tạo

Trong phân tích địa mạo kiến tạo thì bản đồ mô hình số độ cao DEM có ýnghĩa ứng dụng không thể thiếu trong nghiên cứu, bản đồ DEM là loại bản đồ

Trang 25

toàn diện nhất tổng quát địa hình cho khu vực nghiên cứu dưới dạng trực quankhông gian 2 chiều hay 3 chiều Giúp các nhà địa mạo kiến tạo có thể dễ dàngphân tích được các đặc điểm kiến tạo địa mạo trên nó bằng mắt thường và có thểứng dụng trực tiếp trên nó thể hiện những đứt gãy, Lineament kiến tạo… trênnhững bản đồ chồng lên nó

Lineament: Là những đường dạng tuyến thể hiện đứt gãy kiến tạo hay

những đặc tính dạng đường, tuyến thể hiện trên bản đồ DEM, việc phân tíchLineament trên DEM giúp nhà nghiên cứu địa động lực phát hiện những đới pháhủy kiến tạo, phân tích được mật độ Lineament giúp phân định được nhữngvùng phá hủy mạnh hay yếu, phân tích những đới dập vỡ của đất đá…

Trang 26

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU (TÂY NGUYÊN)

Trong việc xây dựng bản đồ mô hình số độ cao (DEM) cho mục đíchnghiên cứu địa động lực thì trong phạm vi địa động lực chủ yếu quan tâm tới địamạo và kiến tạo khu vực Phạm vi của đồ án tốt nghiệp này là xây dựng bản đồDEM cho khu vực Tây nguyên cho nên việc khái quát địa mạo và địa chất-kiếntạo khu vực Tây nguyên dựa trên những tài liệu địa chất khu vực là quan trọngdùng để so sánh đánh giá với kết quả bản đồ mô hình số độ cao DEM khu vựcxử lý sau này

II 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO KHU VỰC TÂY NGUYÊN VÀ LÂN CẬN

Khu vực Tây Nguyên và lân cận đã được phân chia thành các lớp và phụlớp sau:

1 Lớp núi tái sinh trên vùng nâng tân kiến tạo cường độ khác nhau

 Phụ lớp núi kiến tạo bóc mòn và cấu trúc bóc mòn

 Phụ lớp núi thạch học bóc mòn và thạch học và rửa lũa

 Phụ lớp núi bóc mòn xâm thực, gồm các kiểu địa hình

 Phụ lớp trũng và thung lũng giữa núi xâm thực - tích tụ

2 Lớp cao nguyên, sơn nguyên trên vùng nâng tân kiến tạo yếu và trung bình

Trang 27

 Phụ lớp cao nguyên, sơn nguyên bóc mòn

 Phụ lớp cao nguyên xâm thực-rửa trôi

3 Lớp đồi trên đới chuyển tiếp nâng và hạ tân kiến tạo

 Phụ lớp đồi bóc mòn, gồm có dạng địa hình

 Phụ lớp đồi xâm thực rửa trôi

4 Lớp đồng bằng trên rìa vùng nâng và hạ tân kiến tạo

 Đồng bằng bóc mòn, xâm thực - tích tụ

 Đồng bằng tích tụ

Đặc điểm của từng kiểu, dạng địa hình trong các phụ lớp và lớp đượctrình bầy ở phần tiếp theo

Đặc điểm các dạng địa hình:

Đặc điểm của những đơn vị địa mạo, được trình bầy theo cấu trúc chungvới chú giải bản đồ Đó là các kiểu địa hình được nhóm lại trong dạng địa hình,

và theo nguồn gốc hình thái để tổng hợp lên phụ lớp và lớp

Các dạng địa hình là đơn vị cơ bản trên bản đồ địa mạo, không những thểhiện nguồn gốc, hình thái của các dạng địa hình, cũng như quá trình ngoại sinhthống trị mà chúng còn thể hiện cả mối tương quan năng lượng địa hình với cácmực địa hình cơ sở khu vực thông qua chỉ số độ cao tương đối của chúng Do

Trang 28

vậy, chỉ số độ cao được dùng trong báo cáo này luôn được dùng để chỉ về độ caotương đối so sánh giữa các dạng địa hình với mực xâm thực cơ sở địa phương

Lớp núi tái sinh trên vùng nâng tân kiến tạo cường độ khác nhau (từ

1 đến 12)

* Phụ lớp núi kiến tạo bóc mòn và cấu trúc bóc mòn

Phụ lớp được chia thành hai dạng địa hình, gồm:

1 Dãy núi thấp bóc mòn kiến tạo trên cấu trúc dạng địa luỹ, cấu tạo chủ yếu bởi đá biến chất

Theo độ cao, dạng địa hình này lại được chia thành ba kiểu tương ứng vớicác bậc độ cao từ 200 -1000m, 1000 - 2000m và trên 2000m Chúng phân bố tậptrung ở vùng núi cao ở gờ nâng phía đông của các cao nguyên Dạng địa hìnhnày bị chia cắt trung bình, sườn dốc đến dốc thoải với quá trình sườn thống trịtrượt lở, và di đẩy (de flucxi)

Với đặc điểm cấu tạo bởi đá gốc biến chất, cùng với hoạt động phong hoáđã tạo cho lớp phủ bề mặt ở đây có tầng phong hoá khá dày, kết cấu tương đốiyếu và trở thành những vùng tiềm năng sạt trượt mạnh

2 Dãy và khối núi bóc mòn - cấu trúc trên cấu trúc dạng vòm khối tảng, cấu tạo chủ yếu là đá phun trào và trầm tích phun trào

Trang 29

Dạng địa hình này cũng được chia thành hai kiểu (2a và 2b) ở các cấp độcao 2000- 1000m và 1000- 2000m Chúng phân bố thành những chỏm nhỏ códiện tích hạn chế tại các khu vực như xã Thuận Ninh, Phan Điểu, Phan Điền(Ninh Thuận- Bình Thuận), Huyện Sa Thầy (Kon Tum), khối núi Vĩnh Lương,Suối Cát (Nha Trang) Đặc điểm của dạng địa hình này là độ chia cắt từ mạnhđến trung bình, sườn dốc với quá trình sườn thống trị: đổ vỡ, sập lở

Những khối núi trong dạng địa hình này tạo thành những khối nổi cao trênbề mặt địa hình chung, và phần nào làm cản trở đến tính thuận lợi của các côngtrình xây dựng, nhất là với đường giao thông Tuy các quá trình ngoại sinh ở đâychủ yếu là trọng lực nhanh, song diện phân bố hạn chế nên có thể có những biệnpháp phòng tránh và khắc phục được

* Phụ lớp Núi thạch học bóc mòn- rửa lũa

3 Dãy, khối núi bóc mòn - thạch học trên cấu trúc dạng vòm, vòm địa luỹ cấu tạo chủ yếu bởi đá Macma xâm nhập, granit

Tuy có cùng chung đặc điểm là những khối núi, dãy núi có cấu trúc địaluỹ với thành phần chủ yếu là đã mắc ma xâm nhập granit, song với chỉ tiêu mựcđịa hình có thể phân chia thành 3 kiểu địa hình (3a, 3b và 3c) tương ứng với cáccấp độ cao từ 200-1000m, 1000-2000m và trên 2000m

Dạng địa hình trên phân bố khá phổ biến trong khu vực nghiên cứu, dướidạng gờ nâng phía đông của các cao nguyên, cũng như những khối núi nâng

Trang 30

vòm (như dãy Chư Yang Sin và một số khối núi granit đồ sộ khác) Tuy vậy, sựphân bố của dạng địa hình này tuân theo quy luật giảm dần mực địa hình từ bắcvào nam và từ trung tâm gờ nâng rìa đông cao nguyên sang hai phía

Đặc điểm của dạng địa hình là bị chia cắt mạnh, sườn dốc: với quá trìnhsườn thống trị: đổ vỡ, sập lở Do chiếm diện tích khá lớn, với loại hình khối núilớn, đá gốc rắn chắc nên các kiểu địa hình này tạo ra những trở ngại nhất địnhđối với công trình xây dựng, đồng thời những nguy cơ tai biến trọng lực nhanhcũng cần phải được xem xét để đảm bảo tính an toàn khi vận hành các côngtrình xây dựng hạ tầng cơ sở trên phần diện tích của dạng địa hình này

4 Khối núi bóc mòn-rửa lũa trên cấu trúc dạng khối tảng, cấu tạo bởi đá cát kết, bột kết chứa vôi, bị chia cắt mạnh đến trung bình

Dạng địa hình trên phân bố hạn chế, diện tích nhỏ hẹp dưới dạng nhữngkhối núi bóc lộ Đặc điểm của chúng là sườn dốc đứng đến trung bình với quátrình ngoại sinh thống trị gồm đổ lở, rửa lũa và đôi chỗ phát triển cả dạng sườntrọng lực chậm

* Phụ lớp núi bóc xâm thực- bóc mòn

So với những phục lớp địa hình đã mô tả ở trên, thì phụ lớp này được coinhư là bước chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống đồng bằng qua các dạng địa hìnhđồi núi mềm mại hơn Trong đó được chia làm 3 dạng chính là dạng địa hình 5(gồm 5a và 5b), dạng 6 (gồm 6a và 6b) và dạng 7

Trang 31

5 Dãy núi xâm thực-bóc mòn trên cấu trúc dạng uốn nếp, uốn nếp khối tảng, cấu tạo chủ yếu bởi đá trầm tích lục nguyên

Dạng địa hình được chia thành hai kiểu địa hình 5a và 5b ở các mực độcao tương ứng 200-1000m và 1000-2000m

Dạng địa hình này được hình thành do vận động kiến tạo hình thành nênnhững nếp uốn lớn dạng khối tảng đối với những thực thể đá trầm tích lụcnguyên và tạo điều kiện phát sinh các thuộc tính của dạng địa hình này Về cơbản, dạng địa hình của những đồi núi thuộc dạng địa hình này có sườn dốc đếnthoải, và bị chia cắt từ trung bình đến yếu Quá trình ngoại sinh thống trị ở đây

là di đẩy và rửa trôi xói rửa bề mặt

Diện phân bố của dạng địa hình 5 hạn chế, thể hiện dưới dạng một vàikhối núi, núi đồi như ở vùng tây Quảng Nam, phía tây xã Ma Lới (Ninh Thuận)

6 Khối núi xâm thực trên cấu trúc nếp oằn, cấu tạo chủ yếu bởi đá trầm tích và trầm tích phun trào

Đơn vị dạng địa hình 6 được chia thành hai kiểu 6a (mực độ cao 1000m) và 6b (mực độ cao 1000-2000m), phân bố thành những dải dài theophương cấu trúc địa chất nhưng nhìn chung là với diện tích phân bố rất hạn chế.Thành phần thạch học của chúng phản ánh điều kiện thành tạo trong giai đoạnhoạt hóa kiến tạo, với chế độ cổ địa lý chuyển đổi từ biển sang lục địa

Trang 32

200-Dạng địa hình có đặc điểm là các sườn của nó bị chia cắt mạnh đến trungbình, độ số của sườn khá lớn và kết hợp với đặc điểm vỏ phong hoá, đá nền đãtạo ra cho vùng có đặc trưng quá trình ngoại sinh thống trị gồm xâm thực, đổ vỡ,sập lở Đó chính là những quá trình địa động lực trọng lực nhanh và cần phảiđược quan tâm đúng mức khi bố trí các công trình kinh tế xã hội trên khu vựcnày

7 Khối núi bóc mòn trên các cấu trúc khác nhau, độ cao xấp xỉ 200m

100-Dạng địa hình này thường thể hiện dưới dạng những khối núi, núi- đồi cótính rải rác ở khu vực ven biển và dạng núi đồi sót trên bề mặt bằng phẳng củađồng bằng sông Cửu Long

Dạng địa hình 7 được hình thành trên các cấu trúc nâng hạ khác nhau, vàthành phần đá nền cũng có sự biến đổi lớn, từ những vật liệu trầm tích, trầm tíchphun trào đến các thành tạo cacbonat (địa hình núi đá vôi Pecmi già ở vùng HàTiên) Bề mặt các sườn đồi núi thuộc dạng địa hình trên bị chia cắt trung bìnhyếu với sườn dốc thoải và phát triển quá trình sườn tổng hợp

* Phụ lớp trũng và thung lũng giữa núi xâm thực - tích tụ

8 Thung lũng, trũng giữa núi kiến tạo-xâm thực với bề mặt dạng đồi và dãy đồi

Trang 33

Dạng địa hình 8 phân bố ở mực độ cao 20-100m, dọc theo các dòng chảylớn được định hướng do các vận động kiến tạo Các khu vực điển hình của dạngđịa hình này bao gồm các trũng thung lũng giữa núi của sông Thu Bồn- TràKhúc, và sông Ba

Cấu tạo đá nền của dạng địa hình được hình thành từ những tập đá có tuổitrước Kanozoi, và bề mặt hiện tại được làm phong phú thêm bởi những vật liệulắng động trầm tích, sườn tích trong thời kỳ đệ tứ

Hình thái chung của dạng địa hình là tập hợp của những đồi và dãy đồixen kẽ với những trũng, thung lũng xâm thực, xâm thực- tích tụ ở đây quá trìnhngoại sinh thống trị bao gồm xâm thực khe rãnh, mương xói và xói rửa bề mặt,

và một số nơi phát triển quá trình sườn trọng lực chậm

9 Thung lũng, trũng kiến tạo-xâm thực với bề mặt dạng đồi phân bậc

Dạng địa hình 9 được hình thành liên quan đến chế độ vận động tân kiếntạo trong bối cảnh tương quan tới điều kiện thành tạo địa chất khu vực Đặcđiểm chung của dạng địa hình này là bề mặt được phủ bởi trầm tích Neogen-Đệtứ, tạo thành những dải đồi phân bậc theo đai cao nhưng vẫn nằm trong khoảnđộ cao 100-200m Bề mặt địa hình tương đối mềm mại, độ chia cắt ở mức trungbình đến yếu Quá trình ngoại sinh thống trị tại khu vực của dạng địa hình nàygồm rửa trôi, xói rửa

Trang 34

Trong phạm vi nghiên cứu, dạng địa hình 9 tập trung ở các khu vực TràBằng (Quảng Ngãi), Thị xã Kon Tum và Mô Rai nhưng với tổng diện tích hạnchế Đối với dạng địa hình này, nền địa chất khá ổn định và các quá trình ngoạisinh gây ảnh hưởng tới xấu tới các hoạt động của con người có cường độ nhỏ,nên chúng được đánh giá là dạng địa hình khá thuận lợi cho phát triển kinh tế xãhội và các công trình hạ tầng cơ sở

* Phụ lớp trũng và thung lũng giữa núi xâm thực - tích tụ

10 Thung lũng, trũng xâm thực-bóc mòn với bề mặt dạng đồi và dãy đồi

Các thung lũng máng trũng xâm thực bóc mòn trên được cấu tạo bởi bởicác loại đá khác nhau, nhưng chủ yếu là đá trầm tích và trầm tích biến chấtthuộc các hệ tầng khác nhau Độ cao phân bố dao động trong khoảng 100m đến200m Bản chất nguyên thuỷ của dạng địa hình này là những bề mặt san bằngtrước núi cổ, bị các quá trình ngoại sinh xâm thực, bóc mòn hình thành nên địahình hiện đại dưới dạng các đồi và dãy đồi kế tiếp nhau

Diện tính của dạng địa hình khá lớn, chúng phân bố tập trung ở các khuvực vùng núi- cao nguyên phía bắc vĩ tuyến 13O, dọc theo các thung lũng sôngchính trong vùng Hình thái của dạng địa hình bị chia cắt ở mức độ trung bình,với quá trình ngoại sinh thống trị là rửa trôi, xói rửa

11 Thung lũng xâm thực dạng đáy hẹp

Trang 35

Do phát triển bởi hoạt động của hệ thống dòng chảy mang động lực đàolòng là chính nên bề mặt đáy của dạng địa hình trên được cấu tạo bởi đá gốckhác nhau, và đôi chỗ, tại những điểm mực cơ sở xâm thực địa phương đượcnâng cao (ví dụ thác, ghềnh) thì có thể phát triển các tích tụ aluvi

Diện phân bố của dạng địa hình dưới dạng nhỏ hẹp, kéo dài dọc theo cácthung lũng sông suối, với độ dốc dọc lòng sông lớn Điển hình của dạng địa hìnhnhư dọc thung lũng Đăk Môn (KonTum), thung lũng Sông Bé (Đồng Nai).Ngoài ra tại nhiều nơi cũng phát triển dạng địa hình này Độ cao của dạng địahình dao động trong khoảng 20m đến 100m

12 Cao nguyên bóc mòn trên cấu trúc vòm khối tảng

Dựa vào chỉ tiêu độ cao phân bố, dạng địa hình này cũng được chia thànhhai kiểu 12a và 12b ở các mực độ cao tương ứng 200- 1000m và 1000- 2000m.Chúng phân bố ở trong khoảng vĩ tuyến 11o đến 15o VĐB, điển hình cho kiểu12a ở các khu vực Mâng Cành (Kon Plong- Kon Tum), Tam Giang (KrôngNăng), Eaba (Sông Hinh) Kiểu 12b tập trung tại một số nơi như ở Phước Tiên,Quang Sơn (Ninh Sơn), Hạ Đông (Măng Yang- Gia Rai), Hiếu (Kon Plông- KonTum)

Thành tạo địa chất của dạng địa hình này bao gồm các loại đá biến chất vàtrầm tích lục nguyên Đặc điểm địa hình của chúng dưới dạng bề mặt dạng đồi

Trang 36

và dãy đồi, có độ chia cắt ở cấp trung bình Quá trình ngoại sinh thống trị gồmrửa trôi, xói rửa

Lớp cao nguyên, sơn nguyên trên vùng nâng tân kiến tạo yếu và trung bình (gồm các dạng địa hình từ số ký hiệu 13 đến 17)

* Phụ lớp Cao nguyên, sơn nguyên bóc mòn (gồm dạng địa hình từ 13

đến 15)

13 Cao nguyên núi lửa cổ trên cấu trúc vòm khối tảng

Đơn vị dạng địa hình 13 được chia thành hai kiểu địa hình 13a (độ cao200-1000m) và 13b (độ cao 1000-2000m) Kiểu 13a phân bố ở bề mặt caonguyên Ia Kô- Chư Ty- Ia Ka, Ninh Hưng- Đắc Ơ- Thuận Hạnh, Tân Hà- TânHội- Hiệp Thành, Ea Wy- Ea Nam- Dle Ya Còn Kiểu 13b, so với kiểu 13b thìchiếm phần diện tích nhỏ hơn nhiều, nhưng lại ở độ cao lớn hơn, như ở các khuvực Lạc Lâm- Đa Chay, Bảo Lộc

Đặc điểm của dạng địa hình trên là được cấu thành bởi đá macma phuntrào bazan trong giai đoạn kainozoi, và cùng với quá trình ngoại sinh đã hìnhthành nên các bề mặt dạng dãy đồi và dạng vòm bị chia cắt trung bình đến yếu.Quá trình ngoại sinh thống trị gồm xâm thực mương xói, rãnh xói và rửa trôi bềmặt

14 Cao nguyên núi lửa trẻ trên cấu trúc vòm khối tảng

Trang 37

Dạng địa hình cao nguyên núi lửa 14 được phân biệt với dạng 13 bởi tínhnguyên thuỷ thành tạo nội sinh của chúng được bảo tồn tốt, hơn nữa những vậtliệu địa chất bazan cấu thành cũng được xác định có tuổi trẻ hơn- vào giai đoạncuối Neogen đầu Đệ tứ

Về hình thái, chúng là những bề mặt bazan trẻ, dưới dạng vòm phủ và đôichỗ có dạng dòng chảy Bề mặt của chúng khá bằng thoải, ít bị phân cắt và ở rìatiếp giáp với những dạng địa hình khác thường được thể hiện bằng một “vách”bậc cao địa hình với độ cao khoảng 10 - 20m Quá trình ngoại sinh thống trị diễn

ra trên dạng địa hình này chủ yếu là rửa trôi bề mặt Xét về mực địa hình phânbố, dạng địa hình 14 cũng được phân thành hai dạng 14a (ở độ cao trong khoảng

20 -100m) và 14b (trong khoảng 100- 200m)

Diện phân bố của dạng địa hình 14 bậc cao (14b) tập trung ở bề mặt caonguyên bazan trẻ khu thị xã Pleicu So với bậc 14b, thì bậc thấp hơn (14a) códiện phân bố lớn hơn nhiều và tạo thành những bề mặt bazan mà lớn nhất ở bềmặt Đắk Lắk- Buôn Ma Thuột, và rải rác ở một số nơi khác như ở An Lộc, LộcHoà (Bình Phước), Tiên Hoàng, Quảng Khê (Lâm Đồng)

Lớp đồi trên đới chuyển tiếp nâng và hạ tân kiến tạo (gồm dạng 15 và

16)

* Phụ lớp đồi bóc mòn

15 Đồi xâm thực dạng bóc mòn dạng bát úp

Trang 38

Dạng địa hình phát triển trên các cấu trúc địa chất khác nhau với cácthành tạo đá trầm tích, trầm tích biến chất vùng đồi núi lưu vực sông Thu Bồn-Trà Khúc, và diện tích phân bố nhỏ trong tương quan với các dạng địa hìnhkhác Về mặt hình thái, chúng là những đồi bát úp có độ cao từ cao đến trungbình và với sườn dốc lồi Dựa vào độ cao tương đối có thể chia dạng địa hình 15thành hai kiểu địa hình 15a (độ cao tương đối 20-100m) và 15b (độ cao tươngđối 100-200m) Quá trình ngoại sinh thống trị: rửa trôi, xói rửa

Diện phân bố của dạng địa hình 15, bậc cao (15b) ở ven rìa phía đông bắcvùng Tây Nguyên tại xã Tam Thái- Tam Dân (Quảng Nam); bậc thấp (15a) tạivùng đồi Hoà Phú (Đà Nẵng), Duy Hoà Quế Xuân, Quế Thọ (Quảng Nam)

* Phụ lớp đồi xâm thực rửa trôi

16 Đồi xâm thực dạng dãy với sườn lõm thoải

Dạng địa hình 16, nhìn tổng thể như là đới chuyển tiếp từ vùng caonguyên xuống bề mặt đồng bằng sông Cửu Long, hay với vai trò đới chuyển bậcnăng lượng địa hình

Hình thái của dạng địa hình là những dãy đồi sườn lõm thoải, được hìnhthành bởi quá trình xâm thực mương rãnh phát triển cắt xẻ vào bề mặt cổ Chúngđược cấu tạo bởi các loại đá khác nhau và trên các cấu trúc khác nhau Hiện tạidạng địa hình này đang bị biến đổi mạnh bởi quá trình xâm thực mương xói, vàrửa trôi bề mặt

Trang 39

Theo tương quan độ cao tương đối dạng địa hình 16 cũng được tách rathành hai kiểu địa hình thấp (16a với độ cao 10-20m) và cao (20-100m) Diệnphân bố của kiểu địa hình thấp điển hình ở các khu vực Giang Bình- Bình Sơn-Châu Pha (Đồng Nai), Tân Hà- Tân Hoà- Hưng Hoà (Bình Dương) Với dạngđịa hình cao, chúng tập trung tại khu vực phía bắc Đồng Nai và nam-tây namBình Thuận, và tây nam tỉnh Bình Phước

Lớp đồng bằng trên rìa vùng nâng và hạ tân kiến tạo (gồm các dạng

địa hình từ số ký hiệu 17 đến 23)

Trong phạm vị khu vực nghiên cứu, đơn vị địa hình này chiếm một diệntích nhỏ, và phân bố ở những địa phương sau: kiểu địa hình 17a, tại vùng CátLâm- Cát Hiệp (Bình Định), Phổ Phong- Đức Phú (Quảng Ngãi), Quế An- QuếHiệp, Đại Thắng- Hoà Nhơn (Quảng Nam); kiểu địa hình 17b, tập trung tại vùng

Trang 40

Ya Bung- Ya Tơ Mốt (Đắc Lắc), ngoài ra còn một số diện nhỏ ở Xuân Xuân Quang (Phú Yên), và ở phía nam Phổ Khánh (Quảng Ngãi)

Lãnh-Hiện tại dạng địa hình này đang bị biến đổi bởi quá trình rửa trôi bề mặt,xói rửa, nhưng cường độ của các quá trình ngoại sinh chỉ diễn ra ở mức độ trungbình yếu

18 Đồng bằng mài mòn-xâm thực-tích tụ đa nguồn gốc

Dạng địa hình này cũng được chia thành hai kiểu là 18a có độ cao tươngđối 5-10m và 18b với độ cao 10- 20m Về hình thái, chúng có dạng các bề mặtphân bậc nghiêng thoải phát triển trên những cấu trúc khác nhau

Diện phân bố của dạng địa hình này chiếm phần lớn diện tích đồng bằngven biển từ Đà Nẵng vào đến Bình Thuận, và kiểu 18a chiếm phần thấp, cònkiểu 18b chiếm phần cao

Hiện tại những bề mặt thuộc dạng địa hình này là những đối tượng canhtác nông nghiệp chính tại những địa phương ven biển, do đó lớp đất mặt luôn bịđào xới, hơn nữa cấu trúc đất gắn kết kém và chính đó là những nhân tố làm chodạng địa hình này đang bị biến đổi mạnh bởi quá trình rửa trôi, xói rửa bề mặt

19 Đồng bằng xâm thực-tích tụ aluvi lượn sóng, nghiêng thoải trên các cấu trúc khác nhau

Ngày đăng: 09/05/2015, 09:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Cung Thường Chí và những người khác (1996), "Cổ từ bazan Neogen muộn ở Việt Nam và Thái Lan: mối liên quan với lịch sử kiến tạo Đệ tam của Đông Dương", Địa chất Tài nguyên, tập 2, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr.336-351, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ từ bazan Neogen muộnở Việt Nam và Thái Lan: mối liên quan với lịch sử kiến tạo Đệ tam củaĐông Dương
Tác giả: Cung Thường Chí và những người khác
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1996
[2] Cung Thường Chí và những người khác (1996), "Cổ từ bazan Neogen muộn ở Việt Nam và Thái Lan: mối liên quan với lịch sử kiến tạo Đệ tam của Đông Dương", Địa chất Tài nguyên, tập 2, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr.336-351, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ từ bazan Neogen muộnở Việt Nam và Thái Lan: mối liên quan với lịch sử kiến tạo Đệ tam củaĐông Dương
Tác giả: Cung Thường Chí và những người khác
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1996
[3] Đặng Văn Bào, Nguyễn Vi Dân (1996), "Lịch sử phát triển địa hình dải đồng bằng ven biển Huế - Quảng Ngãi", Chuyên san Địa lý, Tạp chí Khoa học, tr. 7-14, Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phát triển địa hình dảiđồng bằng ven biển Huế - Quảng Ngãi
Tác giả: Đặng Văn Bào, Nguyễn Vi Dân
Năm: 1996
[4] Hoàng Anh Khiển và những người khác (1984), "Lineamen lãnh thổ Việt Nam", Tuyển tập Địa chất và Khoáng sản, tập 2, tr. 311-318, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lineamen lãnh thổ ViệtNam
Tác giả: Hoàng Anh Khiển và những người khác
Năm: 1984
[5] Hoàng Hữu Quý (1995), "Vài nét về mối tương quan giữa cấu trúc địa chất, magma kiến tạo với các nguồn địa nhiệt ở miền Nam Trung Bộ", Báo cáo Hội nghị Khoa học địa chất Việt Nam lần thứ 3, 4-5/10/1995, tr. 257-262, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về mối tương quan giữa cấu trúc địa chất,magma kiến tạo với các nguồn địa nhiệt ở miền Nam Trung Bộ
Tác giả: Hoàng Hữu Quý
Năm: 1995
[9] Lê Đức An (1990), "Vài đặc điểm Tân kiến tạo bán đảo Đông Dương (trên cơ sở nghiên cứu địa hình)", Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất (các công trình nghiên cứu 1986-1990), tr. 74-78, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài đặc điểm Tân kiến tạo bán đảo Đông Dương (trêncơ sở nghiên cứu địa hình)
Tác giả: Lê Đức An
Năm: 1990
[10] Lê Đức An, Ma Công Cọ (1981), "Mặt san bằng Nam Việt Nam", Tạp chí Địa chất, (số 153), tr. 8-12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt san bằng Nam Việt Nam
Tác giả: Lê Đức An, Ma Công Cọ
Năm: 1981
[13] Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng (1982), "Kiến tạo Việt Nam", Tuyển tập Các công trình nghiên cứu Viện Các Khoa học về Trái Đất, Viện Khoa học Việt Nam, tr. 17-34, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến tạo Việt Nam
Tác giả: Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng
Năm: 1982
[14] Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng (1982), "Kiến tạo Việt Nam", Tuyển tập Các công trình nghiên cứu Viện Các Khoa học về Trái Đất, Viện Khoa học Việt Nam, tr. 17-34, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến tạo Việt Nam
Tác giả: Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng
Năm: 1982
[15] Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng (1990), "Về phân vùng cấu trúc thềm lục địa Việt Nam và các miền kế cận", Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất (các công trình nghiên cứu 1986-1990), tr. 65-73, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phân vùng cấu trúc thềm lụcđịa Việt Nam và các miền kế cận
Tác giả: Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng
Năm: 1990
[19] Nguyễn Cẩn (1984), "Đặc điểm địa chấn-kiến tạo Việt Nam", Tạp chí Địa chất, (số 163), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa chấn-kiến tạo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cẩn
Năm: 1984
[20] Nguyễn Cẩn (1984), "Đặc điểm địa chấn-kiến tạo Việt Nam", Tạp chí Địa chất, (số 163), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa chấn-kiến tạo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cẩn
Năm: 1984
[22] Nguyễn Địch Dỹ và những người khác (1996), "Địa chất Đệ Tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan", Báo cáo đề tài KT.01.07, BộKHCN&MT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Đệ Tứ và đánhgiá tiềm năng khoáng sản liên quan
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ và những người khác
Năm: 1996
[23] Nguyễn Địch Dỹ và những người khác (1996), "Địa chất Đệ Tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan", Báo cáo đề tài KT.01.07, BộKHCN&MT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Đệ Tứ và đánhgiá tiềm năng khoáng sản liên quan
Tác giả: Nguyễn Địch Dỹ và những người khác
Năm: 1996
[24] Nguyễn Hoàng và những người khác (1996), "Vấn đề động lực hình thành magma bazan Kainozoi Việt Nam qua kết quả nghiên cứu thành phần nguyên tố vết và đồng vị", Địa chất Tài nguyên, tập 1, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr. 156-166, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề động lực hình thànhmagma bazan Kainozoi Việt Nam qua kết quả nghiên cứu thành phầnnguyên tố vết và đồng vị
Tác giả: Nguyễn Hoàng và những người khác
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹthuật
Năm: 1996
[25] Nguyễn Hoàng và những người khác (1996), "Vấn đề động lực hình thành magma bazan Kainozoi Việt Nam qua kết quả nghiên cứu thành phần nguyên tố vết và đồng vị", Địa chất Tài nguyên, tập 1, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr. 156-166, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề động lực hình thànhmagma bazan Kainozoi Việt Nam qua kết quả nghiên cứu thành phầnnguyên tố vết và đồng vị
Tác giả: Nguyễn Hoàng và những người khác
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹthuật
Năm: 1996
[26] Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Trọng Yêm (1991), "Nghiên cứu một sốđứt gãy kiến tạo ở nước ta bằng phương pháp phân tích dải khe nứt", Tạp chí Địa chất (số 202, 203), tr. 60-63, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một sốđứt gãy kiến tạo ở nước ta bằng phương pháp phân tích dải khe nứt
Tác giả: Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Trọng Yêm
Năm: 1991
[27] Nguyễn Xuân Đạo (1986), Mặt san bằng Nam Trung Bộ, Luận án Phótiến sĩ khoa học Địa lý - Địa chất, Viện Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Đạo (1986), "Mặt san bằng Nam Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Xuân Đạo
Năm: 1986
[28] Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Trọng Yêm (1991), "Hoạt động núi lửa Kainozoi muộn phần lục địa Nam Trung Bộ", Tạp chí Địa chất (số 202, 203), tr. 33-41, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động núi lửaKainozoi muộn phần lục địa Nam Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Trọng Yêm
Năm: 1991
[29] Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Trọng Yêm (1991), "Hoạt động núi lửa Kainozoi muộn phần lục địa Nam Trung Bộ", Tạp chí Địa chất (số 202, 203), tr. 33-41, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động núi lửaKainozoi muộn phần lục địa Nam Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Trọng Yêm
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 2: Ví dụ về bản đồ mô hình DEM dạng Raster. - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 1. 2: Ví dụ về bản đồ mô hình DEM dạng Raster (Trang 10)
Hình 1. 5: Hình minh họa vệ tinh chụp ảnh thu tín hiệu từ Trái Đất để tạo - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 1. 5: Hình minh họa vệ tinh chụp ảnh thu tín hiệu từ Trái Đất để tạo (Trang 14)
Hình 1. 10: Minh họa pixel ảnh trên DEM cho tính toán độ dốc - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 1. 10: Minh họa pixel ảnh trên DEM cho tính toán độ dốc (Trang 19)
Hình 2. 3:Sơ đồ kiến tạo Pliocen-đệ tứ khu vực Tây nguyên, thu nhỏ từ tỉ lệ - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 2. 3:Sơ đồ kiến tạo Pliocen-đệ tứ khu vực Tây nguyên, thu nhỏ từ tỉ lệ (Trang 66)
Hình 3. 1: Giao diện tìm kiếm dữ liệu DEM trên trang web của ERSDAC - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 1: Giao diện tìm kiếm dữ liệu DEM trên trang web của ERSDAC (Trang 70)
Hình 3. 2: Lựa chọn các vùng để tải dữ liệu DEM khu vực Tây Nguyên trên - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 2: Lựa chọn các vùng để tải dữ liệu DEM khu vực Tây Nguyên trên (Trang 71)
Hình 3. 3: Danh mục các file sẽ được tải về trên trang tìm kiếm của ERSDAC - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 3: Danh mục các file sẽ được tải về trên trang tìm kiếm của ERSDAC (Trang 72)
Hình 3. 6: Giao diện trang web dùng để tải dữ liệu DEM của USGS - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 6: Giao diện trang web dùng để tải dữ liệu DEM của USGS (Trang 75)
Hình 3. 7: Giao diện khu vực lấy dữ liệu ASTER GDEM cho khu vực Tây - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 7: Giao diện khu vực lấy dữ liệu ASTER GDEM cho khu vực Tây (Trang 76)
Hình 3. 9: Lựa chọn loại dữ liệu DEM cho khu vực Tây Nguyên trên web USGS - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 9: Lựa chọn loại dữ liệu DEM cho khu vực Tây Nguyên trên web USGS (Trang 77)
Hình 3. 11: Minh họa các kiểu đồ họa chính trong Mapinfo - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 11: Minh họa các kiểu đồ họa chính trong Mapinfo (Trang 80)
Hình 3. 12: Giao diện Mapinfo - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 12: Giao diện Mapinfo (Trang 86)
Hình 3. 13: Giao diện đồ họa của Vertical Mapper trong Mapinfo - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 3. 13: Giao diện đồ họa của Vertical Mapper trong Mapinfo (Trang 88)
Hình 4. 3: Cửa sổ đồ họa hiện thị DEM 30m khu vực Tây Nguyên chưa qua xử - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 4. 3: Cửa sổ đồ họa hiện thị DEM 30m khu vực Tây Nguyên chưa qua xử (Trang 91)
Hình 4. 4: So sánh vị trí DEM Tây Nguyên 30m với đường bờ Việt Nam - XỬ LÝ SỐ LIỆU MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO (DEM) ỨNG DỤNG CHO NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Hình 4. 4: So sánh vị trí DEM Tây Nguyên 30m với đường bờ Việt Nam (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w