1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam Bộ

86 1,2K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam Bộ
Tác giả Trần Tùng Chinh
Người hướng dẫn TS. Bùi Mạnh Nhị
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2000
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhắc đến Nam Bộlà nhắc đến một vùng đất văn hóa vừa thống nhất so với văn hóa dân tộc

Trang 1

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm tạ và tri ân sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa Học Công Nghệ-Sau Đại Học; sự đóng góp quí báu chân tình của PGS Chu Xuân Diên, GS.Nguyễn Tấn Đắc, GS.Trần Hữu Tá, TSKH.Đoàn Thị Thu Vân và tập thể Thầy, Cô Khoa Ngữ Văn, cùng tất cả các bạn đồng học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn tất luận án

Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng biết ơn Tiến Sĩ Khoa Học Bùi Mạnh Nhị, Thầy

đã tận tụy chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án tốt nghiệp

Tuy chỉ được nghiên cứu trong thời gian ngắn, nhưng với sự hỗ trợ rất lớn của Gia Đình, sự giúp đỡ tận tình của quí Thầy Cô và sự cố gắng hết sức mình, tôi đã có điều kiện tiếp thu được những kiến thức và phương pháp vô cùng quí báu

Vấn đề của đề tài ít nhiều đã được các nhà nghiên cứu đề cập và gợi ý Luận

án đã cố gắng kế thừa và hệ thống lại những công trình nghiên cứu trước để bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm thi pháp của truyện kể địa danh Nam Bộ, nhằm tạo tiền đề cho những nghiên cứu chuyên sâu về sau

Một lần nữa xin chân thành cảm tạ

An Giang, tháng 6/2000 Trần Tùng Chinh

Trang 2

4 Đối tượng nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

CHƯƠNG 1: Tìm hiểu vùng đất – nơi hình thành, lưu truyền những truyện kể

dân gian về các địa danh Nam Bộ

I.4 Con người vùng đất 21

I.5 Văn hoá vùng đất 24

II Con người 26

II.3 Phác họa chân dung con người Nam Bộ 29

III Sơ lược về sự hình thành và lưu truyền những truyện kể địa danh Nam Bộ 31

CHƯƠNG 2: Nhận xét tư liệu 35

I Nhóm tư liệu sưu tầm 36

I.3 Huyền thoại về tên đất 36

I.4 Các tư liệu tập hợp các truyện kể dân gian của vùng đất Nam Bộ 37

II Nhóm tư liệu nghiên cứu 38

II.1 Những tư liệu về xã hội, những sưu khảo về địa danh xưa và nay 38

II.2 Những tư liệu địa lý (Địa chí, Địa phương chí) 40

II.3 Những tư liệu lịch sử 42

II.4 Những tư liệu nghiên cứu địa danh dưới cái nhìn ngôn ngữ học 46

II.5 Một số bài nghiên cứu truyện kể địa danh trên các tạp chí chuyên

II Bước đầu tìm hiểu những đặc điểm thi pháp của truyện kể địa danh Nam

Bộ

54II.1 Cốt truyện 56

1.1 Mô hình cốt truyện của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người

đấu tranh với thiên nhiên

581.2 Mô hình cốt truyện của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người

đấu tranh chống thù trong giặc ngoài

631.3 Mô hình cốt truyện của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người

với những quan hệ xã hội thế sự đời thường

68II.2 Thời gian và không gian nghệ thuật 76

2.1 Thời gian và không gian nghệ thuật của nhóm truyện kể địa danh về

đề tài con người đấu tranh với thiên nhiên

76

Trang 3

2.2 Thời gian và không gian nghệ thuật của nhóm truyện kể địa danh về

đề tài con người đấu tranh chống thù trong giặc ngoài

792.3 Thời gian và không gian nghệ thuật của nhóm truyện kể địa danh về

đề tài con người với những quan hệ xã hội thế sự đời thường

82II.3 Nhân vật 843.1 Nhân vật của nhóm truyện kể điạ danh về đề tài con người đấu

tranh với thiên nhiên

843.2 Nhân vật của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người đấu

tranh chống thù trong giặc ngoài

903.3 Nhân vật của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người với

những quan hệ xã hội thế sự đời thường

Trang 4

Trong quá trình tiếp cận nền văn hóa dân gian Nam Bộ, chúng tôi lưu ý đến một mảng truyện kể về địa danh tồn tại bền vững cùng với sự hình thành và phát triển của vùng đất mới Mặc cho bao thăng trầm của lịch sử và thử thách của thời gian, mảng truyện kể dân gian ấy đã tự nhiên tồn tại, lưu truyền và phát triển với những đặc trưng

cơ bản của một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc Các truyện kể đi vào giải thích nguồn gốc tên đất, tên làng, tên sông, tên núi, tên những vị trí địa lý, địa hình của đất phương Nam Những cốt truyện giải thích nguồn gốc kèm theo những địa danh quen thuộc đã ngân nga lên bao yêu thương trìu mến trong lòng người dân Việt Thế nhưng, tập hợp các truyện kể về địa danh ấy lại, khảo sát và nghiên cứu bằng phương pháp luận nghiên cứu khoa học văn học dân gian, soi sáng từ góc nhìn Folklore học vẫn còn là điều hoàn toàn mới mẻ Các địa danh cùng tồn tại với một cốt truyện dân gian tương ứng giải thích nguồn gốc tên gọi vẫn còn là những hạt ngọc nằm vùi trong lòng phù sa phương Nam chưa ai khai quật và góp nhặt, mài dũa để nó rực rỡ hơn với một vị trí xứng đáng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam

Sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, ấp ủ những băn khoăn thắc mắc về những địa danh ở vùng đất mình đang sống, chúng tôi mong có dịp lật những lớp bụi thời gian chưa dày phủ lên nền văn hóa phương Nam, góp một cái nhìn khoa học khảo sát một

đề tài mà chúng tôi rất đỗi quan tâm Đó là “Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam Bộ”

Trong lúc lựa chọn đề tài cho công trình nghiên cứu khoa học của mình, chúng tôi không ngại ngần tìm đến vùng quê Nam Bộ, góp nhặt sưu tầm tư liệu và khao khát đóng góp một cái nhìn mới về những cốt truyện dân gian ẩn nấp đàng sau những địa danh quen thuộc

Trang 5

Thật vui mừng nhưng cũng lắm âu lo Vui mừng, bởi đề tài địa danh Nam Bộ đã từng được mổ xẻ và thu hút nhiều công trình nghiên cứu công phu nhưng tất cả chỉ ở những lĩnh vực như địa danh học, ngôn ngữ học , khác với góc độ thi pháp học Folklore mà chúng tôi đang dùng để xác định đối tượng khảo sát của mình Và âu lo cũng từ chỗ đó Gánh nặng của người tìm kiếm, khảo sát, nghiên cứu quả không đơn giản Chỉ sợ không đủ tài, đủ lực Nhưng cái tâm, cái lòng dành cho đất phương Nam luôn tràn đầy giúp cho chúng tôi tự tin hơn Trên hành trình khoa học đi tìm cái đẹp lắm gian nan đầy thử thách này, chúng tôi rất tin tưởng vào sự ủng hộ, động viên, hỗ trợ nhiệt tình của quí thầy cô, các bậc học giả và bạn bè đồng nghiệp thân kính của mình

Và chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này “Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam Bộ”

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án:

Đề tài này vừa mới, vừa rộng; tuy nhiên, trong giới hạn của luận án,

chúng tôi chỉ mong – và cố gắng – thực hiện các mục đích và nhiệm vụ bước đầu như sau:

1 Tìm hiểu về vùng đất Nam Bộ – nơi hình thành và lưu truyền những truyện kể dân gian giải thích nguồn gốc địa danh Để thực hiện được mục đích này, chúng tôi đã cố gắng trong chừng mực có thể, sưu tầm những tư liệu lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị… về vùng đất này Đặc biệt là những công trình biên khảo công phu về Nam Bộ của những học giả đã gắn cả cuộc đời mình với Nam Bộ, viết về Nam Bộ như cụ Vương Hồng Sển, nhà văn Sơn Nam, các học giả Huỳnh Minh, Nguyễn Văn Hầu …

2 Lập một phụ lục, tập hợp những truyện kể dân gian về nguồn gốc các địa danh Nam Bộ mà chúng tôi đã sưu tầm được (1) Để thực hiện điều này, chúng tôi tìm kiếm và chọn lọc từ những tài liệu sưu tầm trong dân gian, những truyện kể địa danh trong tác phẩm của các chuyên gia sưu tầm văn học dân gian như Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hữu Hiếu, Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, tập thể khoa Ngữ văn trường Đại học Cần Thơ…

3 Tiến hành phân loại truyện kể địa danh Nam Bộ thành các nhóm truyện khác nhau để thuận lợi hơn trong quá trình khảo sát: Ở đây, nhiệm vụ khó khăn là chúng tôi xác định những tiêu chí phân chia sao cho hợp lý mà bao quát

Trang 6

được truyện kể địa danh Nam Bộ Để từ đó mới có thể rút ra những hiện tượng

có tính lặp lại (motip) trong các tác phẩm dân gian Nguồn truyện kể địa danh Bắc Bộ và cách thức phân loại của các nhà nghiên cứu đi trước là một nguồn

tham khảo quí giá Đó là các công trình của giáo sư Đỗ Bình Trị, của Trần Thị

An, Nguyễn Bích Hà …

4 Khảo sát các nhóm truyện đã phân loại để bước đầu xác lập những đặc điểm thi pháp của truyện kể địa danh Nam Bộ như cốt truyện, thời gian và không gian nghệ thuật, nhân vật Đây là mục đích chính yếu của luận án

và cũng là một nhiệm vụ hết sức khó khăn vì hầu hết là những tìm kiếm bước đầu, chắc chắn sẽ tồn tại nhiều điều bất cập Thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi tin rằng, ngay cả sai lầm hoặc hạn chế cũng là kinh nghiệm quí báu cho những công trình nghiên cứu chuyên sâu sau này Và với mục đích đó, chúng tôi mạnh dạn đề xuất những ý kiến riêng

3 Lịch sử vấn đề:

Ơû đây, chúng tôi xin phép nêu vắn tắt phần lịch sử vấn đề vì chúng tôi sẽ trở lại

một cách chi tiết, cụ thể hơn ở chương II - chương Nhận xét tư liệu

Về tư liệu liên quan đến đề tài, chúng tôi tạm thời phân chia như sau:

A Nhóm tư liệu sưu tầm:

− Về các công trình sưu tầm chung cho truyện kể dân gian Việt Nam: Hầu như các nhà sưu tầm bỏ quên mảng truyện kể dân gian về nguồn gốc các địa danh ở Nam

Bộ Ta thấy sự mất cân đối về tỉ lệ các truyện xuất hiện: Ví dụ: Chỉ có một truyện về địa danh Nam Bộ trong tổng số năm tập “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”(7) Tương tự

như thế là 2/100 trong “Truyền thuyết Việt Nam” (86), 5/68 trong “Huyền thoại về tên đất” (104)

− Về các công trình tập hợp riêng truyện kể dân gian Nam Bộ: Các nhà sưu tầm có chú ý đến mảng truyện kể địa danh nhưng không có sự phân loại rõ ràng Vì thế mảng tư liệu này nằm lẫn lộn trong những truyện kể dân gian khác Và cho đến nay, vẫn chưa có một công trình sưu tầm nào dành riêng cho một sự tập hợp các truyện kể địa danh Nam Bộ

Trang 7

B Nhóm tư liệu nghiên cứu:

− Những tư liệu xã hội, những sưu khảo về địa danh xưa và nay:

Những công trình này hoàn toàn chưa xác định con đường đi sâu nghiên cứu địa danh dù là ở góc độ nào Vì thế, các tác giả viết về các địa danh một cách sơ lược theo kiểu điểm danh địa danh, mà không hề có chủ đích sưu tầm cũng như nghiên cứu truyện kể địa danh

− Những tư liệu địa chí:

Như tên gọi, các công trình địa chí là những công trình nghiên cứu tổng hợp về nhiều lĩnh vực ở một địa phương nào đó Sự xuất hiện không nhiều của một vài truyện

kể địa danh – kể cả ở phần phụ lục – được coi như những tài liệu sưu tầm chưa tập trung

− Những tư liệu lịch sử:

Phần tư liệu này, chủ yếu, nhìn địa danh ở góc độ địa bạ, hành chính, nhằm xác định địa danh ở một độ lùi lịch sử nhất định và góp phần so sánh địa danh (Tên Hán và tục danh, truyền thuyết và lịch sử…) Dù không đi vào nghiên cứu địa danh nhưng các

tư liệu này lại giúp ích cho công việc nghiên cứu địa danh – dù ở góc độ nào Và đặc biệt chúng có ý nghĩa với việc khảo sát vùng đất – nơi hình thành và lưu truyền những truyện kể địa danh

− Những tư liệu nghiên cứu địa danh dưới cái nhìn ngôn ngữ học:

Những công trình này tiếp cận gần hơn với việc nghiên cứu địa danh Tuy nhiên,

vì góc độ nghiên cứu vốn đã khác nên việc xác định đối tượng nghiên cứu cũng hoàn toàn khác Đi sâu tìm hiểu, ta nhận thấy các công trình này đã khảo sát địa danh bằng

sự hỗ trợ đắc lực của từ nguyên học – truy nguyên nguồn gốc từ ngữ địa danh, chứ không phải truy nguyên một truyện kể giải thích nguồn gốc địa danh

Một bên là tìm ra mối quan hệ giữa cái vỏ ngôn ngữ và ngữ nghĩa Một bên là tìm ra sự liên hệ giữa địa danh và một chi tiết, sự kiện, nhân vật nào đó trong cốt truyện giải thích địa danh Vì vậy, những công trình này chỉ có thể được coi như những tư liệu tham khảo khi nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn Folklore học

− Một số bài nghiên cứu truyện kể địa danh trên các tạp chí chuyên ngành:

Trang 8

Đáng chú ý hơn cả trong phạm vi tư liệu được đề cập là những công trình nghiên cứu này Đây là những công trình chỉ được công bố rải rác, không liên tục và chưa thành một hệ thống chuyên đề trên các tạp chí chuyên ngành

Xét về mặt lịch sử vấn đề, những công trình nêu trên như những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu địa danh – từ việc xác định đối tượng là những truyện kể dân gian giải thích nguồn gốc địa danh Tuy nhiên, những công trình nêu trên chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở những truyện kể địa danh Bắc Bộ và Trung Bộ Mặc dù vậy, đây vẫn là những đóng góp rất quan trọng và có ý nghĩa trong việc khai mở một hướng đi, một hướng nghiên cứu mới cho đề tài của chúng tôi

Như vậy, về đề tài tìm hiểu truyện kể dân gian giải thích nguồn gốc về các địa danh ở Nam Bộ, chưa có một công trình nào trước đó đặt vấn đề nghiên cứu một cách

có hệ thống Kể cả đối với truyện kể dân gian Nam Bộ nói chung

4 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu trong luận án này là những truyện kể dân gian về các địa danh Nam Bộ Trong một số bài nghiên cứu về địa danh dưới góc độ Folklore học, chúng tôi nhận thấy một số nhà nghiên cứu có dùng thuật ngữ “Truyền thuyết địa danh” (32 và 120) Tuy nhiên, khi khảo sát các tư liệu sưu tầm được, có một thực tế là có mảng truyện giải thích khá hoang đường về sự hình thành địa danh, có mảng truyện lại gắn liền với các nhân vật, sự kiện lịch sử, lại có mảng truyện thiên về chuyện thế sự đời thường Xét thấy ranh giới giữa thần thoại, truyền thuyết lịch sử và cổ tích không có sự phân định rõ ràng trong các tác phẩm dân gian giải thích nguồn gốc các địa danh Nam

Bộ nên chúng tôi lạm nghĩ thuật ngữ “Truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam Bộ” - mà chúng tôi xin được phép gọi tắt là "Truyện kể địa danh Nam Bộ" – là một

thuật ngữ phù hợp và bao hàm đối tượng nghiên cứu của luận án này

- Đây là những truyện kể dân gian về địa danh Nam Bộ Nói một cách đầy đủ hơn, đó là những truyện kể dân gian giải thích về nguồn gốc các địa danh Nam Bộ Chúng ra đời, lưu truyền và tồn tại như một chỉnh thể nghệ thuật, có cốt truyện, có không gian và thời gian nghệ thuật và có nhân vật, sự kiện (79)

- Địa danh không có cốt truyện(1) không phải là đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu của luận án này

Trang 9

- Những địa danh có cốt truyện phải là những địa danh xuất hiện ở Nam Bộ và

về những địa danh ở Nam Bộ – đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Gọi một

cách ngắn gọn là "Truyện kể địa danh Nam Bộ"

- Cuối cùng, giới hạn của thuật ngữ "địa danh" xin được hiểu rằng đó là tên gọi

của vùng đất (gắn với địa hình của: núi, non, hòn, gò, vồ, cù lao, sông, rạch, kinh, mương, ao hồ, vũng, bàu, đìa, đồng, bưng, bãi ), là tên gọi của một đơn vị hành chính

(tỉnh, huyện, vùng, làng, xã, ấp, chợ ) và kể cả các công trình phúc lợi (cầu, cống, đập ) và những di tích văn hóa tín ngưỡng trong nhân dân (đình, chùa, miếu, mạo )

mà tên gọi của công trình, di tích ấy đã trở thành tên gọi chung được xác định, khoanh vùng, hay nói cách khác là chúng trở thành một địa điểm đánh dấu địa danh

5 Phương pháp nghiên cứu:

Cơ sở lý luận làm nền tảng cho luận án là phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian, trong đó người viết có sử dụng các thuật ngữ của khoa nghiên cứu văn học đã được giới thuyết và thay đổi cho phù hợp với việc nghiên cứu văn học dân gian Bên cạnh đó, thi pháp học cấu trúc (40) cũng được dùng để soi sáng các đặc điểm thi pháp của truyện kể địa danh Nam Bộ

Ngoài ra là những phương pháp quen thuộc trong nghiên cứu khảo sát:

− Phương pháp so sánh lịch sử và loại hình: Người viết đặt các truyện địa danh Nam Bộ vào bối cảnh lịch sử xã hội khi nó ra đời để tìm ra những qui luật khách quan chi phối sự phát triển của nó Đồng thời có sự phân biệt vùng văn hóa đồng bằng sông Hồng và vùng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long để tìm ra những sự khác biệt cơ bản, sự ảnh hưởng tác động qua lại của hai vùng văn hóa nói chung và truyện kể địa danh nói riêng

− Phương pháp thống kê hệ thống: Người viết tóm tắt tất cả các truyện kể địa danh sưu tầm được, đồng thời khảo sát, phân loại và mô hình hóa các cốt truyện, thời gian và không gian, nhân vật để tìm ra những hiện tượng lặp đi lặp lại có tính hệ thống Cuối cùng rút ra các đặc điểm thi pháp

− Phương pháp phân tích – đối chiếu: Không chỉ phân tích các truyện kể, người viết còn đối chiếu với các thể loại khác của văn học dân gian như thần thoại, cổ

Trang 10

tích, truyền thuyết lịch sử để từ đó thấy rõ sự khác biệt, mối quan hệ, góp phần tìm hiểu phát hiện những đặc điểm nổi bật của thi pháp truyện kể địa danh

− Phương pháp sưu tầm và thẩm định tư liệu: Tập hợp, chọn lọc sắp xếp nguồn tư liệu truyện kể địa danh Nam Bộ Và trong điều kiện cho phép, người viết đã thẩm định một số tư liệu ở địa phương Đồng thời xác định cái "cốt dân gian" trong những truyện kể có tồn tại dị bản và cả những truyện đã được nhào nặn qua tay người sưu tầm

− Trình tự nghiên cứu:

+ Đi vào những vấn đề cơ bản:

ƒ Xác định đối tượng ( sưu tầm, chọn lọc)

ƒ Phân loại tư liệu (sắp xếp, hệ thống)

ƒ Tìm hiểu vùng đất (tham khảo)

+ Nghiên cứu các đặc điểm: Bằng cách sử dụng khai thác một cách hiệu quả các phương pháp đã nêu

− Đảm bảo các nguyên tắc khi nghiên cứu:

ƒ Am hiểu vùng đất – nơi sản sinh và lưu truyền truyện kể địa danh

ƒ Phân loại thành các nhóm truyện theo một tiêu chí hợp lý

ƒ Bám sát văn bản truyện kể – đặc biệt là cái "cốt dân gian"

ƒ Chú ý những hiện tượng mang tính lặp lại hoặc những hiện tượng xuất hiện với tần số cao, với một tỷ lệ đáng lưu ý

6 Đóng góp của luận án:

Thứ nhất, lần đầu tiên chúng tôi tập hợp lại, dù chưa thể đầy đủ tất cả, các truyện kể địa danh liên quan đến vùng đất Nam Bộ mà chúng tôi chọn lọc từ nhiều tư liệu sưu tầm Điều này tạo cơ sở tư liệu cần thiết cho những công trình nghiên cứu khác

về truyện kể địa danh Sự phân chia truyện kể địa danh Nam Bộ thành nhiều nhóm truyện cũng nhằm nêu lên một tiêu chí phân loại khác để làm phong phú hơn những cách thức phân loại đã có

Trang 11

Thứ hai, luận án dành hẳn một chương để tổng kết lại quá trình sưu tầm và

nghiên cứu về địa danh và truyện kể về địa danh ở Việt Nam để người đọc có cái nhìn

bao quát về lịch sử vấn đề

Thứ ba, để góp phần làm rõ diện mạo của một thể loại văn học dân gian Nam

Bộ, luận án đã bước đầu tìm hiểu những đặc điểm thi pháp nổi bật và một số hiện

tượng có tính lặp lại trong truyện kể địa danh Nam Bộ Từ đó, luận án tạo tiền đề cần

thiết cho những công trình nghiên cứu có cùng đề tài tiếp theo để đóng góp một phần

nhỏ vào tiến trình nghiên cứu văn hóa dân gian Nam Bộ vốn còn mới mẻ nhưng đã đạt

nhiều thành tựu đáng khích lệ

7 Kết cấu luận án:

Luận án chia làm 3 phần:

ƒ Phần Nội Dung: Gồm 3 chương: 87 Trang

Chương 1: Tìm hiểu vùng đất – nơi hình thành, lưu truyền những truyện

kể dân gian về các địa danh ở Nam Bộ (18 trang)

Chương 2: Nhận xét tư liệu (17 trang)

Chương 3: Bước đầu tìm hiểu những đặc điểm thi pháp của truyện kể địa danh Nam Bộ (52 trang)

Ngoài ra, luận án còn có:

ƒ Phần phụ lục 148 Trang

Trang 12

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

TÌM HIỂU VÙNG ĐẤT – NƠI HÌNH THÀNH, LƯU TRUYỀN NHỮNG TRUYỆN KỂ

DÂN GIAN VỀ CÁC ĐỊA DANH Ở NAM BỘ

I VÙNG ĐẤT NAM BỘ

I.1 Vùng đất Nam Bộ:

Men theo dải đất hẹp kéo dài một bên là Trường Sơn sừng sững, một bên là biển Đông uốn khúc, đi về phía Nam, chợt vỡ ra một vùng đất rộng: Vùng cao với phù sa cổ nằm trên lưu vực sông Đồng Nai Vùng thấp giang ra đón lấy từng luồng phù sa mới của hạ lưu dòng Cửu Long– dòng sông khởi hành ở Tây Tạng đổ ra Nam Hải kết thúc cuộc hành trình

Vùng đất ấy là một phần hậu cứ quan trọng của xứ Đàng Trong cũ để nhà Nguyễn đối phó với họ Trịnh ở bên kia sông Gianh Nằm ở phía Nam nên được mệnh danh là vùng đất phương Nam – nơi những người thuở nào mang gươm đi

mở cõi Và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, địa giới và tên gọi của vùng đất này có nhiều sự đổi thay

Đầu tiên, vào năm 1698 (65,20), khi bắt đầu có tổ chức hành chính ở đây, bãi phù sa phương Nam này được gọi là phủ Gia Định và cứ nở dần ra rộng hơn trong quá một thế kỷ

Năm Gia Long thứ 1 (1802) và thứ 7 (1808) lại hai lần đổi từ “Trấn Gia Định” rồi “Thành Gia Định” Bấy giờ, “Thành Gia Định” có năm trấn: Biên Hòa,

Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên

Đến năm Minh Mạng thứ 15 (1834), tên gọi vùng đất lại đổi thành “Nam Kỳ” với 6 tỉnh – còn gọi là “Nam Kỳ lục tỉnh” (100,477) Đó là Biên Hòa, Gia Định,

Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Tên này được dùng cho đến thời kỳ Pháp thuộc

Tuy nhiên, trong lối nói quen thuộc của dân gian khoảng vài trăm năm trở lại đây, các tên “Nam Bộ” đã trở nên phổ biến và có một sức sống riêng đi theo một độ dài lịch sử nhất định cùng bao thăng trầm của vùng đất mới

Vì lẽ đó, trong luận án này, chúng tôi xin gọi khái niệm “Nam Bộ” như một tên gọi gần gũi bởi nó không chỉ biểu nghĩa cho một khu vực địa lý cực kỳ trọng yếu mà

Trang 13

còn biểu cảm cho những yêu thương trân trọng của hàng triệu triệu trái tim dành cho mảnh đất phương Nam

Lưng dựa vào những đồng bằng nhỏ hẹp và vùng núi non cực Nam Trung

Bộ, mặt ngạo nghễ hướng thẳng ra phía biển Đông, mảnh đất này cứ lấn dần ra biển Vùng đất Nam Bộ cứ thế mà tồn tại với bao tác động của thời tiết, khí hậu để kiến tạo định dạng địa hình riêng biệt của mình

Trước khi người Việt đặt chân đến đây, vùng đất Nam Bộ hãy còn là một miền đất hoang vu hiểm trở

Sử Trung Quốc còn lưu lại những dòng ấn tượng của một vị quan đời Nguyên - Châu Đạt Quan trong “Chân Lạp Phong thổ ký”(88,24) để ta hình dung ra Nam Bộ ngày nào Từ góc nhìn của những chuyến thuyền rong ruổi từ biển Đông

ngược Cửu Long Giang, Nam Bộ hiện ra với “những bụi mây dài, cây to, cát vàng, lau sậy trắng” ở hai bờ Những chòm cây rậm rạp của những khu rừng thấp

làm chổ ẩn nấp lý tưởng cho chim chóc và muông thú Cảnh tượng hoang dã ấy còn được chấm phá, điểm xuyết thêm hình ảnh của hàng ngàn con trâu rừng họp từng bầy trên những cánh đồng cỏ lúa bạt ngàn

Khác với vùng đất cao ráo dễ làm ăn (65,8), nguồn lợi nhiều tôm cá biển hồ ở phía trên (là lãnh thổ Campuchia hiện nay), Nam Bộ thuở ấy còn hoang vu lắm Không mỏ vàng, mỏ bạc, không đậu khấu trầm hương tơ lụa hồ tiêu, vùng đất cứ thế

mà phơi ra sự hoang sơ, thâm u, nê địa của mình

Những giồng đất cao ráo hiếm hoi ở cánh sông Tiền thì phần lớn đất đai vẫn còn là rừng rậm đầy thú dữ Những vùng trũng gần sông Hậu thì sình lầy bùn đọng quanh năm làm muỗi mòng rắn rết sanh sôi nảy nở (61,9) Nam Bộ có vùng toàn nước mặn, nước phèn, có vùng thì tràn trề nước ngọt; nơi ngập lụt sình lầy quanh năm suốt tháng, nơi cao ráo màu mỡ phì nhiêu; chỗ có thể canh tác ruộng vườn, chỗ thì hoang vu cỏ lát, cỏ năn

Khí hậu, thời tiết ở Nam Bộ có khác biệt với miền Bắc “Gia Định thành thông chí” ở mục Tinh dã chí (17,16), Trịnh Hoài Đức có chép: "Cuối mùa xuân mới bắt đầu mưa, đến hè là mùa mưa, thu hay mưa rào, nhiều khi mưa to như

đổ nước nhưng chỉ trong một, hai giờ thôi, rồi ráo tạnh ngay Cũng có khi mưa

Trang 14

dầm một, hai ngày mà không có cái khổ liên miên đến hàng tuần, hàng tháng” Thiên tai tuy không thường xuyên nhưng cũng đã từng xảy ra nhiều năm và cho

từng vùng Ngập lụt hạn hán thì đến theo chu kỳ Nắng có lúc đổ sao, mưa cũng có khi thúi đất Nên đôi khi sau những lúc nắng khô ruộng nẻ thì mưa giông kèm sấm

sét Thiên nhiên tha hồ “diễu vũ giương oai” Hòa với mùa nước đổ, đồng cỏ bát ngát trở thành biển nước mênh mông (65,10)

Cùng với bước chân đi khai hoang mở đất, cả nơi giồng cao lẫn vùng trũng thấp đều được con người bắt tay chinh phục Thế là cùng với địa hình tự nhiên của

“sông sâu nước chảy”, “phù sa trầm tích” lâu năm tạo giồng cao, của bùn lầy nước đọng nơi đất thấp, của doi vịnh cù lao khi lở khi bồi; con người đã tích cực, sáng tạo cải tạo địa hình làm vùng đất đổi thay Trong các thành quả lao động của con người, phải kể đến hệ thống rạch, kinh, mương, lạch, chằng chịt và dày đặc, như hệ thống chân rết len lỏi khắp thôn cùng xóm tận, hang sâu ngõ thẳm, đồng vắng bưng xa

I.3 Lịch sử vùng đất

Theo nhiều nhà sử học, khảo cổ học, vào những năm đầu công nguyên, vùng đất Nam Bộ này là một vùng dân cư văn hóa đặc sắc với vương quốc Phù Nam, Văn hóa Óc Eo, vùng tranh chấp giữa vương quốc Champa và Chân Lạp (100,523)

Trong “Địa chí văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh” (18), các nhà nghiên cứu

cho rằng: “Vùng đất Phương Nam này đã diễn ra quá trình hoang hóa mà nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp là do những chuyển biến trong cơ cấu dân cư, sự không thích ứng với những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa dưới thời Chân Lạp, tình trạng chiến tranh liên miên giữa Chân Lạp và Champa trên địa bàn Trung Nam Bộ và Đông Nam Bộ”

Thời gian trước khi có lưu dân Việt đến đây, vùng đất này đã có các cư dân Khơ me và các dân tộc ít người sống lẻ tẻ rải rác trên các giồng đất cao, các vùng

đồi núi, nhưng không đáng kể "Do đó Sài Gòn – Gia Định vẫn là đất tự do của các dân tộc và hầu như vô chủ, là đất hoang nhàn cả về kinh tế lẫn chủ quyền” (18)

Như trên đã dẫn, thế kỷ XIII, Châu Đạt Quan khi đi sứ Chân Lạp đã ghi nhận

thời khai sơ của vùng đất này như sau: “Bắt đầu vào Châu Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay – chú thích ND), gần hết cả vùng là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành những chỗ trú xum xuê Khắp nơi vang tiếng chim hót, thú kêu Vào nửa đường trong sông, thấy những cánh

Trang 15

đồng hoang không có một gốc cây xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy ” (88,24)

Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn chép rằng: "Từ cửa biển Cần Giờ, Sài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” (15,6,345)

Những bậc tiền hiền khai khẩn người Việt đã có mặt ở đó từ rất sớm, không ngừng khai hoang mở đất, lập làng dựng ấp

Năm 1679, những di dân người Hoa xuất hiện ở Cù Lao Phố, Biên Hòa và sau đó là cửa biển Mỹ Tho

Và năm 1698, chúa Nguyễn cử Thống Suất chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đem quân đi đánh Cao Miên Ông lấy đất Đồng Nai, Gia Định màu mỡ đặt làm hai huyện Phước Long và Tân Bình, lập hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn Đất đai mở rộng ngàn dặm, dân số được hơn bốn vạn hộ Vậy là năm

1698 đã trở thành dấu mốc chính thức chứng nhận sự tồn tại của một vùng đất dù chưa có bề dày lịch sử, nhưng cũng là một đơn vị hành chính, một phần ruột thịt của lãnh thổ Việt Nam

Đến năm 1715, Mạc Cửu mở mang thêm vùng đất Hà Tiên, cùng với người Khơ me bản địa chinh phục thiên nhiên và định kế lâu dài (100,460)

Cứ thế, vùng đất ấy đã ra đời, tồn tại và trưởng thành để trở thành vùng đất Nam Bộ ngày nay

I.4 Con người vùng đất

Có mặt ở Nam Bộ, những di dân người Việt từ miền Trung, Bắc đã khăn gói

đi vào vùng Đồng Nai Gia Định theo hai cách (81,178):

Một là, họ tự động đi lẻ tẻ, đơn thân độc mã hoặc cả gia đình bầu đoàn thê

tử Có trường hợp, người khỏe mạnh đội trời đạp đất đi trước, rồi khi đã ổn định phần nào cuộc sống ở vùng đất lạ, mới đón gia đình, họ hàng tới sau Cũng có khi huynh đệ kết nghĩa, gia đình kết thân thành nhóm, thành đoàn cùng lên đường, dấn thân vào cuộc phiêu lưu mạo hiểm chỉ với cái búa, lưỡi cày, tấm lưới

Hai là, họ tham gia vào các đợt di dân khẩn hoang do triều Nguyễn đứng ra

tổ chức đôn đốc khuyến khích và bảo trợ

Ta có thể nói rõ hơn ở cả hai trường hợp này:

Theo “Đất Gia Định xưa”, nhà nghiên cứu Sơn Nam đúc kết rằng phần lớn những người di dân là những cư dân miền Trung sống dưới chế độ quân quyền

Trang 16

Chúa Nguyễn tham ô hà khắc, lâm vào cảnh “mười dê đến chín người chăn”,

"nghèo khổ thất nghiệp rất là đáng thương” (Nguyễn Cư Trinh) (65,16)

Vùng đất xa lạ mà cũng không kém phần hoang dã khắc nghiệt kia không phải là thiên đường nếu không muốn nói là ác mộng cho những cư dân mới đã từng quen phong thổ xứ sở miền Trung Nhưng dẫu sao ở đây, cái ác liệt của thiên nhiên, của thú dữ cũng không đáng sợ bằng nanh vuốt của tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn áp bức tàn bạo Vì lẽ đó, di dân vào Nam cũng không hề giảm – nhất là từ nửa cuối thế kỉ XVIII

Nhưng bên cạnh đó, và sau đó, xác định được vùng đất rộng lớn mênh mông tiềm ẩn nhiều tài nguyên giàu có, triều đình chúa Nguyễn vừa là nguyên nhân không

có ý thức đưa đẩy dân Việt di cư vào Nam, vừa là một chủ trương có ý thức thể hiện tầm nhìn xa rộng và chiến lược về vùng đất mới này Theo chủ trương – mà về sau được coi là rất đúng đắn này – của chúa Nguyễn, một cuộc di dân khá qui mô, tự giác trực chỉ “Đất Phương Nam” thẳng tiến

“Phủ biên tạp lục” – Lê Quý Đôn nói rõ họ Nguyễn chiêu mộ những người dân “có vật lực”(1) và “có nhân lực”(2) ở xứ Quảng Nam Họ thu nhận nô tì, điền nô

và đặc biệt là “lưu dân”(3) để làm một cuộc ra quân hùng hậu Tuy nhiên, tưởng cũng cần nói qua một số thành phần cơ bản của các lực lượng được chiêu mộ trên bởi điều này rất quan trọng; nó chi phối và tác động đến tính cách người Nam Bộ sau này

Có thể nói thành phần “Lưu dân” là thành phần đông đảo nhất “Lưu dân” là những người bị đày đi xa từ 2000, 2500 đến 3000 dặm, lấy kinh đô làm trung tâm

“Tội lưu” khác với “Tội đồ” ở chỗ vĩnh viễn không được trở về nguyên quán, vì vậy

vợ con, ông bà, cha mẹ có thể đi theo Nơi đi đày do quan trên định, thường là những vùng hẻo lánh, ma thiêng nước độc (65,22)

Lúc bấy giờ, vùng đất Nam Bộ ít nhiều thỏa mãn những yêu cầu đó

Thêm nữa, thành phần điền nô đang cố tìm cách bán sức lao động của mình

để mà sinh sống Họ là tầng lớp nhân dân nghèo khổ xiêu tán Nghèo nên phải trốn thuế, và đất phương Nam trở thành chỗ dung thân

Nói đến cư dân Nam Bộ không thể bỏ qua vấn đề sự chung sống giữa các tộc người, điều làm nên diện mạo văn hóa ở đây

Trang 17

Trước tiên là người Khơ me Người Khơ me đã có một quá trình lịch sử lâu đời ở Nam Bộ Họ đã có mặt ở đây sinh sống và khai khẩn nhiều nơi ngay khi người Việt chưa đặt chân tới (một số di tích cùng những giả thiết đáng lưu ý đã xác định thời gian đó là từ đầu công nguyên trở đi) Chúng ta sẽ trở lại điều này khi tìm hiểu các lớp văn hóa cổ ở Nam Bộ

Ở đây, xin nói đến một số đông cư dân tràn xuống từ phương Bắc, đó là người Hoa, cụ thể là những cư dân miền Nam Trung Hoa Họ đến trong hai đợt di cư khá lớn cách nhau cả thế kỷ (64,31) Đợt đầu là đoàn Dương Ngạn Địch và Trần Thắng Tài Đợt sau là nhóm Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích Cả hai đều là những cư dân trung thành với nhà Minh, không phục và muốn tránh né sự đàn áp của triều đình Mãn Thanh, đã đến hàng phục chúa Nguyễn, phụng mệnh đi về phương Nam khai phá và định cư ở vùng đất mới Nhóm Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài thì định cư ở Biên Hòa rồi Mỹ Tho, Sa Đéc Còn nhóm Mạc Cửu thoát về từ Mang Khảm (đất Khơ me) bởi sự đánh bắt của Xiêm, đã xin đầu phục vào chuá Nguyễn đến khai khẩn đất Hà Tiên

Khơ me rồi Việt, Hoa, Chăm những tộc người, những nguồn di dân khác nhau đã gặp, nhau sống chung với nhau và tất cả đã tựa lưng nhau để đối đầu với những gian nan thử thách của vùng đất mới

I.5 Văn hóa vùng đất

Đất phương Nam là nơi hợp lưu của nhiều lớp, nhiều dòng văn hóa Từ những phát hiện của khảo cổ học về gần 100 các di tích cư trú, các thành cổ, các khu mộ cổ của lớp cư dân đầu tiên, các nhà nghiên cứu cho rằng 4000 ( 5000 năm trước Nam Bộ – đặc biệt là Đông Nam Bộ, vùng trên của đồng bằng sông Cửu Long – thực sự là một trung tâm cư dân đông đảo và trù phú

Dấu vết của một nền văn hóa lâu đời còn sót lại ở kiểu cư trú nhà sàn trên cột, trên gò nổi, hệ thống thủy đạo, thành đất

Điều thú vị là nền văn hóa Óc Eo đã từng rực rỡ suốt từ thế kỷ thứ I đến thế

kỷ thứ VII ở đồng bằng sông Cửu Long (111,248) Mặc dù sau này ngành khảo cổ chứng minh rằng có những dấu vết là những di vật còn sót lại của một số vương triều khác nhưng vùng đất ấy thời bấy giờ chủ yếu đã tiếp thu mạnh mẽ và sâu sắc văn hoá Ấn Độ-mà bản thân nền văn hoá ấy đã rất phong phú và đa dạng Và rồi vì

Trang 18

một biến động nào đó – đến nay vẫn còn bí ẩn, thời gian đã phủ lên Óc Eo một lớp bụi dày Một nền văn hóa kế tiếp phát triển

Tầng văn hóa này tương đối đa dạng bởi sự hòa hợp văn hóa ngay từ những giai đoạn đầu của sự hình thành không gian cư trú Đó là Chiêng, Mạ đặc biệt ảnh hưởng là văn hóa Khơ me

Xét về thời gian, Phù Nam, Khơ me rồi sau này là Việt, Hoa, Chăm đã tạo nên các lớp văn hóa nối tiếp nhau, có khi đan xen nhau

Xét về không gian, có những vùng văn hóa tiếp giáp nhau, có khi giao nhau, hòa hợp vào nhau

Văn hoá Phù Nam (từ thế kỷ I đến thế kỷ VII) rồi đến văn hoá Khơ me (thế kỷ VII đến thế kỷ XVII) đã tiếp thu mạnh văn hoá Ấn Độ Nối tiếp là văn hoá Việt với sự

kế thừa văn hoá từ vùng đồng bằng sông Hồng

Người Hoa có mặt ở miền đất này muộn hơn nhưng cũng kịp để mang theo

và mau chóng hình thành một nét văn hóa độc đáo

Và sau này là người Chăm Họ cũng đã trở thành một thành viên không thể thiếu trong cộng đồng Việt Nam

Riêng người Việt khi tới đây khẩn hoang lập ấp đã trân trọng và cố gắng “làm

sống lại những nền văn hóa thuộc cổ sử và sơ sử đã lắng sâu dưới lòng đất thấp” (13) Họ vừa giữ gìn được bản sắc đậm đà của văn hóa riêng mình, vừa ở tư thế

kế thừa, đón nhận, giao lưu văn hóa với các dân tộc người Khơ me, Chăm, Hoa

để cùng xây dựng một vùng đất văn hóa đặc sắc

Văn hóa Nam Bộ nằm trong dòng chảy liên tục của nền văn hóa Việt Nam theo hình thế đất nước từ Bắc xuống Nam Nó vừa kế thừa những di sản tinh thần, văn hóa lâu đời của dân tộc, vừa phát huy và tiếp nhận những nhân tố mới từ thực tiễn lịch sử, sáng tạo nên những nếp sinh hoạt văn hóa mới nhằm đáp ứng những nhu cầu của đời sống cư dân nơi vùng đất khai phá Cái gốc bền vững của dân tộc vẫn được giữ gìn vun đắp, bảo lưu nhưng đồng thời văn hóa Nam Bộ cũng không cố chấp bảo thủ trong khi tiếp nhận những cái hay, cái đẹp của các cư dân bản địa để làm phong phú đa dạng thêm kho tàng văn hóa dân tộc (91)

Quá trình khai khẩn đất đai bằng sự cộng sức đồng lòng của nhiều tộc người khác nhau đã đồng thời tạo lập nên một nền văn hóa phương Nam đặc sắc Sự khai phá khẩn hoang trong hòa hợp đoàn kết và đầy tình thân ái ấy đã không hề có sự

Trang 19

loại trừ cũng như xung đột lẫn nhau về văn hóa giữa người Việt và các tộc người

khác.“Sớm biết thích ứng với hoàn cảnh, thổ ngơi, tận dụng địa lợi, tạo ra nhân hòa, sáng tạo vượt khó khăn, giao hòa với con người và văn hóa khác mà vẫn giữ được phong cách của mình là việc mà tổ tiên ta đã làm được từ lúc đầu đi khai thác vùng đất mới” (65,78)

II CON NGƯỜI

II.1 Đối đầu với thiên nhiên

“Phủ biên tạp lục” chép rằng: “Những người di cư ra sức chặt phá cây

cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng, thổ địa phì nhiêu” (15,4,249)

Những bậc tiền hiền khai khẩn đã đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt và cả máu xương trong cuộc đối đầu không cân sức với một thiên nhiên còn thâm u hoang dã

Từ buổi đầu đến đây khai phá, ông cha ta đã ý thức rất rõ quan hệ đối đầu này

Ban đầu, dân cư còn thưa thớt, số lượng người khai khẩn còn ít, thiên nhiên vẫn đầy thách thức với những vùng trũng thấp sình lầy, đầy côn trùng, cỏ lác Đất đồng, đất trũng ngày trước nhiều sản vật nhưng được che chắn đầy hiểm trở bởi

đường đi lại khó khăn, “tàn hà đái thấp, chiết liễu triêm nê” (Sen tàn nơi ẩm thấp, khí hậu độc địa, nhánh thủy liễu – tức cây bần – gãy rơi xuống bùn) (Nguyễn Cư

Trinh) (65,16)

Bên cạnh đó còn là thời tiết khí hậu không phải là không khắc nghiệt lại diễn biến phức tạp khó lường Mọi sự tiên đoán trước theo chu kỳ không phải lúc nào cũng chính xác và điều đó đã ít nhiều ảnh hưởng đến những thành quả bước đầu còn khiêm tốn của ông cha

Thời tiết vùng nhiệt đới Nam Bộ không chỉ mở lối cho cỏ dại, côn trùng sinh sôi nảy nở, muỗi mòng rắn rết, đỉa vắt phát sinh mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sấu ác tha hồ vẫy vùng nơi sông nước đầm lầy, cọp dữ tự do tung hoành chốn sơn lâm cây già bóng cả

Nhưng dù thế nào, cái hoang sơ độc địa đó vẫn không làm thối chí những cư dân Việt đầy lòng quyết tâm khai hoang lập ấp

II.2 Đối đầu với thù trong giặc ngoài

Không lùi bước những trở ngại của thiên nhiên, con người Nam Bộ sau này cũng không lùi bước trước những thế lực đen tối và phi nghĩa

Trang 20

Đặt chân tới mảnh đất phương Nam này ở buổi đầu hoang dã, con người đã mang trong lịng một ý thức của sự phản kháng Từ bỏ chỗ chơn nhau cắt rốn nơi quê cha đất tổ vì sự áp bức bĩc lột quá mức của tập đồn phong kiến mục ruỗng bạo tàn, lưu dân Việt đã ra đi vì phản kháng, vì khao khát cuộc sống tự do Đến một nơi đất rộng người thưa mơng mênh bát ngát, nơi mà mọi sự ràng buộc trở nên vơ nghĩa, bất lực, những lưu dân Việt ở phương Nam ngay từ buổi đầu đã lập tức tìm ra nơi đất lành chim đậu Họ mau chĩng hịa hợp với những cư dân cổ xưa cĩ mặt ở đây nương tựa vào nhau để tiếp tục đối đầu với những thế lực đen tối mới

Chúng ta khơng phủ nhận những tác động tích cực của triều đình nhà Nguyễn đã phát động những người dân cĩ nhân lực, cĩ vật lực hùng hậu vào khai khẩn Dù với những chính sách thơng thống ngõ hầu khuyến khích những lưỡi phảng khẩn hoang nhưng rõ ràng, cũng khơng thể chối được rằng, nhà Nguyễn – sau thời gian đầu khuyến khích đĩ – sẽ sắp xếp địa bạ hành chính vùng Nam Bộ để biến nơi này thành một hậu cứ chắc chắn nhằm đối phĩ với nhà Trịnh trong cuộc phân tranh.(1)

Những lần đụng độ lặp đi lặp lại đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng của người dân vơ tội Trải qua thời gian, điều đĩ khơng hề mất để trả lại cho dân đen sự bình yên Chiến tranh vẫn cứ là nỗi ám ảnh treo lơ lửng trên đầu họ

Bên cạnh đĩ, sự phân hĩa giai cấp trong nơng thơn làm cho vấn đề ruộng đất được đặt ra gay gắt Bọn địa chủ giàu cĩ được nuơi dưỡng vào thời các chúa Nguyễn - dựa vào thế lực kinh tế xã hội, dần dần bao chiếm đất đai, tước đoạt cả những mảnh ruộng nhỏ bé của người nơng dân nghèo khổ

Mâu thuẫn giai cấp nảy sinh, phát triển gay gắt đeo đuổi truy bức người dân trong cuộc mưu sinh tồn tại sống cịn

Và cịn nhiều lần giao tranh giữa Tây Sơn và tập đồn Nguyễn Ánh cũng luơn đặt ra trước người Nam Bộ những thử thách thật sự nghiêm trọng, kéo dài

Rồi sự xuất hiện của giặc Xiêm xâm lược Chỉ trong vịng sáu thập kỷ của thế

kỷ XVIII, sáu lần quân Xiêm xâm lấn vùng Nam Bộ với bao cảnh máu chảy đầu rơi, tan da nát thịt, núi xương sơng máu (111,243)

Và bi kịch của trăm năm mất nước vào tay thực dân Pháp mở màn với khúc dạo đầu đau thương bi tráng cũng cất lên từ vùng đất phương Nam “đi trước về sau” này

(1) Trước đó, từ 1627 đến 1661, Trịnh Nguyễn đã mang quân đi đánh nhau đến 7 lần (A,47,80)

Trang 21

Đối đầu với chiến tranh – đặc biệt là chiến tranh xâm lược – đã thực sự làm cho vùng đất này tồn tại và phát triển trong một hoàn cảnh bất thường Con người phải đối đầu với nghịch cảnh ấy bằng những cuộc đấu tranh không ngừng từ khi Pháp nổ súng xâm lược ở Đà Nẵng cho đến khi Pháp thật sự đặt ách cai trị lên miền Nam và cả nước nói chung

Mâu thuẫn dân tộc chồng chéo lên những mâu thuẫn về giai cấp bởi bọn cường hào ác bá tiếp tục được bọn thực dân dung dưỡng đã tha hồ tác quai tác quái, quấy nhiễu dân lành

Và vì thế, cuộc đối đầu này quả thật không hề đơn giản

II.3 Phác họa chân dung con người Nam Bộ

Ra đi từ một vùng đất có nền văn hóa lâu đời của miền Bắc, miền Trung, ra

đi vì những khắc nghiệt của cuộc sống nhiều thăng trầm biến động; những nông dân nghèo khó nhưng gai góc, những tội đồ bướng bỉnh, những lính thú cứng đầu và cả những người Hoa không hàng phục đã hội ngộ cùng nhau ở vùng đất mới

Thế là trên vùng đất đai bát ngát phì nhiêu, nắng nhiều nước lắm nhưng rừng cây rậm rạp, đầm lầy lau lách ấy đã chạm khắc nên chân dung người Nam Bộ rất riêng, rất độc đáo, rất đặc trưng

Họ vừa có cái nền tảng văn hóa nghìn năm nơi quê cha đất tổ, vừa có những thích ứng hòa nhập và biến cải thành một đời sống tính cách tâm hồn tình cảm rất

phương Nam “Thiên nhiên Nam Bộ còn khá rộng rãi và hào phóng với con người, đã thế ở đây lại không có tâm lý phân biệt người chính cư và người ngụ

cư nên người dân sẵn sàng bỏ đi nơi khác nếu ở nơi cũ, họ cảm thấy không còn sống được nữa, cả về vật chất lẫn tinh thần” (111,13) Họ sống không bị

ràng buộc, và cũng không bao giờ chấp nhận sự ràng buộc Điều này còn có nguyên nhân sâu sa vì tất cả những lưu dân có mặt ở nơi đây đều có chung một mục đích là khát vọng tự do, khát vọng được giải phóng

Ngày họ đến đây thuở “phá sơn lâm đâm hà bá” ban đầu, nhà Nguyễn chưa thể vươn dài bàn tay phong kiến của mình để chế ngự hết đất đai điền thổ Vì vậy,

họ cảm thấy thực sự được tự do, thực sự được giải phóng, cả trong ý thức:

Trời sinh cây cứng lá dai Gió lay mặc gió chiều ai chẳng chiều Cái ý thức vẫy vùng sông nước ấy, cái hùng tâm tráng chí của những con người không khép mình khuất phục ấy đã được nung đúc trong hoàn cảnh mới

Trang 22

thành ý chí kiên cường, thành tinh thần bất khuất hiên ngang, thành tâm thế cứng cỏi ngang tàng quyết liệt và táo bạo Từ đó, họ không hề lùi bước mà dấn thân chế ngự thiên nhiên khắc nghiệt, không luồn cúi mà sẵn sàng đương đầu với sức mạnh của cả những thế lực tối đen phi nghĩa

Mà Nam Bộ, dù thiên nhiên có ưu đãi thì thuở “tiền sử” của nó cũng là một

nơi “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, cũng là một nơi “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh” Nói rõ hơn, đó là một nơi thật sự có thử thách, có

đương đầu Và như trên đã đề cập, thiên nhiên đôi khi lại không đáng sợ bằng những thế lực bạo tàn Nam Bộ cũng là nơi thăng trầm sóng gió với bao cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt, những xung đột nội chiến dữ dội, những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm khốc liệt, kéo dài

Thế là, người Nam Bộ đã biết kề vai sát cánh, chung lưng đấu cật với nhau trong một tình tương thân tương ái, giúp đỡ thật lòng và hết mình Mối dây ràng buộc giữa họ với nhau – cơ hồ như rất mong manh Thế nhưng, kỳ lạ thay, mối quan

hệ ấy lại cực kỳ bền vững bởi chữ “Nghĩa” đơn sơ giản dị mà sâu nặng Nói đến

họ là nói đến những con người “trọng nghĩa khinh tài” với câu "Kiến ngãi bất vi, phi anh hùng” Những Trương Phi (Tam quốc diễn nghĩa – La Quán Trung),

những Hớn Minh, Tử Trực (Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu) ngoài đời không phải là ít Trước tình cảnh ba họ mười làng, thân tộc máu mủ đơn côi, trước thiên

nhiên còn xa lạ mà ác liệt, trước những "bất bằng" của xung đột giai cấp "chẳng tha", họ đã thực sự dựa vào nhau, tin nhau, thực lòng với nhau, nhân nghĩa trước

sau với nhau trong quan hệ bằng hữu, trong tình làng nghĩa xóm, lân gia, lân ấp

Một vài nét phác họa chân dung - tính cách tình cảm - của người Nam Bộ Điều này rất có ý nghĩa để luận án sẽ khảo sát hình tượng nhân vật trong truyện kể địa danh ở chương sau

III SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ LƯU TRUYỀN NHỮNG TRUYỆN

KỂ ĐỊA DANH NAM BỘ

Khi những con người đầu tiên có mặt ở Nam Bộ để bắt đầu công cuộc khai khẩn vùng đất mới thì lúc bấy giờ văn học dân gian đã định hình và phát triển từ khá lâu đời ở vùng đồng bằng Bắc Bộ lưu vực sông Hồng

Sự hình thành và lưu truyền văn học dân gian vùng đất phương Nam nói chung và những "truyện kể địa danh Nam Bộ" nói riêng một mặt dựa trên sự kế thừa những gì đã có của truyền thống văn học dân gian dân tộc, mặt khác lại hoàn toàn

Trang 23

mang những dấu ấn mới mẻ của một vùng đất còn non trẻ Sự giao thoa giữa cái đã

có và cái chưa có, cái tiếp tục diễn tiến và cái mới khởi thủy, cái đang tồn tại và cái vừa bắt đầu đã tạo thành một nét riêng của sự hình thành và lưu truyền văn học dân gian Nam Bộ – đặc biệt là truyện kể địa danh Nam Bộ

Điều này lý giải vì sao khoảng cách ra đời giữa các thể loại văn học dân gian

- ở đây nhấn mạnh thể tài truyện kể bằng văn xuôi – rất gần nhau, thậm chí cùng song song tồn tại với nhau

Các thể loại cơ bản như thần thoại, truyền thuyết lịch sử, truyện cổ tích dân gian Nam Bộ đều được ra đời và lưu truyền trên dưới 300 năm khi những người Việt đầu tiên có mặt ở vùng đất này để làm cuộc khẩn hoang

Dựa vào phần lịch sử vùng đất đã nêu, ta thừa nhận rằng trong kho tàng truyện kể ở vùng đất mới, tư duy của những cư dân cổ - thuộc các vương quốc khác

- cũng đã để lại ít nhiều dấu ấn qua những câu truyện kể của dân tộc họ Nhưng theo tư liệu mà chúng tôi sưu tầm được và sẽ công bố trong phần phụ lục của luận

án này thì số lượng truyện kể xa xưa ấy - tức là những truyện ít nhiều mang màu sắc của các lớp văn hóa cổ ấy - không phải là nhiều

Phần lớn các truyện mà cốt truyện, nhân vật, chi tiết, tình tiết của nó đã là một dấu hiệu khá rõ ràng để xác định thời điểm ra đời Thậm chí, một số lượng

không nhỏ các truyện còn có cả thời gian vô cùng cụ thể (như ngày tháng năm nào đó chẳng hạn)

Vậy thì nói về quá trình hình thành và lưu truyền những truyện kể địa danh Nam Bộ, ta có thể bắt đầu từ điểm xuất phát của những cư dân Việt trên bước đường khai phá đất phương Nam Trong tư duy của họ, bề dày văn hóa của một vùng đất có tuổi đời kéo dài đến cả ngàn năm đã tạo nền tảng hết sức vững chãi và cũng vô cùng phong phú cho sự hình thành và lưu truyền những tác phẩm dân gian mới, ở vùng đất mới

Đến vùng đất này, những điều hoang sơ bí ẩn ở một nơi xa lạ đã kích thích khao khát khám phá và lý giải những hiện tượng địa hình, tác động của thiên nhiên;

đã tạo cơ hội cho những kỳ tích chinh phục của con người Nó cũng đánh thức những ước mơ, khát vọng về cuộc sống, muốn chế ngự thiên nhiên như đã từng như thế ở thời điểm xa xưa của lịch sử loài người Và như vậy thì tất yếu, con người – bằng cách riêng của mình – đã nảy sinh nhu cầu lý giải một cách hồn nhiên và bay

Trang 24

bổng những kiến tạo tự nhiên của vùng đất ấy, của xóm làng cư trú, sông ngòi ao đầm núi non, đồng ruộng

Và cái ý thức chiếm lĩnh thiên nhiên địa hình, cái nhu cầu hành chính sinh hoạt, giao lưu và đặc biệt là tình cảm gắn bó mật thiết với mảnh đất từ xa lạ đến quen thân ấy đã thôi thúc họ sáng tác ra một hình thái ý thức đi cùng họ trong suốt quá trình chinh phục và chế ngự môi trường sinh sống

Cái vốn văn hóa ở vùng lưu vực sông Hồng trở nên hết sức cần thiết và quan trọng để đẩy nhanh hơn sự hình thành và lưu truyền những truyện kể dân gian Sẽ

có nhiều điểm tương đồng và tất nhiên cả những dị biệt trong những cốt truyện được diễn tả Cách nhìn và tư duy của dân gian ở vùng đất mới vừa thể hiện sự kiến giải đầy tưởng tượng trước thiên nhiên bí ẩn vừa là sự tỉnh táo vượt thoát ra phần lớn những yếu tố hoang đường Bởi buổi khai sinh cùng thời kỳ niên thiếu của người Việt cổ dẫu sao cũng đã lùi vào quá khứ Con người cầm vũ khí bằng đôi cánh tay gân guốc rắn rỏi dạn dĩ đi vào vùng đất phương Nam đã rất trưởng thành Có chăng chỉ là thoáng ngỡ ngàng khi tiếp nhận với quá nhiều điều mới mẻ mà vùng đất văn vật xứ Đàng Ngoài không còn nữa, hoặc chưa hề có

Trên chỉ phác họa vài nét sơ lược về sự hình thành và lưu truyền của truyện

kể địa danh Nam Bộ Chúng tôi sẽ còn đề cập đến cụ thể hơn khi khảo sát các truyện kể ấy ở phần sau

Trang 25

Chương 2

NHẬN XÉT TƯ LIỆU Trong chương dẫn nhập về lịch sử đề tài, chúng tôi đã điểm qua hệ thống tư liệu nghiên cứu về địa danh Tuy nhiên, đề tài cùng vấn đề này đặt ra quả là còn rất mới mẻ Thực ra, việc nghiên cứu địa danh không phải là mới Cái mới là luận án vạch ra một hướng nghiên cứu về địa danh Nam Bộ dưới cái nhìn Folklore học Nói như vậy để thấy rằng các góc độ nghiên cứu trước đây về địa danh hoặc chỉ nhìn ở góc độ ngôn ngữ học - địa danh học, dân tộc học - phong tục học hoặc chỉ khoanh vùng ở những truyện kể địa danh Bắc bộ - nơi có bề dày văn hóa lâu đời khá ổn định Từ đó, vô hình trung chưa chú ý đúng mức một mảng truyện đáng kể đã nảy sinh theo dấu chân những ngày đầu cha ông đi mở đất trong khi mảng truyện ấy ngày càng phát triển nhiều hơn

Vì vậy, có thể coi chương II – chương nhận xét tư liệu – như cách mà người viết muốn cụ thể hóa phần lịch sử đề tài, ngõ hầu có một cái nhìn toàn diện hơn về quá trình sưu tầm và nghiên cứu truyện kể địa danh

Trong phần này, để thuận lợi hơn cho việc khảo sát, chúng tôi tạm chia tư liệu thành các nhóm sau đây:

1 Nhóm tư liệu sưu tầm: Gồm có các truyện kể dân gian về địa danh Nam

Bộ mà chúng tôi sưu tầm và tuyển chọn được

2 Nhóm tư liệu nghiên cứu, biên khảo Bao gồm:

- Tư liệu xã hội (Các địa danh xưa và nay)

- Tư liệu địa lý (Sách Địa chí, Địa phương chí)

- Tư liệu lịch sử (Sử sách triều Nguyễn biên soạn)

- Tư liệu địa danh học (Ngôn ngữ)

- Tư liệu nghiên cứu truyện kể địa danh (đăng trên các tạp chí chuyên ngành)

I NHÓM TƯ LIỆU SƯU TẦM

I.1 Bộ sách “kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” (7)

Tác giả bộ sách này tỏ ra rất công phu trong cách phân loại, hệ thống các

nhóm truyện Ta thấy ở chương II của phần thứ 2, sau Nguồn gốc sự vật là Sự tích

Trang 26

đất nước Việt Trong mười truyện kể thì, truyện kể dân gian về địa danh Nam Bộ

chỉ có một truyện duy nhất Đó là Sự tích sông Nhà Bè (truyện Thủ Huồng) (7,388) Khảo sát tất cả các khảo dị của mười truyện trong phần này cũng không tìm thấy một bản kể nào khác về một địa danh nào đó ở vùng đất phương Nam

Trong một bộ sách công phu và giá trị như thế, tỉ lệ như đã nêu, quả là quá thấp

I.2 “Truyền thuyết Việt Nam” (86)

Tương tự, trong công trình sưu tầm và tuyển chọn “Truyền thuyết Việt Nam”,

ở phần một, phần Địa danh chúng tôi đã tổng kết có đến trên dưới 100 truyện

thì chỉ được hai truyện liên quan đến đia danh – di tích Nam Bộ Đó là truyện Bà Chúa Xứ (86,69) ở núi Sam Châu Đốc và Bà Đênh (86,158) tức núi Bà Đen ở Tây Ninh

Còn lại hơn 90 truyện, phần lớn đều tập trung vào những câu truyện truyền thuyết về địa danh ở Bắc Bộ và một phần ở Bắc Trung Bộ

I.3 “Huyền thoại về tên đất” (104)

Có thể coi đây như một công trình đi chuyên sâu sưu tầm và tuyển chọn

những “truyện cổ, truyền thuyết, thần thoại có gắn với tên các địa danh (tên đất, buôn làng, sông núi…)” (104,5) Công trình này tập hợp 68 “Huyền thoại về tên

đất” mà theo tác giả, khi làm công tác tuyển chọn, đã dựa vào các tư liệu điền dã, sách báo, các công trình nghiên cứu của các tác giả, tác phẩm (tài liệu tham khảo) trong nhiều năm

Thế nhưng, vẫn chỉ có 5 “Huyền thoại về tên đất” ở Nam Bộ xuất hiện Đó là

các truyện: Truyền thuyết về thác Trị An (104,314), Sự tích Bãi Xàu (104,348), Ao

Bà Om (104,353), Sự tích núi Bà Đen (104,355), Miếu thờ Bà Chúa Xứ (104,358) Đặt vào tổng thể chung của toàn tập sách, ta thấy tác giả tỏ ra công phu tìm kiếm

tư liệu thiên về các dân tộc ít người ở Việt Nam Nhưng như vậy, tỉ lệ dành cho các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ như Khơ-Me, Chăm, Hoa, vẫn còn quá ít

I.4 Các tư liệu tập hợp các truyện kể dân gian của vùng đất Nam Bộ:

“Nam Kỳ cố sự “(27), “Nghìn năm bia miệng” (117), “Huyền Thoại miệt vườn” (110), “Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười” (26), “Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long” (87), “Gò Công cảnh cũ người xưa” (10),

Trang 27

Ở các công trình sưu tầm và tuyển chọn nêu trên, quả thật các tác giả có đi chuyên sâu vào những truyện kể hình thành và lưu truyền trên một vùng đất mới - đất phương Nam Thế nhưng đó cũng không phải là những công trình tập hợp riêng biệt dành cho những truyện kể địa danh Nói cách khác, những truyện kể địa danh trong các tác phẩm ấy nằm rải rác, thiếu hệ thống, không được tổng hợp và phân loại để cho người đọc có một cái nhìn toàn diện, tổng quát chỗ đứng của loại truyện này trong kho tàng văn học dân gian Nam Bộ

Chẳng hạn trong “Nam Kỳ cố sự” (Chuyện kể Nam Bộ) (27) các truyện kể địa danh nằm lẫn lộn trong những truyện khác, không có đề mục phân loại

Cũng theo một lối sắp xếp chưa được hệ thống theo một mảng truyện địa danh như thế, công trình hai tập “Nghìn năm bia miệng” (117) là sự tập hợp hòa lẫn vào nhau giữa truyện kể địa danh và những truyện kể dân gian khác Công trình

“Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long” (87) thì có tập hợp theo đề mục khá rõ ràng mảng truyện kể về địa danh nhưng rất tiếc sự tập hợp ấy còn sơ

lược, chỉ với dăm ba truyện mà tiêu chí lựa chọn cũng chưa thuyết phục

Vì vậy, để thuận lợi hơn trong nghiên cứu, chúng tôi mạn phép các tác giả trên, xin được chọn lọc và tập hợp lại những truyện kể địa danh Nam Bộ trong những tác phẩm đã dẫn và trong một số tài liệu khác (gần 100 truyện kể) Phần này cũng là tư liệu chính để chúng tôi tiến hành nghiên cứu Để tiện theo dõi và mong được góp ý chỉ giáo thêm, chúng tôi đặt các truyện này ở phần phụ lục của luận án

II NHÓM TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

II.1 Những tư liệu về xã hội, những sưu khảo về địa danh xưa

và nay :

Ở đây, chúng tôi lưu ý đến bộ sách sưu khảo Xưa và Nay của Ông Huỳnh Minh - một học giả có nhiều tâm huyết tìm hiểu nghiên cứu vùng đất Nam Bộ qua các địa phương như: “Kiến Hòa xưa và nay” (59), “Bạc Liêu xưa và nay’ (52), “Vĩnh

Long xưa và nay“ (57), “Gò Công xưa và nay” (55), “Vũng Tàu xưa và nay” (58),

“Sa Đéc xưa và nay” (56), “Gia Định xưa và nay” (54), “Tây Ninh xưa và nay” (60), “Định Tường xưa và nay”(53)

Không có tham vọng nhận xét phê bình hay góp ý toàn tập sách, chúng tôi chỉ tập trung sự quan tâm của mình vào những phần đề cập đến địa danh Trong mỗi công trình sưu khảo gắn liền với một tỉnh lúc bấy giờ, tác giả có hẳn một đề mục có tên gọi “Địa danh" hẳn hoi Điều này cho thấy nói đến một địa phương nào đó, tìm hiểu địa danh là điều cần thiết và không thể bỏ qua Thế nhưng ngay ở phần tưởng

Trang 28

chừng như rất tập trung này thì những tư liệu về địa danh vẫn còn rất khiêm tốn và

bộc lộ nhiều hạn chế Rõ nhất là sự sơ lược, “cưỡi ngựa xem hoa”

Xin điểm qua một công trình tiêu biểu trong bộ sách, quyển “Sa Đéc xưa và nay” (56):

- Các chợ xưa có tiếng: tác giả chỉ liệt kê tên chợ, không hề đi vào

khai thác, tìm hiểu vì sao có tên như vậy (Ví dụ: Chợ Đất Sét ở tổng An Thạnh Thương, Chợ Dinh ở tổng An Mỹ, Chợ Cái Sao ở tổng Phong Nẩm ) (56,118)

- Trong khi đó, thuật ngữ “cổ tích” mà tác giả sử dụng, dùng để chỉ những di tích cổ chứ không phải như một thể loại truyện kể văn xuôi dân gian Điều này ít nhiều gây ngộ nhận rằng đó là truyện kể địa danh (Ví dụ: Sự tích Miếu Văn

Thánh (56,124), Sự tích Dinh Bà Đô (56,130) thật ra là giới thiệu di tích Miếu, Dinh, )

- Cả tác phẩm viết theo dạng bút ký với những ghi chép tản mạn Thỉnh thoảng tác giả có lồng vào những câu chuyện giải thích địa danh nhưng đa số

là những câu chuyện tương đối sơ lược, vừa không đầy đủ vừa thiếu hệ thống (56,126) Phải chăng tác giả không hề có chủ đích sưu tầm các truyện kể địa danh ?

Hay như ở công trình “Cà Mau xưa, An Xuyên nay” (50), tác giả Nghê Văn Lương cũng không hề có ý định đi sâu vào nghiên cứu địa danh nên tài liệu cũng chỉ

là những ghi chép tản mạn về những địa danh mà tác giả sưu tầm được Đại khái xoay quanh các vấn đề như vị trí của địa danh, những câu chuyện được lượm lặt xoay quanh địa danh, những sản vật ở đó và cuối cùng là miêu tả cảnh vật của địa danh (50,62 và 65)

Chúng tôi không thấy tác giả nêu lên những truyện kể địa danh mà chỉ nhận

xét một cách sơ sài (không có ý định nhìn nhận ở góc độ nghiên cứu khoa học) ba nguồn lý do hình thành địa danh (50,197) Đó là thổ sản, tên người lập nghiệp và

một kỷ niệm nào đó Rồi sau đó, mỗi loại, tác giả đưa ra một số địa danh – và chỉ dừng ở tên gọi địa danh mà thôi – để minh họa Và không còn gì khác

Ngoài ra, đây đó trong quyển sách này đã nêu vài chi tiết mang tính nghiên cứu rất nhỏ, khiêm tốn Và có thể nói rằng điều đó ít nhiều chỉ soi sáng thêm cho việc nghiên cứu địa danh học bước đầu (50,57 và 61)

II.2 Những tư liệu địa lý (Địa chí, Địa phương chí):

Hầu hết các tỉnh ở Nam Bộ đều có mỗi tỉnh một quyển “Địa chí”

Trang 29

Nằm trong tổng tập địa lý, hình thể, kinh tế và lịch sử Nam Kỳ, những ấn phẩm của Hội nghiên cứu Đông Dương – các quyển Địa phương chí – đa số đã bị thất lạc

Tuy nhiên, trong tay chúng tôi có được quyển “Địa phương chí tỉnh Trà Vinh” (34) Đứng ở góc độ tìm hiểu địa danh mà nói thì chương I – chương Địa lý hình

thể (Ngữ nguyên học – Miêu tả đại cương) là đáng chú ý hơn cả

Ở đây, các tác giả dụng công truy nguyên gốc từ Trà Vang Tuy nhiên, lại ở góc độ từ nguyên học(1), phần nhắc đến các địa danh chỉ chủ yếu nói về vị trí địa lý, giá trị kinh tế hoặc ảnh hưởng đời sống, giao thông Hầu như không đi vào giải thích tên gọi các địa danh – đặc biệt là nhiều tên kinh rạch gợi không ít suy nghĩ, liên tưởng về một truyện kể nào đó nấp đàng sau nó (Ví dụ: Rạch Cái Họp, rạch Láng

The, rạch Lọp, rạch Bàng Đa, rạch Cam Son …)

Tương tự, phần nói về chợ cũng chỉ liệt kê tên gọiï mà thôi

Các công trình “Địa chí” được biên soạn khá công phu sau này cũng thế Đó

là các quyển “Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh” (18), “Minh Hải địa chí” (95),

“Địa chí Bến Tre” (93), “Địa chí Đồng Tháp Mười” (14), “Địa chí Long An” (94) …

Sau các phần I (Tự nhiên và dân cư), phần II (Lịch sử truyền thống đấu tranh), phần III (Kinh tế), thì phần đáng lưu ý là phần IV – Văn hóa, bởi trong phần

này, chương Văn học dân gian được đề cập đến đầu tiên

Ví dụ ở quyển “Địa chí Long An” (94), các tác giả xếp các truyện kể địa danh vào thể loại truyền thuyết Điều đáng nói là phần này nêu tên rất nhiều truyền thuyết

về địa danh ở Long An (Ví dụ: Rạch Gấu, Bàu Voi, Bưng Tràm Lạc, Sự tích Kênh

Bộ Tôn, Sư tích Rạch Xà Bang, Sự tích Xã Giang, Sự tích Chợ Tầm Vu, Sự tích Rạch Bà Kiến …) Thế nhưng ở phần phụ lục – về một số địa danh và di tích trong

tỉnh, với những truyện kể khá lý thú về nguồn gốc địa danh – chúng tôi lại không tìm thấy đa số các truyện đã được đề cập tới ở phần truyền thuyết Một số địa danh – có

kèm theo nguồn gốc tên gọi – có mặt ở phần phụ lục này lại hầu hết là những địa

danh không có cốt truyện Đây quả là điều thật đáng tiếc cho những người đi thu

nhặt, sưu tầm lại các truyện kể địa danh Và ít nhiều là chỗ khiếm khuyết cần lưu ý

bổ sung của những công trình được biên soạn chi tiết, công phu này

II.3 Những tư liệu lịch sử:(1)

Đó là các tác phẩm viết về đất phương Nam như: “Nam Hà tiệp lục”, “Nam

Kỳ Ký văn”, “Nam Kỳ địa dư chí”, “Nam Kỳ địa hạt tổng thôn danh hiệu” (24),

Trang 30

“Phủ biên tạp lục” (15), “Đại Nam nhất thống chí” (99), “Gia Định thành thông chí” (17)

Hai quyển đầu: “Nam Hà tiệp lục” (Lê Đản) và “Nam Kỳ Ký văn” (Đặng Trọng An) viết về lịch sử và địa lý thời nhà Nguyễn ở Nam kỳ Hai sách chép đầy đủ địa lý

và địa danh Nam Bộ, in thời Nguyễn, hiện nay còn, đó là “Nam Kỳ địa dư chí” và

“Nam Kỳ địa hạt tổng thôn danh hiệu” (cả hai không rõ tác giả)

Theo ông Hồ Sĩ Hiệp, quyển “Nam kỳ địa dư chí” nội dung giống các sách địa

dư chí của thời Nguyễn, còn “Nam Kỳ địa hạt tổng thôn danh hiệu” thống kê đầy

đủ tên gọi thôn, tổng và địa hạt ở Nam Bộ thời nhà Nguyễn, gồm 18 hạt Tuy

nhiên, cũng giống như các công trình khác, sách chỉ dừng lại ở góc độ hành chính

về địa danh, thừa nhận tên một số địa đanh đã định hình trong dân gian mà không quan tâm truy nguyên truyền thuyết

Đến “Phủ biên tạp lục” (15), thì vùng đất có tuổi đời còn non trẻ này đã được soi sáng thêm bằng những cứ liệu lịch sử chân xác từ sự am tường, tìm hiểu công phu của một vị quan tài ba trí tuệ uyên thâm Và vì vậy, cho dù phần lịch sử, sự kiện

khá đậm làm lu mờ cả phần hình thế, núi sông, thành lũy, đường sá thì tác phẩm vẫn có những giá trị nhâÙt định để bắc cầu đi vào khảo sát những mối liên

quan giữa truyện kể địa danh và lịch sử Đặc biệt là phần I, tác giả đưa vào lý giải rất sâu sắc hành trình Nam tiến có căn nguyên từ đời Lý, Trần; và phần V – Nhân tài và văn thơ – cũng đóng góp không ít vào việc nghiên cứu mảng truyện kể địa danh có liên quan đến tên của các nhân vật lịch sử, theo các sự kiện lịch sử

Chúng tôi sẽ còn đề cập đến tác phẩm giá trị này của Lê Quí Đôn ở phần sau, khi đi sâu vào tìm hiểu thi pháp của truyện kể địa danh Nam Bộ, phần nào tìm hiểu khoảng cách của lịch sử và truyện kể địa danh dân gian

Một công trình lịch sử có giá trị khác nữa là “Đại Nam nhất thống chí“ (99)

Đây là công trình đề cập khá đầy đủ và phong phú địa danh Nam Bộ Khi nói

về sáu tỉnh Nam kỳ, ba tập thượng, trung, hạ đều dành một phần đất khá rộng cho

“địa danh” Ở đó, các tác giả chia địa danh ra các mục: Sơn Xuyên (núi sông), Cổ

Tích (những di tích cổ chứ không phải những câu chuyện cổ), Quan Tấn (thành ải),

Dịch Trạm (trạm), Thị Điếm (chợ, quán), Từ Miếu (đền), Tự Quán (chùa), Tân

Lương (cầu đò), Nhân Vật - Liệt nữ (người nổi tiếng)

Khảo sát kỹ phần tư liệu này, chúng tôi ghi nhận một vài nhận xét sau:

- Đầu tiên là đa số địa danh không có cốt truyện mà chỉ có một tình tiết

đơn giản Thí dụ Ngũ hổ Sơn, Bát Giác Sơn, Trung Sơn ở tỉnh Hà

Trang 31

Tiên (99,54); núi Đào Lư, núi Yên Cẩm, núi Thần Qui ở tỉnh Biên Hịa (99,13) Cũng ở tỉnh Biên Hịa (quyển Thượng), cĩ khá nhiều

núi gắn với tên người (nhân danh là địa danh) nhưng sách khơng giải thích gì cả Chẳng hạn núi Nữ Tăng liên quan đến một nhân vật là ni

cơ Lê Thị Nữ – mà sách khơng giải thích rõ đĩ là ai, vì sao trở thành tên núi (?)

- Thứ hai, sách cĩ ghi chép những câu chuyện cĩ liên quan đến địa danh và mặc nhiên với tên gọi đã cĩ, khơng đi vào giải thích vì sao lại xuất hiện tên gọi ấy Ví dụ đảo Cơn Lơn ở tỉnh Vĩnh Long (99,51), sơng Hậu Giang ở An Giang (99,21) chảy qua một loạt các địa danh được liệt kê mà khơng cĩ giải thích gì cả

- Thứ ba, khơng như một số quyển sách khác, “Đại Nam nhất thơÙng chí” chỉ đề cập đến tên chữ – chữ Hán – của địa danh mà khơng

nĩi đến tên tục – chữ Nơm(1)

- Hầu hết các địa danh trong cơng trình này được nhìn ở gĩc độ địa lý Chẳng hạn về địa thế, nếu là sơng thì bắt nguồn từ đâu, chiều dài của

nĩ Và bên cạnh đĩ, tác giả cịn quan tâm đến những sự kiện lịch

sử cĩ liên quan đến địa danh Đơi khi, cĩ một số địa danh cịn được lưu ý thêm về đặc điểm sinh thái nữa Thí dụ ngịi Tiên Thủy ở tỉnh Vĩnh Long (99,56)

- Cuối cùng là các nhân vật được đề cập đến trong phần Bản triều nhân vật thì đa số khơng liên quan đến các nhân vật trong những

truyện địa danh mà chúng tơi sưu tầm được Cĩ một thực tế hiển nhiên là do tác giả viết bằng đơi mắt của một bề tơi nhà Nguyễn, hướng đến hiện thực qua lăng kính của triều đại phong kiến thời chúa Nguyễn nên cĩ cái nhìn đối kháng về nhân vật Quang Trung Nguyễn Huệ trong phong trào khởi nghĩa Tây Sơn Điều này, chúng tơi cũng

sẽ đề cập đến sau

Bộ sách đầy đủ và chính xác về lịch sử, đất nước và con người Nam Bộ hơn

cả là “Gia Định thành thơng chí” của Trịnh Hồi Đức (17), “Cĩ thể xem Gia Định thành thơng chí là sách lịch sử và địa lý chuyên tác đầu tiên về Nam Bộ của ta” (Đào Duy Anh) (17,9) “Gia Định thành thơng chí” là bộ sách chép về cả miền Gia Định – tên vốn cĩ từ trước dùng để gọi tất cả miền Nam Bộ

Sách chia làm 6 quyển thì phần liên quan nhiều đến địa danh cĩ lẽ là ở quyển

2 và một phần ở các quyển 3, 6

Trang 32

Ở phần Sơn Xuyên chí của quyển 2, tác giả phân biệt theo từng trấn của đất

Gia Định mà mô tả núi sông (Trong khi “Phủ biên tạp lục”, Lê Quí Đôn chưa nói đến

núi sông Gia Định) Còn so với “Đại Nam nhất thống chí”, công trình này của

Trịnh Hoài Đức còn hai điều đóng góp đáng quí nữa Một là có chú thích thêm tục

danh bằng tiếng Nôm bên cạnh tên chữ Hán, giúp ta nhận diện địa danh tốt hơn Hai

là, sau các địa điểm quan trọng, tác giả còn chép thêm những sự kiện lịch sử có liên quan Chả thế mà một số công trình sưu tầm truyện kể địa danh có sử dụng tư liệu

từ “Gia Định thành thông chí” để trích dẫn ra nguyên văn hoặc làm cơ sở cho việc thẩm định tư liệu Theo Đào Duy Anh, có lẽ “Gia Định thành thông chí” là sách đầu tiên mô tả kĩ càng núi sông miền ấy Các sách ra đời sau này cũng không kỹ càng hơn thế

Ở quyển 3, phần Cương vực chí, bên cạnh việc mô tả kỹ càng về các khu vực hành chính của đất Gia Định ở đời Gia Long thì ở các trấn Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên, tác giả có chép thêm những sự kiện lịch sử liên quan tới sự khai thác các trấn ấy Điều này rất có ý nghĩa trong quá trình lý giải các vấn đề nội dung của truyện kể địa danh

II.4 Những tư liệu nghiên cứu địa danh dưới cái nhìn ngôn ngữ học:

Đây quả là phần tư liệu có nhiều phát kiến thú vị và ít nhiều có liên quan đến

đề tài này Trước tiên cần xác định “Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh” (28,7)

Có thể tranh luận về định nghĩa này, vì nếu xác định như vậy, địa danh học có thể

thực hiện được nhiệm vụ của nó hay không Song đây không phải là nhiệm vụ của luận án Ở đây có thể hiểu rằng chúng tôi đang khảo sát phần tư liệu nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học hay nói theo một số học giả là nghiên cứu địa danh dưới cái nhìn địa danh học của ngành ngôn ngữ

Ở lĩnh vực nghiên cứu này, theo ông Lê Trung Hoa, nước ta cho đến giờ, chỉ

có những sưu tập địa danh, những sách địa phương chí, có ghi chép và giải thích nguồn gốc và ý nghĩa một vài địa danh(1), một số bài nghiên cứu lẻ tẻ, chứ chưa có một công trình nghiên cứu toàn bộ địa danh, một vùng hay cả nước

Nói về tác phẩm “Lược khảo địa danh ở Nam Bộ” của ông Bùi Đức Tịnh (113), bên cạnh việc khẳng định những đóng góp quí báu của tác giả, ông Lê Trung

Hoa cho rằng “trong tập này, tác giả chỉ dùng những kiến thức phổ thông chứ chưa dùng những phương pháp, nguyên tắc và kiến thức ngôn ngữ học - nhất là địa

Trang 33

danh học - để giải quyết vấn đề Mặt khác còn khá nhiều mặt của vấn đề như cấu tạo địa danh, các đặc điểm của địa danh Nam Bộ…” (28,7)

Mặt khác, như cả tác giả Bùi Đức Tịnh cũng đã thẳng thắn tự xét vấn đề nguồn gốc địa danh Nam Bộ rất phức tạp Nhiều trường hợp không thể dựa vào lịch

sử, địa lý, kinh tế hay đời sống, chỉ còn cách dựa vào truyền thuyết của đồng bào địa phương hoặc sự suy luận nào đó (113,96)

Trong quá trình trình bày qua bốn chương, tác giả đã thiên về khảo sát các yếu tố ngôn ngữ của địa danh Thí dụ, không chỉ chương 4 mà cả chương 1, ông đều xét đến một số từ tố thường dùng trong địa danh Nam Bộ, sự hòa hợp hoặc đồng hóa ngôn ngữ của các dân tộc khác có mặt trên miền đất này

Hay như ở chương 2, tác giả nêu hai phương thức về cách đặt tên địa danh Một là, Việt hóa địa danh Hai là, các từ tố thuần Việt, Hán Việt Hoặc chương 3, nói

về những biến đổi liên hệ địa danh thì cũng có cả nguyên do lấy một ngôn ngữ khác

để ghi âm tên gọi theo phương ngữ

Dẫu sao, mục đích “tìm hiểu địa danh Nam Bộ là góp phần củng cố tính thống nhất và làm giàu cho Tiếng Việt bằng cách phát huy sự đóng góp của từ địa phương Nam Bộ vào tiếng nói chung của cả dân tộc” (113,9) của tác giả cũng là điều đáng quí trong công trình mang tính “lược khảo” này

Tốn nhiều công sức và thời gian hơn có lẽ đó là công trình “Tự vị Tiếng Việt miền Nam” của học giả Vương Hồng Sển (100) – trình bày theo kiểu viết tự điển(1) Như tựa đề đã giới hạn, lĩnh vực nghiên cứu là “tiếng Việt” miền Nam Tuy nhiên, tác giả trình bày, ghi chép bằng một giọng văn bình dân mộc mạc Nam Bộ

tưởng chừng tản mạn vụn vặt nhưng kỳ thực rất sâu sắc quí báu ở nhiều phương diện địa lý, lịch sử, dân tộc, văn hóa… và đặc biệt là ngôn ngữ

Tác giả rất chú ý ghi nhặt những tên gọi, những địa danh không chỉ bằng sự trải nghiệm sâu sắc của con người cả đời gắn sâu với vùng đất phương Nam mà còn bằng những tra cứu công phu - Đặc biệt là ở các tài liệu tiếng Pháp mà trong số

đó có nhiều tài liệu cực kỳ quý hiếm (100,94)

Từ thái độ lao động khoa học nghiêm túc đó, tác giả đã thực hiện quyển “Tự vị” theo kiểu tra xuôi và tra ngược địa danh Hán và Nôm Bên cạnh đó, còn có cả sự phân biệt khá rõ ràng: địa danh trùng tên (100,559 và 613), địa danh trong những thời kỳ, giai đoạn khác nhau (100,13)

Tuy nhiên phải thừa nhận rằng, mặc dù đây đó, rải rác trong công trình, tác giả có sưu tầm ít nhiều truyện kể địa danh nhưng chi phối toàn bộ tập sách, phần

Trang 34

đáng kể – chiếm khối lượng lớn hơn cả – lại là phần tác giả tìm hiểu địa danh ở góc

độ ngôn ngữ

Chẳng hạn địa danh Sa Đéc Không đi vào truyền thuyết về nàng Phsar Dek – một truyện kể dân gian giải thích tên gọi vùng này, tác giả giải thích theo tiếng

Miên Phsar là chợ, Dek là sắt Và giải thích là Chợ bán Sắt (100,563)

Vì vậy, ở góc độ nghiên cứu địa danh theo cái nhìn Folklore học, ta thấy công trình này không hề đi theo hướng đó Nói đến địa danh ông chú trọng đến vị trí địa lý của nó nhiều hơn Một số địa danh ông đưa ra cách nói quen thuộc thông thường hơn là truy nguyên nguồn gốc Thậm chí, rất nhiều cách giải thích địa danh chỉ dừng lại ở tính chất gợi ý, để tham khảo thêm mà không có kết luận chắc chắn, không

tránh khỏi sơ lược hoặc mang tính suy luận chủ quan

Và cũng giống như nhiều tư liệu khác đã nhận xét ở phần trên, rất nhiều địa danh mà tác giả thu thập được (100,739) – rất tiếc – là những địa danh không có cốt truyện, chỉ giải thích bằng những lý do đơn giản và vì thế cũng không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án

Đến luận án Phó tiến sĩ của ông Lê Trung Hoa – “Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh” – thì ngay từ đầu, ông đã xác định góc độ nghiên cứu: “Địa danh là một bộ phận đặc biệt của từ vựng, có số lượng khá lớn, có nguồn gốc và ý nghĩa riêng, nằm trong đối tượng nghiên cứu của môn từ vựng học, ngữ âm học, ngữ pháp học, phương ngữ học và ngành ngôn ngữ học lịch sử.” (28,8)

Từ chỗ xác định đối tượng nghiên cứu là như thế, tác giả đã trình bày nguồn

tư liệu thu thập được cũng theo hướng đó Ta thấy ông sưu tập địa danh – chủ yếu

là tên gọi – trong các sách, bài báo – nhất là các sách địa phương chí, các bản đồ từ thế kỷ XVII đến nay, các số liệu thống kê của các cơ quan nhà nước, các báo cáo, các tư liệu ghi nhận từ các chuyến điền dã

Mặc dù so sánh cách phân loại của hai công trình nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu khác nhau không tránh khỏi khập khiểng nhưng cách phân chia khá khoa học của tác giả cũng rất đáng lưu ý – đặc biệt là ở tiêu chí phân chia Cách làm này như một gợi ý phân loại các nhóm truyện địa danh mà chúng tôi sẽ đề cập ở chương sau

Cụ thể là dựa theo tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, ông chia địa danh ra làm 2 nhóm lớn: Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo (28,18)

Trang 35

Thế nhưng đi sâu vào đặc điểm về mặt cấu tạo (chương 2) mới thấy rằng cách trình bày công trình nghiên cứu này hoàn toàn khác với đề tài nghiên cứu về truyện kể địa danh Xem ra các địa danh trên về mặt nguồn gốc -là những lý do đơn giản- có vẻ gần gủi hơn với đối tượng nghiên cứu các phương thức đặt địa danh (28,29)

Thậm chí ngay cả phần đặc điểm về mặt nguồn gốc và ý nghĩa (chương 3) đi

vào xác định nguồn gốc địa danh, cũng rất xa lạ với đề tài nghiên cứu truyện kể địa

danh của chúng tôi

Vậy có thể nói rằng, chưa có một công trình nào đi vào nghiên cứu truyện kể địa danh Nam Bộ một cách đầy đủ, chuyên sâu Nói như vậy, không có nghĩa là chúng tôi tự dám gánh cho mình cái trọng trách ấy mà chỉ bằng chút kiến thức còn khiêm tốn và khả năng còn hạn chế, chúng tôi thực sự mong muốn bước đầu tìm hiểu địa danh Nam Bộ qua những truyện kể lưu truyền trong nhân dân ở vùng đất chỉ mới có vài trăm năm tuổi này

II.5 Một số bài nghiên cứu truyện kể địa danh trên các tạp chí chuyên ngành:

Sẽ thiếu sót nếu không đề cập đến mảng tư liệu này Như những viên gạch đầu tiên xây nền cho những công trình nghiên cứu cao hơn và sâu hơn Như những người đi đầu khai sơn phá thạch để mời gọi tiếp những bước chân khám phá một vùng đất mới

Chúng tôi muốn nói đến một số bài viết nhỏ nhưng rất công phu như: “Bước đầu tìm hiểu nguồn truyện kể địa danh Việt Nam” của tác giả Nguyễn Bích Hà(19),

“Truyện kể địa danh từ góc nhìn thể loại” của tác giả Trần Thị An (2), “Truyền thuyết dân gian và địa danh” của Thái Hoàng (32) hay “Thử bàn về địa danh Việt Nam” của Trần Thanh Tâm (103)

Đáng chú ý là bài viết của tác giả Trần Thị An (2) Tác giả dựa trên lý do nghiên cứu truyện kể địa danh trong quá trình hành động sáng tạo, quá trình tư duy, xúc cảm của chủ thể người kể chuyện Lý do đó là cơ sở quan trọng nhất quyết định

sự hình thành thể loại Từ đó, tác giả khảo sát những truyện kể địa danh có cách giải thích dân gian các tên gọi để đặt vấn đề nghiên cứu truyện kể địa danh dưới góc nhìn thể loại

Trang 36

Tuy nhiên, các bài viết nêu trên chủ yếu khai thác nguồn truyện kể địa danh phát sinh và tồn tại, hình thành và lưu truyền ở Bắc Bộ – vùng đồng bằng sông Hồng

Trong khi đó, nguồn tài liệu - dù chỉ là các bài viết nhỏ đăng trên các tạp chí chuyên ngành - nghiên cứu về truyện kể địa danh Nam Bộ còn quá khiêm tốn, hiếm

hoi Thảng hoặc mới gặp một vài bài như: “Đặc trưng truyện dân gian của người Việt Nam Bộ” và “Nguồn truyện dân gian Nam Bộ về cọp” của Nguyễn Phương Thảo (111), “Truyện kể về cọp ở Bến Tre” của Huỳnh Ngọc Trảng (118)… thì không chuyên vào truyện kể địa danh mà khái quát cả truyện dân gian Nam Bộ hoặc

có liên quan một phần khi đề cập đến nhóm truyện khẩn hoang ở vùng đất mới nơi con người đương đầu với sấu ác và cọp dữ

Đi vào một đề tài chưa được khai thông, còn nhiều bế tắc về tư liệu và thẩm định tư liệu, còn hiếm hoi ý kiến các chuyên gia về văn học dân gian để định hướng nghiên cứu, chúng tôi quả thấy gánh nặng thử thách thực sự không phải nhỏ Chúng tôi chỉ ước mong bước đầu tìm hiểu về đề tài này – chắc chắn còn nhiều điều ấu trĩ

sơ lược, chân thành mong sẽ được quí thầy cô, các học giả và bạn bè đồng nghiệp chỉ dạy, góp ý thêm

Trang 37

CHƯƠNG 3

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN KỂ ĐỊA DANH

NAM BỘ

I PHÂN LOẠI TRUYỆN KỂ ĐỊA DANH

Trước khi khảo sát các đặc điểm thi pháp truyện kể địa danh Nam Bộ, việc phân loại các tư liệu truyện kể là cần thiết, dù khá phức tạp Thậm chí ngay cả việc xác định truyện kể địa danh thuộc thể loại nào của văn học dân gian cũng không phải là điều đơn giản Bởi vì nếu có thể nhận dạng được truyện kể địa danh thuộc thần thoại, truyện cổ tích, hay truyền thuyết chẳng hạn thì ngay lập tức, ta có thể áp

dụng vào việc phân loại thành các thể loại đi kèm (như cách làm truyền thống của các nhà folklore học)

Ở những công trình nghiên cứu của các nhà địa danh học, đối tượng họ quan tâm là địa danh chứ không phải câu chuyện kể về nguồn gốc địa danh, là “tên gọi” chứ không phải lý do vì sao có tên gọi đó Vì lẽ này mà tiêu chí giúp họ xác định và phân loại không quá phức tạp khi họ đứng trên cơ sở phương pháp luận của bộ môn ngôn ngữ học Ngay cả sự hỗ trợ của từ nguyên học dân gian cũng là để truy nguyên nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh Đối với Folklore học, việc phân loại truyện kể dân gian về địa danh không thể dừng ở các tiêu chí ngôn ngữ học

Giáo sư Đỗ Bình Trị (120,186) đã dựa vào tiêu chí “Lịch sử” để phân

“truyền thuyết địa danh” thành ba mảng:

1) Những truyền thuyết địa danh phản ánh quá trình chung của lịch sử 2) Những truyền thuyết địa danh phản ánh những sự kiện lịch sử cụ thể 3) Những truyền thuyết địa danh ít có căn cứ về mặt lịch sử

Sở dĩ, sự phân loại này khá rạch ròi và giáo sư mạnh dạn sử dụng thuật ngữ

“truyền thuyết địa danh” vì theo chúng tôi, khi khảo sát tư liệu, minh họa trong chuyên đề đã dẫn, giáo sư chủ yếu dựa vào nguồn truyện kể địa danh ở vùng Bắc

Bộ – nơi đã có một chiều dài thời gian cần thiết cho sự ổn định về mặt thể loại

Dựa trên một tiêu chí khác – từ góc nhìn địa lý cụ thể – tác giả Nguyễn Bích

Hà (19) đã phân chia truyện kể địa danh thành hai loại chính Một là những truyện kể

Trang 38

giải thích tên gọi của những hiện tượng địa lý, tự nhiên (núi, sông, hồ, đầm ) Hai là những truyện kể giải thích tên gọi những điểm dân cư sinh tụ (làng, xóm, chợ, xã, ấp ) Ngoài ra, tác giả còn đưa ra thêm một thể loại truyện kể không nhằm giải thích tên gọi (?) mà chú ý giải thích sự hình thành hay biến đổi của các địa danh

Cách phân loại này cùng với các ví dụ minh họa là truyện kể địa danh Bắc Bộ – dường như không phù hợp và cũng không bao quát hết nguồn tư liệu còn phức tạp của truyện kể địa danh Nam Bộ

Đối với truyền thuyết địa danh, Trần Thị An (2) giới hạn đối tượng chọn để phân loại là những truyện có hình thức giải thích tên gọi Theo tác giả, có ba nhóm truyện phản ánh ba mối quan hệ sau:

1) Thiên nhiên trong quan hệ với thiên nhiên,

2) Thiên nhiên trong quan hệ với lịch sử,

3) Thiên nhiên trong quan hệ với chuyện đời

Tác giả nhìn thấy vấn đề về sự đan xen thể loại và xu hướng “truyền thuyết hóa” và “cổ tích hóa” truyện kể địa danh

Các lớp thể loại chồng chất lên nhau trong một truyện kể hoặc sự phân hóa các truyện kể thành những xu hướng như đã nêu trên là một hiện tượng khá phổ biến ở truyện kể địa danh Nam Bộ

Trong luận án này, sau khi khảo sát các truyện kể dân gian giải thích nguồn gốc địa danh Nam Bộ, chúng tôi dựa vào tiêu chí nội dung đề tài(1) để phân chia thành các nhóm truyện như sau:

1) Nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người đấu tranh với thiên nhiên 2) Nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người đấu tranh chống thù trong giặc ngoài

3) Nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người với những quan hệ xã hội thế sự đời thường

Sự phân chia này chắc chắn chưa thể bao quát hết toàn bộ truyện kể địa danh Nam Bộ, nhưng ít nhiều sẽ giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong việc khảo sát bước đầu những đặc điểm thi pháp biểu hiện trong từng nhóm truyện

II BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TRUYỆN KỂ ĐỊA DANH NAM BỘ

Trang 39

Truyện kể địa danh – như đã nói – mang trong nó nhiều màu sắc khác nhau của một số thể loại văn học dân gian như thần thoại, truyền thuyết và cổ tích Không thể xem đây là một thể loại mới cũng không thể đánh đồng nó cùng với những thể loại khác Ở đây, ta phải cố gắng xác định những đặc trưng thể loại của truyện kể địa danh Nam Bộ để từ đó tìm cách tiếp cận những đặc điểm thi pháp của chúng

Điều không thể phủ nhận là trong mỗi tác phẩm văn học dân gian nói chung

và mỗi truyện kể địa danh nói riêng đều có những yếu tố thực tế, đều có “cái cốt lõi

là sự thật” Điều này thể hiện không chỉ ở những truyện kể gắn bó với lịch sử mà ngay cả với truyện kể có nhiều yếu tố thần kỳ Những yếu tố ấy, khi xuất hiện trong tác phẩm, ít hoặc nhiều, đã được khúc xạ qua cái nhìn hư cấu tưởng tượng của tác giả dân gian

Trong truyện kể địa danh Nam Bộ nảy sinh hai yếu tố tưởng chừng trái ngược nhau Có những truyện kể – cả người kể lẫn người nghe đều tin rằng nó không thể nào xảy ra trong thực tế Dân gian đã làm cái điều mà họ mong muốn là dệt nên một huyền thoại đẹp về nguồn gốc địa danh nơi họ đang có mặt, khai phá và sinh sống Họ gắn cái hồn của câu chuyện kể vào vùng đất vô tri Không là chuyện

có thực cho dù những chi tiết của truyện có những chi tiết bám rễ vào hiện thực Ngược lại, có những truyện kể địa danh gắn với lịch sử – các sự kiện và nhân vật lịch sử hoàn toàn có thật – xảy ra và xuất hiện chưa phải là lâu lắm, luôn được cảm thụ như những câu chuyện kể về lịch sử, có sơ sở lịch sử Những truyện kể ấy, thậm chí, còn được minh chứng bằng lịch sử, được ghi chép lại (song song với truyền khẩu) với những đặc trưng cơ bản của bộ môn khoa học lịch sử

Vậy nên, người viết mạnh dạn đưa ra những nhận xét bước đầu về những đặc điểm thi pháp của truyện kể địa danh Nam Bộ Và trong quá trình khảo sát, ắt hẳn sẽ có nhiều vấn đề khác nhau đáng kể nảy sinh từ các nhóm truyện khác nhau

II.1 Cốt truyện (1)

Trong folklore, cốt truyện được xây dựng từ hệ thống các motip Motip chính

là đơn vị hạt nhân của cốt truyện Cũng trong folklore, mỗi thể loại hay tiểu loại tự sự đều có đặc thù cốt truyện riêng Truyện kể địa danh cũng thế Ta lưu ý ba điều sau đây khi nói đến cốt truyện của truyện kể địa danh (79):

- Sơ đồ cốt truyện qua hệ thống các motip

- Các đề tài của các cốt truyện

Trang 40

- Sự hiện thực hóa cốt truyện đó trong những tác phẩm cụ thể

Cốt truyện của truyện kể địa danh Nam Bộ thường bắt đầu từ những vùng

đất chưa có tên hoặc là một cái tên cũ đã có trước đó (trường hợp này hiếm hơn)

Để rồi sau đó, tất cả tình huống, các chi tiết, tình tiết, sự kiện, sự việc xảy ra, phát

triển và kéo dài đều nhằm đi đến một kết thúc giống như nhau về cơ bản Đó là giải thích tại sao vùng đất lại có tên gọi như thế (hoặc đổi thành tên gọi mới như thế)

Chính vì sự qui định nghiêm nhặt này mà cốt truyện của truyện kể địa danh Nam Bộ - trong nảy sinh và phát triển tình huống vấn đề, trong xung đột dẫn đến cao trào, trong cuộc đời số phận nhân vật từ đầu cho tới kết thúc đều phải được chuẩn

bị để chọn lấy một yếu tố nổi bật nào đó – kể cả tên nhân vật – để cuối cùng trở thành địa danh

Đó là:

- Tên nhân vật trở thành địa danh

+ Nhân vật là một người có ít nhiều danh tiếng được sử sách lưu lại

(Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Hữu Cảnh, Trần Văn Thành ) hoặc là người giữ một chức vụ nào đó thời bấy giờ (Câu Lãnh, Thủ Thừa, Xá Hương ) chiếm 17 trên 95 truyện

+ Nhân vật là một người bình thường trong cuộc sống đời thường (Thị

Cư, Bà Bướm, Bà Thầy, Ông Hú, Ông Gốc, Bà Om, Bà Đen ) chiếm 34 trên 95

truyện

+ Nhân vật là con vật đã trở nên phổ biến thời khẩn hoang (Ông Hổ, Cái Rắn, Sấu Hì, Bù Mắt, Trâu Trắng, Ông Mối ) chiếm 17 trên 95 truyện

- Đặc điểm địa hình trở thành địa danh: Có cốt truyện đầy đủ chỉ là 10

trên 95 truyện (Bến Lội, Nhà Ngang, Ba Ông Đá, Đồng Ông Cộ, Làng Cả Đuối…) Ở những địa danh không có cốt truyện thì trường hợp này chiếm đa số Tuy nhiên, đây

không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án này

- Những sự kiện, hành động, chiến tích còn ghi dấu lại trở thành địa

danh: chiếm 12 trên 95 truyện (Mả Ngụy, Đồng Quan, Vũng Liêm, Chết Chém, Bỏ Lược, Gầm, Hét )

- Những vật dụng hay những yếu tố khác chiếm tỉ lệ rất nhỏ (chỉ có 5 trên 95 truyện: Mỏ Cày, Dù Tho, Thuyền Vỡ )

Ngày đăng: 06/04/2013, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w