1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Doanh nghiệp việt nam hướng về thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái

117 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.3.3 Thị phần hàng hóa sản xuất trong nước tại thị trường nội địa...63CHƯƠNG III: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HƯỚNG VỀ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚCNHỮNG HOẠT ĐỘNG GIÚP D

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Danh mục từ viết tắt 2

International Organization for Standardization 2

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG KINH DOANH 8

1.2 Thị trường của doanh nghiệp Ưu – nhược điểm của thị trường nội địa và thị trường quốc tế 14

1.2.1Thị trường của doanh nghiệp 14

1.2.2 Ưu nhược điểm của thị trường trong và ngoài nước 16

1.2.3Sự cần thiết phải lựa chọn thị trường 20

1.3 Các khía cạnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi suy thoái 22

1.3.1 Vốn 22

1.3.2 Lực lượng lao động 24

1.3.3 Chi phí sản xuất 25

1.3.4 Doanh thu 27

1.3.5 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh 27

1.4 Sự phù hợp khi lựa chọn thị trường nội địa để kinh doanh trong thời kỳ suy thoái 30

1.5 Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp lựa chọn thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái 31

1.5.1Ngành chế biến sữa 31

1.5.2 Ngành dệt may 33

1.5.3 Ngành sản xuất đồ uống 36

1.5.4 Ngành Nhựa 37

2.1 Suy thoái kinh tế Việt Nam và tác động của nó với hoạt động của các doanh nghiệp 40

2.1.2 Tác động của suy thoái tới hoạt động của doanh nghiệp 45

2.2 Thị trường xuất nhập khẩu và hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái 50

2.2.1 Thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ suy thoái 50

2.3.2 Phân phối bằng kênh bán lẻ 62

Trang 2

2.3.3 Thị phần hàng hóa sản xuất trong nước tại thị trường nội địa 63

CHƯƠNG III: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HƯỚNG VỀ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚCNHỮNG HOẠT ĐỘNG GIÚP DOANH NGHIỆP TRỞ VỀTHỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC.65 3.1 Lợi thế của thị trường nội địa Việt Nam và sự cần thiết nên hướng về thị trường nội địa của các doanh nghiệp 65

3.1.1 Tiềm năng của thị trường nội địa Việt Nam 65

3.2 Dự báo tình hình kinh tế ; những cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi hướng về thị trường trong nước 70

3.2.1 Dự báo kinh tế 70

3.2.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu doanh nghiệp Việt Nam; cơ hội và thách thức khi doanh nghiệp hướng về thị trường nội địa 73

3.4 Điều kiện để thực hiện giải pháp 109

3.4.1 Điều kiện từ ngoài nước 109

http://vi.wikipedia.org/wiki/Suy_tho%C3%A1i_kinh_t%E1%BA%BF 117

” Conference Board Leading Economic Index” , xem ngày 10/02/2013 117

http://en.wikipedia.org/wiki/Index_of_Leading_Indicators 117

“10 dự báo kinh tế thế giới 2013”, xem ngày 20/02/2013” 117

vneconomy.vn/20121205095636961P0C99/10-du-bao-kinh-te-the-gioi-2013-cua-goldman-sachs.htm 117

3.What is Market? Meaning Types or Classification of Market - Chart 117

Danh mục từ viết tắt

CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệthếgiới

ISO

International Organization for Standardization Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế

Trang 3

International Labour Organization Tổ chức lao động quốc tế

ODA

Official Development Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức

VCCI

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Phòng công nghiệp và thuơngmại

ViệtNam WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

WIPO World Intellectual Property

Organization

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

Trang 4

Danh mục bảng, hình vẽ

Hình 1 : Chu kỳ kinh doanh 7

Hình 2: Đường cong nghịch đảo lãi suất 13

Hình 3: Cơ cấu chi phí sản xuất của doanh nghiệp 25

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số CPI của Việt Nam 45

Bảng 2: Trị giá xuất khẩu hàng hoá theo bảng phân loại tiêu chuẩnngoạithương 53

Bảng3: Tốc độ tăng GDP và thu nhập bình quân 68

Bảng 4: Sự khác biệt của thị trường trong nước và nước ngoài trong việc lựa chọn hàng hóa của doanh nghiệp 88

Danh mục biểu đồ Biểu đồ1: Tốc độ tăng trưởng GDP từng quý trong 6 năm qua 41

Biểu đồ2: Tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011 42

Biều đồ3: Tỷ lệ vốn đầu từ vào Việt Nam từ năm 2004 đến 2012 44

Biểu đồ4: Những rào cản vay vốn của doanh nghiệp 47

Biểu đồ 5: Số doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất, giải thể, thành lập mới từ năm 2010- 2012 48

Biểu đồ6: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giai đoạn 51

Biểu đồ7: Dân số của Việt Nam qua các thời kỳ 67

Biểu đồ 8: Năng suất lao động Việt Nam so với một số nước 78

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa

Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, và

đã bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng

và kinh tế nói chung mật thiết của Hoa Kỳ với nhiều nước Cuộc khủng hoảng

từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, và Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực đó

Năm 2007, Việt Nam tham dự Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO và tiến hành hợp tác thương mại với nhiều nước Chính vì vậy, khi cuộc khủng hoảng kinh tế Thế Giới diễn ra, doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng khá nặng nề, đặc biệt là khu vực xuất nhập khẩu Điều đó thể hiện rõ thông qua các chỉ số kinh ngạch xuất nhập khẩu, giá trị xuất nhập khẩu, qua các vụ kiện thương mại, các hàng rào thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

Trong khi đó, thị trường trong nước lại được đánh giá là một thị trường

vô cùng tiềm năng với dân số tăng nhanh và tỉ lệ tăng dân số khá cao; thu nhập bình quân, chỉ số phát triển con người HDI tăng khá nhanh trong những năm gần đây, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ nội địa tăng nhanh, đặc biệt thị trường bán lẻ Việt Nam luôn đứng đầu trên Thế Giới về tổng mức bán lẻ Tuy nhiên, sự thâm nhập của các thương hiệu lớn trên Thế Giới, của hàng hóa Trung Quốc trong thời gian vừa qua đã làm cho thị phần hàng hóa Việt giảm đáng kể- điều đó đặt ra một tình trạng đáng báo động cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặt biệt là doanh nghiệp xuất khẩu

Trang 6

Để thị trường nội địa không bị mất trong tay các doanh nghiệp nước ngoài, cũng như biến thị trường trong nước thành một điểm tựa vững chắc cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài: “Doanh nghiệp Việt Nam hướng về thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái”, nhằm giúp doanh nghiệp có thể nắm bắt được những ưu- nhược điểm của thị trường trong nước cũng như nhìn ra những cơ hội, hướng

đi đúng đắn cho các doanh nghiệp Việt Nam trên con đường quay về thị trường nội địa

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu với các mục đích nắm bắt được khó khăn mà doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam gặp phải do tác động của suy thoái kinh tế Thới Giới nói chung và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng Bài nghiên cứu còn tìm hiểu và phân tích những cơ hội và thách thức của thị trường trong nước, qua đó tìm được những giải pháp tốt nhất cho doanh nghiệp Việt Nam trên công cuộc quay về thị trường nội địa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu thuộc nhóm ngành kinh

tế và quản lý, tập trung chuyên sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: đề tài nghiên cứu về chung kinh tế Thế Giới, kinh tế Việt Nam, và đi sâu nghiên cứu về các doanh nghiệp Việt Nam

+ Về thời gian: đề tài nghiên cứu về thời kỳ suy thoái những năm

2008-2009 và tác động của suy thoái những năm gần đây Bên cạnh đó một số mốc thời gian cũng được đề cập đến để phục vụ cho việc nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài có kế thừa một số công trình nghiên cứu trước về vấn đề suy thoái, vấn đề về doanh nghiệp để làm cơ sở và lý luận tham khảo Trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng đồng thời và kết hợp một số phương pháp như: thống kê, tổng hợp, phân tích từ các thông tin, dữ liệu trong sách, các bài báo, các bảng thống kê, các công trình khoa học

Trang 7

- Nhìn thấy được tính cấp thiết của vấn đề quay về thị trường nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp gặp phải khi tham gia thị trường nội địa.

- Đề xuất một số giải pháp cho các doanh nghiệp khi quay lại thị trường trong nước

6 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Sự tác động của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh

doanh của các doanh nghiệp và vấn đề lựa chọn thị trường kinh doanh

- Chương 2: Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Việt

Nam trong thời kỳ suy thoái

Nam hướng về thị trường trong nước; những hoạt động giúp doanh nghiệp trở

về thị trường trong nước

Trang 8

CHƯƠNG I: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ VẤN

ĐỀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG KINH DOANH

1.1 Những vấn đề chung về suy thoái kinh tế Thế Giới

1.1.1 Chu kỳ kinh doanh

Chu kỳ kinh doanh là sự biến động của tổng sản phẩm quốc dân (GDP) thực tế.Chu kỳ kinh doanh thể hiện xu hướng tăng trưởng của nền kinh tế là đi lên nhưng ít khi là đường thẳng

Hình 1 : Chu kỳ kinh doanh

Với một trục là tổng sản phẩm quốc nội thực, một trục là thời gian, chu

kỳ kinh doanh có thể chia làm bốn phần chính: điểm đỉnh là thời kỳ GDP ở trạng thái cao nhất nhưng tăng trưởng đã dừng lại Suy thoái là thời kỳ gồm ít nhất hai khoảng ¼ chu kỳ có GDP thực giảm trở lại một điểm đáy khác Đáy

là điểm thấp nhất trong chu kỳ kinh doanh Phục hồi là thời kỳ tăng trưởng thực từ điểm đáy trở lại điểm ban đầu trước khi có suy thoái

Trang 9

1.1.2 Suy thoái kinh tế và các kiểu suy thoái

Suy thoái kinh tếcó thể được hiểu là một pha giảm trong chu kỳ kinh

doanh, một sự suy giảm chung của hoạt động kinh tế Các chỉ số kinh tế vĩ mô như GDP, việc làm, đầu tư, chi tiêu, năng suất sử dụng, thu nhập hộ gia đình, lợi nhuận kinh doanh, lạm phát giảm trong khi tỷ lệ phá sản và thất nghiệp tăng lên

Các kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến:

- Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn,

tức là thời gian diễn ra suy thoái ngắn song tốc độ suy thoái lớn, pha phục phồi cũng ngắn có nghĩa thời gian cho giai đoạn tăng trưởng hưng thịnh cũng ngắn và tốc độ phục hồi diễn ra nhanh, nền kinh tế thoát đáy và phát triển trong một thời gian ngắn cũng tương tự khi bị suy thoái Điểm đồi chiều giữa hai pha này rõ ràng Đây là kiểu suy thoái thường thấy.Ví dụ thời kì suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ giai đoạn 1953

- Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất

hiện rất chậm Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái Có nghĩa là sự tăng trưởng của nền kinh tế không đều, thăng trầm có thể có các quý tăng trưởng dương và tăng trưởng

âm xen kẽ nhau, trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm

1973-1975 là kiểu suy thoái hình chứ U

- Suy thoái hình chữ W: Đây là kiểu suy thoái liên tiếp Nền kinh tế vừa

thoát khỏi suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái Kiểu suy thoái này gây tác động mạnh mẽ nhất vì đó diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối dài, sau suy thoái mức tăng trưởng ở thời kỳ phục hồi không thể dáp lại được cho sự suy thoái lần tiếp theo, kinh tế vì thế đã khó khăn còn khó khăn hơn, ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu

Trang 10

- Suy thoái hình chữ L: Đây là kiểu suy thoái mà nền kinh tế rơi vào

suy thoái nghiêm trọng, rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái Một số nhà kinh tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoát này là khủng hoảng kinh tế Có thể thấy như trường hợp Nhật Bản trong suốt thập niên 90 kinh tế Nhật Bản trì trệ kéo dài

1.1.3 Nguyên nhân suy thoái kinh tế

Suy thoái thường gây ra bởi một sự sụt giảm bất thường về lượng cầu, điều này có thể xảy ra bởi các sự kiện:

Các yếu tố bên ngoài hệ thống kinh tế như chiến tranh, cách mạng hay bầu cử; giá xăng dầu; việc tìm thấy mỏ vàng; những phát hiện ra vùng đất mới và những tài nguyên mới cùng với đó là sự di cư; những phát kiến khoa học và đổi mới công nghệ; thời tiết và thiên tai.Ví dụ năm 1970, cuộc chiến tranh ở Trung Đông làm giá dầu mỏ thế giới tăng mạnh, gây ra sự cắt giảm đột ngột về nhu cầu dầu mỏ và các hàng hóa liên quan, gây ra suy thoái kinh

tế Nhật Bản chịu thảm họa động đất- sóng thần năm 2011, cũng làm cho nền kinh tế rơi vào suy thoái

Những yếu tố bên trong chủ yếu của nền kinh tế dẫn đến suy thoái là-Chi tiêu chính phủ: trong thời kỳ trước, việc chính phủ chi tiêu quá nhiều, không hiệu quả sẽ gây ra khối lượng nợ lớn, đến thời hạn thanh toán bắt buộc chính phủ phải giảm mức chi tiêu và từ đó giảm cầu và gây ra suy thoái Hy Lạp là một điển hình suy thoái do tình hình nợ công của chính phủ

-Kinh tế tăng trưởng nóng: việc nền kinh tế tăng trưởng dựa vào một số ngành nhất định không thực sự làm lợi cho đa số mọi người sẽ làm cho nền kinh tế không ổn định Cơn sốt nhà tại Mỹ năm 2007 đã làm cho nhiều người dân và doanh nghiệp vỡ nợ, kéo theo cầu sụt giảm và nền kinh tế rơi vào suy thoái nghiêm trọng Việc tập trung xây dựng bất động sản ở Việt Nam không

Trang 11

có quy hoạch, tính toán cũng làm cho nhà cửa không tiêu thụ được, và nhu cầu các mặt hàng bị sụt giảm.

-Tiết kiệm người dân: việc đất nước có tỉ lệ tiết kiệm cao do người dân

có tính tiết kiệm, hay do chính sách của chính phủ đều có thể làm tiêu dùng trong nước giảm xuống Đây chính là tình trạng của Nhật Bản những năm 90 Nhằm duy trì được ngân sách đầu tư , chính phủ đã bắt người dân phải tiết kiệm tỷ lệ cao, nhưng do duy trì chính sách quá lâu làm bản tính người dân Nhật cũng trở nên tiết kiệm hơn, hậu quả là Nhật Bản bị suy thoái ngay sau

đó do tiêu dùng giảm mạnh

1.1.4 Các chỉ tiêu vĩ mô bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế

-Thu nhập ròng/ chi tiêu hộ gia đình

Giả sử thu nhập của các hộ gia đình chuyển hết về chi tiêu (không tiết kiệm) thì thu nhập của các hộ gia đình cũng chính là khả năng tiêu dùng của họ

Do suy thoái kinh tế nên thu nhập hộ gia đình bị giảm đi, do đó tiêu dùng của hộ gia đình cũng giảm đi, điều này làm cho suy thoái càng nghiêm trọng hơn

-Lợi nhuận ròng doanh nghiệp/ đầu tư doanh nghiệp

Nếu coi tất cả lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh ( sau khi trừ thuế, trả cổ tức ) đều được đưa vào tái đầu tư sản xuất thì chỉ tiêu lợi nhuận ròng doanh nghiệp và đầu tư của doanh nghiệp là tương đương nhau

Trong phasuy thoái, lợi nhuận doanh nghiệp sẽ giảm sút và do đó đầu

tư củadoanh nghiệp cũng sẽ giảm

Tuy nhiên, hiệu ứng tích cực khi doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận là thúc đẩy được việc doanh nghiệp sản xuất tiết kiệm hơn, đổi mới cách thức

Trang 12

sản xuất và quản lý nhanh gọn hơn, cũng như đẩy ra ngoài thị trường hoặc sát nhập, thâu tóm những doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém, điểu này giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững hơn khi suy thoái qua đi.

- Tổng sản phẩm quốc nội GDP.

Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

 Ti : thuế gián thu ròng

 De : phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định

Như đã phân tích trong chu kỳ suy thoái, đầu tư ( I) và tiêu dùng hộ gia đình ( C) đều giảm hay lợi nhuận ( Pr) và tiền lương ( W) giảm, điều đó góp phần làm cho GDP nền kinh tế giảm

-Thất nghiệp

Tình trạng người không có việc làm và không tìm được việc làm ở thời

kỳ suy thoái sẽ tăng lên Điều đó sẽ làm lãng phí nguồn lực xã hội cũng như gây ra một số vấn đề tạo ra gánh nặng cho nhà nước như quản lý người thất nghiệp, trợ cấp

Trang 13

Nhưng mặt khác, thất nghiệp sẽ giúp cho người lao động có cơ hội tìm những công việc phù hợp hơn, lưu chuyển lao động phù hợp cũng làm cho nền kinh tế phát triển tốt hơn ở pha phục hồi sau suy thoái.

Do lạm phát có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với thất nghiệp1, do đó trong thời kỳ này lạm phát sẽ giảm Nếu lạm phát giảm vừa phải sẽ giúp cho giá cả hàng hóa giảm, lãi suất giảm… như vậy sẽ giúp kích thích tiêu dùng trong dân chúng và đầu tư của tư nhân, đó có thể là một dấu hiệu tích cực giúp kinh tế mau chóng ra khỏi lạm phát Tuy nhiên, nếu lạm phát giảm biến thành giảm phát sẽ kìm hãm khả năng tăng trưởng kinh tế

1.1.5 Dự đoán suy thoái

Do những tác động nhiều chiều và khó lường của suy thoái kinh tế, các nhà kinh tế đưa ra những cách tính toán để dự báo suy thoái:

- Các chỉ số giá kinh tế 2

Số giờ làm trung bình hàng tuần, số giờ thất nghiệp hàng tuần, đơn đặt hàng mới với hàng hóa tiêu dùng/ nguyên vật liệu, giấy phép xây dựng cấp mới, cung tiền M2, chỉ số chứng khoán Standard & Poor, lãi suất lây lan, kỳ vọng người tiêu dùng…

Sử dụng lãi suất trái phiếu 10 năm- 3 tháng3.Trong khi đường cong lãi suất nghịch đảo có lãi suất ngắn hạn cao hơn lãi suất dài hạn là dấu hiệu rõ ràng của sự kiềm chế tăng trưởng kinh tế và sự suy thoái kinh tế

Hình 2: Đường cong nghịch đảo lãi suất

1 Đường cong Phillips

2 Các chỉ số kinh tế được dùng tại Mỹ

3 Phát triển bởi nhà kinh tế học Jonathan H Wright

Trang 14

- Sử dụng số liệu thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp trong vòng 6 tháng 4.

Nếu lấy số liệu trong một khoảng 36 tháng sử dụng mô hình xác suất đơn vị thì ta sẽ thấy, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm cho đến trước 15 tháng của đỉnh chu kỳ kinh tế, sau đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giữ nguyên và sau đó tăng mạnh, điều đó là dấu hiệu của suy thoái

Mô hình dự đoán với tỷ lệ chính xác dưới 50% nhưng cao hơn mô hình thay đổi biên chế việc làm ( chỉ khoảng 23%)5

1.2 Thị trường của doanh nghiệp Ưu – nhược điểm của thị trường nội địa và thị trường quốc tế.

1.2.1Thị trường của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các

phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi

4 Cũng có thể lấy chu kỳ 3 tháng hay 4 tháng

5 Số liệu của ngân hàng dự trữ liên bang Atlanta

Trang 15

ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội

Thị trường của doanh nghiệp bao gồm hai thành phần là thị trường đầu

vào và thị trường đầu ra Thị trường đầu vào là nơi các doanh nghiệp tìm ra các nguyên vật liệu để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của mình Thị trường đầu ra là nơi doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm của mình để thu

về lợi nhuận Tùy vào lĩnh vực kinh doanh của mỗi doanh nghiệp sẽ có loại thị trường tương thích Thị trường đầu ra của doanh nghiệp này là thị trường đầu vào của doanh nghiệp khác Và tương ứng với mỗi yếu tố đã phân tích ở trên, mỗi doanh nghiệp cũng cần tìm cho mình thị trường phù hợp

Để có được các phương án sản xuất kinh doanh tối ưu nhất, các doanh nghiệp phải có sự nghiên cứu về thị trường Thị trường bị ảnh hưởng bởi một

số các nhân tố sau:

nhóm khách hàng có như các nguồn lực cho sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh

tế, thu nhập, các nguồn đầu tư,

- Nhân tố chính trị - xã hôi: các chính sách kinh tế, các nền văn

hóa,các phong tục tập quán đều tạo ra những nhu cầu khác nhau đối với nhóm dân cư

- Nhân tố tâm sinh lý: các vấn đề về sở thích, thị hiếu, mong muốn

phù hợp với người tiêu dùng

- Các nhân tố về thời tiết, khí hậu

Trang 16

1.2.2 Ưu nhược điểm của thị trường trong và ngoài nước

Đối với quan hệ mua bán giữa các doanh nghiệp, chia thị trường thành thị trường nội địa và thị trường nước ngoài

Thị trường ngoài nước hay còn gọi là thị trường quốc tế là nơi diễn ra

cá hoạt động mua bán hàng hóa giữa một nước với những nước khác trên thế giới Các hoạt động kinh tế này ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế ở tất cả các nước có liên quan

- Thị trường rất rộng và đa dạng: mỗi quốc gia đều có đặc điểm và tình

hình kinh tế riêng, khi tham gia thị trường quốc tế, doanh nghiệp có điều kiện tìm được cho mình nhiều nguồn đầu tư, nhiều thị trường mới phù hợp với tình hình của mình

- Khoa học kỹ thuật: Mỗi nước đều có thành tựu khoa học kỹ thuật

riêng của mình, việc tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật mới sẽ giúp doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí, nâng cao năng suất lao động, có các sản phẩm mới Qua quá trình nghiên cứu thị trường nước ngoài, doanh nghiệp sẽ

có cơ hội tiếp xúc và sử dụng những công nghệ kỹ thuật mới, hiện đại

- Cam kết của các tổ chức, liên minh trên Thế Giới: Các tổ chức trên

Thế giới đều có các cam kết, điều khoản mang lại nhiều lợi nhuận cho các nước thành viên Doanh nghiệp có thể dựa vào các cam kết đó để tối thiểu hóa chi phí, giảm thiểu khó khăn trong các vấn đề như giấy tờ thông quan, các khoản thu về thuế, hạn ngạch, công bằng trong thương mại,

Trang 17

- Chu kỳ sống của sản phẩm: một sản phẩm trên thị trường đều có chu

kỳ sống6 nhất định, trước khi giai đoạn sung mãn kết thúc doanh nghiệp cần

có kế hoạch để tiếp tục phát triển sản phẩm của mình thông qua thị trường xuất khẩu mới ở nước ngoài.Tiêu thụ sản phẩm được mở rộng ở càng nhiểu thị trường thì chu kỳ sống của sản phẩm càng được nâng cao

- Hệ thống pháp lý- chính trị: Các quốc gia thường không có một hệ

thống pháp luật hỗn hợpvà có xu hướng bảo vệ các doanh nghiệp của mình, chính vì vậy khi tham gia vào thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp sẽ gặp phải các chính sách khó khăn như chính sách về thuế quan, hạn ngạch, về giấy phép kinh doanh, cũng như sẽ vấp phải sự kiện cáo, chống phá của doanh nghiệp và chính phủ chính quốc, đặc biệt là các nước có nền bảo hộ thị trường trong nước cao

- Tỷ giá: Khi tham gia thị trường quốc tế, vấn đề trao đổi ngoại tệ hay

vấn đề tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp tới cả doanh thu và chi phí của doanh nghiệp vì tỷ giá hối đoái thường thay đổi theo giờ và sự chênh lệch giữa các nhiều loại tiền là khá lớn Vì vậy khi tham gia giao dịch, doanh nghiệp cần chú ý các yếu tố như loại tiền giao dịch, thời gian giao nhận tiền, loại hình thanh toán, lãi suất

- Tiêu chuẩn hóa sản phẩm: Qua tiêu chuẩn của sản phẩm trong nước,

chính phủ và người tiêu dùng cũng dùng chính tiêu chí đó để đánh giá hàng tiêu dùng hàng hóa nhâp khẩu (thường diễn ra ở những nước phát triển) Nếu hàng hóa không đáp ứng được thị hiếu, điều kiện của người tiêu dùng sẽ nhanh chóng bị loại bỏ

6 Chu kỳ sống của sản phẩm (vòng đời của sản phẩm) gồm bốn gian đoạn: tung ra thị trường quảng

bá sản phẩm, phát triển, sung mãn và suy thoái.

Trang 18

- Sự không thống nhất về văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên: Mỗi quốc gia có một văn hóa, ngôn ngữ và phong

tục tập quán khác nhau Khi không cùng các yếu tố này, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đoán biết tâm lý người tiêu dùng, tiếp thị sản phẩm Đặc biệt nếu không nghiên cứu các yếu tố trên, có thể phạm phải rất nhiều điều cấm trong các tư tưởng tôn giáo, văn hóa, phong tục

Điều kiện địa lý và các yếu tố khí hậu không thống nhất ở tất cả các quốc gia, vì vậy cần có sự nghiên cứu để cung cấp được sản phẩm phù hợp, ngoài ra điều kiện về địa lý, khí hậu còn ảnh hưởng trực tiếp tới việc bảo quản, vận chuyển hàng hóa Nếu sản phẩm không phù hợp với điều kiện địa

lý, khí hậu ở quốc gia nhập khẩu, sản phẩm sẽ nhanh chóng bị loại bỏ ra khỏi thị trường

Thị trường nội địa là hoạt động mua bán của những người trong cùng một quốc gia, và chỉ chịu quan hệ kinh tế diễn trong nước và ảnh hưởng tới tình hình kinh tế chính trị trong quốc gia đó

Trang 19

- Xã hội và văn hóa: Thị trường trong nước, người dân có ngôn ngữ

chung có nghĩa là dễ dàng để giao tiếp giữa công ty và người tiêu dùng, hơn nữa sản phẩm nội địa thường nhận được sự đón nhận và ưu ái của người tiêu dùng trong nước Trong một quốc gia, có thể có có một số nền văn hóa khác nhau, tôn giáo, hành vi tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng, các yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh Trong thị trường trong nước, các doanh nghiệp đã quen thuộc với các yếu tố đó vì vậy sẽ tránh xảy ra một số sai lầm

- Tính cạnh tranh và sự phụ thuộc vào thị trường thế giới: Cạnh tranh

trong thị trường nội địa thường ít căng thẳng hơn Khi lựa chọn thị trường nội địa, qui mô nghiên cứu, kinh doanh sẽ nhỏ và đơn giản hơn, do đó thị trường cạnh tranh của các doanh nghiệp ít biến động và rủi ro hơn khi doanh nghiệp lựa chọn thị trường quốc tế Ngoài ra, hàng rào thuế quan sẽ hạn chế rất nhiều

sự gia nhập của các doanh nghiêp nước ngoài, qua đó gián tiếp tạo điều kiện phát triển cho doanh nghiệp nội địa

Chỉ hoạt động và kinh doanh trên thị trường nội địa, doanh nghiệp Việt Nam ít bị phụ thuộc vào biến động của thị trường thế giới Thị trường nội địa

sẽ là nơi để doanh nghiệp xây dựng, phát triển thương hiệu trong cạnh tranh,

là điểm tựa để vươn ra thị trường thế giới.Vì vậy, muốn cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, trước hết phải cạnh tranh được trên thị trường nội địa

- Thị trường đầu vào: Thị trường nội địa nhỏ gây cản trở trong việc tìm

kiếm các thị trường đầu và Quốc gia có nền khoa học kỹ thuật kém sẽ không đáp ứng được các yêu cầu về công nghệ buộc doanh nghiệp tham gia tìm kiếm trên thị trường quốc tê Mỗi nước có địa lý, khí hậu, động thực vật khác nhau vì vậy việc doanh nghiệp tìm được nguồn nguyên – nhiên liệu phù hợp

Trang 20

cũng rất khó, nhất là với sản lượng lớn Với các công ty lớn, các thành phần đầu vào thường được nhập từ nhiều quốc gia hoặc đặt nhiều khu sản xuất ở nhiều nước khác nhau.

- Sự chèn ép của các công ty nhà nước: Các công ty có vốn đầu cuả nhà

nước luôn nhận được rất nhiều sự ưu ái, vì đây là một trong những khoản thu nhập của chính phủ Vì vậy ở một số nước nhất là các nước Xã hội chủ nghĩa thường xuất hiện tình trạng độc quyền ở một số ngành Điều này gây cản trở rất nhiều cho doanh nghiệp khi muốn tham gia thị trường

1.2.3Sự cần thiết phải lựa chọn thị trường

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng bị giới hạn bởi năng lực có hạn và

sự khống chế của môi trường bên ngoài.Doanh nghiệp sẽ không thể tham gia

vào tất cả các thị trường ngay cả khi nhu cầu của các thị trường này phù hợp

với mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh Điều này buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc, tính toán lựa chọn một thị trường thích hợp nhất Thị trường trọng điểm hay thị trường mục tiêu của doanh nghiệp là tập hợp các khách hàng có cùng nhu cầu và mong muốn mà công ty có thể đáp ứng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh và có khả năng khai thác tốt nhất

Mỗi một doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều tiến hành xác định cho mình thị trường để từ đó phân tích các yếu tố của nó như cung cầu, giá cả, cạnh tranh Cụ thể hơn:

- Việc lựa chọn thị trường tạo thuận lợi trong việc nghiên cứu đầy đủ

hơn với mức độ tin cậy tốt hơn về các khách hàng mà doanh nghiệp muốn phục vụ.Doanh nghiệp tác động đến khách hàng thông qua việc định vị sản phẩm, thiết lập các chính sách marketing và triển khai các chương trình marketing.Các hoạt động này sẽ trở nên có hiệu quả và thích hợp khi doanh

Trang 21

nghiệp xác định được các khách hàng của mình.Điều đó chỉ thực hiện được khi doanh nghiệp biết xác định thị trường hợp lý.

- Một doanh nghiệp rất khó đủ khả năng, đủ nguồn lực phục vụ toàn bộ thì trường Việc phân đoạn thị trường giúp cho doanh nghiệp có khả năng sử dụng các yếu tố nguồn lực để đáp ứng nhu cầu khách hàng.Hơn nữa nếu điều kiện khả năng cho phép, việc đáp ứng cho một số phân đoạn nào đó có thể không bằng các đối thủ cạnh tranh

- Sự cần thiết của lựa chọn thị trường còn thể hiện ở chỗ nó phù hợp với quan điểm kinh doanh hiện đại là thiết lập hệ thống sản xuất định hướng vào khách hàng

- Việc phân đoạn giúp doanh nghiệp có điều kiện tốt hơn trong việc nghiên cứu các điểm mạnh, điểm yếu các đối thủ cạnh tranh, làm cơ sở định

vị và thiết lập các chính sách của doanh nghiệp có hiệu quả hơn

Từ sự cần thiết trong việc lựa chọn thị trường có thể thấy, trong thời kỳ suy thoái, nếu doanh nghiệp có thể lựa chọn đúng đắn thị trường sẽ giúp doanh nghiệp tập trung vào đúng đối tượng khách hàng hơn, sản lượng bán hàng sẽ tốt hơn, tăng doanh thu cho doanh nghiệp; giảm bớt các chi phí quảng cáo, thiết lập hệ thống phân phối giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí hơn thay

vì cắt giảm lao động, tăng nhanh lợi nhuận doanh nghiệp; hay nói cách khác, nếu doanh nghiệp biết lựa chọn thị trường phù hợp với khả năng, chiến lược thì không chỉ trong thời kỳ ổn định mà cả trong thời điểm suy thoái, doanh nghiệp vẫn có thể hoàn toàn phát triển sản xuất và tăng trưởng tốt

Trang 22

1.3 Các khía cạnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi suy thoái

Mối quan hệ giữa tăng trưởng đầu ra (với nền kinh tế là chỉ tiêu GDP)

và TFP được thể hệ bằng hàm sản xuất Cobb-Douglas:

1.3.1 Vốn

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn Bắt đầu từ thời kỳ của kinh

tế học cổ điển, Adam Smith đã khẳng định: “ Tiết kiệm là nguyên nhân ra tăng vốn” 7.Theo quan điểm của Marx, nhìn nhận dưới giác độ các yếu tố sản xuất, ông cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là

7 Tác phẩm “Của cải của dân tộc” (1776)

Trang 23

một đầu vào của quá trình sản xuất” David Begg, trong cuốn Kinh tế học cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”

Trên góc độ doanh nghiệp, nguồn vốn xuất phát từ 2 nguồn chính : nguồn vốn bên trong (internal funds) và nguồn vốn bên ngoài (external funds) Trong đó:

- Nguồn vốn bên trong hình thành từ phần tích lũy từ nội bộ doanh nghiệp (vốn góp ban đầu, thu nhập giữ lại) và khấu hao hàng năm Nguồn vốn này có ưu điểm là đảm bảo tính độc lập, chủ động, không phụ thuộc vào chủ

nợ, hạn chế rủi ro về tín dụng Dự án được tài trợ từ nguồn vốn này sẽ không làm suy giảm khả năng vay nợ của đơn vị Theo lý thuyết, đây là nguồn tài trợ chủ yếu cho việc đầu tư, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, chỉ dựa vào vốn này sẽ hạn chế quy mô đầu tư

- Nguồn vốn từ bên ngoài có thể từ việc vay nợ hoặc phát hành chứng khoán ra công chúng thông qua hai hình thức: tài trợ gián tiếp quan trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng ) hoặc tài trợ trực tiếp ( qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán, hoạt động tín dụng thuê mua ) Huy động nguồn vốn này có ưu điểm là quy mô huy động rộng rãi, bên cạnh đó, yêu cầu minh bạch công khai khiến doanh nghiệp phải sự dụng vốn hiệu quả hơn.Tuy nhiên, nguồn vốn này mang nhiều rủi ro hơn

Trong thời kỳ suy thoái, cả nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có xu hướng giảm sút, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc mở rộng đầu tư sản xuất và kinh doanh,cạnh tranh hay duy trì quy mô sản xuất như cũ, cụ thể:

- Ảnh hưởng đến nguồn vốn bên trong:

Trang 24

Nguồn vốn bên trong hình thành chủ yếu do hoạt động kinh doanh có lãi, do đó doanh nghiệp có thu nhập giữ lại, và chuyển thành vốn Nhưng khi suy thoái diễn ra, việc kinh doanh trở nên khó khăn, do đó có thể doanh số và sản lượng bán hàng của doanh nghiệp sẽ giảm hoặc suy thoái do giá nguyên liệu tăng cao đều làm cho thu nhập còn lại của doanh nghiệp giảm đi, như vậy nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp cũng nhỏ đi.

- Ảnh hưởng đến nguồn vốn bên ngoài:

Do các ngân hàng hay tổ chức tín dụng cũng chịu ảnh hưởng từ suy thoái, lãi suất cho vay thường bị đẩy lên cao và yêu cầu cho vay thường nghiêm ngặt hơn, do các doanh nghiệp thường khó khăn khi tiếp cận với các nguồn vốn từ ngân hàng, hoặc nếu có tiếp cận được vốn ngân hàng thì chi phí thường rất cao

Ngoài hình thức vay gián tiếp, hình thức huy động vốn trực tiếp qua phát hành cổ phiếu trái phiếu cũng không thu hút được nhiều nhà đầu tư Do tình hình kinh doanh khó khăn, nên xu hướng các nhà đầu tư chọn đầu tư vào các hoạt động có tính chắc chắn cao, như vậy một doanh nghiệp đã khó khăn trong việc kinh doanh khó có thể tạo những điểm sáng thu hút sự chú ý của nguồn vốn này

1.3.2 Lực lượng lao động

Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm

Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình sản xuất, là một trong bốn yếu tố tạo nên tăng trưởng ( vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ), không yếu tố đầu vào nào có thể thay thế hoàn toàn được lao động

Trang 25

Do ảnh hưởng suy thoái, doanh nghiệp sử dụng biện pháp cắt giảm lao động tạm thời sẽ giúp tiết giảm chi phí trong thời kỳ khó khăn nhưng điều này lại tác động xấu đến cầu tiêu dùng của người dân, đặc biệt là người lao động Khi việc làm và thu nhập giảm, điều này khiến người dân chi tiêu ít hơn, lượng hàng hóa tiêu dùng giảm đi, và dẫn đến lợi nhuận doanh nghiệp sẽ không đạt kết quả cao

Tóm lại, thời kỳ suy thoái, lực lượng lao động trong doanh nghiệp thường có xu hướng bị cắt giảm

1.3.3 Chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất thể hiện sự hao tổn nguồn lực của doanh nghiệp để tạo

ra sản phẩm Để đơn giản, xét hai loại chi phí sản xuất là chi phí cố định và chi phí biến đổi

Chi phí sản xuất cố định là những phần chi phí kinh doanh không thay đổi theo qui mô sản xuất, nếu xét trong một khuôn khổ công suất sản xuất nhất định Ví dụ một nhà sản xuất bánh kẹo phải trả một khoản tiền thuê mặt bằng cố định, không phụ thuộc vào sản lượng bánh kẹo sản xuất

Chi phí sản xuất biến đổi là thứ chi phí mà tỷ lệ của nó trong tổng chi phí sản xuất ra một sản phẩm sẽ thay đổi khi sản lượng thay đổi Ví dụ doanh nghiệp sản xuất quần áo sẽ tăng chi phí biến đổi (nguyên liệu và lương công nhân) nếu sản lượng của doanh nghiệp tăng lên

Tổng chi phí = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi ( TC = FC + VC )

Hình 3: cơ cấu chi phí sản xuất của doanh nghiệp

Trang 26

Dù suy thoái kinh tế có do nguyên nhân ngoại sinh ( giá nguyên liệu tăng, chiến tranh ) hay do những nguyên nhân về cung tiền và lạm phát thì

nó cũng có tác động đến cả chi phí biến đổi và chi phí cố định, từ đó làm tổng chi phí tăng lên

- Nếu cùng một sản phẩm, thì trong thời kỳ suy thoái, do giá nguyên liệu tăng nên chi phí sản xuất (chi phí biến đổi) cho những sản phẩm đó sẽ cao hơn so với thời kỳ ổn định

- Nếu doanh nghiệp vẫn giữ quy mô nhà xưởng như cũ thì chi phí để duy trì quy mô đó( chi phí cố định) sẽ tăng lên, do đó cũng làm tổng chi phí tăng

Điều này ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận doanh nghiệp, khả năng tiêu thụ sản phẩm và lợi ích người tiêu dùng, xu hướng chung là doanh nghiệp sẽ cắt giảm chi phí sản xuất

Trang 27

1.3.4 Doanh thu

Doanh thu là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp.Thông thường doanh thu được tính bằng giá nhân sản lượng ( TR = P*Q) Doanh thu thể hiện kết quả sản xuất kinh doanh nhưng chưa chắc thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh8 Tuy nhiên doanh thu vẫn là chỉ tiêu quan trọng đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Xu hướng giảm doanh thu là tình hình chung của doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái, do một mặt sản phẩm không bán được do cầu tiêu dùng giảm, mặt khác doanh nghiệp phải hạ giá sản phẩm để cạnh tranh tốt hơn

1.3.5 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong qúa trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả đó.Nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp

Kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh

có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn Qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không.Nếu số thuế còn phải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan

8 Doanh nghiệp có doanh thu cao chưa chắc đã sản xuất hiệu quả do có thể chỉ là chi phí sản xuất lớn.

Trang 28

Kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước

đo quan trọng cho hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp Việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp

Dựa vào biểu mẫu của một bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, các nhân tố trong kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi suy thoái có thể được hiểu là:

tổ chức cho vay cũng gặp khó khăn trong lúc này

Như vậy, với doanh thu không cải thiện và tình hình chi phí phải gánh thêm nhiều khoản như hàng tồn kho, quản lý thì chắc chắn trong kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ lỗ nhiều hoặc lãi không cao

- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước

Trang 29

Nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước quan trọng nhất vẫn là nộp thuế.Tình hình nộp thuế của doanh nghiệp ghi trong kết quả sản xuất kinh doanh sẽ phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong kỳ suy thoái, do doanh nghiệp còn chịu lỗ do nhiều nguyên nhân nên trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh sẽ không thể nộp thuế; ngoài ra nếu doanh nghiệp được báo cáo có nhiều khoản thuế chưa nộp hay có nhiều khoản nợ xấu đều cho thấy kết quả sản xuất kinh doanh gặp khó khăn và điều này sẽ không tốt cho hoạt động thu ngân sách nhà nước.

1.3.6 Định hướng phát triển sản xuất

Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh là việc đề ra các kế hoạch, chiến lược và mục tiêu cho các hoạt động nhằm tối đa hóa lợi ích của việc sản xuất kinh doanh trong tương lai

Trong chu kỳ suy thoái, những định hướng truyền thống như cắt giảm chi phí, cắt giảm sản xuất, cố gắng thực hiện cân bằng thu chi không để lỗ Khi suy thoái xảy ra, chỉ có một số ít các doanh nghiệp làm ăn có lãi, còn hầu hết cố gắng không chịu lỗ hoặc lỗ quá nhiều Do đó các doanh nghiệp có xu hướng tiết kiệm hơn, sản xuất cầm chừng do hàng hóa đã khó tiêu thụ hơn, giảm bớt lao động để không phải gánh thêm chi phí

Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp sử dụng những biện pháp cụ thể hơn như tập trung vào những mặt hàng chiến lược, tái cấu trúc lại doanh nghiệp, thay đổi cách thức quản lý cho phù hợp hơn, hay một xu hướng khác được được một số doanh nghiệp lựa chọn và đã thành công là việc quay trở về thị trường nội địa Tất cả những định hướng này không những giảm bớt tiêu cực do cố gắng tiết kiệm thái quá gây ra mà còn giúp doanh nghiệp tự làm mới mình, phát triển tốt hơn sau suy thoái

Trang 30

1.4 Sự phù hợp khi lựa chọn thị trường nội địa để kinh doanh trong thời kỳ suy thoái

Như đã đề cập, sự suy thoái kinh tế kéo theo thất nghiệp gia tăng, suy giảm đầu tư và tiêu dùng… Để thúc đẩy nền kinh tế trở lại, các quốc gia thường chọn giải pháp là kích cầu kinh tế.Khi các gói kích cầu được sử dụng vào các công việc thích hợp sẽ kéo được nền kinh tế thoát khỏi suy thoái và trở lại bình thường.Tuy nhiên, các gói kích cầu thường đồng nghĩa với việc đưa thêm nhiều tiền vào nền kinh tế, điều này có nghĩa đồng tiền trong nước

sẽ mất giá nhanh hơn9

Đứng trên quan điểm của một doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa vào nước đó, điều này là hoàn toàn bất lợi.Thứ nhất, việc xuất khẩu vào một thị trường đang có mức tiêu dùng giảm đi chắc chắn sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Thứ hai, do đồng tiền của nước nhập khẩu rẻ đi tương đối, nên hàng hóa từ các doanh nghiệp xuất khẩu trở nên đắt hơn, do đó, người dân trong nước có xu hướng sẽ chuyển về tiêu dùng hàng hóa trong nước, thay vì chọn hàng nhập khẩu Chưa kể đến, các chính sách khác của nước nhập khẩu muốn kích thích sản xuất trong nước sẽ dùng các biện pháp khác để hạn chế, không cho hàng hóa của các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường nước đó.Như vậy, chọn thêm một thị trường xuất khẩu khác trong thời kỳ suy thoái chưa hẳn là một biện pháp tốt

Trong khi đó, điều này lại là một thuận lợi của các doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị trường nội địa, do các doanh nghiệp sẽ tận dụng được các gói hỗ trợ của chính phủ để đưa vào sản xuất hay cầu tiêu dùng trong nước tăng do được kích cầu Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường trong nước sẽ không chịu ảnh hưởng nhiều do biến động tỉ giá

9 Từ tháng 10/2012 đến tháng 1/2013, đồng Yên đã mất giá 14% so với USD do chính sách kích cầu của chính phủ Nhật Bản.

Trang 31

Từ những phân tích cho thấy, thị trường nội địa là sự lựa chọn phù hợp

để kinh doanh trong thời kỳ suy thoái, đồng thời nhắc nhở cho các doanh nghiệp thấy không nên quá mải mê vào thị trường xuất khẩu mà quên mất sự quan trọng của thị trường nội địa

1.5 Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp lựa chọn thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái

Tuy nền kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn, song một số doanh nghiệp Việt Nam đã biết tự khai thác các nguồn lực của mình, nắm bắt được thị trường, xây dựng thương hiệu, tăng doanh thu và vươn lên chiếm lấy thị phần trong nước

1.5.1Ngành chế biến sữa

Công ty Cổ Phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)

Công ty được thành lập năm 1976 trên cơ sở tiếp quản 3 nhà máy Sữa10 của chế độ cũ để lại Qua 35 năm phát triển, Vilamilk là doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, hiện chiếm lĩnh 75% thị phần sữa tại Việt Nam, với mạng lưới 183 nhà phân phối và gần 94.000 điểm bán hàng phủ đều 64 tỉnh thành, sản phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang nhiều nước.Năm 2009, mặc dù nhiều doanh nghiệp trong nước bị ảnh hưởng nặng

nề từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới, nhưng cuối năm Vinamilk vẫn cán mốc doanh thu trên 10,000 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2008

Để thu được những thành tựu đó, Vinamilk đã có chính sách riêng cho mình:

- Về sản phẩm:

10 Sau khi tiếp quản 3 nhà máy Sữa : nhà máy sữa Thống Nhất ( tiền thân là nhà máy Foremost ); nhà máy sữa Trường Thọ ( tiền thân là nhà máy Cosuvina); và nhà máy sữa Bột Dielac ( Nestle )

Trang 32

 Chú trọng chất lượng sữa:Vinamilk đã thấu hiểu kiểm soát xuất

xứ, chất lượng nguyên liệu đầu vào mới là nhân tố quan trọng nhất tạo nên các sản phẩm có chất lượng, và được xử lý qua một dây truyền khép khín nhằm đảm bảo kiểm soát được chất lượng sữa

Năm 2008, trong khi nhiều hãng sản xuất sữa lao đao vì “cơn bão melamine11”, Vinamilk vẫn vững vàng với việc khẳng định được chất lượng sản phẩm thực sự an toàn Bởi lẽ từ trước đó, khi tung một sản phẩm mới ra thị trường, Vinamilk luôn gửi sản phẩm mẫu đi kiểm định, kiểm tra từ các tiêu chuẩn chất lượng đến thành phần dinh dưỡng

 Đa dạng mẫu mã mặt hàng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng: Vinamilk có trên 200 mặt hàng sữa và sản phẩm từ sữa như: sữa đặc, sữa bột cho trẻ em và người lớn, bột dinh dưỡng, sữa tươi, sữa chua uống, sữa chua ăn, sữa đậu nành, kem, phô-mai, nước ép trái cây, nước giải khát

Trong năm 2009, phần lớn các doanh nghiệp trong nước sản xuất co cụm nhưng Vinamilk tiếp tục đem đến cho người tiêu dùng nhiều loại sản phẩm mới như sữa chua nha đam, dòng sản phẩm nước trái cây V- fresh mới kết hợp giữa nước trái cây và sữa, cà phê hương vị mới hay sữa bột giảm cân- đây là những loại thực phẩm đón đầu được xu thế của người tiêu dùng nên rất được ưa chuộng hiện nay

- Về chiến lược kinh doanh

- Về giá cả: Năm 2009 Vinamilk đã chú trọng thực hiện cắt giảm những chi phí Bên cạnh việc cơ cấu lại nhãn hàng, Công ty đã thực hiện chiến lược kinh doanh mang tên phủ đều và kiểm soát các điểm bán lẻ, điều này giúp công ty không còn bị lệ thuộc vào các đại lý mà tiết kiệm được khá nhiều chi phí khuyến mại

- Mở rộng thị trường phân phối: Vinamilk luôn chú ý vào việc nghiên cứu từng khu vực thị trường, từng tập quán tiêu dùng, từng độ tuổi, giới tính

11 Melamine có thể dẫn đến tác hại về sinh sản, sỏi bàng quang hoặc suy thận và sỏi thận, có thể gây ung thư bàng quang

Trang 33

để phát triển mạng lưới bán lẻ cho từng mặt hàng và quảng bá cho từng mặt hàng ở mỗi khu vực, địa phương khác nhau.

Vinamilk áp dụng biện pháp cải tổ kinh doanh, sắp xếp lại thị trường.Yếu tố giúp cho Vinamilk thành công là chiến lược kinh doanh phủ đều và kiểm soát được điểm bán lẻ.Hiện toàn quốc có gần 300.000 điểm bán

lẻ sữa, thì Vinamilk đã có mặt hơn 160.000 điểm Kế hoạch trong thời gian tới của Vinamilk là phải phủ kín được hết 300.000 điểm đó

- Xây dựng và phát triển thương hiệu: Phát triển thương hiệu thông qua các công tác công đồng: Vinamilk luôn được biết đến là doanh nghiệp hàng đầu hướng về cộng đồng cùng các hoạt động từ thiện xã hội, đặc

biệt là các hoạt động dành cho trẻ em như quỹ học bổng “Vinamilk- ươm

mầm tài năng trẻ Việt Nam”, quỹ sữa “Vươn cao Việt Nam”, ngoài ra Vinamilk còn hỗ trợ các em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, các bà mẹ Việt Nam anh hùng.

- Về cơ sở hạ tầng: Từ đầu năm 2007, Vinamilk đã đầu tư hơn 500

tỷ đồng cho 5 trang trại bò sữa tại Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Định, Nghệ

An, Thanh Hóa, nhập khẩu bò giống bò cao sản thuần chủng HF từ Australia

và New Zealand Vinamilk đang tiếp tục triển khai trại bò sữa công nghiệp tại

Tây Ninh, Đắk Nông, Hòa Bình…nâng số bò lên 105.000 con Các trang trại của Vinamilk trải dài toàn quốc, gần các nhà máy chế biến.

1.5.2 Ngành dệt may

Công ty cổ phần May Việt Tiến (VTEC)

Tiền thân là một xí nghiệp may tư nhân “công ty kỹ nghệ Thái Bình Dương” Tháng 8/2007, Công ty chuyển tên thành Tổng công ty Cổ phần May Việt Tiến, có tên viết tắt là VTEC.Năm 2008, Công ty chịu ảnh hưởng nặng

nề từ cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng công ty đã có những bước đột phá lớn để tiếp tục đứng vững và khẳng định được ví thế của mình.Năm 2009,Việt Tiến đạt tổng doanh thu hơn 3.400 tỷ đồng, lợi nhuận 224 tỷ đồng, doanh thu

Trang 34

nội địa là 546 tỷ đồng, kinh nghạch xuất khẩu đạt 281 triệu USD Phát triển 7 nhãn hiệu hàng riêng của mình, cũng là doanh nghiệp dệt may duy nhất đã mua được thương hiệu thời trang quốc tế.

Các doanh nghiệp dệt may đang là điểm sáng trong nền kinh tế Việt Nam- không chỉ có kinh nghạch xuất khẩu cao, Tiến Việt đã và đang là một nhãn hiệu thời trang đang được rất ưa chuộng

- Về sản phẩm:

 Công ty luôn đảm bảo cam kết cung cấp những sản phẩm tốt với chất lượng vải đã được kiểm nghiệp và không gây kích ứng da, luôn cải tiến mẫu mã và đa dạng hóa sản phẩm

 Việt Tiến hiện đang theo xu hướng đa dạng hóa sản phẩm, nhắm đến nhiều đối tượng, nhiều độ tuổi, nhiều môi trường khác nhau Đồng thời, công ty luôn chú trọng tới các yếu tố như văn hóa từng vùng miền, thói quen may mặc hay kích cỡ, kiểu dáng để thiết kế được sản phẩm phù hợp với người Việt Các sản phẩm đã thành công trên thị trường nội địa:Thương hiệu thời trang San Sciaro mang phong cách Italia và thương hiệu Manhatta mang phong cách Mỹ được VTEC mua và phát triển; Thương hiệu Viettien ; Thương hiệu Viettien Smartcasual; Vee- Sendy; TT-up: thời trang cao cấp; Vie- Laross

- Chiến lược kinh doanh

 Công tác makerting: Phát triển theo hướng “đa giá”, đáp ứng nhu cầu của mọi lứa tuổi, mọi phân cấp về tiêu dùng

Lấy chất lượng sản phẩm làm tiêu chí cạnh tranh hàng đầu, kết hợp với việc luôn đa dạng mẫu mã, màu sắc, thương hiệu thời trang

Công ty đặc biệt chú trọng vào trang thiết bị để tạo ra những sản phẩm riêng biệt về kỹ thuật- chất lượng Trên cơ sở vẽ và in trên các thiết bị hiện đại, các sản phẩm luôn đảm bảo độ chính xác cao, đúng chiều vải, tạo ra những đường may thẳng, đều, bền, chắc Đồng thời, tạo ra các đặc điểm về

Trang 35

hình thức như nhãn treo trên các sản phẩm, cúc nhựa có in chìm chữ

“Viettien” hoặc “Vtec”

 Phát triển thương hiệu: Việt Tiến luôn chú trọng tới công tác sở hữu trí tuệ Hằng năm, công ty chi trên 500 triệu đồng cho hoạt động này Hiện này công ty đã đăng ký 42 nhãn hiệu trong nước, 2 nhãn hiệu ở nước ngoài và

1 nhãn hiệu ở Liên minh châu Âu, Asean

Công ty còn có bộ phận chuyên chịu trách nhiệm riềng trong lĩnh vực này và thường xuyên có các công tác quản lý, kiểm tra, ghi nhận, báo với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết, ngăn chặn việc đánh cắp thương hiệu

Tham gia vào nhiều hoạt động xã hôi như tài trợ, lập quỹ học bổng, ủng

hộ khắc phục thiên tai, Điển hình là ngày “doanh nghiệp dệt may Việt Nam

vì đồng bào biển đảo Tổ quốc”, tổng công ty đã dẫn đầu các doanh nghiệp, đóng góp và Quỹ hỗ trợ 367 triệu đồng

- Hệ thống phân phối: Hiện nay, Việt Tiến là doanh nghiệp có hệ thống cửa hàng lớn nhất trong ngành với trên 1.300 cửa hàng, phát triển rộng khắp.Phối hợp với các công ty may dệt khác cùng phân phối sản phẩm may mặc Việt Nam tới tay người tiêu dùng.Việt Tiến đã xuất khẩu sang 50 nước

và có đại lý độc quyền tại Campuchia, Lào, Malaysia, Singapo, Thái Lan, Indonesia

- Phát triển công nghệ

May Việt Tiến luôn đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị trị giá hàng chục triệu USD và khuyến khích cán bộ công nhân viên sáng tạo Trong đó có các sáng kiến tiêu biểu như sáng kiến chế tạo bộ silenoi, ép trục silenoi cho các bộ trợ lực máy 1 kim, máy 2 kim, máy cuốn sườn, chế tạo dao cắt chỉ cho máy tra hay tay kim trong băng chuyền Hanger

Trang 36

Ngoài phần mềm ACCUMARR để thiết kế và nhảy size, công ty đã mạnh dạn đầu tư phần mềm VSTITCHER mô phỏng sản phẩm trên người mẫu nhằm rút ngắn thời gian thiết kế.

Nhiều nhà thiết kế có tên tuổi đã được thuê như Quốc Bình, Trọng Nguyên, Tấn Phát, Công ty còn ký hợp đồng với nhà thiết kế tạo mẫu người Pháp vừa nâng cao đẳng cấp của sản phẩm, vừa bắt kịp xu thế của giới trẻ

Công ty còn nâng cấp phòng thử nghiệm bằng một hệ thống máy đo lực bám dính của keo, máy so màu, máy đo độ ma sát, độ co rút của đường may, nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm

1.5.3 Ngành sản xuất đồ uống

Công ty rượu bia nước giải khát Sài Gòn ( Sabeco)

Ngày 4/5/1977, Công ty bia miền Nam nhận quản lý Nhà máy Bia Chợ Lớn và hình thành lên Nhà máy Bia Sài Gòn Qua nhiều lần đổi tên, năm

2003, Tổng công ty rượu bia nước giải khát Sài Gòn được thành lập.Năm

2008, tổng doanh thu đạt 15.441 tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước thuế là 1.497

tỷ đồng, tăng 46%

Sabeco hiện đang là công ty bia rượu có doanh thu cao nhất cả nước với thị phần xuyên suốt từ bắc tới nam Để đạt được điều đó, Sabeco đã có nhiều chiến lược kinh doanh đúng đắn

- Về sản phẩm

Công ty luôn xác định hướng đầu ra của thị trường với thông điệp trẻ trung, năng động: Bia chai Saigon Lager: “Saigon Lager- Bia của người Việt Nam”; Bia lon 333: “333- Thế Giới ngày càng thêm ưa chuộng”; Bia chai Saigon Export: “Saigon Export- Không bóng bẩy, không phải ồn ào, không

Trang 37

phải cầu ky, không cần phô trương, uống thì hiểu”; Bia chai Saigon Special:

“Saigon special- chất men của thành công”

- Chiến lược kinh doanh

 Hoạt động quảng cáo: Sabeco đã tiến hành thay đổi và thống nhất lại hệ thống nhận diện mới của Tổng công ty với hình ảnh logo mạnh mẽ hơn, thân thiện hơn

Hình thức quảng cáo của bia Saigon trên các phương tiện pano, phương tiện thông tin đại chúng với đội ngũ marketing chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm đã mở rộng thị trường, hỗ trợ các nhà phân phối

 Hoạt động xã hội: khẳng định trách nhiệm của mình với thông điệp “Sabeco chung tay vì cộng đồng” Sabeco đóng góp và tài trợ cho các hoạt động xã hội như: xây nhà tình thương, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đóng góp vào quỹ vận động xã hội, tới hàng chục tỷ đồng

Năm 2009, chỉ riêng công ty mẹ đã trích quỹ vận động cán bộ công nhân viên đóng góp được 6.4 tỷ đồng cho các hoạt động xã hội và chi khoảng

10 tỷ đồng tài trơ cho các hoạt động vì cộng đồng

 Hoạt động khuyến mại: Sabeco đã tăng doanh thu của mình đồng thời đưa sản phẩm của mình tới với nhiều thị người tiêu dùng hơn thông qua nhiều đợt khuyến mại trong năm như: khuyến mại mùa cưới, khuyến mại tết hay tham gia các lễ hội đồ uống

- Tổ chức lưu thông, phân phối

Trước đây, Sabeco chỉ chú trọng hệ thống bán hàng theo các kênh truyền thống (qua trung gian) vì không đủ hàng cung ứng Thì nay, Công ty đang hướng tới kênh bán hàng Horeka (kênh bán hàng trực tiếp vào khách sạn, nhà hàng, siêu thị, )

1.5.4 Ngành Nhựa

Công ty nhựa Tiền Phong (NTP)

Trang 38

Năm 1960, công ty Nhựa Thiếu niên Tiền Phong thuộc bộ công nghiệp được thành lập- là tiền thân của công ty Nhựa Tiền Phong.Trải qua 45 năm xây dựng, Công ty đang là một trong những doanh ngiệp dẫn đầu trong lĩnh vực cung ứng sản phẩm nhựa.Năm 2009, mặc dù bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, song Công ty đã lựa chọn hình thức đầu tư hợp lý, thời điểm thích hợp để mua nguyên vật liệu, có những chính sách hợp lý và trở thành doanh nghiệp có năng lực sản xuất lớn nhất trong số các doanh nghiệp nhựa ở Việt Nam.

Để đạt được thành tựu đó trong thời kỳ suy thoái, NTP đã có nhiều chiến lược kinh doanh đúng đắn, chiếm được thị phần lớn trong thị trường nội địa

- Về sản phẩm

 NTP luôn duy trì và thực hiện tốt hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9001- 2001 Đồng thời, công ty phối hợp với Trung tâm Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam (Quacert) tiến hành đào tạo nhân lực, hệ thống tài liệu để chuyển sang tiêu chuẩn ISO 9001 phiên bản 2008

 Đa dạng hóa sản phẩm: sản phẩm của công ty được chia làm 4 nhóm: Ống nhựa u.PVC; Sản phẩm ống nhựa HDPE; Sản phẩm nhựa có thể thay thế ống kẽm12; Sản phẩm phụ tùng và các sản phẩm

- Chiến lược kinh doanh

 Lựa chọn thị trường: NTP nghiêm túc thực hiện chính sách:

“NTP tập trung vào thị trường trong nước, lấy thị trường miền Bắc làm chủ đạo, từng bước xây dựng thị trường miền Nam”

Hiện nay, công ty có khoảng 50 tổng đại lý, 200 cửa hàng tại hơn 30 tỉnh thành

12 NTP là doanh nghiệp đầu tiên sản xuất sản phẩm này

Trang 39

 Chính sách bán hàng: Chính sách bán hàng của NTP là “Đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng” Sản phẩm của công ty được tiêu thụ qua ba kênh phân phối chính là: trung tâm bán hàng, đơn vị bán hàng

và khách hàng riêng lẻ.Công ty áp dụng các hình thức phân phối hàng hóa: đấu thầu công trình, bán hàng qua các đại lý và bán lẻ cho người tiêu dùng

 Mạng lưới tiêu thụ của công ty được xây dưng trên nguyên tắc không chồng chéo, vận hàng một cách hiệu quả và phát huy tối đa năng lực cạnh tranh

 Đối tượng chính của công ty là các công trình an sinh xã hội như

cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Norura, Sài Đồng, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, chương trình nước sạch của UNICIEF,

- Đầu tư trang thiết bị sản xuất

NTP luôn chú trọng đầu tư trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Đảm bảo năng lực sản xuất của công ty năm 2010 là 70.000 tấn sản phẩm và tăng 10% trong 5 năm tới.Năm 2009, công ty đã đầu tư 60 tỷ đồng cho chi phí mua bán trang thiết bị Dự kiến năm 2010 là 94 tỷ đồng

Những doanh nghiệp trên nhiều ngành nghề khác nhau, với những chiến lược kinh doanh và sản xuất hướng tới chất lượng và nhu cầu người tiêu dùng nội địa cho thấy nếu các doanh nghiệp Việt Nam có chiến lược quay trở

về thị trường phù hợp sẽ có được thành công trên thị trường nội địa

Trang 40

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI

2.1 Suy thoái kinh tế Việt Nam và tác động của nó với hoạt động của các doanh nghiệp

2.1.1 Tác động của suy thoái tới VN và suy thoái kinh tế việt nam hiện nay

Năm 2007 Việt Nam ra nhập WTO , do vậy những biến động kinh tế thế giới tác động mạnh mẽ đến kinh tế Việt Nam

Tiêu dùng giảm mạnh do cuộc khủng hoảng đã tác động, thương mại khó khăn và ở mức nhập siêu cao, hàng tồn kho của các loại hàng hoá lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm

và kết quả là GDP thực tế giảm sút Người lao động thu nhập thấp hơn chi tiêu, để giảm khó khăn cho sinh hoạt gia đình người dân phải cắt, giảm chi tiêu, thất nghiệp trong xã hội gia tăng, …làm cho những doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam ngần ngại trước cuộc sống mà mức thu nhập của người dân thấp hơn so với mức tiêu dùng hàng hóa Điều đó ảnh hưởng làm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt nam bị sụt giảm, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2006 đạt 8,23%, năm 2007 đạt 8,46%, năm 2008 giảm xuống 6,31%, năm 2009 chỉ còn 5,32%

Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2012 đạt 5,03% , đây là mức thấp hơn dự kiến (5,2%), thấp hơn mức 5,77% của năm 201, 6,78% của năm 2010 và là một trong những mức tăng trưởng GDP thấp nhất của Việt Nam trong vòng năm năm trở lại đây13 Từ số liệu kinh tế ở trên chúng ta có thể nhìn thất rõ

13 Số liệu của Tổng cục thống kê

Ngày đăng: 08/05/2015, 22:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Chu kỳ kinh doanh - Doanh nghiệp việt nam hướng về thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái
Hình 1 Chu kỳ kinh doanh (Trang 8)
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số CPI của Việt Nam - Doanh nghiệp việt nam hướng về thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số CPI của Việt Nam (Trang 44)
Bảng 2: Trị giá xuất khẩu hàng hoá theo bảng phân loại tiêu - Doanh nghiệp việt nam hướng về thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái
Bảng 2 Trị giá xuất khẩu hàng hoá theo bảng phân loại tiêu (Trang 53)
Bảng 4: Sự khác biệt của thị trường trong nước và nước ngoài  trong việc lựa chọn hàng hóa của doanh nghiệp - Doanh nghiệp việt nam hướng về thị trường nội địa trong thời kỳ suy thoái
Bảng 4 Sự khác biệt của thị trường trong nước và nước ngoài trong việc lựa chọn hàng hóa của doanh nghiệp (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w