Nghiên cứu sự phát triển thể lực cho trẻ ở trường tiểu học để giúp trẻ đạt chuẩn về chiều cao cân nặng của lứa tuổi Nghiên cứu sự phát triển thể lực cho trẻ ở trường tiểu học để giúp trẻ đạt chuẩn về chiều cao cân nặng của lứa tuổi Nghiên cứu sự phát triển thể lực cho trẻ ở trường tiểu học để giúp trẻ đạt chuẩn về chiều cao cân nặng của lứa tuổi Nghiên cứu sự phát triển thể lực cho trẻ ở trường tiểu học để giúp trẻ đạt chuẩn về chiều cao cân nặng của lứa tuổi Nghiên cứu sự phát triển thể lực cho trẻ ở trường tiểu học để giúp trẻ đạt chuẩn về chiều cao cân nặng của lứa tuổi
Trang 1A- PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1 Về lý luận.
Giáo dục Tiểu Học là giai đoạn đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
có dấu ấn quan trọng trong quá trình “phát triển người” lâu dài của trẻ, đặt nềnmóng đầu tiên cho sự hình thành và nhân cách con người Việt Nam đầu thế kỷXXI
Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàndiện Đó là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ (thông qua việc rèn luyện
cơ thể và hình thành, phát triển các kỹ năng và kỹ sảo vận động) tổ chức sinhhoạt và giữ gìn vệ sinh nhằm làm cho cơ thể phát triển cân đối hài hoà, sức khoẻđược tăng cường làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách Thông quagiáo dục thể chất giúp trẻ phát triển chiều cao – cân nặng làm tiền đề vật chấtcho việc phát triển toàn diện Sự phát triển thể chất có ảnh hưởng đến sự pháttriển tâm lý, sự phát triển toàn bộ nhân cách của trẻ Có thể nói sự thành côngtrong bất cứ hoạt động nào của trẻ đều phụ thuộc vào trạng thái sức khoẻ
Giáo dục thể chất cho trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông có ý nghĩađặc biệt quan trọng Trước hết vì cơ thể trẻ em ở lứa tuổi này đang phát triểnmạnh mẽ Hệ thần kinh, hệ cơ xương hình thành nhanh, bộ máy hô hấp đanghoàn thiện Cơ thể trẻ còn non yếu, dễ bị phát triển lệch lạc mất cân đối Nếukhông được chăm sóc, phát triển thể chất đúng đắn thì gây nên những thiếu sóttrong sự phát triển cơ thể của trẻ em mà sau này không thể khắc phục được Vì
vậy “Nghiên cứu sự phát triển thể lực cho trẻ ở trường Tiểu Học để giúp trẻ
đạt chuẩn về chiều cao - cân nặng của lứa tuổi” là việc làm cần thiết.
2 Về thực tiễn:
Trong các trường mầm non của tỉnh Ninh Bình nói chung và trường mầmnon Khánh Tiên nói riêng hiện nay vẫn còn trẻ suy dinh dưỡng, tình trạng trẻ bịthừa cân béo phì đã xuất hiện Tập thể giáo viên đã quan tâm đến việc chăm sóc
- nuôi dưỡng và rèn luyện thể lực cho trẻ nhằm giảm tỷ lệ trể suy dinh dưỡng,thừa cân béo phì trong nhà trường Nhưng muốn kết quả chăm sóc sức khoẻ củatrẻ được tốt hơn và việc chăm sóc những trẻ bình thường đúng cách, khoa họcnên em đã nghiên cứu phương pháp dùng toán thống kê để theo dõi chiều cao -cân nặng của học sinh Tiểu Học Đốc Tín - huyện Mỹ Đức – thành Phố Hà Nội
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Trang 2Với đề tài này em đã đi sâu tìm hiểu thực trạng số đo về chiều cao – cânnặng của trẻ mẫu giáo bé trường mầm non Khánh Tiên, sử dụng phương pháptoán thống kê phân tích số liệu đưa ra kết luận về sự phát triển chiều cao – cânnặng của trẻ mẫu giáo bé trường mầm non Khánh Tiên.
III KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
1 Khách thể nghiên cứu:
Khảo sát chiều cao - cân nặng của trẻ mẫu giáo bé trường mầm nonKhánh Tiên – huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình
2 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu số liệu về chiều cao - cân nặng của trẻ mẫu giáo bé trườngmầm non Khánh Tiên – huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
Nếu trong các trường mầm non hiện nay ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng,giáo dục trẻ, còn phối hợp với các trung tâm y tế, các nhà tâm lý học, các ngànhkhoa học khác trong đó có toán thống kê thì việc chuẩn bị một số yếu tố cầnthiết cho trẻ vào trường phổ thông sẽ có nhiều thuận lợi
V.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc sử dụng toán thống kê để điều tra chiềucao – cân nặng của trẻ mẫu giáo bé
Lịch sử, bản chất, nội dung… của toán thống kê liên quan đến chiều cao –cân nặng của trẻ
- Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng, kết quả số đo về chiều cao,cân nặng của trẻ mẫu giáo bé Áp dụng một số phương pháp toán thống kê (biểu
đồ tổ chức, giá trị tập trung, đồ thị…)để phân tích đánh giá thực trạng, đưa ragiải pháp phù hợp
VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI.
Em dùng phương pháp toán thống kê điều tra chiều cao - cân nặng của trẻmẫu giáo bé trường mầm non Khánh Tiên – huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình
VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Em tiến hành điều tra thực trạng và làm thực nghiệm với trẻ mẫu giáo bétrường mầm non Khánh Tiên Trong quá trình nghiên cứu em sử dụng cácphương pháp sau:
1.Nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu tài liệu: đọc các tài liệu liên quan đến đề tài như: sách tâm lýhọc trẻ em, giáo dục học mầm non, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm
Trang 3non, các quyết định của sở giáo dục tỉnh Ninh Bình, giáo trình lý thuyết thống
kê
2 Phương pháp quan sát:
Trực tiếp quan sát trẻ tại trường mầm non Khánh Tiên qua các hoạt độngtrong ngày
3 Phương pháp điều tra bằng an két:
Điều tra bằng an két với một số giáo viên, phụ huynh của các khu, lớptrên địa bàn xã Khánh Tiên để tìm hiểu nhận thức của giáo viên và cha mẹ vềvấn đề chăm sóc sức khoẻ cho trẻ và tầm quan trọng của thể lực đối với hoạtđộng của trẻ
Trao đổi với phụ huynh và giáo viên về đặc điểm phát triển của trẻ
Đàm thoại với trẻ bằng một số câu hỏi, đưa ra một số bài tập trắc nghiệm
để nắm được mức độ nhận thức của trẻ
6 Phương pháp thống kê toán học.
- Xử lý số liệu thu thập được bằng phiếu điều tra phụ huynh học sinh
- Xử lý số liệu về chiều cao – cân nặng của trẻ mẫu giáo bé ở trườngmầm non Khánh Tiên
Qua các kết quả trên, đánh giá thực trạng, tìm ra hạn chế, tồn tại, đề xuấtmột số biện pháp khắc phục góp phần nâng cao sức khoẻ cho trẻ, tạo điều kiệntốt cho trẻ về thể lực để vào trường phổ thông
B – PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG SỨC KHOẺ CỦA TRẺ.
1 Cơ sở đánh giá sức khoẻ trẻ em:
Trang 4Khi đánh giá mức độ phát triển thể lực của cơ thể trẻ em có thể theo:trọng lượng cơ thể, chiều cao, vòng ngực và một số chỉ số khác như trạng thái vàmàu sắc của niêm mạc, sự phát triển của các mô mỡ dưới da, sự phát triển vềtrường lực cơ, tư thế Ngay cả trẻ em hoàn toàn khoả mạnh cũng tăng về chiềucao và cân nặng không đều đặn Ở giai đoạn này thì trẻ lớn nhanh hơn, ở giaiđoạn khác trẻ lại chậm lớn hơn.
Những chỉ số phát triển thể lực thay đổi mạnh, nhất là trong những nămđầu Sự phát triển này bị giảm nhiều khi trẻ bị ảnh hưởng của điều kiện sinh hoạtgia đình không thuận lợi, thiếu khí trời sạch sẽ, dinh dưỡng kém, thiếu ngủ, ítvận động, bị mắc bệnh… Vì vậy cần phải thường xuyên theo dõi sự phát triểnthể lực của trẻ để kịp thời phát hiện những điều kiện không tốt trong thể trạngcủa trẻ
Để đánh giá sự phát triển thể lực của cơ thể trẻ, người ta dùng phươngpháp cân đo để đo chiều cao – cân nặng Sự phát triển thể lực diễn ra khôngđồng đều và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, thường thay đổi theo những quyluật nhất định cho phép ta có thể xây dựng chuẩn của sự phát triển đó
Đối với từng khu vực, có thể xây dựng chuẩn riêng căn cứ vào điều kiệnsống của từng vùng Sau một thời gian nhất định (5- 10 năm) cần xây dựng lạichuẩn về sự phát triển thể lực của trẻ
Việc đánh giá sự phát triển thể lực của từng trẻ hoặc một tập thể trẻ đượctiến hành đơn giản bằng cách so sánh, đối chiếu các chỉ số về sự phát triển thểlực so với chuẩn
Cần có kế hoạch kiểm tra sự phát triển thể lực của trẻ nhỏ thường xuyên
và có hệ thống để kịp thời phát hiện ra những thay đổi về thể lực của trẻ, vànhanh chóng tìm cách khắc phục
2 Đánh giá sức khoẻ của trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng.
Mức độ phát triển của cơ thể được biểu hiện bằng các chỉ số sau: chiềucao, cân nặng, chu vi vòng ngực, vòng đầu, vòng tay… Trong đó chiều cao, cânnặng là hai chỉ số cơ bản
Sự tăng kích thước về chiều cao phụ thuộc vào sự phát triển của xươngtrong quá trình tăng trưởng, vào khối lượng toàn thân và sự phát triển của các cơquan riêng rẽ Sự phát triển về chiều cao tuy không đồng đều nhưng liên tục
Cân nặng cũng là một chỉ số phát triển quan trọng giữa chiều cao và cânnặng, không có sự phụ thuộc theo một tỷ lệ nghiêm ngặt Tuy nhiên thông
Trang 5thường trong cùng một lứa tuổi, những trẻ cao hơn thường có cân nặng lớn hơn.Cũng như chiều cao, nhịp độ tăng trọng lượng cơ thể lớn hơn trong năm đầu.
Trẻ em khoẻ mạnh thì lớn đều Nếu trẻ được ăn uống đầy đủ, chăm sóc tốtkhông mắc bệnh gì thì cân nặng hàng tháng sẽ tăng đều Trẻ lên cân chậm,không lên cân hoặc sụt cân là trẻ không khoẻ mạnh do không được chăm sóc,nuôi dưỡng đầy đủ hay mắc bệnh nào đó hoặc do cả hai nguyên nhân trên
Thực tế các trường mầm non tổ chức cân đo định kỳ cho trẻ 3 lần/ nămhọc vào tháng 9, 12, 3 Mỗi trẻ được theo dõi bằng một biểu đồ tăng trưởngriêng Việc cân thường xuyên và xác định các giá trị cân nặng trên biểu đồ tăngtrưởng sẽ thấy rõ chiều hướng phát triển của trẻ Từ đó cô giáo có kế hoạch phốihợp với cha mẹ trẻ chăm sóc sức của trẻ kịp thời
II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỐNG KÊ.
1 Sự ra đời và phát triển của thống kê học:
Thống kê học là một bộ môn khoa học xã hội có lịch sử phát triển từlâuđời Người ta đã tìm thấy một số di tích cổ tại Trung Quốc, Hy Lạp, LaMã,AiCập
Chứng tỏ rằng ngay từ thời cổ đại con người đã biết làm công việc đăng
ký và ghi chép số liệu Tuy nhiên, các công việc này còn đơn giản, tiến hành trong phạm vi hẹp, chưa mang tính thống kê rõ nét
Đến thời chiếm hữu nô lệ, các chủ nô thường tìm cách ghi chép và tínhtoán để nắm được tài sản của mình như: số nô lệ, số súc vật… Dưới chế độphong kiến, công tác thống kê đã có nhiều bước phát triển.Hầu hết các quốc giachâu Á, châu Âu đều đã tổ chức các cuộc đăng ký, kê khai trong phạm vi rộng,nội dung phong phú và có tính chất thống kê rõ rệt như: Đăng ký nhân khẩu, kêkhai ruộng đất…Tuy đã có tính chất thống kê nhưng các hoạt động này chưa đúckết thành lý luận và chỉ dừng lại ở thống kê mô tả
Mãi đến thế kỷ thứ XVII thống kê học mới thực sự ra đời và chuyển sanggiai đoạn thống kê phân tích Các tài liệu, sách báo về thống kê đã ra đời và ởmột số trường học bắt đầu giảng dạy lý luận thống kê
Trong thời kỳ này, một số tác phẩm có tính chất phân tích thống kê ra đời
như cuốn “Số học chính trị”(1676) của nhà kinh tế học người Anh
WillamPetty(1623-1687).Ông đã có ý nghĩ sử dụng thống kê để nghiên cứu cáchiện tượng kinh tế- xã hội Đến năm 1759 giáo sư người Đức G.AchenWall( 1719 – 1772) lần đầu tiên dùng từ “Statistir” để chỉ phương pháp nghiên cứutrên Sau này người ta dịch là Thống kê
Trang 6Những thành tựu khoa học tự nhiên trong thời kỳ này, đặc biệt là sự ra đờicủa lý thuyết xác suất thống kê đã ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triểncủa thống kê học.
Nghiên cứu sơ lược quá trình hình thành và phát triển của thống kê học,
có thể thấy thống kê học ra đời và phát triển do nhu cầu của hoạt động thực tiễn
xã hội
2 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học:
*Thuật ngữ thống kê học: có hai nghĩa:
- Nghĩa thứ nhất: Thống kê là các con số được thu thập ghi chép để phản
ánh các hiện tượng tự nhiên, xã hội
- Nghĩa thứ hai: Thống kê là hệ thống các phương pháp thu thập ghi chép
phân tích các con số
Thống kê học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập,ghi chép, phân tích các con số(mặt lượng) của các hiện tượng số lớn nhằm mụcđích tìm hiểu bản chất quy luật phát triển của sự vật hiện tượng ( mặt chất)
* Tổng thể thống kê: Là một khái niệm quan trọng của thống kê học, nói
rõ phạm vi nghiên cứu của hiện tượng đang là đối tượng nghiên cứu Phạm vi ởđây hiểu theo nghĩa không gian và thời gian
Ví dụ: Nghiên cứu cân nặng, chiều cao của trẻ em Việt Nam thì tổng thểthống kê là toàn bộ trẻ em Việt Nam trong một thời gian nhất định
Trong tổng thể thống kê có khái niệm đơn vị của tổng thể
Ví dụ: Nghiên cứu trẻ em Việt Nam thì đơn vị của tổng thể là trẻ em củacác tỉnh
Giữa tổng thể thống kê và đơn vị của tổng thể có quan hệ giống và quan
hệ loài
Ví dụ: Trẻ em Việt Nam là giống, trẻ em ở các tỉnh, thành phố là loài Việc tìm tổng thể thống kê đồng nghĩa với việc xác định đơn vị của tổngthể
*Tiêu thức thống kê: Là các đặc điểm, các thuộc tính của đơn vị tổng thể
Ví dụ: Cột họ tên, ngày sinh, giới tính…là các tiêu thức thống kê
Càng nhiều tiêu thức thống kê thì đơn vị của tổng thể càng được phản ánhchi tiết
Tiêu thức thống kê có hai loại:
-Tiêu thức thuộc tính (còn gọi là tiêu thức chất lượng) là tiêu thức khôngbiểu hiện giá trị của nó bằng con số cụ thể, được phản ánh bằng ký tự
Trang 7VD: Giới tính, sở thích…
-Tiêu thức số lượng là tiêu thức có biểu hiện giá trị của nó bằng con số cụthể
VD: Tuổi, cân nặng, chiều cao…
*Chỉ tiêu thống kê: Là khái niệm phản ánh một cách tổng hợp mặt lượngtrong quan hệ chặt chẽ với mặt chất của tổng thể trong điều kiện thời gian và địađiểm cụ thể
Trong bản thân mỗi chỉ tiêu thống kê có hai mặt: Khái niệm và con số.Mặt khái niệm chính là tiêu thức thống kê Chỉ tiêu thống kê bao giờ cũng liênquan đến một hoặc nhiều tiêu thức nào đó Con số chỉ tiêu nêu lên mức độ củachỉ tiêu trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
*Các thang đo: Có bốn loại thang đo
- Thang đo định danh ( thang đo đặt tên).
VD: Giới tính ( trai – gái ) quy định bằng ký tự: Trai→1, gái→0
Các số trong thang đo định danh không có quan hệ hơn kém, không được
sử dụng phép toán
-Thang đo thứ bậc: Là thang đo định danh các con số có quan hệ hơn kém
nhưng các phép toán cũng không được thực hiện
VD: + Lớp 1, 2, 3…
+ Huân chương loại I, II, III
Ở đây không có nghĩa là lớn hơn bé, mà lớn hơn hay bé hơn là do ngườiquy định
- Thang đo khoảng: Là thang đo thứ bậc nhưng các phép toán được thực
hiện
VD: Điểm 1, 2…10, có thể cộng, trừ, nhân, chia, cộng rồi chia lấy điểmtrung bình
- Thang đo tỷ lệ: Là thang đo khoảng nhưng có điểm không tuyệt đối.
VD: Đồ thi có điểm không tuyệt đối
Theo thứ tự, thang đo sau chất lượng hơn thang đo trước nhưng sự phứctạp cũng cao hơn
Vì vậy khi làm công tác thống kê cần cân nhắc việc chọn thang đo, cầnchính xác đến đâu chọn thang đo đến đấy
3 Quá trình nghiên cứu thống kê:
Trang 8Việc thống kê là một công trình nghiên cứu khoa học nên cũng có đầy đủcác bước của một công trình khoa học Nhưng vì nó là thống kê nên có nhữngđặc thù riêng Quá trình nghiên cứu thống kê có những bước sau:
- Xây dựng mục đích nghiên cứu, phân tích đối tượng nghiên cứu, xâydựng nội dung nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống khái niệm, chỉ tiêu thống kê, định hướng điều tra.Qua đó lập được các bảng biểu
- Điều tra thống kê đây là bước chính để thu thập các tài liệu mà người sửdụng cần dùng làm căn cứ cho tổng hợp, phân tích thống kê
- Xử lý số liệu: Trình bày số liệu và phân tích thống kê sơ bộ
- Lựa chọn phương pháp thống kê, chọn chương trình nhập số liệu, xử lý
số liệu trên máy tính
- Phân tích, tổng hợp, giải thích, khái quát số liệu thống kê ( chuyển đổilượng thành chất) đề ra phương án tối ưu
- Báo cáo truyền đạt kết quả nghiên cứu cho những kiến nghị cần thiết
4 Trình bày số liệu thóng kê:
Sau khi điều tra thống kê chúng ta thu được các số liệu Để những thôngtin này có tác dụng cần phải phân loại sắp xếp trình bày số liệu theo một trật tựnhất định, phù hợp với mục đích nghiên cứu sử dụng Khi các số liệu đã đượctrình bày sắp xếp thì người quản lý dễ dàng nhận ra bản chất, quy luật của hiệntượng, dễ dàng đưa ra những quyết định đúng đắn
4.1 Sắp xếp số liệu và phân tổ thống kê
Sắp xếp lại số liệu có những ưu điểm sau:
- Dễ dàng tìm ra giá trị lớn nhất, nhỏ nhất
- Dễ dàng nhìn thấy ngay mỗi giá trị xuất hiện bao nhiêu lần
- Dễ dàng phân chia số liệu thành nhóm
Số liệu sau khi đã sắp xếp thường quá chi tiết nên thường phân tổ, phânkhoảng
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hoặc một số tiêu thức nào đó để phânchia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ, các khoảng có tính chấtkhác nhau
Có rất nhiều kiểu phân tổ:
- Phân tổ theo một tiêu chí gọi là bảng đơn giản
- Phân tổ theo nhiều tiêu chí gọi là bảng phức tạp hay bảng phối hợp
Trang 94.2 Bảng thống kê: Là hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách
có hệ thống, hợp lý, rõ ràng nhằm biểu hiện các đặc trưng về mặt lượng của hiệntượng
Bảng thống kê bao giờ cũng có những con số cộng và tổng cộng Các con
số này có mối liên hệ mật thiết với nhau
Bảng thống kê có tác dụng rất lớn trong công tác nghiên cứu và phân tíchthống kê, giúp ta so sánh đối chiếu, phân tích theo các phương pháp khác nhau.Nếu biết cách trình bày và sử dụng tốt bảng thống kê thì việc chứng minh mọivấn đề trở nên sinh động và có sức thuyết phục rất lớn
Cấu trúc bảng thống kê người ta phân chi bảng thống kê theo hai tiêu chí:
* Hình thức: Bảng thống kê gồm có nhiều cột, chia ra thành các ô, các ô
có địa chỉ (có số dòng và số cột) Số lượng dòng và số lượng cột của bảng thống
kê phản ánh quy mô của bảng, nhiều dòng, nhiều cột thì quy mô lớn, công tácthống kê phức tạp
* Nội dung: Bảng thống kê gồm có hai phần: Phần chủ đề và phần giảithích
- Phần chủ đề thường đặt bên trái bảng, nêu lên đối tượng nghiên cứu củabảng thống kê nói về cái gì, gồm những đơn vị nào, tổ nào Có khi là các địaphương hoặc thời gian nghiên cứu khác nhau của hiện tượng nghiên cứu
- Phần giải thích thường đặt bên phải bảng gồm các chỉ tiêu giải thích cácđặc điểm của đối tượng nghiên cứu, tức là giải thích phần chủ đề của bảng
* Khi lập bảng thống kê cần chú ý một số quy tắc sau:
- Quy mô bảng không nên quá lớn, quá phức tạp
- Các tiêu đề cần ghi chính xác, dễ hiểu, rõ ràng
- Các hàng và cột được ký hiệu bằng chữ hoặc số để tiện theo dõi
- Các chỉ tiêu giải thích cần được sắp xếp theo thứ tự hợp lý, các chỉ tiêuthực hiện kế hoạch bố trí gần chỉ tiêu kế hoạch, chỉ tiêu tương đối bố trí gần chỉtiêu tuyệt đối
Trang 10* Cách ghi số liệu vào bảng thống kê:
- Đơn vị tính các số liệu cần phải rõ ràng, tránh bỏ sót
- Trường hợp không ghi các số liệu vào các ô trong bảng thì dùng các kýhiệu quy ước sau:
+ Dấu gạch ngang (-): Có số liệu nhưng chưa ghi
+ Dấu ba chấm (…) : Thiếu số liệu cần điều tra
+ Dấu gạch chéo (x) : Số liệu này không có ( nếu có là vô lý )
4.3 Biểu đồ tổ chức của một phân phối thống kê: Là một bảng thống kê
quan trọng nhất
- Khoảng hoặc giá trị của đối tượng : Ký hiệu xi
- Tần số tuyyệt đối: Ký hiệu Fi
- Tần số tương đối: Ký hiệu fi
- Tần số tích luỹ:
+ Tần số tích luỹ tiến: Fi ( ↑)
+ Tần suất tích luỹ tiến: fi ( ↑)
+ Tần số tích luỹ lùi: ( ↓)
+ Tần suất tích luỹ lùi: ( ↓)
4.4 Đồ thị thống kê: Là các hình vẽ đường nét hình học dùng miêu tả các
tài liệu thống kê Bảng thống kê chỉ dùng con số nhưng đồ thị thống kê sử dụngkết hợp hình vẽ, đường nét, mầu sắc cùng với các con số để miêu tả đặc điểmcủa hiện tượng Đồ thị thống kê dễ thu hút sự chú ý của người đọc và ngườinghe, dễ dàng giúp người đọc nhận thức được bản chất của vấn đề
Có nhiều loại đồ thị, sự phân loại căn cứ theo:
*Nội dung có thể chia đồ thị thành các loại:
Trang 11Phân tích thống kê là giai đoạn của quá trình nghiên cứu thống kê, nó biểuhiện tập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê Các tài liệucủa điều tra và tổng hợp thống kê chỉ có qua phân tích sâu sắc và toàn diện mớinêu lên biểu hiện về lượng bản chất và tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu
Nhiệm vụ chung của phân tích thống kê là nêu rõ bản chất, tính quy luật
và sự phát triển của hiện tượng nghiên cứu
* Những yêu cầu có tính nguyên tắc cần được tuân thủ trong phân tíchthống kê:
- Khi phân tích thống kê phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để thấy được bản chất củahiện tượng trong quá trình phát sinh và phát triển
- Khi phân tích phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện và đặt chúng trong mốiliên hệ tác động với nhau để tìm ra mối liên quan giữa các hiện tượng trong mộttổng thể chung
- Khi phân tích đối với các hiện tượng có tính chất và hình thức khácnhau phải áp dụng các phương pháp khác nhau, không thể áp dụng một phươngpháp chung cho tất cả các hiện tượng
* Những vấn đề chủ yếu trong phân tích thống kê:
- Mục đích của phân tích thống kê: Là xác định những vấn đề mà phântích thống kê cần giải quyết trong một phạm vi nhất định
- Lựa chọn đánh giá tài liệu dùng cho phân tích: Căn cứ vào mục đíchphân tích để lựa chọn những tài liệu thật cần thiết gồm các tài liệu chính và cáctài liệu có liên quan
- Xác định các phương pháp, các chỉ tiêu phân tích: Thống kê học cónhiều phương pháp để phân tích như các nhóm phương pháp nghiên cứu cácmức độ của hiện tượng ( số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân ), nhóm cácphương pháp nghiên cứu sự biến động của hiện tượng ( phân bổ, phương pháptương quan…)
Để lựa chọn phương pháp phân tích cho từng trường hợp cụ thể phải chú
ý các đặc điểm sau đây:
+ Phải căn cứ vào mục đích phân tích và đặc điểm tính chất của hiệntượng nghiên cứu để chọn phương pháp thích hợp
+ Phải hiểu rõ ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng của từng phươngpháp