1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh, trường ĐH Kinh tế Quốc Dân sau khi ra trường

38 910 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 493 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng việc làm sinh viên sau khi ra trường hiện nay...8 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XU HƯỚNG LỰA CHỌN VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHÓA 51 KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂ

Trang 1

TRƯỜNG HIỆN NAY 7

1.1 Vài nét sơ qua về tình hình lao động của Việt Nam trong thời gian gần đây 7

1.2 Thực trạng việc làm sinh viên sau khi ra trường hiện nay 8

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XU HƯỚNG LỰA CHỌN VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHÓA 51 KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN SAU KHI RA TRƯỜNG 12

2.1 Tổng quan về cuộc điều tra 12

2.2 Kết quả điều tra 13

2.2.1 Kết quả điều tra về công việc mong muốn trong tương lai 13

2.2.2 Ý kiến của sinh viên về thực trạng việc làm của sinh viên sau khi ra trường hiện nay 21

2.3 Kết luận và đưa ra nhận xét 26

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GỢI Ý ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG 28

3.1 Đối với bản thân sinh viên 28

3.2 Đối với nhà trường 28

3.3 Đối với các doanh nghiệp 29

KẾT LUẬN 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

PHỤ LỤC 32

Trang 2

Biểu đồ 1: Lý do lựa chọn ngành học hiện tại ở đại học của sinh viên khóa 51

khoa QTKD 13Biểu đồ 2: Dự định sau khi ra trường của sinh viên khóa 51, khoa QTKD 15Biểu đồ 3: Lĩnh vực công việc mà sinh viên khóa 51 khoa QTKD mong muốn

sau khi ra trường 16Biểu đồ 4: Loại hình doanh nghiệp mà sinh viên khóa 51, khoa QTKD lựa

chọn làm việc sau khi ra trường 17Biểu đồ 5: Vị trí công việc mà sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh

mong muốn sau 5 năm làm việc 17Biểu đồ 6: Mức lương khởi điểm mà sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh

doanh mong muốn sau khi ra trường 18Biểu đồ 7: Địa điểm làm việc mong muốn của sinh viên khóa 51 khoa Quản

trị kinh doanh 18Biểu đồ 8: Lý do lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51, khoa Quản trị kinh

doanh 20Biểu đồ 9: Ý kiến của sinh viên về mức độ đáp ứng của kiến thức trên đại học

với công việc thực tế sau khi ra trường 22Biểu đồ 10: Các yếu tố mà doanh nghiệp yêu cầu ngoài kiến thức chuyên môn

23Bảng 1: Ý kiến sinh viên về mức độ ưu tiên của các yếu tố khi tuyển dụng

của doanh nghiệp 24Bảng 2: Thông báo "Công khai chất lượng đào tạo thực tế của trường ĐH

Kinh tế Quốc Dân" (30 tháng 11 năm 2011) 26

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

***

1, Tính cấp thiết của đề tài:

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa cùng với sự đi lên của khoa học kỹthuật, sự phát triển của mỗi quốc gia không còn phụ thuộc nhiều vào nguồntài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn đầu tư vì tài nguyên thiên nhiên đangdần cạn kiệt, còn nguồn lực tài chính cũng là có hạn Chính vì thế, nguồnnhân lực đang trở thành một trong những yếu tố then chốt quyết định tới sựtăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam Hiện tại,ViệtNam có hơn 46 triệu lao động, một lực lượng khá hùng hậu và đông đảo Vấn

đề luôn luôn được quan tâm là giải quyết vấn đề việc làm cho 46 triệu laođộng như thế nào? Thực tế hiện nay chỉ ra rằng đối tượng sinh viên – lựclượng lao động đã qua đào tạo lại rất khó xin được việc sau khi ra trườngtrong khi đó bên phía doanh nghiệp, nhu cầu về lao động cũng rất cấp thiếtnhưng lại không thể tuyển dụng được đúng vị trí mà mình mong muốn Đâyquả thực là một vấn đề cấp thiết cần được giải quyết nhanh chóng, kịp thời đểnâng cao chất lượng nguồn lao động cho đất nước trong giai đoạn phát triểnhiện nay, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO Xuất phát từ thực trạng trên mà em lựa chọn đề tài: ‘’ Tiêu chí ưu tiênkhi lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh, trường

ĐH Kinh tế Quốc Dân sau khi ra trường’’ với mong muốn có thể góp mộtphần nào đó vào việc giải quyết vấn đề việc làm cho sinh viên hiện nay

2, Tổng quan về nghiên cứu:

Vấn đề việc làm, đặc biệt là việc làm cho sinh viên hiện nay đang là mộtvấn đề được quan tâm ngày càng sâu rộng bởi lẽ nó là yếu tố có ảnh hưởngtrực tiếp tới chất lượng đào tạo Đại học nói riêng và chất lượng của cả nềngiáo dục Việt Nam nói chung mà giáo dục chính là quốc sách hàng đầu, làmột yếu tố then chốt quyết định tới sự phát triển lâu dài của mỗi quốc gia.Chính vì vậy mà cho đến thời điểm này đã có một số lượng lớn các công trình

Trang 4

nghiên cứu cũng như các bài thảo luận trong nước về vấn đề việc làm của sinhviên, trong đó có một số công trình có liên quan tới vấn đề mà em đangnghiên cứu như sau:

1 Báo cáo ‘’Vận dụng quan điểm toàn diện để xem xét tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường ở nước ta hiện nay’’, năm 2011, của hai tác

giả Phạm Thị Thảo, Nguyễn Hùng Vương, sinh viên khoa Giáo dục chínhtrị, trường ĐH Sư phạm đã chỉ rõ: ‘’ …Việc làm cho sinh viên sau khi ratrường hiện đang là vấn đề nan giải chưa có những biện pháp giải quyếthữu hiệu Đây là một vấn đề xã hội nổi cộm ảnh hưởng tới sự phát triểnkinh tế của đất nước Tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ ảnh hưởng tới mức độ toàndụng lao động xã hội, từ đó làm thu nhập quốc dân giảm sút, ảnh hưởngtiêu cực đến tiềm năng tăng trưởng kinh tế của quốc gia Không những thếthất nghiệp còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng các

tệ nạn xã hội như trộm cướp, cờ bạc, ma túy,… làm cho đời sống người laođộng gặp nhiều khó khăn, chất lượng an sinh xã hội giảm sút Thất nghiệpnói chung cũng như thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường nói riêngđang là một vấn đề được dư luận xã hội và giới nghiên cứu quan tâm, tuynhiên vẫn chưa có biện pháp thỏa đáng nào để giải quyết vấn đềnày….Thất nghiệp có nhiều hình thức biểu hiện Tỷ lệ thất nghiệp ở nước

ta vẫn còn ở mức cao, khoảng 4,2 % năm 2008, đặc biệt là tình trạng thấtnghiệp của lao động có trình độ đại học và cao đẳng Theo số liệu của Bộgiáo dục và đào tạo năm 2006 thì cả nước có tới 63 % sinh viên tốt nghiệpđại học, cao đẳng ra trường không có việc làm, 37% có việc làm nhưngnhiều sinh viên phải làm trái ngành, trái nghề hoặc phải đào tạo lại…’’

2, Bài viết ‘’ Gắn đào tạo với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp’’ của TS

Trần Anh Tài, khoa Quản trị kinh doanh, trường Kinh tế, ĐH Quốc gia HàNội in trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và kinh doanh số 25,năm 2009 Bài viết có đề cập tới vấn đề cần gắn kết nhà trường, doanhnghiệp và sinh viên với nhau để nhằm giải quyết một vấn đề, đó là vấn đềviệc làm sau khi ra trường cho sinh viên Bài viết còn chỉ rõ: “ …Theo sốliệu khảo sát của dự án giáo dục đại học về việc làm cho sinh viên sau khi

Trang 5

tốt nghiệp thì trong khoảng 200 000 sinh viên ra trường hàng năm chỉ có 30

% đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng, 45 – 62 % sinh viên tìm đượcviệc sau khi tốt nghiệp trong đó chỉ có 30 % là làm đúng ngành nghề đàotạo… Bên cạnh số sinh viên tốt nghiệp hàng năm không tìm kiếm đượcviệc làm ngày càng tăng lên thì số sinh viên có việc làm cũng không đápứng được yêu cầu về chất lượng của các nhà tuyển dụng Sinh viên cáctrường đại học sau khi được tuyển dụng vào các doanh nghiệp thường phảiđược tiếp tục đào tạo 2 đến 3 năm nữa mới có thể đáp ứng được nhu cầu sửdụng của doanh nghiệp, điều này gây lãng phí rất lớn về thời gian và tiềnbạc của doanh nghiệp Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, khoảng 50

% công ty may mặc, hóa chất đánh giá lao động được đào tạo không đápứng được yêu cầu của mình Khoảng 60 % lao động trẻ tốt nghiệp từ cáctrường dạy nghề và trường cao đẳng cần được đào tạo lại ngay sau khiđược tuyển dụng Một số doanh nghiệp phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1năm cho khoảng 80 – 90 % cho những sinh viên tốt nghiệp vừa được tuyểndụng…’’

3, Gần đây nhất là hội thảo quốc gia: “Xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo cử nhân Quản trị kinh doanh (QTKD) ở Việt Nam” được tổ chức

tại Trường ĐH Kinh tế quốc dân ngày 12/10/2011 Tại hội thảo này, mộtvấn đề bức thiết đã được đặt ra đó là:’’Tại sao tốt nghiệp ‘’bằng đỏ’’ vẫntrượt tuyển dụng’’ Phân tích về thực trạng nhân lực ngành QTKD hiện naycủa Việt Nam, TS Đoàn Hồng Lê, Cục Hải quan TP Đà Nẵng, cho biết:

“Sản phẩm đào tạo QTKD vẫn còn một khoảng cách xa so với nhu cầudoanh nghiệp Tình trạng thiếu hụt nhân lực trình độ cao, có kỹ năng quảntrị ngày càng trầm trọng, nhất là các vị trí chủ chốt trong công ty Đặc biệt,thiếu nhân lực trình độ cao trong các ngành nghề thuộc QTKD nhưMaketing - bán hàng - quảng cáo; nhóm ngành quản trị Tài chính - Ngânhàng; nhóm ngành Dịch vụ - Du lịch - Hành chính…các ngành này chiếmkhoảng 40% tổng nhu cầu lao động trên thị trường và mức tăng trưởng phảiđạt khoảng 50% mới đáp ứng được nhu cầu Thậm chí nhiều vị trí của một

số công ty nhiều năm vẫn không tuyển được ứng viên nào Ngay tại các

Trang 6

doanh nghiệp Đà Nẵng, qua khảo sát hơn 1/3 doanh nghiệp gặp phải khókhăn trong việc tìm kiếm nguồn nhân lực có trình độ để đáp ứng yêu cầusản xuất kinh doanh Đáng chú ý, nguồn nhân lực đã qua hệ thống đào tạonhưng không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp chiếm tỷ lệ rất cao46,14%”.

Theo nhận định của nhiều doanh nghiệp, phần lớn sinh viên ratrường còn yếu kém về kỹ năng làm việc và kinh nghiệm thực tế Cácdoanh nghiệp cho biết, qua phỏng vấn tuyển dụng cho thấy có nhiều nhiềusinh viên đạt kết quả học tập cao nhưng lại không quen làm việc theo nhómhoặc chưa biết cách diễn đạt, trình bày ý tưởng của mình trước tập thể…

… TS Phạm Thế Hưng, Viện trưởng Viện SISME - Hiệp hội DNNVV ViệtNam (VINASME) cho biết: “Thực tiễn cho thấy, các nhà lãnh đạo và quản trịkhông ngừng than phiền về chất lượng nhân viên của mình Vấn đề đặt ra rấtquan trọng trong giai đoạn hiện nay là các chủ doanh nghiệp và Nhà trườngcần phối hợp thẳng thắn, nhìn thẳng vào thực trạng nguồn nhân lực VN hiện

có, những gì đã đáp ứng yêu cầu, những gì phải sửa đổi, bổ sung trong chiếnlược đào tạo chung nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ doanh nghiệp giỏi”

Như vậy, những tài liệu ở trên đã đề cập rất rõ thực trạng việc làm củasinh viên nói chung và sinh viên Kinh tế nói riêng sau khi ra trường và chỉ ramột số nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó nhưng hầu hết các nghiên cứu đềunhìn vấn đề này ở góc độ doanh nghiệp, góc độ các nhà tuyển dụng Còn vềphía sinh viên và phía nhà trường thì vấn đề này chưa được nhìn nhận mộtcách đầy đủ và cụ thể

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Mục tiêu chính của nghiên cứu là thu thập các thông tin cụ thể và sátthực về xu hướng lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinhdoanh, trường Đại học Kinh tế Quốc Dân sau khi tốt nghiệp nhằm giải quyếtcâu hỏi nghiên cứu: Số lượng, tỷ lệ sinh viên lựa chọn các ngành nghề là baonhiêu? Sinh viên lựa chọn việc làm dựa vào các yếu tố nào, họ ưu tiên yếu tốnào khi đưa ra lựa chọn việc làm cho mình Cuối cùng là suy nghĩ của cá nhân

Trang 7

sinh viên về thực trạng thất nghiệp và làm trái ngành, trái nghề của sinh viênsau khi ra trường cũng như các gợi ý để giải quyết vấn đề trên Từ đó, gópphần tìm ra được nguyên nhân và đưa ra được các giải pháp khả quan để đềxuất lên phía nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao được chất lượngđầu ra và giúp sinh viên có được việc làm ổn định sau khi ra trường.

4 Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu: Khoa Quản trị kinh doanh, trường Đại học Kinh

tế Quốc Dân

Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên khóa 51 của 3 chuyên ngành thuộc

Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, không theo tỷ lệnam/nữ

Loại hình nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả.

Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp cả định tính và định lượng.

- Phương pháp định tính: Thu thập các loại dữ liệu thứ cấp về vấn đề

việc làm của sinh viên nói chung và sinh viên Kinh tế nói riêng

- Phương pháp định lượng: Tiến hành điều tra tất cả các sinh viên tới

từ 3 chuyên ngành QTKD Công nghiệp & Xây dựng, QTKD Tổng hợp và

QT Chất lượng của khoa Quản trị kinh doanh bằng phiếu điều tra có cấu trúc.Tổng số phiếu phát ra là 365 phiếu, số phiếu thu về là 225 phiếu và số phiếucuối cùng thu được sau khi đã làm sạch là 186 phiếu, đạt tỷ lệ gần 51 % Kếtquả nghiên cứu được xử lý và phân tích trên Excel

Thời gian nghiên cứu: 1 tháng ( từ 10/3 đến 10/4/2012).

5 Kết cấu của đề tài: Đề tài bao gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan chung về tình hình lao động và việc làm của Việt

Trang 8

Chương 2: Thực trạng xu hướng lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51

khoa Quản trị kinh doanh trường ĐH Kinh tế Quốc Dân

2.1 Tổng quan về cuộc điều tra

2.2 Kết quả điều tra

2.3 Kết luận và đưa ra nhận xét

Chương 3: Một số gợi ý cho việc giải quyết vấn đề việc làm cho sinh viên sau

khi ra trường

3.1 Đối với bản thân sinh viên

3.2 Đối với nhà trường

3.3 Đối với doanh nghiệp

Trang 9

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU KHI

RA TRƯỜNG HIỆN NAY

***

1.1 Vài nét sơ qua về tình hình lao động của Việt Nam trong thời gian gần đây:

Theo báo cáo ‘’Xu hướng việc làm Việt Nam 2010’’, trong giai đoạn

từ năm 2007 và 2009, Việt Nam gặp nhiều thách thức do tác động của nềnkinh tế toàn cầu bị suy giảm với những ảnh hưởng rõ rệt đến thị trường laođộng Nghiên cứu lực lượng lao động đã cho thấy một số xu hướng việc làmquan trọng trong giai đoạn này

Các mục tiêu của Chương trình Việc làm Bền vững đã đạt được là mộtyếu tố quan trọng để chống đói nghèo Tỷ trọng việc làm dễ bị tổn thươnggiảm xuống 4,3 điểm phần trăm do sự gia tăng tỷ trọng lao động làm công ănlương (2,9 điểm phần trăm) và gia tăng lao động tự làm (8,2 điểm phần trăm).Tuy nhiên, sự gia tăng tỷ trọng lao động gia đình không được trả công (4,0điểm phần trăm) trong cùng kỳ đi ngược lại xu hướng giảm của nhóm việclàm dễ bị tổn thương

Việt Nam có tỷ số việc làm trên dân số tương đối cao, với gần 75% dân

số từ 15 tuổi trở lên Tuy nhiên, do ảnh hưởng bất ổn của khủng hoảng tàichính toàn cầu, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam đã giảm tronggiai đoạn từ 2007 đến 2009 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng đối vớinam giới và nữ giới trong độ tuổi 15 – 19 (từ 37,1% năm 2007 lên 43,8% năm2009) cho thấy rằng đã có một lượng lớn thanh thiếu niên rời bỏ nhà trường

để tìm việc kiếm sống và hỗ trợ gia đình

Ngành chiếm nhiều lao động nhất ở Việt Nam là các ngành nôngnghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, với gần 23 triệu lao động trong năm 2008 Sốliệu trên cho thấy sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam từnhững việc làm trong ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp, đòi hỏi

Trang 10

nhiều lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng caohơn, được đầu tư công nghệ và tài chính nhiều hơn Trong hầu hết các dự báo,việc làm trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có chiều hướnggiảm và sẽ ở mức 21,1 triệu lao động vào năm 2020 Người lao động có trình

độ và kỹ năng cao hơn sẽ là chất xúc tác cho quá trình chuyển đổi này cũngnhư sự tăng trưởng thành công của Việt Nam trong vai trò là quốc gia có thunhập trung bình

Xu hướng của thị trường lao động trong giai đoạn 2010-2015

Lực lượng lao động của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng từ năm 2010 tới năm

2015 Xét về số lượng, Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những nước cómức tăng lực lượng cao nhất trong khu vực ASEAN, chỉ sau Indonesia vàPhilippines Điều này vẫn sẽ tạo ra sức ép đáng kể đối với nền kinh tế để bảođảm việc làm đầy đủ

Nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh sẽ là ưu tiên trong

5 năm tới khi Việt Nam chủ trương vươn lên tham gia vào hệ thống sản xuấtcủa khu vực và toàn cầu Việc tiếp tục hội nhập sâu vào thị trường quốc tế vàchuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn cho lao độngtrong nước, đặc biệt cho nhóm đối tượng sinh viên mới ra trường

1.2 Thực trạng việc làm của sinh viên sau khi ra trường hiện nay:

Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tếquốc tế như hiện nay thì nguồn lao động, đặc biệt là lao động có trình độ caođang trở thành một nhân tố vô cùng quan trọng góp phần vào sự phát triển củamỗi quốc gia và sinh viên cũng thuộc nhân tố quan trọng đó Tuy nhiên, hiệnnay, vấn đề sinh viên sau khi ra trường không tìm được việc và làm tráingành, trái nghề là hiện tượng vô cùng phổ biến

Trong thời kì bao cấp, tỷ lệ học đại học, cao đẳng còn rất ít nên tìnhtrạng thất nghiệp hầu như không có, nhưng trong thời kì kinh tế thị trườngnhư hiện nay, khi mà các trường đại học, cao đẳng, đào tạo nghề được lập rarất nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu lao động có kỹ năng và kinh nghiệm thì vấn

Trang 11

đề thất nghiệp quả là vấn đề đáng lo ngại Cả nước có tới gần 200 trường đạihọc, cao đẳng, hàng năm, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp là rất cao nhưng tỷ lệ sinhviên không có việc làm cũng không phải là con số nhỏ Theo số liệu của Bộgiáo dục và đào tạo năm 2006 thì cả nước có tới 63 % sinh viên tốt nghiệp đạihọc, cao đẳng ra trường không có việc làm, 37% có việc làm nhưng nhiềusinh viên phải làm trái ngành, trái nghề hoặc phải đào tạo lại Đặc biệt, theo

số liệu gần đây nhất ( 2012) thì với 79 nghìn doanh nghiệp giải thể và phásản, và có thể tiếp tục có thêm rất nhiều doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặcgiải thể trong năm nay, trong đó có cả các doanh nghiệp lớn bên cạnh cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) làm tăng nguy cơ thất nghiệp cho ngườilao động kể cả đối tượng sinh viên trên diện rộng với phạm vi cả nước Trong

bài viết ‘’ Gắn đào tạo với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp’’ của TS

Trần Anh Tài, khoa Quản trị kinh doanh, trường Kinh tế, ĐH Quốc gia HàNội năm 2009 có chỉ rõ:’’…Theo số liệu khảo sát của dự án giáo dục đại học

về việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp thì trong khoảng 200 000 sinhviên ra trường hàng năm chỉ có 30 % đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyểndụng, 45 – 62 % sinh viên tìm được việc sau khi tốt nghiệp trong đó chỉ có 30

% là làm đúng ngành nghề đào tạo… Bên cạnh số sinh viên tốt nghiệp hàngnăm không tìm kiếm được việc làm ngày càng tăng lên thì số sinh viên cóviệc làm cũng không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các nhà tuyểndụng Sinh viên các trường đại học sau khi được tuyển dụng vào các doanhnghiệp thường phải được tiếp tục đào tạo 2 đến 3 năm nữa mới có thể đáp ứngđược nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, điều này gây lãng phí rất lớn về thờigian và tiền bạc của doanh nghiệp’’

Thực tế cho thấy rằng, vẫn có trường hợp người lao động thất nghiệp

mà trình độ của họ về chuyên môn khá cao Số liệu năm 2003 cho thấy:những người tốt nghiệp đào tạo nghề lại dễ dàng tìm việc làm hơn là nhữngngười có trình độ cao hơn: 1,39% người lao động thất nghiệp với trình độ đàotạo nghề, 2,72% người thất nghiệp đã qua đào tạo chuyên nghiệp, 3,41% laođộng thất nghiệp trình độ cao đẳng và số người thất nghiệp có trình độ quađào tạo đại học là 3,61% Một nghịch lí là trình độ càng cao thì tỉ lệ thất

Trang 12

nghiệp cũng nhảy vọt theo Chính sự mâu thuẫn ấy lại gây nên sự hoangmang, bày ra một thực tế khắc nghiệt cho việc lựa chọn nghề nghiệp của giớitrẻ hiện nay Mục tiêu là phải tìm đươc việc làm sau khi đã qua đào tạo và chỉtiêu đó sẽ được giải quyết như thế nào, và giới trẻ sẽ căn cứ vào cái gì để màlựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của mình?

Hơn thế nữa, hiện nay, về vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốtnghiệp, về phía nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp thường chỉ tuyển dụng sinhviên mới ra trường cho các vị trí ở cấp trung bình như vị trí thư ký hoặc cáccông việc yêu cầu bậc nghề từ thấp đến trung bình, rất ít doanh nghiệp thuêlao động trẻ vào vị trí quản lý Hơn một nửa số doanh nghiệp cho biết, họkhông được đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng của cán bộ quản lý,cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật bậc cao Các doanh nghiệp tham giakhảo sát đều cho biết hiện tại họ gặp khó khăn về cán bộ kỹ thuật và quản lýcấp cao Bởi lẽ Việt Nam luôn là một trong những nền kinh tế có tốc độ pháttriển cao trong khu vực Với những cải cách về pháp lý và môi trường đầu tư,Việt Nam đang thu hút một khối lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Vì vậy dẫn tới sự gia tăng nhu cầu tuyển dụng người lao động có trình độ vàchất lượng cao Trong khi đó, thị trường lao động trong nước không thể đápứng kịp nhu cầu này cả về số lượng lẫn chất lượng Điều này có thể giải thíchbởi một số nguyên nhân: Các trường đại học đào tạo quá nhiều các chuyênngành không phù hợp với nhu cầu tuyển dụng thực tế Hoặc kiến thức và kỹnăng trang bị cho sinh viên không đáp ứng và tương thích được với công việcsau khi ra trường Không có gì là khó hiểu khi sinh viên ra trường còn nhiềulúng túng khi áp dụng kiến thức vào công việc, phải mất một khoảng thời giankhông nhỏ để thích nghi, thậm chí phải đào tạo lại từ đầu mới có thể đảmđương tốt công việc

Mặc dù xu hướng đào tạo các chuyên ngành quản lý và quản trị trongcác trường khối kinh tế không phải là nhỏ, nhưng sinh viên mới ra trường hầunhư chưa thể đảm đương được ngay những công việc ở vị trí cấp cao màdoanh nghiệp muốn tuyển dụng Điều này cho thấy sự mất cân bằng giữa sốlượng và chất lượng đào tạo trong đại đa số các trường đại học hiện nay Việt

Trang 13

Nam vẫn đang và sẽ còn nhu cầu đối với lực lượng nhân sự chất lượng cao vàthạo nghề và thực sự là nguồn cung trong nước vẫn chưa thể đáp ứng đượchết nhu cầu đó Khoảng trống của những vị trí cấp cao sẽ là cơ hội tốt đối vớiViệt kiều cũng như người nước ngoài, đặc biệt là ở những lĩnh vực mà ngườiViệt Nam chưa thể đảm đương được Tuyển dụng cho các vị trí như giám đốctài chính, giám đốc hành chính, tổng giám đốc hoặc những luật sư đẳng cấpquốc tế, các chuyên gia về tiếp thị vẫn luôn là những thách thức lớn đối vớicác doanh nghiệp

Đây quả thực là thực tế đáng báo động và cần phải được giải quyếtnhanh chóng, kịp thời vì nó không chỉ gây nên gánh nặng cho nền kinh tế màcho cả xã hội do các tệ nạn xã hội gia tăng theo tỷ lệ thất nghiệp

Trang 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XU HƯỚNG LỰA CHỌN VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHÓA 51 KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN SAU KHI RA TRƯỜNG

***

2.1 Tổng quan về cuộc điều tra

Nội dung của đề tài NCKH này là về vấn đề xu hướng lựa chọn việclàm của sinh viên sau khi ra trường, để vấn đề được xem xét toàn diện thì cầnphải tiến hành điều tra và phỏng vấn ở cả ba đối tượng là: nhà trường, doanhnghiệp và sinh viên Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian và nguồn lực khôngcho phép nên chúng tôi xin phép được thực hiện điều tra với đối tượng thứ ba

là sinh viên

Chúng tôi đã tiến hành điều tra trong phạm vi là khoa Quản trị kinhdoanh, trường đại học Kinh tế Quốc Dân Đối tượng điều tra là sinh viên khóa

51 của 7 lớp chuyên ngành thuộc khoa Quản trị kinh doanh, trường ĐH Kinh

tế Quốc Dân Thời gian thực hiện là trong vòng 1 tháng từ ngày 10/03/2012đến ngày 10/04/2012 Do tổng thể không quá lớn và không mất nhiều thờigian để tiến hành phát phiếu điều tra nên chúng tôi quyết định tiến hành điềutra trên cả tổng thể, tổng số phiếu phát ra là 365 phiếu tương ứng với số lượngsinh viên khóa 51 đến từ 7 lớp chuyên ngành (QTKD CN & XD 51A,B,C;QTKD TH 51 A,B,C;QTCL51) Số phiếu thu về là 225 phiếu, sau khilàm sạch thì tổng số phiếu cuối cùng thu được là 186 phiếu, chiếm xấp xỉ 51

% tổng số phiếu phát ra

Các nội dung được khảo sát trong phiếu điều tra được chia làm hai phần:

- Xu hướng lựa chọn việc làm của sinh viên sau khi ra trường : yếu tố

và tiêu chí lựa chọn việc làm sau khi ra trường của sinh viên, lý do họ lựachọn công việc đó, yếu tố nào là yếu tố quyết định tới việc lựa chọn của họ

- Ý kiến của cá nhân sinh viên về vấn đề thất nghiệp và làm trái ngành

trái nghề của sinh viên hiện nay, đồng thời, đưa ra được một số gợi ý để giảiquyết vấn đề này

Trang 15

Tất cả các phiếu điều tra sau khi đã được làm sạch đều được chúng tôi

mã hóa và phân tích trên phần mềm Excel 2007 trong vòng 2 ngày ( 11/3 và12/3/2012)

2.2 Kết quả điều tra

Số lượng sinh viên khóa 51, hệ chính quy, khoa Quản trị kinh doanh là

365 sinh viên, chiếm hơn 8% tổng số sinh viên chính quy khóa 51 trường ĐHKinh tế Quốc Dân

Sau khi tiến hành điều tra trên 365 sinh viên khóa 51, khoa Quản trịkinh doanh và thu về được 186 phiếu sau khi đã làm sạch Chúng tôi đã tiếnhành mã hóa và phân tích dữ liệu bằng phần mềm Excel 2007 và thu được kếtquả như sau:

2.2.1 Kết quả điều tra về công việc mong muốn trong tương lai

Thứ nhất, về lý do lựa chọn ngành học hiện tại ở đại học, trong số

186 bạn sinh viên được hỏi thì có 60 bạn trả lời là do đam mê, sở thích củabản thân và số lượng này chiếm tỷ lệ cao nhất 32,3 % Lý do ngẫu nhiên lựachọn là câu trả lời của 50 bạn, chiếm tỷ lệ cao thứ hai là 26, 9% 42 bạn đượchỏi trả lời rằng họ lựa chọn ngành học hiện tại là do gia đình định hướng(chiếm tỷ lệ 22,6 %) 5,9 % là tỷ lệ thấp nhất dành cho lý do do nhu cầu của

xã hội và 12,4 % là tỷ lệ của lý do khác

Biểu đồ 1: Lý do lựa chọn ngành học hiện tại ở đại học

của sinh viên khóa 51 khoa QTKD

Trang 16

Từ biểu trên, ta thấy rằng, đa số sinh viên lựa chọn ngành học hiện tạicủa mình đều là do đam mê, sở thích của bản thân, do gia đình định hướng vàngẫu nhiên lựa chọn, chiếm tới xấp xỉ 82 % số sinh viên được điều tra Con sốnày là dấu hiệu đáng mừng thể hiện ngành Quản trị kinh doanh là ngành cósức hút rất lớn với hầu hết sinh viên lựa chọn Điều này cũng xuất phát từ sựphát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay, Việt Nam chính thức gia nhậpWTO từ năm 2007, từ đó tới nay, đi kèm với việc nền kinh tế hội nhập vớinền kinh tế thế giới là việc đầu tư vào Việt Nam tăng cao và nhiều doanhnghiệp được thành lập Mỗi doanh nghiệp đó lại rất cần những đội ngũ quản

lý được đào tạo một cách bài bản và chuyên nghiệp Chính vì vậy, nhu cầu vềnhân lực quản lý tăng cao Tuy nhiên, bên cạnh đó, tỷ lệ sinh viên ngẫu nhiênlựa chọn ngành Quản trị kinh doanh cũng chiếm tỷ lệ khá cao 26,9 %, xấp xỉ

tỷ lệ sinh viên chọn ngành do đam mê, sở thích (32,3%) và định hướng từphía gia đình (22,6%) Lý do dẫn tới tình trạng này có thể là từ phía sinh viênchưa có sự hiểu biết về ngành Quản trị kinh doanh hoặc chưa có định hướngnghề nghiệp rõ ràng từ lúc đăng ký hồ sơ thi đại học Vì vậy, cần có các buổiđịnh hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhàtrường Trung học phổ thông

Thứ hai, về dự định sau khi ra trường của sinh viên, trong số 186

sinh viên đã điều tra thì có 104 bạn ( 55,9%) có xu hướng tìm một công việc

ổn định hoặc vừa học vừa làm sau khi ra trường 31, 2 % số các bạn được hỏi

sẽ có ý định học lên các học vị cao hơn hoặc học thêm văn bằng hai trước khi

đi làm, có tới 10,8% các bạn trả lời rằng chưa có ý định và định hướng gì saukhi ra trường và chỉ có 2,2 % còn lại có dự định khác như du học Vậy lý do

gì khiến cho 82 bạn còn lại chưa có ý định làm việc ngay sau khi ra trường ?Tại sao 31, 2% các bạn muốn học lên các học vị cao hơn hoặc học thêm vănbằng hai và 2,2 % đi du học? Để lý giải cho điều này có thể vì hai lý do Lý

do đầu tiên xuất phát từ phía chủ quan của sinh viên, có thể do sinh viênmuốn có mức lương cao hơn sau khi ra trường, muốn có thêm hiểu biết từ cácngành khác để có thể có cơ hội việc làm nhiều hơn Bên cạnh đó, có thể dotrong thời gian sinh viên học tập, gia đình đã có những định hướng khác dành

Trang 17

cho sinh viên và lý do khách quan nữa đó là do xu hướng lựa chọn nghềnghiệp dựa theo các ngành đang ‘’hot’’ của nền kinh tế như: Tài chính –Ngân hàng, Kế toán, Kiểm toán, Marketing,… tác động tới lựa chọn của sinhviên Còn 10,8 % các bạn sinh viên năm cuối mà vẫn chưa có định hướng gìcho tương lai thì cần phải xem xét lại mục tiêu học tập và nghề nghiệp củamình để có định hướng thật đúng đắn cho công việc sau này của mình.

Biểu đồ 2: Dự định sau khi ra trường của sinh viên khóa 51, khoa QTKD

Thứ ba, về lĩnh vực làm việc trong tương lai, trong số 107 bạn có dự

định tìm việc làm hoặc vừa học vừa làm sau khi ra trường thì chỉ có duy nhất

1 bạn dự định làm trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, chiếm tỷ lệ 0,9 %tổng số sinh viên, có 5 bạn có dự định làm trong lĩnh vực giáo dục, nghiêncứu, tư vấn (4,7%), 4 bạn có dự định ở lĩnh vực khác (3,7%) còn 96 bạn cònlại thì lựa chọn lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cơ bản và lĩnh vực thươngmại dịch vụ Trong đó, có tới 67 bạn chọn lĩnh vực thương mại dịch vụ,chiếm 62,6 % trên tổng số bạn dự định tìm việc Điều này cũng phù hợp với

xu thế phát triển của nền kinh tế hiện nay Cơ cấu kinh tế đang có xu hướngdịch chuyển từ khu vực nông, lâm, ngư nghiệp sang công nghiệp xây dựng vàdịch vụ Ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đang tăng với tỷ trọng ngàycàng cao đồng nghĩa với nhu cầu nhân lực cho hai lĩnh vực này cũng tăng lên.Nắm bắt được xu hướng này, các bạn sinh viên đã có lựa chọn lĩnh vực làmviệc cho mình là hai lĩnh vực trên Đồng thời, hai ngành này cũng phù hợpvới các chuyên ngành mà khoa Quản trị kinh doanh đang giảng dạy

Trang 18

Biểu đồ 3: Lĩnh vực công việc mà sinh viên khóa 51 khoa QTKD mong muốn sau khi ra trường.

Khi được khảo sát về loại hình doanh nghiệp mà sinh viên mong

muốn được làm việc thì đa số các bạn sinh viên đều có xu hướng lựa chọn cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân và doanhnghiệp Nhà nước với tỷ lệ lần lượt là: 54,2 %, 30,8% và 12,1 % Xu hướnglựa chọn này đều xuất phát từ sự khác nhau của mức lương, chế độ đãi ngộ vàmôi trường làm việc trong mỗi loại hình doanh nghiệp Bên cạnh đó, nguyênnhân sâu xa hơn có thể là do Việt Nam gia nhập WTO – Tổ chức kinh tế thếgiới, Việt Nam mở rộng kinh doanh, thương mại ra phạm vi quốc tế, cácdoanh nghiệp, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều, mứclương và chế độ đãi ngộ ngày càng được nâng cao nên rất thu hút được laođộng có trình độ như sinh viên ứng tuyển vào

Trang 19

Biểu đồ 4: Loại hình doanh nghiệp mà sinh viên khóa 51, khoa QTKD

lựa chọn làm việc sau khi ra trường

Về các yếu tố thuộc về công việc như : mức lương khởi điểm, địa

điểm làm việc, vị trí công việc,… mà sinh viên lựa chọn sẽ được thể hiện ở 3biểu dưới đây:

Biểu đồ 5: Vị trí công việc mà sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh

mong muốn sau 5 năm làm việc

Ngày đăng: 08/05/2015, 23:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Ý kiến sinh viên về mức độ ưu tiên của các yếu tố khi tuyển dụng - Tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh, trường ĐH Kinh tế Quốc Dân sau khi ra trường
Bảng 1 Ý kiến sinh viên về mức độ ưu tiên của các yếu tố khi tuyển dụng (Trang 26)
Bảng 2: Thông báo ‘’Công khai chất lượng đào tạo thực tế của trường ĐH - Tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh, trường ĐH Kinh tế Quốc Dân sau khi ra trường
Bảng 2 Thông báo ‘’Công khai chất lượng đào tạo thực tế của trường ĐH (Trang 28)
Hình doanh - Tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn việc làm của sinh viên khóa 51 khoa Quản trị kinh doanh, trường ĐH Kinh tế Quốc Dân sau khi ra trường
Hình doanh (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w