Hiện nay pháp luật ngân hàng cũng như pháp luật khác liên quan đã có những qui định khá cụ thể và chi tiết về qui chế thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, đặc biệt là việc ban hành Luật Ngân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
KHOA GIÁO DỤC CƠ BẢN
Danh sách thành viên
1 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh 030125090307
2 Nguyễn Thị Thùy Linh 030125090396
3 Châu Thị Hoàn Mỹ 030125090487
5 Nguyễn Chính Lưu Nghi 030125090
6 Lê Thành Nguyên 030125090512
7 Vũ Đức Quang 030125090667
9 Đỗ Ngọc Thanh 030125090731
10 Nguyễn Hoàng Trúc
1
Đề tài:
LUẬT NGÂN HÀNG
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA CÁC
TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Giáo viên hướng dẫn: Ths Bùi Kim Dung
Nhóm: 8
Lớp:
z
Trang 2Bảng phân công công việc
1 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh 030125090307
2 Nguyễn Thị Thùy Linh 030125090396
3 Châu Thị Hoàn Mỹ 030125090487
5 Nguyễn Chính Lưu Nghi 030125090
6 Lê Thành Nguyên 030125090512
7 Vũ Đức Quang 030125090667
9 Đỗ Ngọc Thanh 030125090731
10 Nguyễn Hoàng Trúc
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, phát hành giấy tờ có giá là giải pháp huy động vốn khá dễ dàng và thuận lợi của các tổ chức kinh tế nói chung và tổ chức tín dụng nói riêng
từ công chúng Tuy nhiên, về phương diện học thuật, do việc phát hành giấy tờ có giá là loại hình giao dịch mới xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần đây, nên các nghiên cứu
từ góc độ pháp lý về vấn đề này còn quá ít ỏi Điều này, gây khó khăn rất lớn cho việc nhận thức đúng bản chất pháp lý của giao dịch phát hành giấy tờ có giá nói chung, cũng như giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nói riêng
Bản thân nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ có qui trình đơn giản nhanh chóng và tốn ít chi phí giao dịch cho các bên, đồng thời nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá là một hoạt động hạn chế rủi ro cho các tổ chức pháp nhân thực hiện các hoạt động ngân hàng, hoạt động này không những không làm đóng băng vốn của các ngân hàng mà còn giúp các ngân hàng sử dụng có hiệu quả và linh hoạt hơn nguồn vốn của mình Hơn nữa sự cung ứng vồn trong hoạt động chiết khấu sẽ tạo ra nguồn tiền gửi -một nguồn vốn mới cho khách hàng để cho vay, đây chính là lí do mà các ngân hàng hoặc các tổ chức có hoạt động ngân hàng rất chú trọng thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá hơn các kỹ thuật tín dụng khác
Hiện nay pháp luật ngân hàng cũng như pháp luật khác liên quan đã có những qui định khá cụ thể và chi tiết về qui chế thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, đặc biệt là việc ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và Luật các tổ chức tín dụng năm
2010 thì đã kịp thời khắc phục, bổ sung những hạn chế của các qui định của pháp luật
cũ Vì thế nhóm sẽ làm rõ những quy định cụ thể này
Tập thể nhóm 8
Trang 41 TỔNG QUAN VỀ CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA CÁC TCTD 1.1 Khái niệm, đặc điểm
Khái niệm: chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ tín dụng mà theo đó TCTD thỏa
thuận mua giấy tờ có giá của khách hàng trước hạn thanh toán
Đặc điểm
Vể chủ thể, bên cung ứng tín dụng là TCTD nhận chiết khấu và bên thụ hưởng tín
dụng là khách hàng xin chiết khấu, những nghĩa vụ hoàn trả tiền vay thì lại được chuyển giao cho người thứ 3 (chính là người mắc nợ theo giấy tờ có giá) thực hiện
Về hình thức pháp lý, tuy cũng là một nghiệp vụ tín dụng nhưng hoạt động chiết
khấu giấy tờ có giá của TCTD đối với khách hàng được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, chứ không phải là hợp đồng tín dụng
Về quy trình nghiệp vụ, chiết khấu giấy tờ có giá ngoài thủ tục thẩm định hồ sơ
chiết khấu, khách hàng được chiết khấu còn phải làm thêm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho người mua là TCTD để được nhận khoản tiền bán giấy tờ có giá
do TCTD thanh toán
Về đối tượng chiết khấu, chỉ có giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán ngắn
hạn(dưới 1 năm) mới có thề là đối tượng chiết khấu tại TCTD
Về giá bán của giấy tờ có giá, mặc dù về nguyên tắc các bên tham gia hợp đồng
chiết khấu có quyền thỏa thuận với nhau về giá bán nhưng thực tế, giá bán của giấy tờ có giá bao giờ cũng thấp hơn giá trị của giấy tờ có giá được mua bán
Luật áp dụng, do hoạt động chiết khấu vừa là nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá,
đồng thời còn là một nghiệp vụ tín dụng của TCTD cho nên hoạt động này ngoài việc tuân thủ các quy tắc chung về hợp đồng mua bán giấy tờ có giá còn phải chịu sự điều chỉnh của các quyết định pháp luật về hoạt động ngân hàng
1.2 Các đối tượng áp dụng
Các tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng
Trang 5Khách hàng chiết khấu công cụ chuyển nhượng là người thụ hưởng công cụ chuyển nhượng và có nhu cầu chiết khấu công cụ chuyển nhượng đó tại tổ chức tín dụng, bao gồm: Tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài Tổ chức quy định tại khoản này bao gồm cả tổ chức tín dụng
Khách hàng tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng là tổ chức tín dụng thụ hưởng công cụ chuyển nhượng và có nhu cầu tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng đó tại tổ chức tín dụng
(Theo điều 2, Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN 29/12/2006 của Thống đốc NHNN)
2 QUY ĐỊNH VỀ CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA CÁC TCTD
2.1 Phương thức chiết khấu, tái chiết khấu
Chiết khấu, tái chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá là phương thức mua hẳn giấy tờ có giá theo giá chiết khấu, tái chiết khấu và khách hàng chuyển giao ngay quyền sở hữu giấy tờ có giá đó cho tổ chức tín dụng Khi giấy tờ có giá đó đến hạn thanh toán, tổ chức tín dụng xuất trình giấy tờ có giá để thanh toán với tổ chức phát hành Chiết khấu, tái chiết khấu có thời hạn
Các tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá theo thời hạn và giá chiết khấu, tái chiết khấu, đồng thời kèm theo cam kết của khách hàng về việc mua lại giấy tờ
có giá đó vào ngày đến hạn chiết khấu, tái chiết khấu
Trường hợp hết thời hạn chiết khấu, tái chiết khấu mà khách hàng không thực hiện việc mua lại giấy tờ có giá, thì tổ chức tín dụng là chủ sở hữu hợp pháp và được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ giấy tờ có giá đó
(Theo điều 8, Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN 15/10/2004 của Thống đốc NHNN)
2.2 Các bên tham gia giao dịch chiết khấu
- Bên được chiết khấu (khách hàng) trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá tại TCTD chính là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu xin chiết khấu giấy tờ có giá, trong TH tái chiết khấu giấy tờ có giá thì khách hàng xin tái chiết khấu là TCTD đang sở hữu giấy
tờ có giá dó
Điều kiện chiết khấu giấy tờ có giá
Trang 6Chủ thể xin chiết khấu phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Giấy tờ có giá đề nghị chiết khấu, tái chiết khấu phải đủ:
Quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng
Chưa đến hạn thanh toán được phép giao dịch, được thanh toán theo qui định của
tổ chức phát hành
Giới hạn chiết khấu tối đa đối vời một khách hàng
Nếu khách hàng là TCTD hoặc khách hàng không phải là TCTD nhưng có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá do chính TCTD đó phát hành hoặc do Chính phủ phát hành thì TCTD nhận chiết khấu có quyền xem xét quyết định mức chiết khấu tối đa phù hợp với các qui định của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ an toàn trong hoạt động tín dụng
Nếu khách hàng xin chiết khấu không thuộc các trường hợp nêu trên thì mức chiết khấu tồi đa đối với 1 khách hàng là 15% vốn tự có của TCTD nhận chiết khấu Trường hợp bên nhận chiết khấu là chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam thì mức chiết khấu tối đa đối với 1 khách hàng bằng 15% vốn tự có của ngân hàng mẹ
- Bên nhận chiết khấu (tái chiết khấu) là các TCTD
Các điều kiện của các TCTD
Có giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do NHNN cấp, trong đó ghi rõ nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá
Có giấy đăng ký kinh doanh nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá
Có Điều lệ được Ngân hàng nhà nước chuẩn y
Có người đại diện hợp pháp đủ năng lực và thẩm quyền để ký kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá
2.3 Nguyên tắc chiết khấu, tái chiết khấu
Thực hiện theo thoả thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, phù hợp với các nguyên tắc chuyển nhượng quy định tại Luật Các công cụ chuyển nhượng và các quy định của pháp luật có liên quan
Tổ chức tín dụng có quyền xem xét, quyết định việc chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả; tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Trang 7Đối với việc chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng ghi trả bằng ngoại
tệ, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện theo các quy định của pháp luật về ngoại hối
Đối với việc chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện theo các quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng về áp dụng điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế trong quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài và quy định của pháp luật về quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài
Việc tái chiết khấu chỉ được thực hiện đối với công cụ chuyển nhượng đã được tổ chức tín dụng khác chiết khấu theo phương thức mua hẳn
(Theo điều 4, Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN 29/12/2006 của Thống đốc
NHNN)
2.4 Hình thức pháp lý của giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá
Hình thức pháp lý của giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá của các TCTD là hợp đồng chiết khấu Tuy chưa có quy định cụ thể của pháp luật về hợp đồng chiết khấu
GTCG nhưng nó cũng có các điều khoản như sau (cấu trúc hợp đồng nằm phía sau của
tiểu luận).
+ Điều khoản về chủ thể của Hợp đồng, trong hợp đồng phải có ghi rõ, chi tiết bên nhận chiết khấu là tổ chức tín dụng ( hoặc ngân hàng Nhà nước Việt Nam) có nêu rõ các thông tin cần thiết như trụ sở, tên, số điện thoại… và bên được chiết khấu có ghi rõ là tổ chức, cá nhân nào, địa chỉ, người đại diện hợp pháp
+ Điều khoản về đối tượng hợp đồng, trong vấn đề này thì hợp đồng phải ghi rõ đối tượng của hợp đồng là chiết khấu giấy tờ có giá, có kèm theo Bảng kê các loại giấy tờ
có giá cùng với bản gốc giấy tờ có giá xin chiết khấu
+ Điều khoản về lãi suất chiết khấu phải ghi rõ về lãi suất chiết khấu giấy tờ có giá với từng loại giấy tờ có giá cụ thể, các chi phí khác, tổng mệnh giá được chiết khấu, số tiền lợi túc bị khấu trừ, tổng số tiền còn lại của khách hàng Lưu ý là lãi suất chiết khấu
do hai bên tự thỏa thuận nhưng phải phù hợp với qui định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất định hướng
Trang 8+ Điều khoản về phương thức thanh toán, tức là sự thỏa thuận qui định về phương thức chuyển tiền cho khách hàng khi thực hiện chiết khấu là bằng tiền mặt hay tài khoản tiền gửi…
+ Điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, nội dung của điều khoản này nhằm xác định được cách thức giải quyết khi có tranh chấp phát sinh, điều khoản này có thể có hoặc không, nếu không có thì khi xảy ra tranh chấp sẽ được giải quyết theo qui định của pháp luật
2.5 Thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá
Bước thứ nhất, khách hàng xin chiết khấu phải lập hồ sơ xin chiết khấu theo mẫu qui
định và gửi cho tổ chức tín dụng nơi mình lựa chọn Hồ sơ xin chiết khấu bao gồm các tài liệu như đơn xin chiết khấu; bảng kê chứng từ kèm theo bản gốc các chứng từ xin chiết khấu; các giấy tờ khác chứng minh năng lực chủ thể của người xin chiết khấu ;
Bước thứ hai, tổ chức tín dụng nơi nhận hồ sơ chiết khấu tiến hành kiểm tra, xem xét
mức độ thõa mãn các điều kiện chiết khấu của mỗi chứng từ xin chiết khấu
Nếu chấp thuận chiết khấu, tổ chức tín dụng gửi cho khách hàng một văn bản ghi
rõ mục lục các chứng từ được chiết khấu, tổng mệnh giá được chiết khấu, số tiền lợi tức chiết khấu bị khấu trừ, tổng số tiền còn lại khách hàng được hưởng Trong trường hợp từ chối chiết khấu thì tổ chức tín dụng phải hoàn trả lại cho khách hàng những chứng từ không được chiết khấu, kèm theo văn bản trả lời có ghi rõ lí do từ chối chiết khấu;
Bước thứ ba, khách hàng làm thủ tục chuyển nhượng các chứng từ được chấp thuận
chiết khấu cho tổ chức tín dụng theo qui định của pháp luật về chuyển nhượng đối với mỗi loại chứng từ Trên cơ sở các chứng từ đã được chuyển nhựơng, tổ chức tín dụng trả
số tiền còn lại mà khách hàng được hưởng vào tài khoản tiền gửi của họ ở tổ chức tín dụng, hoặc trả bằng tiền mặt hay ngân phiếu thanh toán theo yêu cầu của khách hàng;
Bước thứ tư, đến hạn thanh toán của chứng từ chiết khấu, tổ chức tín dụng xuất trình
chứng từ một cách hợp lệ để đòi tiền người mắc nợ theo chứng từ
Trong trường hợp chứng từ không được thanh toán thì tổ chức tín dụng có quyền khởi kiện chính người mắc nợ (kể cả những người có nghĩa vụ liên đới với món nợ trên chứng từ, nếu có) tại một cơ quan tài phán có thẩm quyền theo luật định
Trang 9Riêng đối với thương phiếu, nếu đã được tổ chức tín dụng (với tư cách là người sở hữu) xuất trình hợp lệ mà vẫn không được thanh toán thì tổ chức tín dụng có quyền quay lại truy đòi người xin chiết khấu và tất cả những người khác đã từng đứng tên sở hữu thương phiếu hoặc đứng tên bảo lãnh trên thương phiếu Việc truy đòi như trên đây sẽ được thực hiện theo qui định của pháp luật về thương phiếu
2.6 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ chiết khấu GTCG
2.6.1 Bên nhận chiết khấu
Do bên nhận chiết khấu vừa đóng vai trò là người cho vay, vừa có tư cách là
người mua các giấy tờ có giá cho nên chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ sau đây
Quyền của bên chiết khấu
+ Bên chiết khấu có quyền yêu cầu khách hàng được chiết khấu chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá của mình theo qui định của pháp luật về chuyển nhượng giấy
tờ có giá
+ Quyền được khấu trừ khoản lợi tức chiết khấu, lợi tức tái chiết khấu từ mệnh giá của giấy tờ có giá
+ Quyền được truy đòi khoản nợ ghi trên giấy tờ có giá đối với người xin chiết khấu nếu giấy tờ có giá không được thanh toán bởi người mắc nợ vào ngày đáo hạn
Tổ chức tín dụng có quyền truy đòi đối với khách hàng và những người có liên quan về số tiền không được thanh toán đối với công cụ chuyển nhượng, tiền lãi trên số tiền chậm trả kể từ ngày công cụ chuyển nhượng đến hạn thanh toán, chi phí truy đòi và các chi phí hợp lý khác theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng, quy định của pháp luật có liên quan và thoả thuận của các bên
(Điều 12, Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN 29/12/2006 của Thống đốc NHNN)
Nghĩa vụ của bên chiết khấu
+ Nghĩa vụ thanh toán khoản tiền mua giấy tờ có giá được chiết khấu cho khách hàng, sau khi đã khấu trừ phần lợi tức chiết khấu theo thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu
+ Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại vật chất đã xảy ra đối với khách hàng được chiết khấu khi có hành vi gây thiệt hại do lỗi của bên nhận chiết khầu trong khi thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá
Trang 102.6.2 Bên được chiết khấu
Quyền của bên được chiết khấu
+ Quyền yêu cầu bên nhận chiết khấu giấy tờ có giá trả tiền mua giấy tờ có giá theo giá cả đã thỏa thuận trong hợp đồng sau khi đã chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho bên nhận chiết khấu
+ Quyền khiếu naị và khởi kiện đối với bên nhận chiết khấu về các hành vi vi phạm hợp đồng của chủ thể này để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình
+ Quyền được yêu cầu bên nhận chiết khấu bồi thường cho mình trong các trường hợp bên nhận chiết khấu gây thiệt hại khi thực hiện hợp đồng
Nghĩa vụ của bên được chiết khấu
+ Nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá được chiết khấu cho bên nhận chiết khấu theo qui định của pháp luật
+ Nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu hợp pháp của bên nhận chiết khấu liên quan đến giấy tờ có giá được chiết khấu
3 SƠ LƯỢC VỀ NGHIỆP VỤ CHIẾT KHẤU GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA CÁC TCTD Ở VIỆT NAM
3.1 Loại giấy tờ có giá thường được chiết khấu
Ngoài các loại trái phiếu, tín phiếu do Chính phủ phát hành thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước Thì các TCTD thường chỉ chiết khấu các giấy tờ có giá do mình phát hành hoặc do một số TCTD khác phát hành mà TCTD chấp nhận Cụ thể
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội - Habubank
Các loại giấy tờ có giá do Habubank và các ngân hàng thương mại khác phát hành như Trái phiếu NHTM; Kỳ phiếu; Chứng chỉ tiền gửi (Sổ Tiết kiệm, Sổ Tiền gửi nhưng không bao gồm Sổ Tiết kiệm mang tính gửi góp)
Các loại giấy tờ có giá khác do Habubank quy định trong từng thời kỳ hoặc do Tổng Giám đốc quyết định từng trường hợp cụ thể (VD: Bộ chứng từ thanh toán L/C không huỷ ngang, có bảo hiểm và thanh toán qua HABUBANK; Hối phiếu; Lệnh phiếu; Trái phiếu của UBND tỉnh, thành phố )