1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ký kết hợp đồng kinh tế

64 480 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ký kết hợp đồng kinh tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 213 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam

Trang 1

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

Lời mở đầu

Trong cuộc sống chúng ta, những giao dịch giữa các bên để thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu đều liên quan

đến việc thiết lập quan hệ hợp đồng - một thoả thuận ràng buộc về mặt pháp

lý Vì vậy, có thể khẳng định rằng, những điều kiện ra đời của nền sản xuất hàng hoá cũng chính là những điều kiện ra đời của hợp đồng Hợp đồng chính là hình thức của mối quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể kinh doanh trong xã hội

ở nớc ta, kể từ khi Đảng và Nhà nớc thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng với nhiều thành phần sở hữu phát triển bình đẳng có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa, trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình, các đơn vị kinh

tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải dựa vào các quan hệ hợp đồng kinh tế Nói một cách khác, hợp đồng kinh tế là phơng thức để thực hiện các quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ hợp pháp và tất yếu của tất cả các

đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế

Để thực hiện chức năng của mình, Nhà n ớc ta luôn luôn chú ý đến việc điều chỉnh pháp lý các hoạt động kinh tế của các đơn vị kinh tế, trong

đó việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế là một nội dung hết sức quan trọng

Trớc sự vận hành của nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trờng trong khuôn khổ của một Nhà nớc pháp quyền thì việc đổi mới cơ chế quản

lý kinh tế là cần thiết và hợp lý Vì lẽ đó, ngày 25/09/1989 Nhà n ớc đã ban hành Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời

đánh dấu bớc đổi mới quan trọng trong nền kinh tế nớc ta Nó thể chế hoá

t tởng về đổi mới cơ chế kinh tế của Đảng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế là công cụ pháp lý, là bộ phận của cơ chế quản lý kinh tế và là yếu tố không thể thiếu đợc của nền kinh tế hiện nay

Với ý nghĩa hết sức quan trọng đó hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của chính các chủ thể kinh doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với thị trờng Thông qua việc ký kết các

Trang 2

hợp đồng kinh tế, các chủ thể kinh doanh có căn cứ vững chắc để xây dựng

kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình phù hợp với nhu cầu của thị tr ờng

Kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ có thể thực hiện đợc nếu ngời sản xuất ký

đợc hợp đồng mua nguyên vật liệu để sản xuất và ký đ ợc hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của mình

Đồng thời hợp đồng cụ thể hoá, chi tiết hoá kế hoạch sản xuất kinh doanh của ngời kinh doanh thành số lợng và chất lợng cụ thể Mua, bán cái gì, giá cả ra sao, vào thời gian nào để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh

là do ngời kinh doanh quyết định và thoả thuận với khách hàng

Có thể nói nắm vững pháp luật về hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc,

điều kiện trình tự đàm phán, ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế là một trong những điều kiện tiên quyết để tránh những rủi ro khi ký kết hợp đồng, đồng thời cũng là cơ sở cho các hoạt động kinh doanh khác vận hành tốt

Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển, Pháp lệnh về hợp đồng kinh

tế đã cơ bản đáp ứng đợc những yêu cầu của nền kinh tế mới, đóng vai trò là công cụ chủ yếu của Nhà nớc quản lý có hiệu quả các quá trình kinh tế Song, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đợc ban hành từ năm 1989, đó là thời kỳ

đầu của công cuộc đổi mới, bởi vậy, không thể tránh khỏi những quy định bất cập với sự vận động không ngừng của các quá trình kinh tế Nhiều vấn

đề đã và đang gây nhiều tranh cãi và không thống nhất, nảy sinh nhiều v ớng mắc trong vấn đề xác định luật áp dụng và thực tiễn giải quyết các tranh chấp Có thể nói, sự hoàn thiện của pháp luật về hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc, điều kiện trình tự trong đàm phán, ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế là một trong những điều kiện tiên quyết để tránh những rủi ro khi ký hợp đồng kinh tế.Và vì vậy, yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy

định pháp luật về vấn đề này ngày càng trở nên bức xúc Những lý do cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về ký kết hợp đồng kinh tế đã nêu ở trên, cũng là lý do mà em lựa chọn vấn đề “Ký kết hợp đồng kinh tế” để làm đề

tài Luận văn tốt nghiệp Bằng những kiến thức và sự hiểu biết còn hữu hiệu, chắc rằng Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót đáng kể, vì vậy

em rất momg đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn

Với đề tài này, luận văn đợc bố cục nh sau :

Lời mở đầu.

Chơng 1 : Cơ sở lý luận về hợp đồng kinh tế

Chơng 2 : Thực trạng việc ký kết hợp đồng kinh tế và h ớng hoàn thiện pháp luật về ký kết hợp đồng kinh tế.

Trang 3

nội dung của hợp đồng

Trang 4

Chơng I : Cơ sở lý luận về hợp đồng kinh tế

là “bản giao kèo” đợc thiết lập trên cơ sở tự do ý chí giữa các chủ thể trong quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hoá Khi đợc pháp luật tác động đến quan

hệ kinh tế trên trở thành quan hệ pháp luật và “bản giao kèo” trở thành hình thức pháp lý của nó Về tên gọi, trên thực tế “bản giao kèo” còn đợc gọi là hợp đồng hay khế ớc Trao đổi sản phẩm hàng hoá dẫn tới sự ra đời của hợp đồng Hợp đồng là hình thức của mối quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể kinh doanh trong xã hội

Có thể nói, trong tất cả các sắc thái của luật pháp hầu nh không có luật nào có ý nghĩa toàn diện và có ảnh hởng rộng khắp trong đời sống của chúng ta nh luật hợp đồng Mỗi hoạt động cá nhân hay kinh doanh đều liên quan đến hợp đồng và do đó luật hợp đồng ảnh hởng đến hầu hết những hoạt động bình thờng của chúng ta Thí dụ, mua quà sinh nhật, thuê một căn hộ, trả học phí học thêm, làm việc tại một cơ sở, ngay cả việc đổ đầy bình xăng cũng là kết quả của hợp đồng

Do đó, có thể thấy rằng hiểu đúng và có cách nhìn cơ bản nhất về bản chất của hợp đồng là điều hết sức quan trọng

Trang 5

Trong khoa học pháp lý, hợp đồng đợc hiểu là sự thoả thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên về một ván đề nhất định trong sinh hoạt xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên đó

Để đạt đợc sự thoả thuận, các bên trong quan hệ hợp đồng phải bày tỏ ý chí của mình cho bên kia biết ý chí của các bên khi đã thống nhất thành

sự thoả thuận sẽ đợc biểu hiện ra bên ngoài dới những hình thức nhất định

nh lời nói, giấy tờ v.v Gọi là hình thức của hợp đồng Trong xã hội có Nhà nớc và Pháp luật, ý chí của các bên phải phù hợp và ý chí của Nhà n ớc thể hiện qua các quy định của pháp luật Do đó việc ký kết hợp đồng đã làm phát sinh một quan hệ pháp luật

Các bên trong quan hệ hợp đồng gọi là chủ thể của hợp đồng tuỳ thuộc vào loại hợp đồng, chủ thể có thể là cá nhân (thể nhân) hoặc tổ chức Bên có nghĩa vụ thực hiện hành vi phát sinh từ hợp đồng gọi là bên

có nghĩa vụ (còn là ngời thụ trái), bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện một hành vi gọi là bên có quyền (còn gọi là trái chủ)

Việc các chủ thể có trong quan hệ hợp đồng bày tỏ ý chí và thoả thuận về một vấn đề nhất định làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với nhau gọi là ký kết hợp đồng

Việc ký kết hợp đồng đợc tiến hành theo 1 trình tự gồm 2 giai đoạn : giai

đoạn đề nghị lập hợp đồng và giai đoạn tiếp nhận đề nghị Bên đề nghị phải tỏ rõ ý chí lập hợp đồng bằng cách đề xuất với lên kia những nội dung chủ yếu của hợp đồng để bên đợc đề nghề xem xét, cân nhắc xem có thoả thuận ký kết hợp đồng hay không Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những vấn đề nhất thiết phải có đối với một loại hợp đồng định Nếu bên

đợc đề nghị tỏ rõ sự đồng ý hoàn toàn về những vấn đề của bên đề nghị thì gọi là chấp nhận để nghị và hợp đồng đợc coi là đã ký kết, quyền và nghĩa

vụ đợc thừa nhận là đã phát sinh Trờng hợp pháp luật có quy định là hợp

đồng phải tuân theo một hình thức và thủ tục nhất định (ví dụ là văn bản viết và phải có xác nhận của công chứng Nhà n ớc) thì hợp đồng đợc coi là

đã ký kết khi những quy định đó đợc tuân thủ

Các chủ thể của hợp đồng phải tuân thủ những điều kiện nhất định

do pháp luật quy định, thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý quyền và nghĩa

vụ mới phát sinh Đó là những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, bao gồm:

- Ngời ký kết hợp đồng phải có năng lực hành vi

- Các chủ thể phải hoàn toàn tự nguyện

- Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp

Trang 6

- Hình thức của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật vi phạm các điều khoản nói trên, hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý và có thể bị coi là vô hiệu (có thể vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu từng phân) Hợp

đồng vô hiệu sẽ dẫn đến hậu quả nhất định đối với một hoặc cả 2 bên trong quan hệ hợp đồng đó

Khi ký kết hợp đồng, mỗi chủ thể đều nhằm vài những mục đích nhất

định Mục đích đó chỉ có thể đạt đợc do việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Pháp luật đề ra các nguyên tắc thực hiệu hợp đồng, quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, đặt ra các hình thức trách nhiệm áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng

Trong pháp luật nớc ta đang quy định gồm nhiều loại hợp đồng tồn tại thuộc các lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau nh : hợp đồng dân sự, hợp

đồng kinh tế, hợp đồng mua bán ngoại thơng, hợp đồng liên doanh, hợp

đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng lao động

b Sự ra đời của chế định hợp đồng kinh tế

Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nền kinh tế nớc ta còn bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau Ngoài khu vực kinh tế quốc doanh, tập thể còn có kinh tế cá thể trong nông nghiệp, thủ công nghiệp và thành phần kinh tế t bản t doanh cha đợc cải tạo Hoạt

động kinh tế của các cơ quan Xí nghiệp Nhà n ớc của các đơn vị kinh tế tập thể tiến hành song song với hoạt động kinh tế của t nhân Để thu hút mọi hoạt động kinh tế đi theo hớng có lợi cho việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày 10/4/1957, kèm theo Nghị định này là bản Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh Bản Điều lệ này bao gồm những quy định điều chỉnh các quan

hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế nh các đơn vị kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, công ty hợp doanh, t doanh, ngời Việt Nam hay ngoại kiều kinh doanh trên đất Việt Nam

Theo Điều lệ này, hợp đồng kinh doanh đợc thiết lập bằng cách hai hay nhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện cam kết với nhau thực hiện một một số nhiệm vụ nhất định, trong một thời gian nhất định, nhằm phát triển kinh doanh công thơng nghiệp, góp phần thực hiện kế họach Nhà nớc Hợp

đồng kinh doanh đợc xây dựng trên nguyên tác các bên tự nguyện, cùng có lợi và có lợi ích cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân Điều lệ còn quy

định nếu trong quan hệ hợp đồng có 1 bên là t doanh, hợp đồng phải đợc

đăng ký tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền (cơ quan công thơng tỉnh hoặc

Uỷ ban hành chính huyện) thì mới có giá trị về mặt pháp lý

Trang 7

Việc thực hiện Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh, trong một chừng mực nhất định, đã sử dụng đợc khả năng của các thành phần kinh tế quốc dân theo hớng thống nhất của kế hoạch Nhà nớc, góp phần cải tạo quan hệ sản xuất cũ, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mới

Đến năm 1960, ở miền Bắc, chúng ta đã hoàn thành cơ bản công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bớc vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1960 - 1965 Các quan hệ kinh tế đã có sự thay đổi về cơ cấu chủ thể và về tính chất Công tác kế hoạch hoá và hạch toán kinh tế đòi hỏi phải có những quy định mới về

điều chỉnh các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế Vì vậy, Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế đợc Nhà nớc ban hành kèm theo Nghị

định 04/TTg ngày 4/1/1960, đồng thời Nhà n ớc cũng quyết định thành lập Hội đồng trọng tài kinh tế để thực hiện chức năng quản lý công tác hợp

đồng kinh tế và giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế (Nghị định 20/TTg ngày 14/1/1960)

Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế đã quy định rõ các bên tham gia quan hệ hợp đồng là các đơn vụ kinh tế cơ sở, các tổ chức xã hội chủ nghĩa, việc ký kết hợp đồng là nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nớc, khi hợp đồng kinh tế bị vi phạm, thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Hội đồng trọng tài kinh tế

Trong quá trình thực hiện bản Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế, Nhà nớc đã ban hành nhiều văn bản quy định các điều lệ về từng chủng loại hợp đồng chính trị ở nớc ta Hợp đồng kinh tế đã thực sự trở thành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa

Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: “xoá bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý theo ph ơng thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, khắc phục cách quản lý thủ công phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xây dựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc

đẩy quá trình đa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất xã hội chủ nghĩa”

Ngày 10/3/1975, Nhà nớc ta đã ban hành bản Điều lệ về chế độ hợp

đồng kinh tế (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội

đồng Chính phủ) Điều lệ này đã quy định tơng đối đầy đủ các vấn đề nh: Vai trò của hợp đồng kinh tế, nguyên tắc ký kết, các nội dung ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng kinh tế những quy định này đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải tiến quản lý kinh tế, góp phần đa các quan hệ hợp đồng kinh tế trở thành nề nếp, ở giai đoạn

Trang 8

này với sự phát triển cao độ của cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hợp

đồng kinh tế đã trở thành một công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà n ớc để quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá xã hội chủ nghĩa Nghĩa là hợp đồng kinh tế đợc coi là một công cụ hữu hiện trong xây dựng, thực hiện và đánh dấu việc hoàn thành hay không hoàn thành kế hoạch

Nói một cách khác, Nhà nớc ta đã đặt một cái dấu bằng giữa hợp đồng kinh tế và kế hoạch Ký kết hợp đồng kinh tế là xây dựng kế hoạch, thực hiện hợp đồng kinh tế là thực hiện kế hoạch vi phạm hợp đồng kinh tế là vi phạm hợp đồng kế hoạch Do đó, việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc Nghị

định 54/CP quy định là một nghĩa vụ, là kỷ luật Nhà nớc Nhà nớc quy định

tỷ mỉ, chặt chẽ gần nh toàn bộ nội dung của hợp đồng kinh tế buộc các bên phải tuân thủ nghiêm chỉnh Về mặt lý luận, ai cũng biết rằng, một trong những đặc điểm của hợp đồng kinh tế buộc các bên phải tuân thủ nghiêm chỉnh Về mặt lý luận, ai cũng biết rằng, một trong những đặc điểm của hợp

đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ là ở chỗ, trong quan hệ hợp đồng kinh tế có sự thống nhất của 2 yếu tố: yếu tố trao đổi tài sản (quan hệ ngang) và yếu tố tổ chức kế hoạch (quan hệ quản lý) Nh ng phải nói rằng, do Nhà nớc ta đã nhấn mạnh quá mức yếu tố tổ chức - kế hoạch trong quan hệ hợp đồng kinh tế nên đã làm cho hợp đồng bị biến dạng và đã trở thành công cụ chủ yếu để Nhà n ớc thực hiện sự can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có định hớng xã hội chủ nghĩa

Để thực hiện nội dung đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cần xoá bỏ hoàn toàn cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp xác định rõ phạm vi quản lý Nhà nớc về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh, xác lập và mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị kinh tế cơ sở, bảo

đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý trong các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế, không phân biệt thành phần kinh tế

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế mang một nội dung mới Bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 không còn phù hợp nữa Vì vậy, Nhà nớc đã ban hành Pháp lện hợp đồng kinh tế ở nớc ta, nó đã thể chế hoá đợc những t t-ởng lớn về đổi mới quản lý kinh tế của Đảng, trả lại giá trị đích thực của hợp đồng kinh tế với t cách là sự thống nhất ý chí của các bên, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và các văn bản pháp lý cụ thể hoá pháp lệnh đã tạo thành

hệ thống các quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế trong cơ chế kinh tế mới hiện nay

Trang 9

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng kinh tế

a Khái niệm hợp đồng kinh tế

Trong khoa học pháp lý, khái niệm hợp đồng kinh tế đ ợc hiểu theo 2 nghĩa:

Theo nghĩa khách quan: Hợp đồng kinh tế là tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế (còn gọi là chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp

đồng kinh tế )

Là một chế định đặc thù của pháp luật về kinh doanh, chế độ hợp

đồng kinh tế quy định: Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế, điều kiện chủ thể hợp đồng kinh tế, thủ tục và trình tự ký kết hợp đồng kinh tế, các

điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc và nội dung thực hiện hợp đồng kinh tế, các điều kiện và giải quyết hậu quả cho việc thay

đổi, huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng kinh tế, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế.v.v

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì các quan hệ kinh tế thay đổi theo Vì vậy, chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nớc ta luôn luôn đặt trớc những yêu cầu thay đổi và đã thay đổi phù hợp với những bớc phát triển của các quan hệ kinh tế

Theo nghĩa chủ quan: “Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa kỹ thuật

và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989

Nh vậy, thực chất hợp đồng kinh tế là mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể ký kết, đó là mối quan hệ ý chí đợc lập một cách tự nguyện, bình

Trang 10

khác do các chủ thể tiến hành trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình tái sản xuất, từ khi đầu t vốn đến khi tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn thành dịch vụ nhằm sinh lợi hợp pháp.

Kinh doanh là chức năng, nhiệm vụ, là mục tiêu của các đơn vị kinh

tế Vì vậy, mục đích là kinh doanh luôn đợc thể hiện hàng đầu trong các hợp đồng mà các chủ thể kinh doanh ký kết, nhằm xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình Khác với hợp đồng kinh tế, nội dung của hợp đồng dân sự lại chủ yếu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của các chủ thể ký kết

- Về chủ thể hợp đồng, theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, hay pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và phải ký kết trong phạm vi nghề nghiệp kinh doanh đã đăng ký Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định những ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ng dân cá thể, các tổ chức và cá nhân nớc ngoài ở Việt Nam cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ

đơn đặt hàng, giấy chấp nhận

Ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản là một quy định bắt buộc mà các chủ thể của hợp đồng phải tuân theo Văn bản này là sự ghi nhận rõ ràng về quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thoả thuận với nhau, là cơ sở pháp

lý để các bên tiến hành thực hiện các điều đã cam kết, để các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của mối quan hệ kinh tế và giải quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạm nếu hợp đồng dân sự phải ký kết bằng văn bản hoặc thoả thuận miệng tuỳ theo nội dung của từng quan hệ hợp đồng và ý chí của các bên ký kết

Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ảnh mối quan hệ giữa kế hoạch với thị trờng Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên định hớng

kế hoạch của Nhà nớc, nhằm các việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của các đơn vị kinh tế Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết và

Trang 11

thực hiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nớc Trong cơ chế quản lý theo phơng pháp kế hoạch hoá tập trung thì tính kế hoạch là đặc tính số một của hợp đồng kinh tế Mặc dù trong giai

đoạn hiện nay, Nhà nớc ta đã có những thay đổi lớn trong công tác kế hoạch hóa, nhng tính kế hoạch của hợp đồng kinh tế vẫn tồn tại: “Hợp đồng kinh

tế giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch, vừa là công cụ pháp lý bảo đảm việc thực hiện kế hoạch”

Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp đồng kinh

tế và các loại hợp đồng khác nh hợp đồng dân sự, hợp đồng ngoại thơng, hợp đồng lao động.v.v

Hợp đồng kinh tế có thể phân loại theo 2 cách

Dựa vào tính chất của hợp đồng kinh tế, có thể chia hợp đồng kinh tế thành hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh và hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh

Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là hợp đồng kinh tế đợc ký căn cứ vào chỉ tiêu Pháp lệnh của Nhà nớc giao Ký kết và thực hiện hợp

đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là kỷ luật của Nhà n ớc, là nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp lệnh Trong nền kinh tế thị trờng, số lợng hợp đồng kinh tế thuộc loại này rất hạn chế

Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh là loại hợp đồng đ ợc

ký kết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm xây dựng và thực hiện kế hoạch của các chủ thể Các chế độ ký kết, thực hiện hợp đồng của loại hợp đồng này

đợc nghiên cứu trong các mục tiếp theo của chơng này

Căn cứ vào nội dung cụ thể của các quan hệ kinh tế, trong hợp đồng

có thể chia hợp đồng kinh tế thành các loại sau đây :

Trang 12

a Hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung

Cuối năm 1959, do kết quả của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân, kết cấu thành phần kinh tế của n ớc ta có sự thay đổi căn bản Hoạt động kinh doanh trong thời kỳ này chủ yếu tập trung vào hai loại thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể Việc xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung vào hai thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể Việc xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các

đơn vị nhằm một mục tiêu chung là thực hiện kế hoạch Nhà n ớc Chế độ hợp đồng kinh doanh với các quy định về chủ thể, nguyên tắc và mục đích

nh trên không những phù hợp với cơ chế quản lý mới là mà còn cản trở sự vận hành của cơ chế đó Trong điều kiện đó, Chính phủ đã ban hành bản “

Điều lệ tạm thời về chế độ hoạt động kinh tế “(kèm theo Nghị định số 4/TTg ngày 4/1/1960 của Thủ tớng Chính phủ) thay thế Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh doanh năm 1956 nhằm mục đích “ tăng cờng quan hệ kinh tế

và trách nhiệm giữa các Xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nớc (kể cả quân đội) trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà n ớc và những nguyên tắc của chế độ hạch toán kinh tế “ (Điều 1) Theo điều lệ này, cơ sở để ký kết hợp đồng kinh tế là chỉ tiêu kế hoạch Nhà n ớc, các bên chỉ đợc ký kết hợp đồng kinh tế trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch do Nhà n ớc giao; Hợp

đồng kinh tế chỉ đợc điều chỉnh hoặc huỷ bỏ khi Nhà nớc điều chỉnh hoặc huỷ bỏ chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc Điều lệ hợp đồng kinh tế quy định việc

ký kết hợp đồng kinh tế là một kỷ luật bắt buộc trong quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế Những quy định trên đây cho thấy thực chất của hợp

đồng kinh tế trong thời kỳ này là một hình thức pháp lý để các đơn vị kinh

tế cụ thể hoá chỉ tiêu kế hoạch Nhà n ớc nhằm thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đó, còn tính chất “ hợp đồng”, tính chất tự nguyện thể hiện ý chí thì rất ít đợc quan tâm đến Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ này đã trở thành công cụ quan trọng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao

Vào những năm đầu của thập kỷ bảy mơi, hoà theo xu thế cải cách kinh tế của hệ thống xã hội chủ nghĩa, Đảng ta chủ tr ơng tiến hành cải tiến một bớc cơ chế quản lý kinh tế theo phơng hớng của Hội nghị lần thứ 19 Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khoá III) đã vạch ra là “Xoá bỏ lối quản

lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa” Trớc yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, Chính phủ đã ban hành “Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế” (kèm theo Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ) thay thế điều lệ tạm thời

về hợp đồng kinh tế năm 1960

Trang 13

Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế quy định mục đích của hợp đồng kinh tế không phải chỉ để thực hiện kế hoạch mà còn là công cụ pháp lý để

“giúp đỡ các bên chuẩn bị kế hoạch, xây dựng kế hoạch một cách vững chắc“ (Điều 1) chủ thể của hợp đồng kinh tế là các Xí nghiệp quốc doanh các tổ chức từ hợp doanh, các cơ quan Nhà nớc, đơn vị quân đội, tổ chức, xã hội , hợp tác xã, các tổ sản xuất tiểu công nghiệp và thủ công Căn cứ

để ký kết hợp đồng kinh tế không chỉ là chỉ tiêu kế hoạch của Nhà n ớc mà còn là số kiểm tra, phơng hớng, nhiệm vụ kế hoạch, các bên có thể ký kết các hợp đồng kinh tế ngoài chỉ tiêu kế hoạch với điều kiện không làm ảnh hởng đến việc thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh Mặt khác, ký kết hợp đồng kinh tế vẫn là một kỷ luật của Nhà n ớc

đối với các đơn vị kinh tế, trong mọi hoạt động kinh tế có liên quan với nhau đều bắt buộc phải ký kết hợp đồng kinh tế

Những quy định chủ yếu về hợp đồng kinh tế theo Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế trên đây cho thấy chế độ hợp đồng kinh tế trong thời kỳ này đã có những đổi mới nhất định mà thể hiện rõ nhất là yếu tố tài sản trong hợp đồng rõ nét hơn, yếu tố tổ chức - kế hoạch có giảm bớt

Tháng 11/1986, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam xác định nội dung đờng lối đổi mới quản lý kinh tế - xã hội, trong đó có đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - theo h ớng xoá bỏ tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Cơ chế quản lý kinh tế mới đã đòi hỏi phải rà soát lại tất cả cảc chính sách, chế độ quản lý kinh tế trong đó có chế độ hợp đồng kinh

tế Trong điều kiện đó, Hội đồng Nhà nớc đã thông qua Pháp lệnh hợp

đồng kinh tế ngày 25/9/1989 thay thế Nghị định 54/CP về chế độ hợp

đồng kinh tế Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời là một bớc phát triển mới của pháp luật về hợp đồng kinh tế của Nhà nớc ta, thể chế hoá đờng lối đổi mới của Đảng trong quản lý kinh tế Pháp lệnh hợp đồng kinh tế cùng với Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/1/1990, Quyết định số 18-HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã tạo thành hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh pháp luật, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế trong cơ chế quản lý kinh tế mới

b Hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trờng

Với tính chất là một chế định pháp luật, chế độ hợp đồng có vai trò hết sức quan trọng trong quản lý nền kinh tế quốc dân, là công cụ pháp lý quan trọng của Nhà nớc trong xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội

Trang 14

chủ nghĩa Hợp đồng kinh tế góp phần quan trọng kế hoạch hoá nền kinh

tế quốc dân, củng cố chế độ hạch toán kinh tế, làm cho lợi ích của các đơn

vị kinh tế phù hợp với lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân, gắn liền công tác quản lý của Nhà nớc với sự tự chịu trách nhiệm của các đơn vị kinh tế, tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các thành phần kinh tế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên ký kết, giúp đỡ các bên của Nhà n -

ớc và của đơn vị mình với hiệu quả kinh tế cao nhất

Với tính chất là một loại quan hệ kinh tế trong kinh doanh, hợp đồng kinh tế có vai trò quan trọng không thể thiếu đ ợc đối với các chủ thể kinh doanh

- Hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mỗi đơn vị kinh tế, là cầu nối giữa kế hoạch sản xuất kinh doanh với quan

hệ thị trờng

Thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể kinh doanh xác

định đợc căn cứ để xây dựng kế hoạch của mình Kế hoạch ấy chỉ trở thành phơng pháp hiện thực khi nó đợc bảo đảm bằng những cam kết hợp đồng

Ngợc lại, hợp đồng kinh tế cụ thể hoá, chi tiết hoá nội dung kế hoạch sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, các chỉ tiêu Pháp lệnh của Nhà nớc thành những quyền và nghĩa vụ cụ thể đó chính là việc thực hiện từng phần kế hoạch

Mặt khác, hợp đồng kinh tế với nội dung là quan hệ hàng hoá tiền tệ, luôn luôn phản ánh mối quan hệ thị trờng vừa là căn cứ, vừa là đối tợng của kế hoạch

- Hợp đồng kinh tế góp phần quan trọng vào việc củng cố hạch toán kinh tế

Hạch toán kinh tế là phơng pháp kinh doanh dựa trên cơ sở tiền tệ làm thớc đo những hao phí và kết quả hoạt động kinh tế bởi vì trong quan

hệ đó tiền tệ phản ánh giá trị của hàng hoá, tức là lợng lao động đã kết tinh trong hàng hoá và đợc thể hiện thông qua giá cả của hàng hoá đó Thông qua giá cả của hàng hoá mà đánh giá đợc kết quả của lao động, tính toán đợc những chi phí bỏ ra và kết quả thu về trong hoạt động kinh tế Xuất phát từ lợi ích kinh tế, các đơn vị kinh tế tiến hành xác lập với nhau những quan hệ hợp đồng kinh tế mà nội dung của nó chính là các quan hệ hàng hoá, tiền tệ làm cơ sở cho hạch toán kinh tế

Thông qua việc ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế, các tổ chức kinh tế thực hiện quyền chủ động sản xuất kinh doanh của mình Quyền

Trang 15

chủ động đó biểu hiện sự độc lập về tài sản và nghiệp vụ của chúng, một trong những nguyên tắc quan trọng và là điều kiện để hạch toán kinh tế

Thông qua chế độ trách nhiệm vật chất, hợp đồng kinh tế cũng có nguyên tắc khuyến khích vật chất và chịu trách nhiệm vật chất trong hạch toán kinh tế Việc áp dụng các hình thức trách nhiệm vật chất bao gồm phạt hợp đồng và bồi thờng thiệt hại làm giảm lợi ích hạch toán của bên vi phạm hợp đồng, đồng thời khôi phục lợi ích hạch toán cho bên bị vi phạm Việc áp dụng các hình thức thởng, phạt trong quan hệ hợp đồng sẽ nâng cao đợc tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động sáng tạo của các

đơn vị kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồng thời bảo đảm tuân thủ pháp luật về quản lý kinh tế của Nhà nớc

Tóm lại, nghiên cứu vai trò của hợp đồng kinh tế, chúng ta thể khẳng

định rằng hợp đồng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới kế hoạch hoá, đảm bảo quyền từ chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế củng cố chế độ hạch toán kinh tế, tăng cờng, quản lý kinh tế, quản lý thị trờng xuất phát từ thực tế đó, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6 đã khẳng định: “Cần tăng cờng chế độ hợp

đồng kinh tế và bảo đảm hiệu lực của nó bằng chế độ trọng tài kinh tế Nhà nớc”

1.2 Ký kết hợp đồng kinh tế

1.2.1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế

Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế là những t tởng chỉ đạo, có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế Tính bắt buộc này đợc thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật Các nguyên tắc cơ bản đợc ghi nhận trong Điều 3 Pháp lệnh hợp đồng kinh

tế

“Hợp đồng kinh tế đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật”

a- Nguyên tắc tự nguyện :

Theo nguyên tắc này, một hợp đồng kinh tế đợc hình thành, phải hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí ), không thể do sự áp đặt ý chí của bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào

Trang 16

Khi xác lập quan hệ hợp đồng, các bên hoàn toàn tự do ý chí, tự nguyện trong việc thoả thuận, bày tỏ ý chí và thống nhất ý chí nhằm đạt tới mục đích nhất định Các bên có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời

điểm ký kết và các nội dung ký kết Mọi sự tác động làm tính tự nguyện của các bên trong quá trình ký kết nh bị cỡng bức, lừa đảo, nhầm lẫn

đều làm ảnh hởng đến hiệu lực của hợp đồng kinh tế

Nguyên tắc này thể hiện quyền tự chủ trong ký kết hợp đồng kinh tế của các chủ thể kinh doanh đợc Nhà nớc đảm bảo Ký kết hợp đồng kinh tế

là quyền của các đơn vị kinh tế, quyền này phải gắn liền với những các

điều kiện nhất định, đó là :

- Không đợc phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật

- Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh trong các thành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nớc thì không đợc lợi dụng quyền

ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất bình đẳng, ép buộc, cửa quyền, hoặc vì không đạt đợc những đòi hỏi bất bình đẳng đó nên đã từ chối ký kết hợp đồng kinh tế thuộc ngành nghề độc quyền của mình

- Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các đơn vị kinh tế còn đ ợc thể hiện qua việc quy định các đơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp đặt của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng kinh tế

Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng kinh tế đánh dấu bớc

đổi mới căn bản trong chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà n ớc ta, đợc ghi nhận trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989

Cũng cần lu ý rằng, trớc đây cũng nh hiện nay, việc ký kết các hợp

đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh là nghĩa vụ bắt buộc của các

đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp lệnh, là kỷ luật Nhà n ớc

Đối với việc ký kết loại hợp đồng này, tính tự nguyện của các chủ thể bị hạn chế đáng kể do có sự ràng buộc bởi tính kỷ luật của các chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh

Trang 17

các đơn vị kinh tế thuộc thành phàn kinh tế nào, do cấp nào quản lý, khi

ký kết hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, cũng có lợi trên cơ

sở thoả thuận và phải chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã

ký kết Không thể có một hợp đồng kinh tế nào chỉ mang lại lợi ích cho một bên hoặc một bên chỉ có quyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ Một hợp

đồng kinh tế đợc ký kết mà vi phạm nguyên tắc bình đẳng thì sẽ ảnh h ởng

đến hiệu lực của hợp đồng kinh tế đó

Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế nớc ta còn tồn tại nhiều thành phần, cơ cấu chủ thể của hợp đồng kinh tế rất đa dạng, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng Nó góp phần tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích sự phát triển và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trờng

c Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật

Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản là các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế phải dùng chính tài sản của đơn vị mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, một chủ thể có thể ký kết hợp đồng kinh tế trong trờng hợp đợc một chủ thể khác đứng ra bảo lãnh về tài sản

Quy định việc ký kết hợp đồng “không trái pháp luật” đòi hỏi nội dung, hình thức chủ thể của hợp đồng kinh tế đó phải phù hợp, tuân theo các quy định của pháp luật, không đợc lợi dụng việc ký kết hợp đồng kinh

tế để hoạt động trái pháp luật

Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện hợp đồng kinh tế và việc bảo về trật tự quản lý kinh tế của Nhà nớc Một hợp đồng kinh tế chỉ có thể đợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh khi nó không trái pháp luật và các bên có khả năng thực hiện đẩy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình Trong giai đoạn hiện nay nguyên tắc này càng cần đợc coi trọng

1.2.2 Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế

Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế đợc quy định tại Điều 10 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế Theo quy định này, hợp đồng kinh tế đ ợc ký kết trên các căn cứ sau:

a Định hớng kế hoạch của Nhà nớc, các chính sách, chế độ, các chuẩn mực kinh tế, kỹ thuật hiện hành.

Đối với mỗi đơn vị kinh tế, ký kết hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây dựng

kế hoạch và là cộng cụ để thực hiện kế hoạch của mình Kế hoạch của mỗi

đơn vị kinh tế đợc xây dựng căn cứ vào định hớng kế hoạch của Nhà nớc,

Trang 18

do đó việc ký kết các hợp đồng kinh tế cũng phải căn cứ vào định h ớng kế hoạch của Nhà nớc Ngoài ra, để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả trong việc xây dựng nội dung của hợp đồng kinh tế, khi ký kết hợp

đồng các chủ thể cũng phải căn cứ vào các chính sách và chế độ quản lý kinh tế của Nhà nớc, các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành đối với từng loại sản phẩm, ngành nghề

b Nhu cầu thị trờng, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng.

Hợp đồng kinh tế phản ánh mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, luôn luôn gắn liền với sự vận động của thị trờng của quan hệ cung cầu Vì vậy, trong việc ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể phải luôn luôn căn cứ vào nhu cầu của thị trờng bao gồm các khả năng cung cấp hàng hoá, dịch vụ và nhu cầu cần đáp ứng về hàng hoá dịch vụ của mình và của bạn hàng

Căn cứ này nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đợc ký kết có khả năng thực hiện trên thực tế, đồng thời đảm bảo cho sản xuất kinh doanh vừa mang lại hiệu quả cao cho các đơn vị kinh tế, vừa thoả mãn nhu cầu xã hội, đảm bảo gắn kế hoạch sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh

tế với quan hệ thị trờng

c Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động của các chủ thể ký kết.

Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế là những khả năng thực tế về tiền vốn, vật t, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh Chức năng hoạt động là phạm vi ngành nghề, lĩnh vực kinh tế mà đơn vị đó đợc tiến hành hoạt động

Việc ký kết hợp đồng kinh tế không thể bỏ qua đ ợc căn cứ này bởi vì

nó đảm bảo khả năng thực tế của việc thực hiện hợp đồng, đồng thời bảo

đảm tính cân đối giữa khả năng và nhu cầu, giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa giá trị và hiện vật

Mặt khác, các đơn vị kinh tế hoạt động đúng ngành nghề cần đảm bảo các cân đối ngành kinh tế và trật tự quản lý kinh tế của Nhà n ớc

d Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng

đảm bảo tài sản của các bên cùng ký kết hợp đồng

Đây là một căn cứ rất quan trọng để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng kinh tế về mặt nội dung cũng nh tính chất hợp pháp của mỗi quan hệ và khả năng đáp ứng về hàng hoá, khả năng thanh toán của mỗi bên Căn cứ này nhằm đảm bảo cho mỗi hợp đồng kinh tế có đầy đủ cơ sở pháp lý và cơ

sở kinh tế để thực hiện trên thực tế

Trang 19

Tóm lại, khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, các đơn vị kinh tế phải căn cứ vào những quy định của pháp luật, những yêu cầu khách quan

và khả năng chủ quan để xác lập mối quan hệ kinh tế một cách hợp pháp,

có đầy đủ điều kiện để thực hiện nhằm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho đơn vị mình và cho xã hội

1.2.3 Chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế.

Chủ thể hợp đồng kinh tế là các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh

tế hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện thoả thuận để xác lập và thực hiện những quyền và nghĩa vụ đối với nhau

Theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa các bên sau đây :

Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện sau đây :

- Có tài khoản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng các tài sản đó

- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể trở thành nguyên đơn, bị đơn trớc toà án

- Tồn tại độc lập và đợc pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập

- Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là ng ời

đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền theo đúng thủ tục pháp luật quy định và đã đợc cấp giấy phép kinh doanh (giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh )

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 42, Điều 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, những ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh

tế gia đình, hộ nông dân, ng dân cá thể, tổ chức và cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam khi ký kết hợp đồng với một pháp nhân Việt Nam cũng đ ợc áp dụng các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

Về chủ thể của hợp đồng kinh tế, trong khoa học pháp lý hiện có quan điểm cho rằng, hợp đồng kinh tế là những hợp đồng có mục đích kinh

Trang 20

doanh Vì vậy, nó phải đợc thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh - chủ yếu

là giữa các doanh nghiệp với nhau

Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế , mỗi bên tham gia quan hệ hợp đồng chỉ cần cử một đại diện để ký vào hợp đồng kinh tế Nếu là pháp nhân thì ngời ký hợp đồng phải là ngời đợc bổ nhiệm hoặc đang giữ chức

vụ đó Nếu là cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thì ngời ký hợp đồng phải là ngời đứng tên trang giấy phép kinh doanh (đã

đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và đ ợc cấp giấy phép kinh doanh) Trong tất cả các trờng hợp, hợp đồng kinh tế không bắt buộc kế toán trởng phải cùng ký vào bản hợp đồng kinh tế, đây là điểm khác biệt so với quy định trong Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975

Trong trờng hợp một bên là ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân thì ngời ký hợp đồng kinh tế phải là ng ời trực tiếp thực hiện công việc trong hợp đồng (nếu có nhiều ng ời cùng làm thì ngời ký vào bản hợp đồng kinh tế phải do những ng ời cùng làm cử bằng văn bản có chữ ký của tất cả những ngời đó, văn bản này phải kèm theo hợp đồng kinh tế ).Khi một bên là hộ kinh tế gia đình nông dân, ng dân cá thể thì đại diện ký hợp đồng kinh tế phải là chủ hộ Khi một bên là tổ chức n ớc ngoài tại Việt Nam thì đại diện tổ chức đó phải đợc uỷ nhiệm bằng văn bản, nếu là cá nhân nớc ngoài ở Việt Nam thì bản thân họ phải là ng ời ký kết các hợp

đồng kinh tế

Đại diện ký kết hợp đồng kinh tế nh trên cũng chính là đại diện đơng nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế và trong tố tụng tr ớc cơ quan tài phán

Tuy nhiên, ngời đại diện đơng nhiên của các chủ thể hợp đồng kinh

tế có thể uỷ quyền cho ngời khác hay mình ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế Việc uỷ quyền có thể theo vụ việc hoặc th ờng xuyên nhng phải đ-

ợc thể hiện dới hình thức văn bản Việc uỷ quyền thờng xuyên có thể áp dụng trong trờng hợp ngời đại diện đơng nhiên uỷ quyền cho cấp phó của mình (hoặc do ngời đứng đầu chi nhánh trực thuộc, có t cách pháp nhân không đầy đủ) theo kỳ hạn cần uỷ quyền Văn bản uỷ quyền phải ghi rõ họ tên, chức vụ của ngời uỷ quyền, ngời đợc uỷ quyền, số chứng minh th của ngời đợc uỷ quyền; tính chất và nội dung uỷ quyền, thời hạn uỷ quyền và phải có chữ ký xác nhận của cả hai ng ời này Ngời đợc uỷ quyền chỉ đợc phép hành động trong phạm vi đợc uỷ quyền và không đợc uỷ quyền lại cho ngời khác Trong phạm vi uỷ quyền, ngời uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về hành vi của ngời đợc uỷ quyền nh hành vi chính của mình

Trang 21

Quy định trên đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó vừa giúp cho các đơn vị kinh tế có thể linh hoạt trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế lại vừa ràng buộc trách nhiệm theo nguyên tắc ″chịu trách nhiệm cá nhân″.

1.2.4 Cách thức ký kết hợp đồng kinh tế.

Để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế có hiệu lực pháp lý, các

bên có thể lựa chọn một trong hai cách ký kết hợp đồng kinh tế nh sau:

- Ký kết hợp đồng bằng phơng pháp ký trực tiếp là cách ký đơn giản Hợp đồng kinh tế đợc hình thành một cách nhanh chóng Khi ký kết bằng cách này, đại diện hợp pháp của các bên trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận, thống nhất ý chí để xác định các điều khoản của hợp đồng và cùng

ký vào bản hợp đồng

- Ký kết hợp đồng bằng phơng pháp ký gián tiếp là cách ký kết mà trong đó các bên tiến hành gửi cho nhau các tài liệu giao dịch ( công văn,

điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng ) chứa đựng nội dung cần giao dịch Việc ký kết hợp đồng kinh tế bằng ph ơng pháp ký gián tiếp đòi hỏi phải tuân theo trình tự nhất định, thông thờng trình tự này ít nhất cũng gồm hai bớc:

Bớc một: Một bên lập dự thảo ( đề nghị ) hợp đồng trong đó đ a ra những yêu cầu về nội dung giao dịch ( tên hàng hoặc công việc, số l ợng, chất lợng, thời gian, địa điểm, phơng thức giao nhận, thời hạn thanh toán

và gửi cho bên kia )

Bớc hai: Bên nhận đợc đề nghị hợp đồng tiến hành trả lời cho bên đề nghị hợp đồng bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung chấp nhận, nội dung không chấp nhận, những đề nghị bổ sung

Trong trờng hợp ký kết theo cách ký gián tiếp, hợp đồng kinh tế đ ợc coi là hình thành và có giá trị pháp lý từ khi các bên nhận đ ợc tài liệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận xong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng

Dù ký kết bằng phơng pháp ký trực tiếp hay gián tiếp, những hợp

đồng kinh tế đợc hình thành đều có hiệu lực pháp lý nh nhau và các bên

đều phải nghiêm chỉnh thực hiện các điều khoản đã cam kết Để cho hợp

đồng kinh tế có hiệu lực, việc thoả thuận của các bên phải đảm bảo những

điều kiện sau:

- Nội dung thoả thuận không vi phạm pháp luật;

- Phải đảm bảo điều kiện chủ thể của hợp đồng;

Trang 22

- Đại diện ký kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền

Nếu không đảm bảo một trong các điều kiện này, hợp đồng sẽ trở thành vô hiệu

Mỗi cách ký kết đều có những u điểm và nhợc điểm riêng của nó, lựa chọn cách nào là quyền của các chủ thể ký kết, song việc lựa chọn luôn luôn phải tính đến hiệu quả kinh tế, thời cơ kinh doanh Các chủ thể cũng

có thể kết hợp cả hai phơng pháp ký kết để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế

1.2.5 Những điều kiện thoả thuận khi ký kết thể hiện trong nội dung của hợp đồng:

Nội dung của hợp đồng kinh tế xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đối với nhau quyết định tính hiện thực và hiệu lực pháp lý của hợp

đồng kinh tế Vì vậy, yêu cầu nội dung của hợp đồng kinh tế phải hợp pháp, có khả năng thực hiện, các điều khoản quy định phải cụ thể rõ ràng, phải khẳng định ý chí của các bên ký kết hợp đồng

Có thể nói, nội dung của hợp đồng kinh tế là toàn bộ sự thoả thuận của các bên đợc thể hiện bẳng những điều khoản cụ thể trong hợp đồng kinh tế Nh vậy, điều khoản của hợp đồng đã trở thành linh hồn, là bộ phận cấu tạo nên một bản hợp đồng kinh tế Tuy nhiên dới giác độ khoa học pháp lý, các loại điều khoản của hợp đồng có thể đ ợc phân thành những nhóm khác nhau, và mỗi loại điều khoản có những ý nghĩa pháp lý nhất

định không giống nhau

Theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì nội dung của hợp đồng kinh tế bao gồm những điều khoản cụ thể sau:

a a Ngày tháng năm ký kết hợp đồng kinh tế.

- Tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên

- Họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng ký kinh doanh

b Điều khoản đối tợng của hợp đồng: Tức là các bên trao đổi mua

bán, giao dịch về cái gì ? công việc gì ?

Đối tợng của hợp đồng đợc tính bằng khối lợng, số lợng hoặc giá trị quy ớc đã thoả thuận

c Điều khoản chất lợng

Tức là sự quy định thể hiện những đặc điểm, tính cách của đối t ợng hợp đồng Các bên phải thoả thuận cụ thể về chủng loại, quy cách, cách

Trang 23

tính, tính đồng bộ, mẫu mã, tiêu chuẩn của sản phẩm Hàng hoá hoặc những yêu cầu kỹ thuật của công việc giao dịch giữa các bên.

d Điều khoản giá cả:

Các bên có thể thoả thuận xác định đơn giá, hoặc giá trị của toàn bộ công việc thoả thuận những nguyên tắc xác định rõ giá cả

đ Điều khoản bảo hành:

e Điều khoản nghiệm thu, giao nhận:

Các bên đợc thoả thuận đặt ra các điều kiện dể giao nhận sản phẩm hàng hoá, điều kiện để nghiệm thu đối tợng của hợp đồng

g Điều khoản phơng thức thanh toán:

Các bên đợc quyền lựa chọn phơng thức thanh toán cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, nhng không trái với những quy định của pháp luật hiện hành

h Điều khoản trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế:

Các bên đợc thoả thuận trong khung phạt do pháp luật quy định đối với hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế, đối với từng chủng loại hợp đồng kinh tế

i Điều khoản thời hạn có hiệu lực của hợp đồng:

k Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng:

Các bên có thể thỏa thuận các biện pháp bảo đảm thực hiện

hợp đồng nh: thế chấp tài sản, cầm cố, bảo lãnh tài sản theo quy định của pháp luật

l Các bên có quyền xây dựng những điều khoản thể hiện sự thoả thuận về các vấn đề khác, không trái quy định của pháp luật

Đề cập đến nội dung hợp đồng kinh tế, khi ký kết hợp đồng do không nắm vững các quy định pháp luật nên các bên th ờngmắc sai lầm khi thoả thuận các điều khoản Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

để một hợp đồng hợp pháp thì ngoài các điều kiện chủ thể, hình thức hợp

đồng còn phải đảm bảo yếu tố nội dung hợp đồng Hợp đồng phải đảm bảo các điều khoản cơ bản thì mới đảm bảo tính hiệu lực

Về phơng diện khoa pháp lý, căn cứ vào tính chất vai trò của các

điều khoản, nội dung của hợp đồng kinh tế đợc xác định thành ba loại với các điều khoản sau:

Trang 24

Thứ nhất: điều khoản chủ yếu là những điều khoản cơ bản, quan

trọng nhất của một hợp đồng bắt buộc phải có trong bất cứ hợp đồng kinh

tế nào, nếu không thì hợp đồng sẽ không có giá trị Pháp lý, theo Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế các Điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế bao gồm:

- Ngày, tháng năm ký hợp đồng, tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên, họ tên ng ời đại diện, ngời đứng tên đăng ký kinh doanh

- Điều khoản đối tợng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lợng, khối lợng hoặc giá trị quy ớc đã thoả thuận

- Điều khoản chất lợng

- Điều khoản giá cả

Ngoài ra hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các bên về viềc thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh Do đó nội dung của hợp đồng kinh tế trớc hết là những điều khoản do các bên thoả thuận Những điều khoản mà các bên đã thoả thuận

đó là phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của ác bên tham gia thoả thuận

Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng trong nền kinh tế thị trờng, pháp luật không giới hạn các điều khoản mà các bên đã ký kết hợp đồng thoả thuận với nhau Nói nh vậy không có nghĩa là các bên thoả thuận nh thế nào đợc, các bên có quyền thoả thuận nhng những thoả thuận đó không

đợc trái với pháp luật thì mới có hiệu lực và đợc pháp luật bảo vệ Do đó yêu cầu đặt ra là nội dung của hợp đồng kinh tế phải hợp pháp, có khả năng thực hiện, các điều khoản của hợp đồng phải rõ ràng cụ thể

Trong trờng hợp cần thiết, Nhà nớc vẫn có quyền can thiệp vào nội dung của quan hệ hợp đồng Chẳng hạn buộc các bên ký kết hợp đồng phải tuân theo những quy định bắt buộc về chất lợng sản phẩm để đảm bảo an toàncho ngời tiêu dùng

Nh vậy, nội dung của hợp đồng kinh tế không chỉ là những điều khoản mà các bên thoả thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản

mà các bên không thoả thuận nh ng theo dquy định của pháp luật các bên

có nghĩa vụ thực hiện Bởi vì quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng không chỉ phát sinh từ những điều khoản mà các bên thoả thuận

mà còn có thể phát sinh từ những quy định pháp luật

Trang 25

Trong Luật của một số nớc (Anh, Mỹ, Đức ) hiện nay, nguyên tắc tự

do hợp đồng cũng bị hạn chế Pháp luật hợp đồng các n ớc này đã có những thay đổi căn bản Ngời ta cho rằng luật hợp đồng t sản truyền thống, nguyên tắc “bất khả xâm phạm” hợp đồng đã lỗi thời vì nó không bảo vệ đ -

ợc bên yếu hơn về kinh tế trong quan hệ hợp đồng và nh thế là vi phạm nguyên tắc bình đẳng Chẳng hạn trong quan hệ hợp đồng giữa ng ời sản xuất kinh doanh và ngời tiêu dùng Ngời sản xuất kinh doanh thờng quy

định nội dung các hợp đồng “chuẩn” do đó ng ời tiêu dùng không có điều kiện tham gia thoả thuận nữa (kiểu hợp đồng sử dụng điện, điện thoại ở Việt Nam hiện nay) Do vậy luật hợp đồng không chỉ hạn chế quyền của ngời sản xuất kinh doanh trong việc quy định nội dung các hợp đồng chuẩn mà còn nghiêm cấm đa vào hợp đồng những điều khoản vi phạm trắng trợn đến lợi ích của những ng ời tham gia vào quá trình giao lu kinh

tế đối với bên mạnh hơn về kinh tế, pháo luật đ a ra một loạt nghĩa vụ bổ xung, trong đó nghĩa vụ phải thông báo cho bạn hàng đầy đủ các đặc tính căn bản về các mặt hàng dịch vụ, phải đảm bảo tính an toàn khi sử dụng chúng Ngời tiêu dùng đợc hởng các biện pháp tố tụng nhằm đảm vệ quyền của mình một cách dơn giản, tiện lợi và ít tốn kém hơn Bên có tiềm lực kinh tế mạnh không đợc lợi dung nguyên tắc tự do hợp đồng để chèn ép bên yếu về kinh tế Trong nhiều văn bản pháp lý còn cho phép toà án đ ợc quyền tuyên bố về hiệu những quy định của hợp đồng, mà theo toà án những quy định này là vô lý trái lơng tâm hoặc không công bẳng Tuy nhiên trong quan hệ hợp đồng giữa các nhà doanh nghiệp hợp đồng đợc thoả thuận trực tiếp nguyên tắc tự do hợp đồng vẫn còn đ ợc tôn trọng một cách đáng kể

Thứ hai: điều khoản thờng lệ, là những điều khoản đã đợc pháp luật

ghi nhận, nếu các bên không ghi vào các văn bản hợp đồng thì coi nh các bên đã mặc nhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện những quy định đó Nếu các bên thoả thuận ghi vào văn bản hợp đồng thì không đợc ghi trái với những điều đã quy đinh đó, nếu thoả thuận trái pháp luật thi những thoả thuận đó không có giá trị

Những quy định của pháp luật sẽ trở thành nội dung của hợp đồng kinh tế thay vào những điều khoản các bên đã thoả thuận trái đó Do đó, các bên phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quy phạm pháp luật có liên quan Ví dụ: điều khoản về bối thờng thiệt hại, về khung phạt vi phạm hợp

đồng kinh tế, điều khoản về bảo hành Trong hợp đồng có thể các bên không thoả thuận về điều khoản bảo hành nhng bên bán vẫn có nghĩa vụ phải bảo hành nếu có quy định của Nhà nớc về bảo hành sản phẩm đó Bên bán không thể viện cớ là trong hợp đồng hai bên không thoả thuận về điều

Trang 26

khoản bảo hành để trốn trách nhiệm bảo hành Qua đây chúng ta càng thấy

rõ hơn nội dung của hợp đồng kinh tế không chỉ bao gồm những điều khoản mà các bên đã thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản mà các bên không thoả thuận, nh ng theo quy định của Pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện

Trong mối quan hệ giữa các điều khoản chủ yếu và điều khoản th ờng

lệ của hợp đồng kinh tế thì sự tồn tại của hợp đồng kinh tế không phụ thuộc vào các điều khoản thờng lệ mà chỉ phụ thuộc vào các điều khoản chủ yếu Hai bên không thoả thuận về những điều khoản th ờng lệ thì hợp

đồng kinh tế vẫn cứ hình thành và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên

Thứ ba: điều khoản tuỳ nghi là những điều khoản do các bên tự thoả

thuận với nhau khi pháp luật cho phép Khi một quy phạm pháp luật quy

định các bên có thoả thuận về vấn đề này hay vấn đề khác thì các bên có thể thoả thuận hoặc không thoả thuận Nếu các bên thoả thuận đó là nội dung của hợp đồng các bên phải có trách nhiệm thực hiện Còn nếu các bên không thoả thuận thì các bên không phải thực hiện Ví dụ: điều khoản thởngvật chất, điều khoảm áp dụng mức phạt cụ thể khi vi phạm các điều khoản của hợp đồng trogn khung phạt mà pháp luật đã quy định

Theo pháp luật về hợp đồng kinh tế của nớc ta hiện nay thì những thoả thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng (cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh tài sản, thoả thuận về tiền thởng do thực hiện tốt hợp

đồng) là những điều khoản tuy nghi Những điều khoản này chỉ trở thành nội dung hợp đồng nếu các bên trực tiếp thoả thuận với nhau

Về điều khoản thởng do thực hiện tốt hợp đồng cần phải xem xét them Khái niệm, “thực hiện tốt hợp đồng” theo chúng tôi là một khái niệm không có cơ sở khoa học Thế nào là thực hiên tốt hợp đồng? Sau khi hợp đồng đợc ký kết và có hiệu lực các bên phải thực hiện đúng hợp đồng

và nếu thực hiện đúng hợp đồng là bình thờng Còn nếu các bên thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không là nghĩa vụ của các bên, do đó nó hoàn toàn là bình thờng, chẳng có lý do gì để thởng cả, còn bên nào vi phạm hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm vật chất (phạt hợp đồng và bồi thờng thiệt hại nếu có)

Trong hợp đồng kinh tế, hàng hoá đợc trao đổi ngang giá, do đó điều khoản thởng phạt tronh hợp đồng kinh tế là vô lý, trái với quy luật kinh tế Bởi vì giá cả trong hợp đồng đã chịu sự tác động khách quan của quy luật giá trị và quy luật cung cầu của thị trờng Nếu cộng thêm khoản tiền thởng

nó sẽ phá vỡ quy luật trao đổi hàng hoá trên cơ sở ngang giá

Trang 27

Trong quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các chủ doanh nghiệp t nhân với nhau hoặc giữa các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế quốc doanh, nếu họ thoả thuận thởng cho nhau thì đó là việc của họ Điều vô lý đó không ảnh hởng đến lợi ích của ai nên pháp luật cũng không can thiệp Nhng trong quan hệ hợp đồng giữa các doanh nghiệp Nhà n ớc với nhau hoặc giữa doanh nghiệp Nhà nớc với doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác thì không nên có điều khoản tuỳ nghi này Vì sự “tuỳ nghi”

đó có thể dẫn đến sự “tuỳ tiện” làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà n ớc

Nói tóm lại các điều khoản của hợp đồng là do các bên thoả thuận, pháp luật không hạn chế các điều khoản mà các bên thoả thuận, miễn là những thoả thuận đó không phải trái pháp luật Pháp luật chỉ quy định những điều khoản tối thiểu phải có để chứng tỏ giữa các bên có quan hệ hợp đồng Những điều khoản tối thiểu đó là những điều khỏan chủ yếu của hợp đồng

Pháp luật của các nớc khác nhau quy định điều khoản chủ yếu với tuỳ từng loại hợp đồng cụ thể có sự khác nhau Chẳng hạn đối với hợp

đồng mua bán thì luật của Pháp, Bỉ coi điều khoản chủ yếu là đối t ợng mua bán và giá cả Điều đó có nghĩa là hợp đồng đợc coi là hình thành từ thời

điểm các bên đã thoả thuận xong về đối tợng và giá cả Hệ thống pháp luật Anh, Mỹ thì không coi điều khoản giá cả là điều khoản chủ yếu, tức là các bên không bắt buộc phải thoả thuận về giá cả Nếu trong hợp đồng không quy định giá hàng thì các bên sẽ định giá trên cơ sở quy tắc đã thình thành giữa các bên trong quan hệ kinh doanh Nếu bằng phơng pháp đó vẫn cha xác định đợc giá hàng thì bên mua phải thanh toán theo giá thích hợp

Việc xác định “giá thích hợp” phụ thuộc vào thực trạng của từng tr ờng hợp cụ thể (Điều 8 Luật bán hàng Anh 1979- Sale Good ACT 1979) Bộ luật Thơng mại thống nhất của Mỹ thừa nhận rằng hợp đồng bán hàng đợc hình thành hợp đồng là các bên chỉ cần thoả thuận về số l ợng hàng hoá đ-

-ợc bán Những khía cạnh khác của đối tợng nh chất lợng mặt hàng cũng

nh các điều khoản về thời hạn, thủ tục bán hàng, giá hàng đợc coi nh các bên mặc nhiên chấp nhận và đa vào hợp đồng phù hợp với quy tắc đã đợc thừa nhận trong lĩnh vực buôn bán mặt hàng tơng tự Trong trờng hợp xảy

ra tranh chấp, các khía cạnh để trên đó các quy định chi tiết của các luật thể thức bán hàng có tính chất phổ biến và đợc thừa nhận, do thực tiễn quan hệ kinh doanh giữa các bên và những thông lệ thơng mại quy định

Nh vậy, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định khá cụ thể, chi tiết về các điều khoản của hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, về từng khía cạnh cụ thể

Trang 28

cần có những hiểu biết và kinh nghiệm sâu sắc đặc biệt về chủ thể hợp

đồng, về hình thức, về nội dung hợp đồng nh tiêu đề trình bày

Thứ t: thoả thuận về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ:

Các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng, tuy nhiên không phải trong mọi trờng hợp chủ thể tham gia hợp đồng đều thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng Do đó, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/09/1989 Nghị

định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trởng quy đinh chi tiết thi hành Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế có nêu ra các biện pháp bảo

đảm thực hiện hợp đồng Thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh tài sản

Đây là những biện pháp bảo đảm mang tính chất kinh tế th ờng đợc chủ thể

áp dụng

- Thế chấp tài sản:

Thế chấp tài sản là dùng số động sản, bất động sản hoặc giá trị tài sản khác thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm tài sản cho việc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết

Việc thế chấp tài sản phải đợc lập thành văn bản (văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính) và phải có sự xác nhận của cơ quan công chứng Nhà nớc hoặc cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh (trờng hợp không có cơ quan công chứng)

Ngời thế chấp tài sản có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản thế chấp, không đợc chuyển dịch sở hữu hoặc chuyển giao tài sản đó cho ngời khác trong văn bản thế chấp còn hiệu lực

- Cầm cố tài sản:

Cầm cố tài sản là trao đổi tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho ngời cùng quan hệ hợp đồng kinh tế để làm tin và đảm bảo tài sản trong tr -ờng hợp vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết Việc cầm cố phải đ ợclập thành văn bản riêng có chữ ký của các bên, có sự xác nhận của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền nh trờng hợp thế chấp tài sản Ngời giữ vật cầm cố

có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của vật cầm cố và không đ ợc chuyển giao vật cầm cố cho ngời khác trong thời gian văn bản cầm cố còn có hiệu lực

- Bảo lãnh tài sản

Là sự đảm bảo bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của ng ời nhận bảo lãnhđể chịu trách nhiệm tài sản thay cho ng ời đợc bảo lãnh khi ngời này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết Ngời nhận bảo lãnh phải có số tài sản

Trang 29

không ít hơn số tài sản mà ngời đó nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh tài sản phải đợc làm thành văn bản, có sự xác nhận về tài sản của ngân hàng nơi ngời bảo lãnh giao dịch của cơ quan công chứng Nhà n ớc hoặc cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh (trờng hợp không có cơ quan công chứng Nhà nớc).

Việc xử lý các tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi có vi phạm hợp

đồng kinh tế đợc thực hiện cùng với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế tại cơ quan có thẩm quyền Đó là Toà án kinh tế hoặc các trung tâm Trọng tài kinh tế phi Chính phủ

So với pháp luật về hợp đồng kinh tế trớc đây, Bộ luật dân sự quy

định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự một cách chặt chẽ và đầy đủ hơn Các biện pháp đảm bảo trong Bộ luật dân sự phong phú hơn

Đây là lần đầu tiên trong các văn bản pháp luật hợp đồng kinh tế của nớc ta có quy định về các biện pháp bảo đảm về tài sản cho việc thực hiện hợp đồng kinh tế Các quy định này đã góp phần vào việc bảo đảm sự an toàn của các quan hệ kinh tế Tuy nhiên các quy định về các biện pháp bảo

đảm thực hiện hợp đồng kinh tế còn rất sơ sài có nhiều điểm có thể gây hiểu lầm khi áp dụng, hoặc không thể thực hiện đ ợc Chẳng hạn, pháp luật quy định rằng, ngời nhận tài sản thế chấp và cầm cố phải giữ nguyên giá trị tài sản cầm cố hay thế chấp Việc giữ nguyên giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố giá trị tài sản thế chấp có thể tăng hay giảm Các quy định hiện hành cha bảo đảm khả năng loại trừ việc dùng một tài sản thế chấp cho việc baỏ đảm thực hiện hợp đồng kinh tế cũng ch a đợc giải quyết các vấn đề:

- Ai là ngời u tiên trong các chủ nợ có nhận thế chấp?

- Xác định trật tự u tiên trên cơ sở nào?

- Tài sản mua bằng tiền vay nợ có thế chấp có đợc mang đi thế chấp

để vay nơi khác không

- Cần quản lý vần đến thế chấp nh thế nào?

Xác định đợc đầy đủ những điều khoản cần thiết của hợp đồng khi ký kết hợp đồng kinh tế Tuy nhiên về từng khía cạnh cụ thể, cần có những hiểu biết và kinh nghiệm sâu sắc đặc biệt về chủ thể hợp đồng, về hình thức nội dung hợp đồng nh trên đã trình bày

1.2.6 Hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu:

Trang 30

Một hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu khi hợp đồng kinh tế đó ký kết trái với những quy định của pháp luật Những nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên đợc xác lập trái với những quy định của pháp luật thì không có hiệu lực thực hiện Có 2 loại hợp đồng kinh tế vô hiệu là hợp

đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ và hợp đồng kinh tế vô hiệu từng phần Việc kết luận hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ hay từng phần thuộc thẩm quyền của toà án kinh tế

a Hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ:

Những hợp đồng kinh tế nào có một trong các nội dung sau đây thì

bị coi là vô hiệu toàn bộ ngay từ khi ký hợp đồng kinh tế đợc hình thành

- Nội dung của hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật Ví

dụ các bên thoả thuận sản xuất, tiêu thụ hàng giả, mua bán vận chuyển hàng cấm

- Không đảm bảo t cách chủ thể của quan hệ hợp đồng, một trong các bên đã ký kết hợp đồng không có giấy phép đăng ký kinh doanh, theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp

đồng Nếu pháp luật quy định để thực hiện công việc đó đòi hỏi cả hai bên phải có đăng ký kinh doanh mà một trong các bên không có đăng ký kinh doanh thì hợp đồng kinh tế đó bị coi là vô hiệu toàn bộ Nếu pháp luật chỉ cần có một bên có đăng ký kinh doanh (ví dụ: bên bán, bên làm dịch vụ, bên nhận thầu, bên chủ phơng tiện vận tải ) mà bên đó không có đăng ký kinh doanh thì hợp đồng đó cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ

- Ngời ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa

đảo Ngời ký kết hợp đồng đúng thẩm quyền tức là ng ời đó không phải là

đại diện hợp pháp; không phải là ng ời đợc uỷ quyền hoặc đợc uỷ quyền

nh-ng vợt quá phạm vi uỷ quyền đó Khi nh-ng ời ký kết hợp đồnh-ng có hành vi lừa

đảo nh giả danh, giả mạo giấy tờ, chữ ký, con dấu, thì hợp đồng đó đợc coi

là vô hiệu toàn bộ

b Hợp đồng kinh tế vô hiệu từng phần:

Những hợp đồng kinh tế có nội dung vi phạm một phần điều cấm của pháp luật nhng không ảnh hởng đến các phần còn lại của hợp đồng thì bị coi là vô hiệu từng phần tức là chỉ vô hiệu những phần thoả thuận trái pháp luật, còn những phần khác vẫn có hiệu lực pháp luật

Theo khoản 2 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: “Hợp

đồng kinh tế bị coi là vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm

điều cấm của luật, nhng không ảnh hởng đến nội dung các phần cònlại của hợp đồng”

Trang 31

Trong trờng hợp, hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu từng phần thì các bên phải sửa đổi điều khoản trái pháp luật, khôi phục các quyền và lợi ích ban đầu, đồng thời có thể bị xử lý theo các quy định của pháp luật đối với phần vô hiệu đó.

* Nguyên tắc xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu

Hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu khi hợp đồng đó ký kết trái với quy định của pháp luật (mục 1.2.6 chơng này) đối với các hợp đồng kinh

tế vô hiệu toàn bộ, dù các bên cha thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện xong đều bị xử lý theo quy định của pháp luật

- Nếu nội dung của hợp đồng cha thực hiện thì các bên không đợc thực hiện nữa

- Nếu nội dung của hợp đồng đang thực hiện hoặc đã thực hiện xong thì bị xử lý tài sản nh sau; các bên phải hoàn trả cho nhau tất cả tài sản đã nhận đợc từ việc thực hiện hợp đồng; thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng thì phải nộp vào ngân sách nhà nớc, thiệt hại phát sinh thì các bên phải gánh chịu

- Ngời ký kết hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ, ng ời cố ý thực hiện hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ thì tuỳ theo mức độ vi phạm và bị xử lý

kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy

định của pháp luật

Trờng hợp hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu từng phần thì các bên phải sửa đổi các điều khoản trái pháp luật, khôi phục các quyền và lợi ích ban đầu và bị xử lý theo pháp luật đối với phần vô hiệu đó

Trang 32

Chơng ii Thực trạng việc ký kết hợp đồng kinh tế và Phơng hớng hoàn thiện pháp luật về ký kết

hợp đồng kinh tế

2.1 Thực trạng ký kết hợp đồng kinh tế

Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế năm 1989 về cơ bản đ ợc xây dựng theo những nguyên tắc của cơ chế quản lý kinh tế mới đó là thoả thuận ý chí trong việc ký kết hợp đồng, mặc dù vậy, sau gần 10 năm thực hiện nó

đã bộc lộ một số u điểm và nhợc điểm rất đáng lu ý

2.1.1 Về thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế

Hợp đồng kinh tế cần đợc ký kết theo thủ tục và trình tự nhất định Thủ tục, trình tự ký kết hợp đồng kinh tế là các cách thức, các b ớc, các hành vi mà các bên phải tiến hành nhằm xác lập một quan hệ hợp đồng có hiệu lực pháp lý

Có 2 cách ký kết hợp đồng kinh tế: ký trực tiếp và ký gián tiếp

Ký kết hợp đồng bằng cách trực tiếp diễn ra trong các trờng hợp đại diện của các bên trực tiếp gặp nhau để trao đổi, bàn bạc, thơng lợng, thoả thuận, thống nhất ý chí, xác định các điều khoản của hợp đồng và cùng ký vào văn bản hợp đồng đợc coi là hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời

điểm hai bên ký vào văn bản

Trong những trờng hợp các bên không thể ký kết hợp đồng một các trực tiếp thì các bên có thể ký kết theo cách gián tiếp

Ký kết hợp đồng bằng cách gián tiếp là cách thức ký kết mà theo đó, các bên gửi cho nhau các tài liệu giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng), chứa đựng nội dung của công việc giao dịch Việc ký kết bằng cách gián tiếp đòi hỏi phải tuân theo một trình tự nhất định Thông thờng trình tự này gồm 2 bớc:

Ngày đăng: 06/04/2013, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hợp đồng kinh tế và các hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế. ThS. Nguyễn Thị Khế - NXB Đồng Nai Khác
2. Những nội dung cơ bản của Luật kinh tế, Luật s Nguyễn Thái Luật gia Nguyên Trung, An Minh - NXB Thống kê Khác
3. Hợp đồng kinh tế, thuộc tổ Luật học Uỷ ban khoa học xã hội - NXB khoa học Khác
5. Những lỗi thờng gặp trong ký kết hợp đồng dân sự, kinh tế ngoại thơng. Luật gia Nguyễn Thích Thảo, Lê Nguyễn Thành Nam - NXB Thống kê Khác
6. Giáo trình Luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội. Nhà xuất bản Công an nh©n d©n, n¨m 1966 Khác
7. Giáo trình Luật Hình sự - Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân, n¨m 1966 Khác
8. Thông tin chuyên đề - Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ t pháp - tháng 10 năm1999 Khác
9. Tạp chí Luật học Đại học Luật Hà Nội, các số năm 1999 Khác
10. Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật - Viện nghiên cứu Nhà nớc và Pháp luật, các số 1998, 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w