Tạo phương tiện thanh toán Sau chức năng trung gian tài chính truyền thống, vai trò của ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; với những đặc điểm của mình, nh
Trang 11.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 4
1.1.2.1 Trung gian tài chính 4
1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán 5
1.1.2.3 Trung gian thanh toán 6
1.1.3 Các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại 6
1.1.3.1 Rủi ro tín dụng 6
1.1.3.2 Rủi ro thị trường 8
a Rủi ro lãi suất 9
b Rủi ro tỷ giá 15
1.1.3.3 Rủi ro thanh khoản 20
1.2 Tổng quan về kiểm tra sức chịu đựng (stress testing) 23
1.2.1 Khái niệm về Stress testing 23
1.2.2 Vai trò của ST với các ngân hàng: 25
1.2.3 Nội dung của ST: 26
1.2.3.1 Các bước thực hiện chung của ST: 26
1.2.3.2 Phương thức tiếp cận và cách thức thực hiện phân tích 27
1.2.3.3 Xây dựng các tình huống 32
1.2.3.4 Các biến được quan tâm trong ST 33
1.2.4 Kết quả ứng dụng stress test hệ thống ngân hàng của một số nước trên thế giới 35
1.2.4.1 Stress test hệ thống ngân hàng châu Âu 35
1.2.4.2 Stress test hệ thống ngân hàng ở Mỹ 36
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÁC TÌNH HUỐNG VÀ ÁP DỤNG KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM 38
2.1 Các tình huống cho ST ngân hàng 38
2.1.1 Về Rủi ro tín dụng 38
2.1.2 Các tình huống về rủi ro thị trường: 42
2.1.2.1 Tình huống về rủi ro lãi suất: 42
2.1.2.2 Tình huống về rủi ro tỷ giá: 44
2.1.3 Tình huống về rủi ro thanh khoản 45
Trang 22.2.2.2 Thực trạng hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay: 48
a Những kết quả tích cực: 48
b.Những tồn tại, hạn chế: 49
2.2.2 Thực hiện kiểm tra sức chịu đựng về rủi ro tín dụng của ngân hàng 51
2.2.2.1 Thực hiện ST trong trường hợp số liệu thu thập được đầy đủ 54
2.2.2.2 Thực hiện ST trong trường hợp dữ liệu không đầy đủ 67
2.2.3 Điều kiện áp dụng Stress testing tại Việt Nam 74
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 77
3.1 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước Việt Nam 78
3.1.1 Minh bạch hóa thị trường tài chính, hoàn thiện cơ chế công bố thông tin của các ngân hàng thương mại 78
3.1.2 Xây dựng một trung tâm lưu trữ, xử lý thông tin, tạo thành một cơ sở dữ liệu đầy đủ và chi tiết về hệ thống ngân hàng 79
3.1.3 Tích cực nghiên cứu, hoàn thiện quy trình và hướng dẫn thực hiện thủ tục stress test vào hệ thống ngân hàng ở Việt Nam 80
3.2 Kiến nghị với các ngân hàng thương mại 81
3.2.1 Thành lập bộ phận chuyên trách nghiên cứu và thực hiện stress test 81
3.2.2 Nâng cao chất lượng quản lý, thu thập, xử lý thông tin 81
3.2.3 Hoàn thiện bộ máy, quy trình quản lý, phòng ngừa rủi ro tại ngân hàng thương mại 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 3Bảng 2.2.2.1.a: Tác động của việc giảm giá trị của tài sản đảm bảo đến hệ số an toàn vốn
tối thiểu 56
Bảng 2.2.2.1.b: Số liệu trước shock về các nhóm nợ và giá trị tài sản đảm bảo 60
Bảng 2.2.2.1.c: Số liệu sau cú shock giả định 61
Bảng 2.2.2.1.d: Số liệu của các ngân hàng trước khi cú shock tín dụng xảy ra Đơn vị: tỷ đồng (hệ số CAR: %) 64
Bảng 2.2.2.1.e : Giả thiết cho tình huống xây dựng cú shock về lĩnh vực 65
Bảng 2.2.2.1.f: Tác động của cú shock giả định đến hệ số CAR của NHTM Đơn vị: tỷ đồng (hệ số CAR: %) 66
Bảng 2.2.2.2.a : Kết quả ST hệ số CAR cho số liệu tổng thế 70
Đơn vị tính: tỷ đồng 70
Bảng 2.2.2.2.b : Số liệu trước cú shock của các ngân hàng thương mại 72
Bảng 2.2.2.2.c: Số liệu sau cú shock giả định của các ngân hàng thương mại 73
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Stress testing (ST) - cuộc kiểm tra sức chịu đựng, là một công cụ hữu ích cho những nhà quản lý, quản trị nhằm đánh giá tác động của các ảnh hưởng bất lợi tới tình trạng tài chính của các ngân hàng, đặc biệt, nó là công cụ giúp cho việc quản lý trở nên chủ động hơn trước những sự thay đổi bất thường của nền kinh tế Phạm vi áp dụng của ST hầu như chỉ cho lĩnh vực ngân hàng
và công cụ này có thể được áp dụng cho một ngân hàng riêng lẻ hoặc cả hệ thống các ngân hàng của một quốc gia
Cho tới thời điểm này, ST đã trải qua hai phiên bản và có một số các điểm khác nhau hết sức đáng lưu ý giữa hai phiên bản này: ở phiên bản thứ hai ra đời gần đây (2011) cung cấp một nền tảng vững chắc cho việc sử dụng kết quả của các mô hình vệ tinh trong đánh giá các ảnh hưởng của các biến vĩ mô tới các biến cần phân tích nhằm xác định tốt hơn các giả định và tình huống dùng cho ST; cuối cùng đó là việc phiên bản thứ hai cho phép có thể thực hiện ST với các tình huống trải dài qua nhiều năm (tới năm năm) cho hàng trăm ngân hàng dựa vào phần mềm được sử dụng rộng rãi là Excel Dẫu vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hơn nữa cho phiên bản thứ hai này vẫn đang tiếp tục là đề tài nghiên cứu thu hút được sự chú ý lớn của các chuyên gia và mới chỉ áp dụng tại các ngân hàng của Mỹ và các nước phát triển nhất Châu Âu nơi có đủ các điều kiện cho phép Phiên bản đầu tiên của ST đến nay vẫn cho thấy sự hữu ích của nó trong quản trị rủi ro trong các ngân hàng, hệ thống ngân hàng và đang được áp dụng hết sức rộng rãi
Thuộc lộ trình tái cấu trúc nền kinh tế, Việt Nam đang hết sức chú trọng tới việc hoàn thiện khuôn khổ các cách thức và công cụ nhằm quản lý rủi ro cho
hệ thống ngân hàng ST đã được đề cập tới tại Việt Nam cùng thời điểm với
sự ra đời của Thông tư 13/2010/TT-NHNN nhằm quy định những tỷ lệ an
Trang 5toàn trong hoạt động của ngân hàng nhưng mới dừng lại trong phạm vi khuyến nghị áp dụng nhằm quản lý thanh khoản nội bộ của ngân hàng Mặc
dù, ST cho các ngân hàng là một thành phần hết sức quan trọng tuy nhiên tới nay thì những tài liệu hướng dẫn, khuyến nghị cách thức áp dụng ST cho Việt Nam lại đang hết sức hạn chế
Bài nghiên cứu: "Giới thiệu và ứng dụng Stress testing với ngân hàng thương mại" với mong muốn sẽ cung cấp một cách chi tiết cách thức xây
dựng và thực hành ST đối với các ngân hàng Việt Nam nhằm hiện đại hoá công nghệ, nâng cao khả năng quản lý, chống chịu của hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính của chúng ta nói chung trước sự biến động khó lường trước của các điều kiện kinh tế Vì việc tiếp cận với số liệu là hết sức khó khăn, bài nghiên cứu sẽ thực hành ST cho rủi ro tín dụng dựa trên số liệu công báo của 7 ngân hàng có báo cáo tình hình tài chính tốt và đầy đủ nhất của Việt Nam
Bài luận có cấu trúc gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng thương mại và cuộc kiểm tra sức chịu đựng( Stress testing).
Chương 2: Xây dựng các tình huống và áp dụng kiểm tra sức chịu đựng cho các ngân hàng Việt Nam.
Chương 3: Kiến nghị.
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CUỘC KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG (STRESS TESTING).
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính đặc biệt, thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, là một trung gian tài chính với chức năng dẫn vốn, biến tiết kiệm thành đầu tư
Lịch sử hình thành của ngân hàng thương mại gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa, trải qua thời gian, cùng với sự thăng trầm của chu
kỳ kinh tế, mô hình tổ chức, các hoạt động của ngân hàng thương mại dần được hoàn thiện và đa dạng hóa Ngày nay, hệ thống ngân hàng thương mại đang giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như nền kinh tế thế giới
Trên thế giới, có nhiều quan niệm khác nhau về ngân hàng thương mại:
• Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và
sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
• Tại Mĩ, một cách chung nhất, ngân hàng thương mại được định nghĩa là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
• Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:''Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.''
Trang 7Tuy nhiên, tựu chung lại, cách tiếp cận thận trọng nhất - theo Peter Rose -
là có thể xem xét khái niệm ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch
vụ mà định chế này cung cấp: “ Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Trung gian tài chính
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là biến tiết kiệm thành đầu tư, dẫn vốn trong nền kinh tế Đây là một chức năng cơ bản, truyền thống, gắn liền các ngân hàng thương mại từ khi các hình thức ngân hàng đầu tiên được hình thành trong nền kinh tế Trong mối quan hệ kinh tế này, ngoài sự tham gia tất yếu của ngân hàng, còn có sự xuất hiện của hai nhóm tổ chức, cá nhân độc lập trong nền kinh tế: (1) các cá nhân
và tổ chức tạm thời thiếu hụt vốn và tất nhiên họ là những người cần bổ sung vốn để tài trợ cho các hoạt động chi tiêu của mình; và (2) các cá nhân và tổ chức có thu nhập hiện tại lớn hơn các khoản chi tiêu và do vậy họ có tiền để tiết kiệm Trong mối quan hệ như vậy, tiền tất yếu sẽ di chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi Dòng tiền di chuyển và quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định đã tạo thành quan hệ tín dụng giữa hai nhóm
Tất nhiên, người thừa vốn và người thiếu vốn hoàn toàn có thể trực tiếp gặp
gỡ để thiết lập quan hệ tín dụng, tuy nhiên việc nảy sinh chi phí giao dịch, sự không tương hợp về thời hạn, quy mô, thời gian, không gian cũng như tình trạng thông tin không cân xứng dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch đã tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian dẫn vốn của mình vô cùng hiệu quả Với những lợi thế của mình: mạng lưới, quy mô,
Trang 8chuyên gia…ngân hàng thương mại giúp tăng thu nhập cho người tiết kiệm, giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư từ đó khuyến khích tiết kiệm và đầu
tư trong nền kinh tế
1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán
Sau chức năng trung gian tài chính truyền thống, vai trò của ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; với những đặc điểm của mình, nhờ vào các hoạt động huy động tiền gửi, đẩy mạnh cho vay…ngân hàng thương mại đã tạo ra phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, giữ một vai trò to lớn trong việc thực thi chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia
Tổng lượng tiền tệ trong nền kinh tế bao gồm nhiều bộ phận Thứ nhất là tiền giấy (tiền mặt) lưu thông tự do trong các giao dịch kinh tế (Mo) Thứ hai
là số dư tiền gửi của khách hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán Thứ ba là các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn Trong điều kiện dịch vụ thanh toán qua ngân hàng trong nền kinh tế ngày càng phát triển, ngân hàng
và khách hàng nhận thấy họ có thể thiết lập quan hệ tín dụng thông qua việc cho vay trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể mua hàng hoá và dịch vụ Như vậy, bằng việc thực hiện nghiệp
vụ cho vay, các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán cho nền kinh tế Với một ngân hàng đơn lẻ, việc thực hiện nghiệp vụ cho vay như vậy không làm gia tăng tổng lượng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, tuy nhiên, trong điều kiện hệ thống ngân hàng gồm nhiều ngân hàng khác nhau, bằng nghiệp vụ cho vay, các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì tạo nên khoản thu ( tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới
Trang 9Như vậy, với hoạt động cho vay của toàn bộ hệ thống ngân hàng thì lượng tiền cung ứng có thể được tăng lên gấp bội (số nhân tiền tệ).
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Không chỉ dừng lại với chức năng tạo ra phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, với vai trò, chức năng, và mạng lưới của mình, ngân hàng hàng thương mại đã trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia Bằng việc cung cấp các hình thức thanh toán đa dạng như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…các ngân hàng thương mại
đã khiến cho quá trình thanh toán của khách hàng trở nên vô cùng đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí Thay mặt khách hàng, ngân hàng đứng ra thanh toán không dùng tiền mặt các khoản tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ thông qua mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Không chỉ thực hiện thanh toán với các cá nhân, tổ chức khác nhau trong nền kinh tế, các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại không chỉ dừng lại trong biên giới của một quốc gia, cùng với xu thế toàn cầu hóa cùng sự hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ của nhiều nước, các hình thức thanh toán đã được chuẩn hoá để việc thanh toán qua các ngân hàng có thể
mở rộng phạm vi trên toàn thế giới Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu
1.1.3 Các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Rủi ro tín dụng
Tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc sẽ hoàn trả
cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định được quy định trước, là hoạt động
Trang 10sinh lời lớn nhất song cũng là hoạt động có mức độ rủi ro lớn nhất cho các ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng sẽ phải chịu do khách hàng của mình không trả được nợ đúng hạn, không trả được đầy đủ gốc và lãi hoặc không còn khả năng trả nợ; có rất nhiều nguyên nhân gây ra loại rủi ro này nhưng đều thuộc một trong ba loại sau: các nguyên nhân bất khả kháng, các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng và các nguyên nhân thuộc về phía ngân hàng Rủi ro tín dụng xảy ra không những chỉ làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn có thểgây ra những tổn thất tới vốn chủ sở hữu của ngân hàng và đưa ngân hàng đó tới khả năng phá sản Chính vì vậy, mỗi ngân hàng đều áp dụng các biện pháp hết sức chặt chẽ nhằm, cân nhắc kĩ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời trước khi quyết định tài trợ.
Tại hầu hết các ngân hàng, với mọi quy trình và cách thức phân tích tín dụng đều dựa trên ba nguyên tắc cơ bản đó là:
• Khách hàng phải cam kết sẽ hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong một thời gian đã được xác định trước Các khoản tín dụng của ngân hàng đều có nguồn gốc từ quá trình vay mượn của ngân hàng với các chủ thể khác, chính
vì vậy, nguyên tắc này được đặt ra và luôn được coi trọng hàng đầu nhằm giúp cho ngân hàng có thể tồn tại và phát triển
• Mục đích sử dụng tín dụng của khách hàng phải được tuân thủ theo đúng mục đích mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận và các mục đích
sử dụng này không được trái với quy định của pháp luật và các quy định khác liên quan tới hoạt động ngân hàng
• Ngân hàng tài trợ dựa trên những phương án có hiệu quả Hiệu quả của phương án sử dụng vốn sẽ giúp cho nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi của ngân hàng được bảo đảm Các khoản tài trợ của ngân hàng sẽ phải gắn với việc hình thành nên tài sản nào đó của người đi vay và khi thấy việc cấp tín dụng là kém an toàn, ngân hàng sẽ yêu cầu phải có tài sản đảm bảo
Trang 11Ba nguyên tắc trên được ngân hàng áp dụng xuyên suốt trong hoạt động tín dụng của mình nhằm hạn chế tới mức tối đa những khoản nợ quá hạn, nợ có vấn đề có thể sẽ xảy ra với ngân hàng Ngân hàng phải lựa chọn sự đánh đổi giữa sinh lời và rủi ro trong khoảng nhất định có thể chịu đựng được của mình Thông thường, chất lượng tín dụng của ngân hàng thường được đánh giá qua một số chỉ tiêu về: nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn, các khoản cho vay
có vấn đề , tình hình tài chính và phương án sử dụng vốn của người đi vay, tính đa dạng hoá trong tài sản ngân hàng, và ngân hàng sẽ phải dùng các biện pháp quản lý, áp dụng các quy trình tín dụng chặt chẽ nếu muốn hạn chế rủi ro này
Tín dụng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động của ngân hàng, chính
vì vậy, quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng cần nhận được những sự quan tâm đúng mức
1.1.3.2 Rủi ro thị trường.
Bất kì một doanh nghiệp, một tổ chức kinh tế nào đều phải tồn tại trong một môi trường đầy biến động, thị trường là nơi các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tham gia để tìm kiếm những nguồn lực đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh và cũng là nơi tiêu thụ những sản phẩm đầu ra, đem lại lợi nhuận Rủi ro thị trường được hiểu là là khả năng xảy ra những diễn biến không lường trước được của thị trường, khiến cho lợi nhuận kỳ vọng sai lệch
so với lợi nhuận thực tế
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động chủ yếu của ngân hàng đều diễn ra trên thị trường tài chính – nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, buôn bán các công cụ tài chính Các nhân tố thị trường tác động đến hoạt động của một ngân hàng thương mại bao gồm nhiều yếu tố Tuy nhiên, một cách chung nhất và có thể lượng hóa được, chúng ta thường nhắc đến rủi
ro lãi suất và rủi ro tỷ giá đối với một ngân hàng thương mại
Trang 12a Rủi ro lãi suất.
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm dùng làm căn cứ để tính lợi tức tín dụng (tiền lãi) hay có thể hiểu là giá cả của tín dụng, là giá mà người cho vay đặt ra để đánh đổi lấy quyền sử dụng vốn cho vay của họ Lãi suất còn được hiểu là tỷ lệ của mức phí phải trả để nhận được khoản vay trên giá trị khoản vay
Rủi ro lãi suất mà ngân hàng phải gánh chịu được định nghĩa là khả năng xảy ra sự biến động không lường trước được của lãi suất, khiến cho lợi nhuận
kỳ vọng có sự khác biệt với lợi nhuận thực tế của ngân hàng
Rủi ro lãi suất xảy ra trong ngân hàng thương mại thường gắn với hai tình trạng:
• Tình trạng tái tài trợ: khi kỳ hạn của tài sản dài hơn kỳ hạn của nguồn vốn thì ngân hàng thương mại sẽ phải đối diện với tình trạng tái tài trợ Ví dụ: ngân hàng huy động vốn với kỳ hạn 1 năm để cho vay với kỳ hạn 2 năm, sau năm đầu tiên, ngân hàng sẽ phải tìm kiếm một nguồn vốn mới để tài trợ cho khoản cho vay chưa đáo hạn Sự biến động lãi suất sau 1 năm khiến cho chi phí để huy động nguồn vốn thay thế bị biến đổi, đó là nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất của ngân hàng
• Tình trạng tái đầu tư: đây là tình huống trái ngược với tình trạng tái tài trợ; trong tình huống này, kỳ hạn của tài sản sẽ ngắn hơn kỳ hạn của nguồn vốn tài trợ, vì vậy, khi hết kỳ hạn của tài sản, ngân hàng sẽ phải tiến hành tái đầu tư vào một tài sản khác để tránh tình trạng dư thừa vốn Sự biến động của lãi suất cũng khiến cho lợi tức thu được từ tài sản đầu tư lúc sau bị thay đổi, điều này dẫn đến rủi ro lãi suất của ngân hàng
Như vậy, rủi ro lãi suất trong ngân hàng thương mại gắn liền với tình trạng tái tài trợ và tái đầu tư của ngân hàng đó Sâu xa hơn, sự không tương hợp về
kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn cũng như sự biến động của nhân tố lãi suất
đã gây ra những tổn thất hay lợi ích không lường trước được đối với ngân hàng
Trang 13Chi tiết hơn, rủi ro lãi suất có thể xảy đến vì những nguyên nhân sau:
• Sự không phù hợp giữa kỳ hạn của tài sản và nguồn, cùng với chế độ lãi suất cố định sẽ đặt ngân hàng vào rủi ro lãi suất:
Trong cả hai trường hợp, tái tài trợ và tái đầu tư, nếu như lãi suất của nguồn vốn và tài sản đều thay đổi để phản ánh những diễn biến của thị trường thì có thể sự thay đổi của lợi nhuận kỳ vọng với lợi nhuận thực tế đã không xảy ra.Khi nhắc đến kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn để xem xét rủi ro lãi suất của ngân hàng thương mại, các nhà quản trị tài chính thường quan tâm đến kỳ hạn đặt lại lãi suất (kỳ hạn tái định giá) (repricing period) Đây là khoảng thời gian mà lãi suất của khoản vay hay tài sản được đánh giá lại Căn cứ vào kỳ hạn này, ngân hàng chia tài sản và nguồn vốn thành 2 loại: nhạy cảm lãi suất
và kém nhạy cảm lãi suất
- Tài sản và nguồn vốn nhạy cảm lãi suất: gồm các loại tài sản và nguồn vốn mà số dư nhanh chóng chuyển sang mức lãi suất khác khi lãi suất thị trường thay đổi Đây là những loại tài sản và nguồn vốn mà
kỳ hạn tái định giá nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng
- Tài sản và nguồn vốn kém nhạy cảm lãi suất: đây là những tài sản và nguồn vốn có kỳ hạn tái định giá trên 12 tháng, sự biến động của lãi suất thị trường trong ngắn hạn ít có tác động đến loại tài sản, nguồn vốn này
Sự không tương hợp về kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn được thể hiện thông qua khái niệm khe hở lãi suất Đây là chênh lệch giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nguồn vốn nhạy cảm lãi suất
Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất – Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất.
Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương, khi lãi suất thị trường tăng lên thì ngân hàng sẽ có lãi, nếu lãi suất thị trường giảm xuống thì sẽ phát sinh
Trang 14một khoản lỗ Tương tự như vậy, với khe hở lãi suất âm, khi lãi suất thị trường tăng lên thì ngân hàng sẽ bị giảm lợi nhuận còn nếu lãi suất thị trường tăng thì lợi nhuận sẽ tăng.
• Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến:
Một cách lí thuyết, các ngân hàng có thể loại trừ hoàn toàn rủi ro lãi suất gây ra bởi sự không tương hợp giữa kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn bằng cách duy trì khe hở lãi suất bằng 0 Tuy nhiên, trên thực tế, việc duy trì khe
hở lãi suất bằng 0 là khá khó khăn và không thực tế
Lãi suất là một nhân tố động, luôn biến động theo diễn biến của thị trường tài chính tiền tệ Trong hoạt động của mình, các ngân hàng luôn nghiên cứu,
dự đoán sự biến động của lãi suất, từ đó có chiến lược duy trì mức độ khe hở lãi suất một cách phù hợp để làm gia tăng lợi nhuận dựa vào sự biến động lãi suất Tuy nhiên, có những thời điểm sự biến động của lãi suất vượt quá dự đoán của ngân hàng, lúc ấy rủi ro lãi suất sẽ xảy ra
Để định lượng rủi ro lãi suất tác động đến lợi nhuận, tài sản và vốn của ngân hàng, các nhà quản trị có thể xem xét dựa theo các mô hình sau:
• Mô hình tái định giá:
Như trình bày ở phần trước, mô hình tái định giá xem xét tác động của biến động lãi suất đối với lợi nhuận ngân hàng thông qua khe hở lãi suất
∆Lợi nhuận = ∆Lãi suất x Khe hở lãi suất
Đây là phương pháp đơn giản, dễ tính toán nhưng mô hình này không đề cập đến giá trị thị trường của tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng- phần lớn
là những công cụ tài chính có thị giá thay đổi theo sự biến động của lãi suất
• Mô hình kỳ hạn đáo hạn: (Matury model):
Trang 15Mô hình này dùng để lượng hóa sự thay đổi của vốn chủ sở hữu khi rủi ro lãi suất xảy ra Để đánh giá theo mô hình này, các nhà quản trị cần tính toán thời gian đáo hạn trung bình của tài sản có (tài sản) (MA) và tài sản nợ (nguồn vốn) (ML).
- Một sự tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm (tăng) giá trị của danh mục tài sản
- Lãi suất thị trường tăng (giảm) thì danh mục tài sản có kì hạn càng dài sẽ giảm (tăng) càng lớn
Khi đó:
∆E = ∆A - ∆L
Trang 16Đây là mô hình đơn giản, có xét đến giá trị thị trường của các tài sản nợ và các tài sản có Tuy nhiên, mô hình này chưa tính đến thời lượng của các luồng tài sản có và tài sản nợ.
• Mô hình thời lượng: (Duration model):
Mô hình lượng hoá mức độ nhạy cảm của tài sản và nguồn vốn đối với lãi suất đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản và nguồn vốn
Thời lượng của một tài sản được định nghĩa là thước đo tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó Thời lượng của bất cứ một chứng khoán nào có thu nhập cố định được tính bằng công thức sau:
N: Tổng số luồng tiền
n: Số luồng tiền xảy ra trong 1 năm
M: Thời hạn của chứng khoán tính theo năm M= N/n
t: Thời điểm xảy ra luồng tiền ( t= 1, 2, …, N)
CFt: Giá trị luồng tiền nhận được tại thời điểm t
Trang 17PVt: Giá trị hiện tại của luồng tiền nhận tại thời điểm t
R: mức lãi suất thị trường (%/năm)
Không dừng lại ở đó, từ việc tính toán thời lượng của các tài sản, các nhà quản trị sẽ xem xét tác động của rủi ro lãi suất đối với thị giá của tài sản này:
R: lãi suất thị trường, dR: mức thay đổi của lãi suất
Một cách khái quát hóa: ∆E = ∆A - ∆L ; nhà quản trị sẽ tính toán sự thay đổi của vốn chủ sở hữu dựa trên thời lượng của tài sản có và tài sản nợ theo công thức sau:
xL xD R
R xA xD R
R
+
∆ + +
Mô hình thời lượng, hiện tại, là mô hình tốt nhất để đánh giá tác động của rủi ro lãi suất đối với vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong ba mô hình đã trình bày Mô hình này xem xét không chỉ giá trị thị trường của các tài sản có, tài sản nợ mà còn xem xét đến thời điểm xuất hiện các luồng tiền tương ứng Đây là một công cụ tốt để đưa ra những dự báo phục vụ cho công tác quản lý, phòng ngừa rủi ro lãi suất
Trang 18b Rủi ro tỷ giá.
Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những biến động không lường trước được của tỷ giá, điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng, khiến lợi nhuận
kỳ vọng sai biệt với lợi nhuận thực tế
Rủi ro tỷ giá chỉ phát sinh trong các doanh nghiệp khi các doanh nghiệp đó
có các hoạt động kinh doanh ngoại tệ cho chính mình làm phát sinh trạng thái ngoại tệ
Trong các giao dịch liên quan đến ngoại tệ, có những giao dịch chỉ làm phát sinh sự chuyển giao quyền sử dụng (như quan hệ tín dụng- vay- mượn)
và có những giao dịch làm phát sinh chuyển giao cả quyền sử dụng và quyền
sở hữu (như quan hệ mua bán) Trong số các giao dịch đó, thì chỉ những giao dịch nào làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ mới làm phát sinh trạng thái ngoại tệ Có ba trạng thái ngoại tệ:
• Trạng thái dương (trường) (Net long position): xảy ra khi dòng tiền vào lớn hơn dòng tiền ra đối với một ngoại tệ xác định, có nghĩa là những giao dịch làm tăng quyền sở hữu về ngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái trường của ngoại tệ đó
• Trạng thái âm (đoản) (Net short position): Xảy ra khi dòng tiền
ra lớn hơn dòng tiền vào đối với một ngoại tệ xác định, có nghĩa là những giao dịch làm giảm quyền sở hữu về ngoại tệ đều làm phát sinh trạng thái đoản của ngoại tệ đó
• Trạng thái cân bằng (square position): Xảy ra khi ròng tiền vào bằng dòng tiền ra, tức là không có trạng thái ròng
Trong thực tiễn kinh doanh ngân hàng, các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ, tức làm phát sinh trạng thái ngoại tệ chủ yếu gồm:
• Mua hay bán ngoại tệ giao ngay
Trang 19• Mua hay bán ngoại tệ có kỳ hạn như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn
• Thu lãi cho vay, trả lãi tiền gửi bằng ngoại tệ
• Các khoản thu phí dịch vụ và các khoản trả phí dịch vụ bằng ngoại tệ
• Các rủi ro mất mát, hư hỏng, bồi thường thiệt hại bằng ngoại tệ Vậy có mối liên hệ nào giữa trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá?
Một điều hiển nhiên là nếu ngân hàng duy trì trạng thái ngoại tệ cân bằng thì sẽ không có rủi ro tỷ giá Tuy nhiên, ngân hàng là một tổ chức chuyên doanh tiền tệ, việc kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động thường xuyên, mang lại thu nhập cho ngân hàng, đó là một hoạt động mang đầy tính kĩ thuật nhưng cũng không kém phần hấp dẫn Khi có trạng thái ngoại tệ ròng khác 0, ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro tỷ giá, sự thay đổi của tỷ giá sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng
Đối với trạng thái dương (trường): thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lãi ngoại hối và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lỗ ngoại hối đối với NHTM
Đối với trạng thái âm (đoản): ngược lại với trạng thái trường, khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lỗ ngoại hối và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lãi ngoại hối đối với NHTM
Đối với trạng thái cân bằng, thì những thay đổi của tỷ giá đều không ảnh hưởng đến lãi hay lỗ ngoại hối của NHTM
Trạng thái ngoại tệ phát sinh ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng có sự chuyển giao quyền sở hữu, chứ không phải tại thời điểm diễn ra hoạt động thanh toán Ví dụ, nếu một hợp đồng mua bán giao ngay được ký kết ngày hôm nay với số lượng 1000 USD tại tỷ giá VND/USD = 20828, thì ngay lập tức sau khi ký hợp đồng sẽ xuất hiện trạng thái ngoại tệ trường với người mua USD và trạng thái ngoại tệ đoản với người bán USD, cho dù việc thanh toán
Trang 20xảy ra vào ngày làm việc thứ hai sau ngày ký kết hợp đồng Tương tự, các giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn cũng tạo ra trạng thái ngoại tệ ngay lập tức sau khi ký kết hợp đồng chứ không phải tại thời điểm thanh toán.
Để xác định số dư ngoại tệ- trạng thái ngoại tệ, các ngân hàng thương mại thường tính toán chênh lệch giữa dòng ngoại tệ mua vào với dòng ngoại tệ bán ra vào cuối mỗi ngày giao dịch
Phương pháp tích lũy:
Trạng thái ngoại tệ cuối ngày giao dịch hôm nay bằng trạng thái ngoại tệ cuối ngày giao dịch hôm trước cộng doanh số mua vào và trừ doanh số bán ra trong ngày:
NEPF(t) = NEPF(t-1) + LFCF(t) - SFCF(t)Trong đó:
NEPF(t) - Trạng thái ngoại tệ F cuối ngày giao dịch t
NEPF(t-1) - Trạng thái ngoại tệ F cuối ngày giao dịch (t-1)
LFCF(t) - Doanh số mua vào ngoại tệ F trong ngày giao dịch t
SFCF(t) - Doanh số bán ra ngoại tệ F trong ngày giao dịch t
Đây là phương pháp đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện, tuy nhiên kết quả chỉ mang tính tương đối Với hệ thống kế toán ngân hàng và công nghệ thông tin chưa hoàn hảo, không cho phép cập nhật ngay trong ngày toàn bộ các số
dư (nội và ngoại bảng) trong toàn hệ thống của một NHTM thì phương pháp tích lũy sẽ được ưu tiên sử dụng
Phương pháp số dư cuối ngày:
Trạng thái ngoại tệ cuối mỗi ngày giao dịch được xác định trên cơ sở số dư trên tài khoản tại thời điểm cuối ngày giao dịch (bao gồm cả nội và ngoại bảng) Công thức xác định như sau:
NEPF(t) = TSCF(t) - TSNF(t) (bao gồm cả nội và ngoại bảng)Trong đó:
Trang 21TSCF(t) - Tài sản có của ngoại tệ F tại thời điểm cuối ngày giao dịch t.TSNF(t) - Tài sản nợ của ngoại tệ F tại thời điểm cuối ngày giao dịch t.
Do được thống kê từ các số dư trên tài khoản nên phương pháp này có ưu điểm là chính xác Tuy nhiên, để thực hiện được phương pháp số dư tài khoản thì hệ thống kế toán ngân hàng và công nghệ thông tin phải hoàn hảo, có thể cập nhật ngay trong ngày toàn bộ các số dư trong toàn hệ thống của một NHTM
Từ số liệu có được về trạng thái ngoại tệ của ngân hàng, các nhà quản trị tài chính sẽ xem xét tác động của sự thay đổi tỷ giá thị trường với lợi nhuận của ngân hàng Nói cách khác, đây là quá trình lượng hóa, đo lường rủi ro tỷ giá của NHTM
Phương pháp đo lường rủi ro tỷ giá thông dụng là: Phương pháp định giá lại theo thị trường (Mark to market) và phương pháp giá trị chịu rủi ro ( Value
at risk)
Phương pháp định giá lại theo thị trường:
Ví dụ: giả sử ngân hàng đang có một trạng thái ngoại tệ trường đối với USD là + 100000 USD ở mức tỷ giá USD/VND = 20860 nếu hiện tại tỷ giá USD/VND = 20815 thì ngân hàng đang có khả năng lỗ là 100000 USD x (20860 – 20815) =10.000 USD
Phương pháp giá trị chịu rủi ro:
Giá trị chịu rủi ro (value at risk) là tổn thất dự kiến của ngân hàng đối với những biến động về tỷ giá
Hạn mức giá trị chịu rủi ro là mức tổn thất dự kiến tối đa mà ngân hàng có thể chịu đựng được
Theo Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam:
Giá trị
chịu rủi ro
= Trạng thái ngoại
x Độ biến động dự tính của tỷ giá
x Tỷ giá đóng cửa
Trang 22Trong đó:
Trạng thái ngoại hối được tính theo từng đồng tìên
Mức độ biến động tỷ giá dự tính được tính như sau:
Mức độ biến động tỷ giá dự tính
với mức độ tin cậy là 99% =
( )
5 , 2
Với ln: logarit tự nhiên, Ei: tỷ giá tại thời điểm i;
Ei-1 : tỷ giá tại thời điểm i-1
Khi tính xi, cần lấy tỷ giá trong 90 ngày làm việc liên tiếp vì theo thống kê,
90 ngày là mẫu đủ lớn để ước tính sự biến động của tỷ giá
x = số trung bình của xi
n = 90 (90 tỷ giá đóng cửa trong 90 ngày làm việc liên tục)
2,5 là số độ lệch chuẩn mà tại đó có 99% trường hợp tỷ giá sẽ biến động theo dự tính.(Nói cách khác 99% là mức độ tin cậy)
Giá trị chịu rủi ro phản ánh được mức độ rủi ro về tỷ giá trên cơ sở xem xét hai yếu tố trạng thái ngoại hối và mức độ biến động tỷ giá dự kiến đối với từng đồng tiền Ngoài ra, giá trị chịu rủi ro đo lường được mức độ rủi ro về tỷ giá, tức là mức độ tổn thất dự kiến đối với ngân hàng khi tỷ giá biến động Như vậy, có thể tổng kết lại rằng, ngân hàng thương mại sẽ phải đối mặt với rủi ro tỷ giá khi trạng thái ngoại tệ ròng khác 0 (không cân bằng) và tỷ giá
có sự biến động khác với dự tính Đây là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự tổn thất lợi nhuận của ngân hàng gây ra bởi sự biến động bất thường của tỷ giá Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của mình, các ngân hàng thường
có xu hướng duy trì một trạng thái ngoại tệ nhất định dựa trên những phân tích, đánh giá, dự báo của ngân hàng về sự biến động tỷ giá trong thời gian sắp tới Nếu ngân hàng dự đoán tỷ giá sẽ tăng trong thời gian tới thì việc duy trì trạng thái ngoại tệ trường (dương) để tăng thêm khoản lợi nhuận do chênh
Trang 23lệch tỷ giá sẽ là điều cần thiết Và ngược lại, nếu ngân hàng dự báo tỷ giá sẽ giảm trong tương lai thì trạng thái ngoại tệ đoản (âm) sẽ được duy trì.
1.1.3.3 Rủi ro thanh khoản.
Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm nhu cầu chi trả và vay hợp pháp của khách hàng, được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn
Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyển hóa tài sản đó thành tiền, được đo bằng thời gian và chi phí cho việc chuyển hóa đó
Tính thanh khoản của nguồn là khả năng tìm kiếm, huy động nguồn vốn, tạo khả năng thanh toán cho ngân hàng Tính thanh khoản của nguồn cũng được đo bằng thời gian và chi phí để mở rộng, tìm kiếm, huy động nguồn khi cần thiết
Việc ngân hàng bán các tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản gọi là bán thanh khoản, việc mở rộng nguồn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản gọi là mua thanh khoản Cả hai hoạt động này đều nhằm mục đích giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh toán và vay một cách hợp pháp của khách hàng
Như vậy, rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến Ở mức độ thấp, rủi ro thanh khoản khiến ngân hàng phải gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, điều này làm giảm lợi nhuận thực tế của ngân hàng Ở mức độ cao hơn, khi nhu cầu thanh khoản phải đáp ứng gay gắt hơn, các ngân hàng có thể lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và nguy cơ đổ vỡ sẽ hiện rõ hơn bao giờ hết
Để lập ra chiến lược quản lý thanh khoản và đánh giá tác động của rủi ro thanh khoản đến với lợi nhuận của ngân hàng, cần phải làm rõ khái niệm cung thanh khoản và cầu thanh khoản
Trang 24 Cung thanh khoản: là các tài sản hay nguồn vốn có thể làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng Bao gồm:
- Các khoản tiền gửi đang đến
- Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi
- Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp
- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng
- Vay mượn trên thị trường tiền tệ
Cầu thanh khoản: là nhu cầu vốn cho việc thanh toán trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm quỹ của ngân hàng Bao gồm:
- Nhu cầu rút tiền của người gửi: đây là những khoản tiền góp phần tạo nên nguồn vốn cho ngân hàng, khi khách hàng đến rút tiền, sẽ ngay lập tức làm giảm ngân quỹ của ngân hàng
- Nhu cầu vay vốn hợp pháp của khách hàng: đáp ứng được nhu cầu này, ngân hàng sẽ làm gia tăng tài sản của chính mình và góp phần làm tăng lợi nhuận Tuy nhiên, đồng nghĩa với việc gia tăng tài sản tín dụng khi cho vay, ngân quỹ của ngân hàng cũng sẽ giảm xuống
- Các khoản tiền vay đến hạn trả
- Lãi phải trả cho các khoản tiền gửi và tiền vay…
Hiều rõ được cung và cầu thanh khoản của một ngân hàng sẽ tạo cơ sở để các nhà quản trị tài chính đánh giá trạng thái thanh khoản cũng như xem xét tác động của rủi ro thanh khoản đối với ngân hàng đó
Trang 25Để đánh giá trạng thái thanh khoản, người ta sử dụng khái niệm “khe hở thanh khoản” Đây là chênh lệch giữa dòng tiền vào (cung thanh khoản) và dòng tiền ra (cầu thanh khoản) của một ngân hàng Các nhà quản trị ngân hàng thường theo dõi khe hở thanh khoản theo ngày, theo tuần, theo tháng, theo năm Tương tự như khe hở lãi suất, một ngân hàng có thể duy trì ba trạng thái thanh khoản:
- Trạng thái thanh khoản dương (thặng dư thanh khoản): khi mà dòng tiền vào lớn hơn dòng tiền ra hay cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản, khả năng chi trả của ngân hàng được đảm bảo thì sẽ xuất hiện trạng thái thặng
dư thanh khoản
- Trạng thái thanh khoản âm (thiếu hụt thanh khoản): ngược lại với trạng thái thặng dư thanh khoản, khi cầu thanh khoản lớn hơn cung, dòng tiền ra lớn hơn dòng tiền vào thì ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu hụt thanh khoản Nhà quản trị trong tình huống này phải có những quyết định để gia tăng khả năng thanh khoản của ngân hàng với thời gian và chi phí phù hợp
- Trạng thái thanh khoản cân bằng: khi dòng tiền vào bằng với dòng tiền
ra, cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản thì ngân hàng không đối mặt với rủi ro thanh khoản
Như vậy, khi rủi ro thanh khoản xảy ra khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, ngân quỹ của ngân hàng suy giảm liên tục, ngân hàng bằng mọi cách sẽ phải làm gia tăng khả năng cung thanh khoản của mình: huy động, vay những nguồn vốn có chi phí cao hơn, bán những tài sản thanh khoản với mức giá thấp hơn…điều này sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Một cách tiêu cực hơn, nếu tình trạng thiếu hụt thanh khoản kéo dài sẽ khiến ngân hàng rơi và tình trạng đổ vỡ Vậy yếu tố nào khiến cho nhu cầu thanh khoản tăng cao, khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ đổ vỡ từ rủi ro thanh khoản?
Trang 26 Một là sự mở rộng quá mức việc huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn
từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn Điều này đã gây ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn
Hai là,sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay có động lực để tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước Không những thế, sự thay đổi của lãi suất còn làm thay đổi giá trị thị trường của những tài sản tài chính của ngân hàng, làm thay đổi chi phí các khoản vay trên thị trường tiền tệ, điều này tác động đến khả năng gia tăng cung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu thanh toán của ngân hàng
Ba là do chiến lược quản lý thanh khoản của ngân hàng không phù hợp,
dự trữ ngân quỹ quá thấp, lượng tài sản thanh khoản nắm giữ không nhiều…
Bốn là do tác động của các yếu tố kinh tế- chính trị- xã hội khiến cho nhu cầu rút tiền của người dân tăng lên, hay bất cứ lý do nào gây ra cuộc khủng hoảng niềm tin của dân chúng đối với ngân hàng
1.2 Tổng quan về kiểm tra sức chịu đựng (stress testing)
1.2.1 Khái niệm về Stress testing
Stress testing - kiểm tra sức chịu đựng (ST) đã ra đời và được sử dụng từ những năm 90 của thế kỷ trước Tình hình bất ổn định diễn ra trong giai đoạn này làm cho hệ thống tài chính của nhiều nước trở nên dễ bị tổn thương hơn, nhằm mục đích tăng cường mức độ ổn định cho hệ thống cũng như các tổ chức kinh tế, ST đã ra đời với chức năng đầu tiên là một trong những công cụ nhằm giúp cho việc quản trị rủi ro, đánh giá tác động của những ảnh hưởng
Trang 27bất lợi tới danh mục tài sản đầu tư.Cùng với sự phát triển trong việc sử dụng
và nhận thức về ST, tới nay ST đã ngày càng khẳng định vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống ngân hàng Khác với các công cụ truyền thống hầu hết cung cấp các nhận định về rủi ro có thể lý giải được dựa trên đặc tính của chúng trong quá khứ và đưa ra những tác động trong các điều kiện bình thường của nền kinh tế, ST cung cấp một công cụ mới nhằm nhận định và phân tích về những rủi ro có thể không xảy ra trong những điều kiện bình thường của nền kinh tế nhưng có khả năng sẽ xảy ra trong thời gian nền kinh
tế gặp những biến động mạnh Chính vì vậy, ST là công cụ hết sức hữu hiệu trong việc giúp cho các nhà quản trị có thể chủ động hơn với những tình huống xấu nhất
Hiệp ước Basel 2 ra đời là một dấu mốc khi bắt buộc các ngân hàng tham gia Hiệp ước này phải đưa ST vào làm một công cụ trong quản trị rủi ro nội
bộ của ngân hàng Cùng với những biến động của nền kinh tế thế giới và các nước sau Hiệp định Basel 2 mà điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới ( 2007-2008) bắt nguồn từ Mỹ đã thôi thúc mạnh mẽ các nước phát triển hơn nữa việc hoàn thiện công cụ ST trên phạm vi rộng lớn hơn đó là hệ thống ngân hàng với nhiều hơn các biện pháp hỗ trợ thực hiện Kể từ sau thời cuộc khủng hoảng, hàng loạt các cuộc ST trên phạm vi toàn bộ hệ thống ngân hàng
đã diễn ra đặc biệt là tại Mỹ và các nước châu Âu ST cũng đã xuất hiện ở Việt Nam kể từ thời điểm Thông tư 13/2010/TT/NHNN được ban hành và được khuyến nghị như một công cụ sử dụng để trong quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng, dẫu vậy, rất ít ngân hàng Việt Nam sử dụng công
cụ này
Tổng kết lại, có thể hiểu rằng: ST là một công cụ trong quản trị rủi ro nhằm mục đích nhận định các tác động tiềm tàng của những sự chuyển biến bất thường, xấu nhất nhưng vẫn có khả năng sẽ xảy ra và gây tác động tới tình hình tài chính của một số thành phần kinh tế.
Trang 281.2.2 Vai trò của ST với các ngân hàng:
ST là một công cụ quan trọng trong quản trị rủi ro của các ngân hàng trên thế giới hiện nay, vai trò to lớn của việc kiểm tra này được thể hiện ở rất nhiều mặt:
• Đánh giá tác động của những chuyển biến bất thường trên cơ sở mối quan hệ của nhiều thành phần rủi ro khác nhau giúp cho các nhà quản trị có thể đưa ra các biện pháp triệt để hơn
• Cung cấp thêm một công cụ quan trọng trong quản trị rủi ro Trong điều kiện nền kinh tế ngày nay, các tình huống có thể thay đổi rất nhanh chóng, ST giúp cho các nhà quản lý có thể đặt ra các tình huống giới hạn cho những loại rủi ro và từ đó thay đổi các chính sách cho phù hợp nếu tình huống xảy ra, từ đó làm cho việc quản trị rủi ro trở nên chủ động hơn
• ST đi kèm với các tình huống, các giả định và các mối liên hệ của chúng tác động tới chất lượng tài sản của ngân hàng nên là một dự báo hết sức có giá trị về lượng vốn ngân hàng cần nếu rơi vào một tình trạng nào đó, chính vì vậy, ngân hàng có thể quản lý cả tỷ lệ an toàn vốn nhằm đáp ứng được tỷ lệ yêu cầu
• Việc cung cấp những nhận định trước về rủi ro góp phần đáng kể vào việc phân bổ vốn cho kinh doanh và quản lý trạng thái thanh khoản của ngân hàng
• Sự bổ sung hết sức giá trị khi kết hợp cùng với các phương pháp đo lường thống kê khác như mô hình Var bằng cách tập trung vào các "sự kiện đuôi" (các sự kiện có xác suất xảy ra nhỏ),
Trang 291.2.3 Nội dung của ST:
1.2.3.1 Các bước thực hiện chung của ST:
Sơ đồ 1.2.3.1: Các bước chung trong việc xây dựng ST.
Thông thường, đúng như tên gọi của ST- kiểm tra sức chịu đựng, mục tiêu của một cuộc kiểm tra này nhằm đánh giá sức chịu đựng của một ngân hàng hoặc một hệ thống các tổ chức ngân hàng đối với ba loại rủi ro thường được quan tâm đó là : rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản ( ngoài
ra còn nhiều các loại rủi ro khác được đề cập tới trong Basel 2 và gọi chung là rủi ro khác) Tuy nhiên, tuỳ vào các dữ liệu có thể có được cũng như mục tiêu của ST mà những người thực hiện sẽ thực hiện các cuộc ST với các lựa chọn khác nhau Mức độ phức tạp của một cuộc kiểm tra sức chịu đựng phụ thuộc hầu hết vào hai bước đầu tiên, tuy nhiên, thách thức thực sự nằm ở việc đánh giá tác động của các tình huống gây ra cho các biến cần phân tích trong bước
3, sự ước lượng đó sẽ cần nhờ tới các dữ kiện lịch sử, các kết quả định lượng của các mô hình kinh tế và các ý kiến chuyên gia được sử dụng trong bước 2;
ở phần còn lại của ST chỉ là việc tính toán đơn thuần, công cụ Excel được sử dụng cho việc tính toán nhằm cho ra kết quả cho phân tích để làm cơ sở cho
Trang 30những người thực hiện sẽ đề ra được giải pháp, chính sách nhằm nâng cao năng lực quản trị với ngân hàng
Như đã phân tích, bước 3 sẽ là bước quyết định tính chính xác và khả năng ứng dụng của thủ tục ST trong thực tiễn Đây là bước thiết lập, xây dựng và định lượng mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các biến được xem xét với biến cần được giải thích, biến cần xem xét tác động trong mỗi tình huống giả định được xây dựng ở bước 2 Để làm tốt bước thứ 3 – linh hồn của một cuộc thử nghiệm ST, cần phải xem xét, phân tích tất cả các mối quan hệ kinh tế, kỹ thuật, xã hội, sự tương tác, ảnh hưởng qua lại giữa các yếu tố, giữa các biến được xem xét trong thực tiễn Người ta có thể dùng phương pháp phân tích định tính như xem xét các mối quan hệ theo lí thuyết kinh tế…và phương pháp phân tích định lượng Trong phương pháp phân tích định lượng, công cụ của các môn khoa học thống kê, xác suất và kinh tế lượng…đã trở nên vô cùng hữu ích Người ta có thể xây dựng những mô hình hồi quy, mô hình kinh
tế lượng, dùng các thủ tục kiểm định khác nhau…để tính toán, định lượng, đo lường độ tương quan giữa các biến, giữa các yếu tố cần xem xét dựa trên chuỗi số liệu lịch sử… Trên cơ sở đó, đưa ra những tính toán về kết quả của biến cần được giải thích – mục tiêu của một cuộc thử nghiệm sức đề kháng, sức chịu đựng Stress test
1.2.3.2 Phương thức tiếp cận và cách thức thực hiện phân tích.
a Phương thức tiếp cận.
Hai phương thức tiếp cận thường được nhắc tới khi phân loại phương thức tiếp cận với ST đó là: cách tiếp cận từ trên xuống( top - down) và cách tiếp cận từ dưới lên( bottom - up).Tuỳ theo mục đích của việc sử dụng ST, các nhà quản lý và quản trị có thể lựa chọn cách thức tiếp cận phù hợp
Trang 31• Phương thức tiếp cận từ trên xuống:
Đây là phương thức phù hợp với việc sử dụng trong các cuộc ST cho hệ thống các ngân hàng Cách tiếp cận từ trên xuống có bản chất là việc ST sẽ sử dụng nguồn dữ liệu tổng hợp của hệ thống các ngân hàng và các mô hình kinh
tế nhằm lượng hoá các tác động của những sự thay đổi của các biến vĩ mô tới chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng Đây là phương pháp chú trọng việc xây dựng các mô phỏng về các biến vĩ mô và từ các mô hình lượng hoá các mối quan hệ tới các biến thuộc về hệ thống ngân hàng nhằm tìm ra được những tác động tới hệ thống hơn là tới từng ngân hàng riêng lẻ Thuận lợi lớn nhất của phương thức tiếp cận này là việc xác định các rủi ro tiềm ẩn trong cấu trúc của hệ thống, việc mà khó có thể làm được nếu chỉ sử dụng các dữ liệu lịch sử trong phân tích
Mặc dù vậy, phương pháp này vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế đáng kể:
Dữ liệu tổng hợp có thể được tổng hợp từ những dữ liệu không mang cùng xu hướng, bản chất với nhau và thường dựa vào các phương thức tính toán hoặc các giả thiết khác nhau nên độ tin cậy trong việc đánh giá có thể không thực sự cao, cá biệt như trường hợp mặc dù dữ liệu tổng hợp tốt nhưng
đa phần dữ liệu của từng đối tượng lại không tốt
Số liệu tổng hợp trong một số tình huống có thể làm cho những người
sử dụng kết quả ST dựa trên số liệu tổng hợp đó không nhận thấy được trọng tâm của vấn đề đang tồn tại trong từng tổ chức hay mối liên hệ của các tổ chức Ngoài ra, số liệu tổng hợp có thể nhanh chóng trở nên lạc hậu và kém chi tiết hơn
Mối quan hệ thực sự giữa sự thay đổi của các điều kiện kinh tế vĩ mô
và sự thay đổi trong các bộ phận rủi ro là rất khó xác định chính xác, thậm chí không xác thực
• Phương thức tiếp cận từ dưới lên:
Trang 32Phương thức này sử dụng các dữ liệu ở phạm vi hẹp hơn, cụ thể và chính xác hơn nếu xem xét về từng đối tượng cụ thể Việc có được các dữ liệu cụ thể và chi tiết về một đối tượng làm cho việc xem xét và nhận định những sự thay đổi trong các tình huống của ST là chính xác hơn Chính vì vậy, phương thức thực hiện ST theo cách tiếp cận từ dưới lên thường được các nhà quản lý
sử dụng trong việc xem xét từng đối tượng cụ thể hoặc do chính đối tượng đó thực hiện nhằm đánh giá khả năng chịu đựng của tổ chức đối với những ảnh hưởng bất lợi
Điểm hạn chế đáng kể nhất của phương thức tiếp cận này đó chính là các tình huống mô phỏng, tính toán ít khi dựa trên các tình huống vĩ mô cùng với việc chỉ dựa vào các dữ liệu trong quá khứ nên rất khó nhận định được sự thay đổi trong tương lai trong điều kiện về kinh tế sẽ ảnh hưởng tới ngân hàng như thế nào
b Phương pháp thực hiện phân tích.
Tuỳ thuộc vào mức độ sẵn có của các dữ liệu mà người thực hiện ST có thể lựa chọn cho mình một trong hai phương pháp phân tích đó là: phân tích
độ nhạy và phân tích theo tình huống
• Phương pháp phân tích độ nhạy.
Phương pháp này đơn giản và dễ dàng thực hiện với ít các yêu cầu hơn phương pháp phân tích tình huống Phương pháp này thông thường trải qua năm bước cơ bản đó là: (1) lựa chọn các chỉ tiêu cần phân tích và các yêu tố
có liên quan tới chỉ tiêu đó; (2) xây dựng các mối quan hệ có thể lượng hoá được giữa các biến cần phân tích với các yếu tố có liên quan; (3) xác định phạm vi biến động của các yếu tố có liên quan; (4) lần lượt thay đổi các giá trị của các yếu tố có liên quan trong khi giả thiết rằng giá trị của các yếu tố còn lại là không đổi và xem xét sự thay đổi của các biến cần phân tích; (5) rút ra được mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố có liên quan tới các biến cần phân tích
Trang 33Việc nhận diện các yếu tố rủi ro liên quan và đánh giá được cụ thể tác động của từng loại rủi ro đó tới trạng thái của ngân hàng là việc hết sức hữu ích nhằm điều chỉnh chính sách quản lý với từng yếu tố cho phù hợp trong điều kiện kinh tế làm cho các yếu tố còn lại ít biến động Tuy nhiên, phương pháp này tồn tại rất nhiều những hạn chế:
Việc giả thiết rằng một yếu tố này thay đổi trong khi các yếu tố có liên quan khác không đổi thường ít xảy ra nên phương pháp này không mang lại những kết quả có độ tin cậy cao trong các tình huống thực tế Cách xem xét các yếu tố rủi ro độc lập này thường mang nhiều ý nghĩa hơn trong việc nhận định các yếu tố có liên quan hơn là nhằm đưa ra các chính sách điều chỉnh cụ thể
Đôi khi sự biến động trong một phạm vi nào đó của các yếu tố liên quan không mang nhiều ý nghĩa ngầm định nào đó mà chỉ là giả thiết một cách đơn thuần nhằm đánh giá mức độ tác động tới biến cần phân tích Không chỉ ra được xác suất xảy ra trong các khoảng giá trị của các yếu tố có liên quan nên thường mang yếu tố chủ quan hơn
• Phương pháp phân tích tình huống.
Khác với phương pháp phân tích độ nhạy, phương pháp này xem xét sự tác động tới biến cần phân tích trong tình huống các yếu tố có liên quan thay đổi, các yếu tố liên quan không còn độc lập thay đổi mà thay đổi cùng nhau Thông thường, sự thay đổi đồng thời đó của các yếu tố liên quan được phân thành các trạng thái kinh tế khác nhau đó là: trạng thái lạc quan, trạng thái bình thường và trạng thái bi quan Trong khi các giả thiết về sự thay đổi của các yếu tố liên quan trong phương pháp trước thường mang tính chủ quan thì trong phương pháp này, những sự thay đổi đó đều có những sự lý giải nhất định và ít mang tính chủ quan hơn Dựa vào cách thức xây dựng tình huống, phương pháp này được chia thành hai phương phân tích tình huống nhỏ hơn
đó là:
Trang 34 Xây dựng tình huống dựa vào các dữ liệu lịch sử Dựa trên các dữ liệu
từ lịch sử, đã diễn ra mà những người thực hiện xây dựng nên các tình huống trong tương lai chính vì vậy tình huống được xây dựng nên mang tính chất khách quan và dễ hiểu hơn Phương pháp xây dựng các tình huống này thường hay được sử dụng trong mô hình Var nhưng hiếm khi được dùng trong phép thử ST Giả thiết rằng những sự kiện trong lịch sử có khả năng sẽ được lặp lại được sử dụng trong cách thức xây dựng tình huống này, vì vậy, các kết quả cũng như các ảnh hưởng tới những biến cần phân tích có thể được tìm thấy nhanh chóng Dẫu vậy, việc cho rằng các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ
sẽ có khả năng lặp lại trong tương lai là một vấn đề không thể khẳng định, nhất là với việc các sản phẩm mới, các phương thức quản lý mới đang ngày càng hoàn thiện hơn thì các dữ liệu lịch sử của chúng hầu như không có nên việc xây dựng các tình huống theo phương pháp này là bất khả thi
Xây dựng tình huống dựa vào các dữ liệu được giả định Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay, rất khó để tin vào các tình huống, sự kiện trong lịch sử sẽ có khả năng lặp lại Chính vì vậy, khi xây dựng các tình huống cho
ST, những người thực hiện cần thêm vào đó yếu tố "tưởng tượng" cho các tình huống xây dựng nhưng vẫn phải đảm bảo các sự biến chuyển đó là cực
độ và có khả năng sẽ xảy ra Đây là cách xây dựng tình huống hoàn thiện và đáp ứng được nhu cầu luôn thay đổi không ngừng và khó lường trước được của thị trường tài chính ngày nay khi có sự kết hợp các dữ kiện trong lịch sử với các giả thiết hợp lí nhất Tuy nhiên, không giống với việc sử dụng mô hình Var, các sự kiện đặt ra ở đây không kèm theo một xác suất phân bổ nào, việc các tình huống tưởng tượng của những chuyên gia đôi khi cũng mang xu hướng chủ quan nhất định và những yếu tố mang tính tương lai vẫn khó có thể dự báo chính xác Ngoài ra, một khó khăn vô cùng lớn nữa trong cách thức xây dựng tình huống này đó là việc đo lường tác động của các yếu tố, giả
Trang 35thiết ảnh hưởng tới tình trạng của bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của đối tượng.
1.2.3.3 Xây dựng các tình huống.
Sơ đồ 1.2.3.3: Các yếu tố nhằm xây dựng lên các tình huống.
Một trong những bước quan trọng nhất trong việc xây dựng một cuộc kiểm tra sức chịu đựng đó chính là việc xây dựng các tình huống hay các giả thiết Các giả thiết trong ST phải thoả mãn cả vấn đề là đó là một sự kiện có tính chất cực độ, ngoại lệ nhưng có khả năng xảy ra và gây ra tác động tới tình trạng tài chính của ngân hàng
Phụ thuộc vào các mục tiêu và phạm vi của cuộc ST, bước tiếp theo sau khi
đã lựa chọn được các phương pháp xây dựng tình huống phù hợp đó là việc xây dựng các tình huống cụ thể Thông thường, việc xây dựng các tình huống
có độ tin cậy cao và cơ sở vững chắc đóng vai trò lớn trong sự thành công của một cuộc kiểm tra sức chịu đựng và các tình huống thường được xây dựng từ
ba yếu tố sau:
• Dữ liệu lịch sử Các dữ liệu sẵn có cho cuộc ST đều là các dữ liệu trong lịch sử và việc có các dữ liệu chi tiết, đầy đủ giúp ích rất lớntrong quá trình
Trang 36xây dựng các tình huống, nó là cơ sở, làm nền tảng căn bản nhất của các tình huống.
• Các mô hình kinh tế Mục tiêu của các cuộc ST ở tầm vĩ mô đó là đánh giá tác động của các thay đổi của các biến kinh tế ảnh hưởng tới tình trạng tài chính của ngân hàng nên việc sử dụng các mô hình vệ tinh nhằm lượng hoá các tác động này là hết sức cần thiết Các mô hình thường hay được sử dụng trong vấn đề này có thể kể tới như mô hình VAR- vetor tự hồi quy hay VECM - mô hình điều chỉnh sai số, Trước đó, các mô hình kinh tế vĩ mô cũng được sử dụng nhằm đánh giá các tác động của những chuyển biến bên ngoài tới các biến vĩ mô nội tại của nền kinh tế, củng cố cho các mô hình vệ tinh được sử dụng ở bước sau
• Ý kiến từ các chuyên gia Phương pháp phân tích tình huống dựa trên các mô phỏng là phương pháp được đánh giá là tốt nhất trong các cách thức xây dựng tình huống phục vụ cho ST Các chuyên gia hoạt động trong các ngân hàng và lĩnh vực quản lý ngân hàng là những người nắm rõ và tốt nhất
về lĩnh vực của mình Trong khi các dữ liệu lịch sử tạo cơ sở cho các tình huống, các mô hình kinh tế nhằm định lượng tác động của các yếu tố kinh tế
vĩ mô tới các biến cần phân tích thìđể có thể có các yếu tố mô phỏng nhằm có thể một phần nào đó tạo dựng các tình huống bất thường nhưng có khả năng xảy ra phụ thuộc rất nhiều vào ý kiến của các chuyên gia này
1.2.3.4 Các biến được quan tâm trong ST.
Những biến được quan tâm trong việc đánh giá, xem xét ảnh hưởng từ các yếu tố có liên quan của ST đều có chung hai đặc điểm chính: có độ tin cậy cao trong việc liên hệ tới các yếu tố rủi ro và cần có thể giải thích được Tổng hợp lại thì các biến thường được sử dụng trong phân tích đó là:
• Vốn: dùng vốn như một biện pháp đo lường tác động có một mục tiêu hết sức cụ thể Vốn của ngân hàng thương mại là một phần của hết sức quan trọng trong các cuộc điều tra về tiền tệ và đánh giá tác động của các chuyển
Trang 37biến lên vốn có thể là biện pháp giúp cho việc liên hệ giữa ST với các biến tài chính khác.
• Tỷ lệ vốn hoá: tỷ lệ vốn hoá ( vốn so với tài sản hoặc tài sản điều chỉnh rủi rỏ) có lợi thế hơn khi cho thấy được sự an toàn về vốn so với những tiêu chuẩn chung So với vốn, tỷ lệ vốn hoá là biến cụ thể hơn về tính an toàn vốn
và có thể sử dụng trong việc so sánh giữa các ngân hàng có quy mô vốn khác nhau Tuy nhiên bất lợi lớn nhất của biến này đó là các tác động vĩ mô không ảnh hưởng trực tiếp như tới vốn mà phải thông qua tính toán phức tạp mới đánh giá được ảnh hưởng của chúng Chính vì vậy, khi sử dụng biến này thường phải theo kèm với các biện pháp đo lường khác
• Tỷ lệ vốn cần điều chỉnh: tỷ lệ này là sự ảnh hưởng trực tiếp được gây
ra bởi các yếu tố vĩ mô có liên quan Nó cung cấp cụ thể một chi phí tài chính cho mỗi thất bại hoặc thành công của ngân hàng trong các điều kiện mà các giả thiết, tình huống được đặt ra
• Lợi nhuận: trong các tình huống bình thường, ngân hàng đều tạo ra lợi nhuận nhưng khi thực hiện ST, các tình huống được đặt ra thường chống lại
sự bình thường đó và các ngân hàng sẽ sử dụng lợi nhuận như là tấm đệm đầu tiên chống lại các chuyển biến bất lợi trước khi phải điều chỉnh, sử dụng tới các nguồn vốn còn lại Chính vì vậy, Lợi nhuận là một biến không thể bỏ qua khi xem xét các tác động tới tình hình tài chính của ngân hàng
• Tỷ suất sinh lời: giống như sự so sánh giữa vốn và tỷ lệ vốn hoá, tỷ suất sinh lời đi kèm sự có thể so sánh giữa các ngân hàng khác nhau về quy mô
• Thu nhập lãi thuần và các cấu phần khác của lợi nhuận
• Các yếu tố liên quan tới tín dụng: đây luôn được coi là thành phần tài sản của ngân hàng nhạy cảm cao với các tác động từ các yếu tố vĩ mô; tín dụng còn chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của ngân hàng nên việc đưa biến này vào phân tích là tất yếu và
• Các chỉ tiêu thanh toán cũng được xem xét trong thủ tục này
Trang 381.2.4 Kết quả ứng dụng stress test hệ thống ngân hàng của một số nước trên
thế giới
Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, việc giám sát tình hình hoạt động, tình trạng tài chính của các ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung trở thành một vấn đề trọng tâm ở các nước phát triển – những nơi mà phạm vi ảnh hưởng của hệ thống ngân hàng không còn bị giới hạn trong biên giới từng quốc gia mà đã vươn ra toàn thế giới Thủ tục stress test
đã được áp dụng để phân loại và đánh giá sức chịu đựng của các ngân hàng nhằm đưa ra cái nhìn thực tế và có chiến lược quản lý phù hợp, nhằm tối thiểu hóa tác động của một số biến cố không thuận lợi có thể xảy ra trong tương lai.1.2.4.1 Stress test hệ thống ngân hàng châu Âu
Năm 2010, một cuộc stress test quy mô chưa từng có đã được thực hiện cho
91 ngân hàng tại các nước thuộc liên minh châu Âu EU, theo kết quả của Ủy ban kiểm soát các hoạt động ngân hàng ở châu Âu (CEBS) thì có 7/91 ngân hàng không vượt qua được bài kiểm tra sức chịu đựng này
Trong cuộc thử nghiệm này, một ngân hàng sẽ an toàn nếu sau các cú shock, tình huống giả định mà lượng vốn tự có cấp 1 vẫn đạt được 6% so với tổng vốn huy động được Tình huống giả định mà CEBS đưa ra là:
- Thứ nhất, GDP trong khu vực đồng tiền chung euro suy giảm trong hai năm liên tiếp, ở mức -0,2 và -0,6% làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
- Thứ hai, CEBS đưa ra giả định rằng, giá trị của các trái phiếu chính phủ đang có nguy cơ mất khả năng thanh toán đúng thời hạn bị suy giảm (ví dụ: ở
Trang 39tài chính Hypo Real Estate (Đức), 5 quỹ tiết kiệm của Tây Ban Nha và một ngân hàng của Hy Lạp Theo đó số vốn cần tăng thêm của 7 tổ chức tài chính này được CEBS đưa là 3,5 tỷ euro.
Theo ý kiến của các chuyên gia, cuộc stress test năm 2010 đã đưa ra cái nhìn
cụ thể hơn về tiềm lực, sức mạnh tài chính của từng ngân hàng phục vụ cho
cơ quan quản lý, đồng thời, khi các ngân hàng đã hiểu được về khả năng chịu đựng rủi ro của nhau thì việc ra quyết định cho vay trên thị trường liên ngân hàng trở nên dễ dàng hơn
Từ năm 2010 đến nay, liên minh châu Âu nói chung và hệ thống ngân hàng
EU nói riêng đã trải qua nhiều biến động, đặc biệt là tác động của cuộc khủng hoảng nợ công lan rộng, sự suy giảm của kinh tế vĩ mô…các quan chức của
EU có lẽ, đang lên kế hoạch tiến hành một cuộc stress test quy mô lớn nữa cho hệ thống ngân hàng của mình
1.2.4.2 Stress test hệ thống ngân hàng ở Mỹ
Trong năm 2012 vừa qua, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã tiến hành stress test cho 19 ngân hàng trong hệ thống ngân hàng của mình Với bài kiểm tra này, các chuyên gia của FED hi vọng sẽ dự báo được cấp độ vốn tự có của 19 ngân hàng lớn nhất và khả năng chống đỡ một cuộc suy thoái kinh tế giả định thậm chí còn tồi tệ hơn hồi năm 2008
Các kịch bản khắc nghiệt mà FED đưa ra trong đợt stress test này gồm: sự sụt giảm 50% giá trị của thị trường chứng khoán, giá nhà đất giảm 21% và tỷ lệ thất nghiệp ở mức 13% (cao hơn mức 10,2% so với năm 2009) Theo giả định của FED, các ngân hàng sẽ an toàn khi tỷ lệ vốn tự có cấp 1 trên tổng vốn huy động đạt được từ 5% trở lên
Sau cuộc thử nghiệm khắc nghiệt, có 15/19 ngân hàng đảm bảo được mức độ
an toàn, khả năng chịu đựng tốt, còn lại 4 ngân hàng Citygroup (4,9%), Ally, Suntrust và MetLife đã không vượt qua được bài kiểm tra này
Trang 40Bài kiểm tra stress test năm 2012 đã cơ bản đánh giá được tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng Mỹ và khả năng chống đỡ của hệ thống này trước một cuộc suy thoái kinh tế mới Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, cuộc thử nghiệm này chưa đánh giá tác động tới hệ thống ngân hàng của Mỹ khi mà một cú shock thị trường xảy ra ở châu Âu hay Trung Quốc…đây là một thiếu sót khi hoạt động của hệ thống ngân hàng Mỹ đang hiện diện gần như trên toàn bộ thế giới, tham gia mạnh mẽ vào hệ thống huyết mạch tài chính toàn cầu Chính vì vậy, trong cuộc thử nghiệm stress test năm 2013, FED có thể sẽ đưa vào stress test kịch bản thị trường chứng khoán Trung Quốc giảm giá 33%, Tây Ban Nha giảm 60% và Ireland bốc hơi 75% để xem xét tình hình tài chính hệ thống ngân hàng của mình.