Vào thời ñiểm hiện nay, các nhà nghiên cứu cho thấy trên thực tế có những trẻ bộc lộ những khó khăn nghiêm trọng về khả năng viết, tập ñọc, và hoạt ñộng tính toán, mặc dù trí tuệ của những trẻ này ñều ở mức bình thường và không gặp khó khăn lớn về các kỹ năng sống trong nhà trường và ngoài xã hội. Các nhà nghiên cứu gọi những trẻ này là trẻ khó học (learning disabilities). Trẻ khó học không hiện diện trước chúng ta với những khuyết tật, khó khăn hay thiệt thòi, bất lợi “nhỡn tiền” như trẻ khiếm thị, khiếm thính. Trẻ có thể lực bình thường, có thể tham gia các trò chơi với các trẻ khác trong trường hay ngoài xã hội và không có vấn ñề gì về khả năng nói, thị giác hay thính giác. Do ñó ñại ña số mọi người ñều cho rằng nó không hề có khuyết tật nào cả và không cần bất kỳ sự trợ giúp nào. Đa số thường nhầm lẫn trẻ khó học với trẻ chậm phát triển hoặc coi là thiếu ý thức, ñộng cơ học tập… - nguyên nhân mà cha mẹ, thầy cô la mắng bằng những ngôn từ như “chậm chạp; lười biếng; bướng bỉnh; ngu ngốc”, thậm chí là “vô dụng”. Theo Hiệp hội quốc gia về trẻ khó học của Hoa Kỳ thì ở Mỹ có khoảng 10% trẻ khó học, trên toàn thế giới có khoảng 20 % trong số trẻ ñi học. Ở Việt Nam hiện nay ñã triển khai một số ñề tài và dự án ñể tầm soát phát hiện, giúp ñỡ trẻ như thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị,...Tuy nhiên, ở Đà Nẵng chưa có ñề tài nào nghiên cứu ñể tìm hiểu thực trạng trẻ khó học ở tiểu học. Do ñó, ñây là một trong những vấn ñề ñang cần quan tâm hiện nay. Xuất phát từ những ñiều nêu trên, chúng tôi chọn ñề tài: “Thực trạng trẻ khó học ở các trường tiểu học trên ñịa bàn Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng” làm khoá luận tốt nghiệp
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn ñề tài
Vào thời ñiểm hiện nay, các nhà nghiên cứu cho thấy trên thực tế có những trẻ bộc lộ những khó khăn nghiêm trọng về khả năng viết, tập ñọc, và hoạt ñộng tính toán, mặc dù trí tuệ của những trẻ này ñều ở mức bình thường
và không gặp khó khăn lớn về các kỹ năng sống trong nhà trường và ngoài xã
hội Các nhà nghiên cứu gọi những trẻ này là trẻ khó học (learning disabilities) Trẻ khó học không hiện diện trước chúng ta với những khuyết
tật, khó khăn hay thiệt thòi, bất lợi “nhỡn tiền” như trẻ khiếm thị, khiếm thính Trẻ có thể lực bình thường, có thể tham gia các trò chơi với các trẻ khác trong trường hay ngoài xã hội và không có vấn ñề gì về khả năng nói, thị giác hay thính giác Do ñó ñại ña số mọi người ñều cho rằng nó không hề có khuyết tật nào cả và không cần bất kỳ sự trợ giúp nào Đa số thường nhầm lẫn trẻ khó học với trẻ chậm phát triển hoặc coi là thiếu ý thức, ñộng cơ học tập…
- nguyên nhân mà cha mẹ, thầy cô la mắng bằng những ngôn từ như “chậm
chạp; lười biếng; bướng bỉnh; ngu ngốc”, thậm chí là “vô dụng”
Theo Hiệp hội quốc gia về trẻ khó học của Hoa Kỳ thì ở Mỹ có khoảng 10% trẻ khó học, trên toàn thế giới có khoảng 20 % trong số trẻ ñi học Ở Việt Nam hiện nay ñã triển khai một số ñề tài và dự án ñể tầm soát phát hiện, giúp
ñỡ trẻ như thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Tuy nhiên, ở Đà Nẵng chưa
có ñề tài nào nghiên cứu ñể tìm hiểu thực trạng trẻ khó học ở tiểu học Do ñó, ñây là một trong những vấn ñề ñang cần quan tâm hiện nay
Xuất phát từ những ñiều nêu trên, chúng tôi chọn ñề tài: “Thực trạng trẻ khó học ở các trường tiểu học trên ñịa bàn Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng” làm khoá luận tốt nghiệp
2 Mục ñích nghiên cứu
Trang 2Nghiên cứu đề tài này, nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng trẻ khĩ học
ở tiểu học ở Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng, từ đĩ đề xuất những định hướng
can thiệp giúp đỡ cho trẻ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hồ nhập cho trẻ cĩ nhu cầu
đặc biệt ở tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng trẻ khĩ học ở các trường tiểu học trên
địa bàn Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng
4 Giả thuyết khoa học
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, trong các trường tiểu học cĩ rất nhiều trẻ đang gặp khĩ khăn về đọc, viết và tính tốn Những trẻ khĩ đọc là những trẻ gặp khĩ khăn trong quá trình đọc bao gồm từ việc phân tích các âm và vần, nhầm lẫn những âm đối xứng nhau như b và d; đọc chậm và sai nhiều so với các bạn cùng lớp Những trẻ khĩ viết là những trẻ viết kém hơn hẳn so với các bạn cùng lớp về: tốc độ viết, cách trình bày bài viết, bài viết thường mắc nhiều lỗi chính tả, lỗi sử dụng dấu chấm câu và lỗi ngữ pháp; rất hạn chế trong việc hồn thành bài tập làm văn Trẻ khĩ học tốn gặp khĩ khăn trong
kỹ năng tính tốn Điều này thể hiện rất rõ khả năng nhận dạng con số, tính tốn, sử dụng tư duy vào quá trình giải bài tốn đố Trẻ khĩ học cĩ thể học kém tốn nhưng cĩ thể học khá mơn tiếng việt Những trẻ này hiện nay cĩ số lượng rất nhiều nhưng chưa được tầm sốt, chẩn đốn đánh giá và can thiệp
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận về trẻ khĩ học ở tiểu học
- Nghiên cứu thực trạng về trẻ khĩ học ở tiểu học
- Đề xuất một số định hướng can thiệp giúp đỡ trẻ khĩ học ở tiểu học
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 3- Địa bàn nghiên cứu: Đề tài do điều kiện và khả năng nên chúng tơi chỉ tiến hành trên khách thể là học sinh tiểu học ở hai trường tiểu học Hải Vân và Hồng Quang trên địa bàn Quận Liên Chiểu
- Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu 3 loại trẻ khĩ học (khĩ đọc, khĩ viết, khĩ tính tốn)
- Phương pháp nghiên cứu: do điều kiện chủ quan (thời gian, khả năng của bản thân) nên trong luận văn này chỉ tầm sốt trẻ khĩ học, cịn việc chẩn đốn
và can thiệp trẻ khĩ học cần cĩ sự giúp đỡ của các chuyên gia như chuyên gia tâm thần nhi khoa, chuyên gia tâm lý giáo dục, dược sĩ…
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu cơ sở lý luận thơng qua thu thập, xử lý, khái quát hố những thơng tin, những nghiên cứu thuộc các vấn đề cĩ liên quan tới đề tài của các tác giả trong và ngồi nước Thơng qua nghiên cứu lí luận để làm sáng tỏ khái niệm cơ bản của đề tài đây là cơ sở khoa học trong việc nghiên
cứu thực tiễn
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Bảng sàng lọc của giáo viên
- Mục đích: bảng sàng lọc trẻ khĩ học dành cho giáo viên nhằm phát hiện những dấu hiệu cơ bản của trẻ khĩ học trong số học sinh bình thường trong các lớp ở tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5
- Nội dung: Bảng sàng lọc trẻ khĩ học gồm 3 lĩnh vực trẻ gặp khĩ khăn gồm cĩ: khĩ khăn trong kĩ năng đọc, khĩ khăn trong kĩ năng viết, khĩ khăn trong làm tốn
Trong lĩnh vực trẻ khĩ khăn trong kĩ năng đọc bao gồm 7 yếu tố:
+ Khĩ khăn khi học các chữ cái
+ Khĩ khăn trong việc ghép vần
Trang 4+ Không hiểu những gì mình vừa ñọc
+ Khó phân biệt những âm ñối xứng như d và q, O và Q, …
+ Không phân tích ñược âm vần
+ Vốn từ ít, ngôn ngữ chậm
+ Khó khăn khi kể lại một câu chuyện ñã nghe theo trình tự
Trong lĩnh vực trẻ khó khăn trong kĩ năng toán gồm 6 yếu tố:
+ Khó học ñếm, ñọc chữ số
+ Khó khăn khi thực hiện 4 phép tính cơ bản
+ Khó khăn thực hiện phép tính có nhớ
+ Khó khăn nhận biết, chuyển ñổi các ñơn vị
+ Khó phân biệt các yếu tố hình học, áp dụng công thức tính chu vi, diện tích + Khó khăn khi giải bài toán có lời văn
Trong lĩnh vực trẻ khó khăn trong kĩ năng viết gồm 7 yếu tố:
+ Cầm bút vụng về viết lung tung
+ Khó diễn ñạt bằng ngôn ngữ viết
+ Khó nhớ những từ, chữ qua âm thanh
+ Khó phân biệt những từ phát âm gần giống nhau
+ Khó khăn khi sắp xếp các từ khi nói và viết
+ Tốc ñộ viết chậm và mắc nhiều lỗi chính tả
+ Sử dụng ít từ ngữ khi làm bài tập làm văn
Ngoài ra bảng sàng lọc còn ñưa thêm lĩnh vực giao tiếp gồm 4 yếu tố: + Không tuân thủ những kỹ năng tối thiểu trong giao tiếp
+ Khó khăn hiểu chuyện cười, câu nói dí dỏm hoặc lời chế giễu
+ Khó khăn khi thực hiện theo chỉ dẫn
6.2.2 Anket dành cho phụ huynh
Trang 5- Mục ñích: sau khi sàng lọc trẻ khó học thông qua giáo viên, chúng ta kiểm tra bảng anket dành cho các bậc phụ huynh ñề kiểm tra xem cha mẹ có phát hiện ra trẻ có những dấu hiệu trên hay không Và bảng ankét này cũng nhằm giúp các bậc phụ huynh có những nhận thức về tương lai của trẻ và có thái ñộ phù hợp với trẻ
- Nội dung của bảng sàng lọc của phụ huynh bao gồm 4 câu hỏi:
Câu 1 và câu 2: Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ của trẻ có dấu hiệu của khó học về dấu hiệu và nguyên nhân
Câu 3 và câu 4: Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ của trẻ có dấu hiệu của trẻ khó học về thái ñộ và ñịnh hướng tương lai cho trẻ
7 Cấu trúc luận văn
Gồm các phần sau:
- Mở ñầu
- Nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trẻ khó học ở tiểu học
Chương 2: Thực trạng trẻ khó học ở tiểu học trên ñịa bàn quận Liên Chểu
Trang 6NỘI DUNG Chương 1
Cơ sở lý luận về trẻ khó học ở tiểu học 1.1 Tổng quan về vấn ñề nghiên cứu
Trên thế giới, từ 1896, Morgan mô tả các trường hợp lâm sàng ñầu tiên, ông chia các rối loạn phát triển thành nhiều nhóm nhỏ
Đầu thế kỉ XX, một bác sĩ nhi khoa người Anh ñã mô tả một nhóm trẻ
em có khó khăn trong học tập mà ông cho rằng những khó khăn trong học tập
ñó là do sự rối loạn nào ñó trong của quá trình trí tuệ trong bộ não gây ra
Sau này vào năm 1940 hai bác sĩ là Stramss và Lehtinen ñã mô tả một nhóm trẻ em có vấn ñề về học tập và rối loạn hành vi mà ông nghĩ rằng chúng
có rối loạn chức năng nhẹ nào ñó của não bộ (Mild Dysfunction Of The Brain)
Trang 7Đến thập niên 1950, nghiên cứu của Cruickshank ở các nhĩm kém nhận thức, kém tập trung, rối loạn điều hịa vận động và hay bùng nổ và thấy cĩ chung mơ tả rối loạn chức năng não tối thiểu (Minimal Brain Dysfunction) nhưng khơng cĩ bằng chứng rõ ràng nào về thần kinh
Trước thập niên 1960, xuất hiện khái niệm tổn thương não chức năng
và kém trưởng thành Trong năm 1960, “Rối loạn chức năng tối thiểu của não” được đặt ra để mơ tả những trẻ em cĩ những khĩ khăn về sự phát triển hành vi và phối hợp vận động hoặc hành động nĩi
Trong thập niên 1970, người ta tập trung vào sự kém tập trung ở trẻ nghĩ cĩ tổn thương chức năng não tối thiểu Gần đây, cộng hưởng từ và khám tâm lý thần kinh và trắc nghiệm về ngơn ngữ học soi sáng cơ chế hoạt động của não về các điều kiện này
Ở Việt Nam, chỉ cĩ một số đề tài nghiên cứu vấn đề về trẻ khĩ học Lần đầu tiên trẻ khĩ học được đề cập tới vào năm 1993 Đề tài cấp bộ “Đặc điểm sinh lý trẻ chưa chín muồi tới trường” của Viện Tâm lý học sinh lứa tuổi thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam do GS Trần Trọng Thủy làm chủ nhiệm, đã phát hiện ra loại trẻ này trong các học sinh tiểu học đầu cấp I và bước đầu phân tích nguyên nhân, đề xuất phương pháp dạy học chỉnh trị cho học sinh này
Từ nghiên cứu tổng quan về vấn đề trẻ khĩ học chúng ta thấy, ở nước ngồi trẻ khĩ học được quan tới từ rất lâu và việc chẩn đốn cũng như can thiệp đã trở thành một lĩnh vực cĩ nhiều chuyên gia Ở Việt Nam, trẻ khĩ học chưa được quan tâm nhiều vì vậy trẻ khĩ học đang chịu nhiều thiệt thịi
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Hoạt động học của học sinh tiểu học
Để phát triển trí tuệ, tâm lý, nhân cách của mình trẻ phải lĩnh hội nền văn hố xã hội lồi người được kết tinh từ văn hố vật chất và văn hố tinh
Trang 8thần của con người biến nó thành cái riêng của mình Hoạt ñộng ñặc thù của con người ñược ñiều khiển bởi mục ñích tự giác là lĩnh hội các tri thức kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt ñộng nhất ñịnh, những giá trị ñó ñược gọi là hoạt ñộng học
Hoạt ñộng học của học sinh tiểu học là hoạt ñộng chủ ñạo Theo tâm lý hiện ñại, hoạt ñộng học chỉ hình thành và phát triển nhờ phương pháp nhà trường Tròn 6 tuổi trẻ em vào lớp một bằng hoạt ñộng học trẻ em sẽ có những biến ñổi tâm lý căn bản (trí tuệ, năng lực, hứng thú,…) Đối tượng của hoạt ñộng học là hệ thống các khái niệm khoa học và hệ thống tri thức có tính
Quá trình hình thành ñối tượng khoa học là cơ sở ñể hình thành năng lực mới của trẻ Hoạt ñộng học của học sinh tiểu học có các thành tố: ñộng cơ học tập, mục ñích học tập, các hành ñộng học Mục ñích khi ñứa trẻ bước vào bậc tiểu học là làm cho trẻ nắm ñược những kĩ năng cơ bản cần thiết cho các cấp học cao hơn Những kĩ năng này giúp trẻ nâng cao kiến thức về kiến thức khoa học căn bản phục vụ cho chính ñứa trẻ trong cuộc sống trong trường hợp trẻ không học hết bậc tiểu học
1.2.2 Khái niệm trẻ khó học
Trang 9Trẻ khó học có nhiều thuật ngữ khác nhau như: rối loạn học tập (Learning Disorder/DSM- IV), khác biệt học tập (Learning Difference), khó khăn học tập (Learning Difficulty), rối loạn ñặc hiệu về sự phát triển các kỹ năng ở nhà trường (Specific Developmental Disorders Of Scholastic Skills – SDSS/ICD- 10) Nhưng hiện nay thuật ngữ trẻ khó học (Learning Disabilities
- LD) ñã trở thành thuật ngữ sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới
Trẻ khó học là những trẻ gặp khó khăn về khả năng nghe, suy nghĩ, nói, ñọc, viết, ñánh vần, làm toán mặc dù trí tuệ và kĩ năng sống của trẻ vẫn bình thường, nguyên nhân gây ra không phải là do các khiếm khuyết như khiếm thị, khiếm thính, khiếm khuyết vận ñộng, chậm phát triển tâm thần, rối loạn cảm xúc, bất lợi về môi trường văn hóa và kinh tế mà do những tổn thương bên trong não gây ra
Trí tuệ của trẻ khó học ở mức trung bình hoặc trên trung bình một chút
ít khi chúng ta dùng các trắc nghiệm trí tuệ ñể khảo sát Tuy nhiên học sinh này không có khó khăn lớn về các kĩ năng sống trong nhà trường và ngoài xã hội Trẻ có thể lực bình thường, có thể tham gia các trò chơi với các trẻ khác trong trường, hàng xóm, láng giềng, hay ngoài xã hội Khả năng giao tiếp với bạn bè thầy cô những người xung quanh giống như trẻ bình thường ñôi khi
mọi người còn cho rằng trẻ này “láu cá”
Các khiếm khuyết như khiếm thị, khiếm thính hoặc chậm phát triển trí tuệ cũng gây ra những khó khăn về học Những trẻ này mọi người dễ nhận thấy thông qua các biểu hiện bên ngoài và khi quan sát lâm sàng chúng ta có thể nhận ra và có thể can thiệp sớm ngay nếu có Còn ñối với trẻ khó học, những biểu hiện khiếm khuyết nó không hiện rõ ràng như những trẻ trên mà
nó là “khuyết tật ẩn tàng” trong chính bản thân ñứa trẻ Chỉ khi nó có những biểu hiện ñầy ñủ và rõ ràng nhất sau một thời gian giảng dạy hoặc theo sát thì mới có thể phát hiện ñược Do ñó, trẻ luôn chịu những thiệt thòi về tâm lý cũng như thể chất Về tâm lý, trên lớp trẻ không theo kịp bạn bè, giáo viên
Trang 10không biết nên trách mắng trẻ nên ở trẻ thường nảy sinh tâm lý tự ti, co mình lại Về nhà, do không theo kịp các bạn và giáo viên giảng dẫn ñến kết quả thấp và cha mẹ lại trách mắng và có thể ñánh và trách phạt hoặc ép trẻ học thêm Nhưng mọi người ñâu biết rằng trẻ không thể học ñược nếu không có một phương pháp phù hợp
Nhưng ñể xác ñịnh một trẻ có phải là trẻ khó học hay không ñó là một ñiều không dễ dàng chút nào Bởi vì trẻ khó học nằm ở trạng thái ranh giới giữa bình thường và không bình thường nhưng không phải là trẻ chậm phát triển trí tuệ Do ñó, trẻ khó học thường bị nhầm lẫn với trẻ chậm phát triển
Trẻ khó học ñều có trí tuệ bình ở mức trung bình hoặc cao hơn chút ít, nhưng chúng gặp rắc rối trong việc xử lý các thông tin ñi qua các giác quan của chúng mặc dù các giác quan của trẻ biểu hiện bên ngoài như trẻ bình thường
Do vậy, trẻ thường gặp khó khăn trong nền giáo dục chung so với những trẻ khác mà nguyên nhân gây ra không phải bởi một yếu tố mà có nhiều yếu tố không rõ ràng Mà một trong những nguyên nhân là do các rối loạn ảnh hưởng ñến khả năng thu nhận và xử lý thông tin của bộ não Quá trình xử lý thông tin của não bộ sử dụng ñể học thường gồm 4 yếu tố: tiếp nhận, tổ hợp, tích trữ và áp dụng
- Khâu tiếp nhận: Theo phần trăm thông qua các giác quan như thị giác, thính giác Khó khăn với cảm giác thị giác có thể nguyên nhân vấn ñề nhìn nhận hình dạng, vị trí, kích thước, của các kiến thức nhìn thấy Trẻ khó học gặp vấn ñề thị giác ở chỗ thứ tự các chữ cái hoặc khó khăn với thính giác khi nghe lời của giáo viên giảng bài mà không thể xử lý kịp các thông tin mà giáo viên cung cấp trong thời gian cùng lúc
- Khâu phối hợp: Khi các thông tin ñược tiếp nhận qua các giác quan thì nó trở thành nguồn dữ liệu cảm giác, tri giác ñược hiểu theo một cách riêng của trẻ ñều ñược giải mã, ñược phân loại ở ñịa ñiểm liên tiếp hoặc liên
Trang 11quan tới một quá trình học tập trước ñó Trẻ khó học không thể nhớ những thông tin liên tiếp như những ngày trong tuần, có thể hiểu ñược khái niệm mới nhưng không thể tổng quát nó tới vùng khác trong công việc học tập hoặc
có thể học ñược nhưng không thể ñặt những sự kiện ñó cùng nhau nhìn như một “bức tranh lớn”
- Khâu tích trữ hay ghi nhớ: Ghi nhớ các vấn ñề có thể xảy ra trong một thời gian ngắn hoặc kỉ niệm ñang làm việc hoặc trong thời gian dài
- Khâu truyền thông tin: Khâu cuối cùng bộ não phải gửi thông tin quay trở lại hệ thần kinh và cơ thể Bộ não sẽ gửi thông tin ra ngoài thông qua từ (ngôn ngữ hay lời nói) hoặc thông qua các hoạt ñộng của cơ thể như viết, vẽ,
cử chỉ, (ñộng tác cử chỉ phi ngôn ngữ) Việc không có khả năng tiếp thu kiến thức bằng ngôn ngữ dựa trên ngôn ngữ sẽ gây trở ngại ñến khả năng ñọc, ñánh vần, viết ở ñộ tuổi tương ứng của trẻ Tuy nhiên, những khuyết tật này không làm suy giảm trí thông minh của trẻ Thường trí tuệ của trẻ từ mức trung bình trở lên
Đối với học sinh tiểu học, hoạt ñộng học tập là hoạt ñộng ñóng vai trò chủ ñạo trong sự phát triển nhận thức và nhân cách của các em Các em dành một lượng thời gian lớn ñể tiến hành hoạt ñộng học tập tại lớp Việc phát triển các kĩ năng ñọc, viết, tính toán là nhiệm vụ trọng tâm ñối với mỗi học sinh ở bậc tiểu học Vì vậy, ñây là giai ñoạn dễ phát hiện ra trẻ thông qua các biểu hiện ở bốn kĩ năng cơ bản làm nền tảng cho việc học Những triệu chứng của trẻ khó học ñược biểu hiện thông qua sự trì hoãn những phát triển kỹ năng cơ bản trong nhà trường như khó khăn trong kỹ năng ñọc, viết, tính toán so với với những trẻ cùng lớp Nếu không thành thạo các kĩ năng cơ bản này ngay từ sớm thì trẻ thường thiếu tự tin, ít hứng thú và bỏ dở giữa chừng khi thực hiện các nhiệm vụ học tập Hiện nay, các trẻ khó học ñang học trong các trường tiểu học bên cạnh các em bình thường Nếu không ñược phát hiện kịp thời thì
Trang 12chúng sẽ không thể theo kịp các bạn bè trong lớp sẽ dẫn ñến lưu ban và có thể
bỏ học
Một số dấu hiệu nhận biết của trẻ khó học gồm có:
- Có biểu hiện chênh lệch giữa trí thông minh thực tế (kĩ năng sống) và trí thông minh học tập (kết quả học tập tại trường) Các em không gặp khó khăn lớn ñối với mối quan hệ với bạn bè, thầy cô hay giải quyết các tình huống nhiệm vụ trong cuộc sống hàng ngày nhưng kết quả học tập của các em rất kém
- Học sinh gặp khó khăn trong khi học ñánh vần, ñọc, viết chính tả hoặc thực hiện các phép tính toán Kết quả học tập môn Tiếng Việt hoặc môn Toán của các em thấp hơn hẳn so với các em trong lớp rất nhiều
- Học sinh học kém không phải do các nguyên nhân do lười biếng hay
bị các khuyết tật như khiếm thị, khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ, khuyết tật vận ñộng, mắc các rối loạn cảm xúc hoặc ít có cơ hội học tập
- Học sinh thường thiếu tự tin, ít hứng thú và chú ý tới các hoạt ñộng học tập
Các trẻ này không thể ñược cứu chữa và lành nhưng với sự nuôi dưỡng dạy dỗ ñúng và phát hiện sớm trẻ này có thể ñạt ñược thành công trong học tập và tiếp tục thành công trong cuộc sống sau này
1.3 Một số vấn ñề về trẻ khó học ở tiểu học
1.3.1 Đặc ñiểm chung trẻ khó học ở tiểu học
Mỗi một trẻ khó học thì có ñặc ñiểm riêng ñặc trưng Một học sinh bị hạn chế, khó khăn trong lĩnh vực này nhưng lại có khả năng trong lĩnh vực khác Khi các ñặc ñiểm ñó tác ñộng qua lại lẫn nhau sẽ tạo nên những nét tính cách riêng của từng học sinh Vì thế, việc xác ñịnh ñặc ñiểm biểu hiện của những trẻ khó học ñòi hỏi cần có thời gian và công sức Trong thực tế, có
Trang 13nhiều trường hợp trẻ có nhu cầu ñặc biệt cũng có những biểu hiện giống như trẻ khó học như trẻ ADHD, ADD, PDD…
1.3.1.1.Khả năng nhận thức
* Khả năng ghi nhớ
Dựa trên những ñặc ñiểm của trí nhớ mà người ta phân biệt ñược học sinh khó học với những học sinh bình thường Những trẻ khó học thường khó nhớ ñược các thông tin thông qua tri giác thị giác và thính giác Những trẻ khó học thường có những biểu hiện rối loạn trí nhớ mô thức – chuyên biệt ñược biểu hiện ở các khuyết tật về thao tác ghi nhớ và hồi tưởng Ví dụ như các học sinh thường quên ñánh vần các từ, các cách làm toán cho dù giáo viên
ñã hướng dẫn rất tỉ mỉ trong các tiết học trước và ñã thực hiện thành thạo kiến thức ñó Trí nhớ của trẻ này thường có ñặc ñiểm sau:
- Không chủ ñộng sử dụng những thủ thuật ghi nhớ mà học sinh bình thường hay sử dụng Ví dụ ñể học thuộc các thông tin của bài học, những học sinh bình thường sẽ chủ ñộng ñưa ra các thủ thuật giúp mình ghi nhớ tốt hơn như: xếp chúng thành một nhóm, ñặt ra các ñiểm mốc quan trọng, gắn nó với ñặc ñiểm
- Thường gặp khó khăn trong ghi nhớ các sự kiện vì vốn từ của học sinh bị hạn chế Các học sinh không thể nhớ ñược ñầy ñủ các thông tin ñó khi
nó chỉ ñược cung cấp thông qua một kênh thông tin là nói Việc xử lý âm thanh chậm hơn không cho phép các học sinh khó học không có ñủ thời gian
ñể nạp ñủ thông tin ñó trong bộ nhớ ngắn hạn Do ñó những gì trình bày trước học sinh của giáo viên sẽ mất ñi không lưu giữ ñược gì trong bộ nhớ ngắn hạn
và do ñó không có nguyên liệu cho bộ nhớ dài hạn Trẻ khó học thường bị khiếm khuyết liên quan tới bộ nhớ ngôn ngữ và quá trình giải mã, xếp loại và gợi lại thông tin trước ñó ñã ñược truyền tải tới học sinh thông qua kênh ngôn ngữ nói
Trang 14* Khả năng tập trung
Một học sinh bình thường hoạt ñộng học tập ñòi hỏi học sinh vừa phải
cố gắng duy trì sự tham gia và nỗ lực hoàn thành một khối lượng bài tập nhất ñịnh vừa phải di chuyển chú ý tập trung từ ñối tượng này sang ñối tượng khác khi ñược yêu cầu Đối với trẻ khó học, trẻ này thường bị chi phối bởi nhiều kích thích của tác nhân cũ nên rất khó di chuyển hướng chú ý của mình sang một tác nhân mới, thường xuyên bị hút theo các kích thích phụ bên ngoài Ví
dụ như trẻ rất khó khăn trong trẻ vừa phải nghe giáo viên giảng bài vừa phải nhìn giáo viên viết trên bảng
Sức bền chú ý của trẻ khó học thường kém hơn các học sinh bình thường nên chỉ tập trung trong thời gian ngắn luôn lơ ñãng hay bị chi phối bởi các hoạt ñộng xung quanh Đây là nguyên nhân chính dẫn ñến trẻ này khó thích nghi trong trường tiểu học và khó khăn trong việc tiếp thu và vận dụng những kỹ năng cơ bản trong học tập của các em
Như vậy, trẻ khó học mất khả năng tập trung chú ý theo các mệnh lệnh ngôn ngữ, cũng như hiện tượng dễ bị chi phối, di chuyển chú ý sang các kích thích phụ ngoại lai Chính sự sao nhãng chú ý cao ñã dẫn ñến những khó khăn trong việc hình thành khả năng kiểm soát hình thành kỹ năng cơ bản
* Những vấn ñề học tập
Mọi trẻ khó học có vấn ñề về học tập ở các mức ñộ rất khác nhau Các học sinh này có thể học kém một số môn hoặc tất cả các môn học Nhưng ñặc ñiểm thể hiện rõ nhất trong quá trình học tập của những học sinh này là thường gặp khó khăn trong những kĩ năng cơ bản như kĩ năng ñọc, kĩ năng viết, kĩ năng tính toán
- Hầu hết các trẻ khó học ñều có kết quả học tập kém ñặc biệt là ñiểm
số thấp so với các bạn trong lớp ñặc biệt là những môn mà trong ñó hình
Trang 15thành cho học sinh tiểu học những kỹ năng học tập cơ bản như ñọc, viết, tính toán trong các môn tập ñọc, chính tả, tập làm văn, toán
- Các kĩ năng chuyên biệt trong học tập của trẻ khó học có thể giảm sút nếu không ñược giáo dục trong một môi trường phù hợp Điều này ñược thể hiện rõ ở những trẻ khó học ở những năm học cuối cấp tiểu học
- Trẻ khó học thường không có khả năng học các môn học sử dụng các
kỹ năng cơ bản Những học sinh khó học gặp khó khăn trong kỹ năng cơ bản sau:
Khả năng ñọc
Trong nhà trường tiểu học khả năng ñọc là một kỹ năng cơ bản và là kĩ năng quan trọng nhất trong học tập của học sinh ở tiểu học Nếu em học sinh nào ñó ñọc kém thì khó có thể xếp loại trẻ ñó ở học lực trung bình Thông thường trẻ 6 tuổi mới ñủ ñiều kiện về sinh lý và tâm lý ñể ñọc Tuy nhiên những trẻ có biểu hiện ñọc kém thường xuất hiện trước 5 tuổi Nhưng cho ñến
6 tuổi tức là khi trẻ ñi học tiểu học thì người ta mới xác ñịnh ñược ñúng mức
ñộ ñọc kém của các em từ ñọc kém ñến mù ñọc
Những trẻ khó học thì khả năng ñọc của trẻ rất kém cho dù trẻ nhận ñược sự hướng dẫn giống như các bạn cùng lớp Những học sinh này thường gặp khó khăn trong quá trình ñọc bao gồm từ việc phân tích các âm và vần, nhầm lẫn những âm ñối xứng nhau như b và d; ñọc chậm và sai nhiều so với các bạn cùng lớp Nhưng những trẻ khó học lại có khả năng giải quyết các nhiệm vụ về không gian, hình ảnh, ñộng cơ và không mang tính lời nói
Mặc dù trẻ có những khó khăn trong khi ñọc nhưng vẫn có thể cải thiện ñược thông qua chương trình giáo dục phù hợp và ñựơc bắt ñầu từ sớm và duy trì hỗ trợ cá nhân thường xuyên
Khả năng viết
Trang 16Trẻ khó học gặp khó khăn trong khả năng viết Những học sinh này thường viết chữ rất xấu, và thiếu khả năng di chuyển các thao tác trong khi viết
Học sinh thể hiện sự yếu kém trong lập dàn bài cho môn tập làm văn Nếu viết thì các bài văn của trẻ này thường không mạch lạc, khó có thể viết những câu ghép Trong mỗi ñoạn văn, trẻ thường sử dụng từ rất hạn chế, viết câu và ñoạn văn không hợp logic hoặc không ñúng
Việc dạy viết học sinh tiểu học thường ñược dạy từ lớp 1 Các hoạt ñộng chuẩn bị cho trẻ tập viết chữ như vẽ hình, tô màu bắt chước ñược tiến hành ñầu tiên Sự hình thành các nét chữ, con số, từ ñược củng cố tất cả các môn trong quá trình học từ lớp 1 ñến hết lớp 3 Sau lớp 3 học sinh viết bài tập làm văn nhiều hơn Viết ñược bài tập làm văn coi như là trẻ có thể diễn ñạt ñược ý kiến riêng của mình Khi hướng dẫn, giáo viên rất chú ý tới kĩ năng ñặt câu, việc sử dụng ngữ pháp, và cách trình bày các ý tưởng của học sinh
Viết tay là một hình thức hoạt ñộng phức tạp ñòi hỏi học sinh phải phối hợp kết hợp nhiều cơ quan nó trở thành một chuỗi kĩ năng khác nhau Vì thế
có rất nhiều yếu tố khác nhau gây khó khăn trong quá trình viết: các vấn ñề về
cơ vận ñộng, vấn ñề về thị giác, trí nhớ hình ảnh kém Trẻ khó học gặp khó khăn trong kỹ năng viết ñược thể hiện trong vài ñặc ñiểm sau:
- Kém hơn hẳn so với các bạn cùng lớp về: tốc ñộ viết, cách trình bày bài viết, bài viết thường mắc nhiều lỗi chính tả, lỗi sử dụng dấu chấm câu và lỗi ngữ pháp
- Rất hạn chế trong việc hoàn thành bài tập làm văn: học sinh mắc rối loạn này thường sử dụng rất ít từ ngữ, từ ngữ không linh hoạt, không biết các thủ thuật ñể diễn tả và trình bày bài văn một cách hiệu quả
Khả năng tính toán
Trang 17Trẻ khó học gặp khó khăn trong kỹ năng tính toán Điều này thể hiện rất rõ khả năng nhận dạng con số, tính toán, sử dụng tư duy vào quá trình giải bài toán ñố Trẻ khó học có thể học kém toán nhưng có thể học khá môn tiếng việt
1.3.1.2 Đặc ñiểm về xã hội cảm xúc
Nhà trường và gia ñình luôn kỳ vọng nhiều vào kết quả học tập của các
em Nhiều học sinh cho dù cố gắng bằng nhiều cách nhưng kết quả học tập không tốt khiến các em trở nên buồn chán, chán nản, suy giảm ñộng cơ học tập, và có nhiều hành vi có vấn ñề Trong ñó có một số em còn mất niềm tin vào chính bản thân mình và người khác, nảy sinh tâm lý tự ti, coi thất bại của mình là ñiều ñương nhiên Các em tự lý giải nguyên nhân là do mình thiếu khả năng về mọi mặt Trẻ khó học thường có mức ñộ tâm lý không ổn ñịnh từ cấp ñộ nhẹ tới nghiêm trọng Hầu hết những trẻ khó học không ñạt mức ñộ thích nghi về tâm lý Tuy nhiên thực tế cho thấy không có một ñặc ñiểm hay công thức chung về các biểu hiện của tính cách, sự thích nghi về mặt tâm lý, năng lực xã hội, khả năng tự hiểu mình Trẻ tự ñánh giá mình thấp trong nhận thức và trong học tập do bị rối loạn các kỹ năng cơ bản phục vụ cho quá trình nhận thức và học tập Trong khi ñó hầu hết các em ñều có trí tuệ bình thường
ở mức trung bình trở lên Những khó khăn trong quá trình học tập của học sinh tiểu học ñều ñược các giáo viên ñánh giá và nêu ra nguyên nhân không phải là do các em lười học hay thiếu nỗ lực hoặc do trí tuệ không bình thường Vì thế xác ñịnh và can thiệp sớm về tâm lý cũng như giáo dục thì có thể hạn chế tối ña những khiếm khuyết mang tính xã hội
Do gặp khó khăn trong hình thành các kỹ năng cơ bản nên trẻ bị thất bại trong học tập thể hiện thông qua kết quả học tập kém và kèm theo hành vi gây gổ và mang tâm lý tự ti, biểu hiện rối loạn về hành vi
Trang 18Trẻ khó học có kết quả học tập kém nhưng lại không thua kém bạn bè cùng trang lứa trong các lĩnh vực khác như trong mối quan hệ với bạn bè thầy
tố ảnh hưởng ñến quá trình tiếp thu kiến thức của trẻ như trẻ không học lớp mẫu giáo có thể gặp khó khăn hơn so với bạn bè cùng trang lứa ñã học qua lớp mẫu giáo Đối với những trẻ hay ốm và nghỉ học việc theo kịp bạn bè thường gặp khó khăn Tuy nhiên, những khó khăn ñó sẽ phần nào ñược giảm bớt nếu chúng ta xác ñịnh ñược chính xác các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tiếp thu kiến thức của trẻ
Ngoài sự tác ñộng của các nhân tố trên trẻ gặp khó khăn trong quá trình tiếp thu hoặc diễn ñạt kiến thức là do hoạt ñộng bất thường do những tổn thương não bộ
Tổn thương các vùng chức năng trên não Đa số trẻ khó học tổn thương các vùng não cấp III trước và sau gọi là vùng mái nơi tiếp giáp với 3 thuỳ: trán – ñỉnh – thái dương (nếu là vùng trước); tiếp giáp với 3 vùng: ñỉnh - thái dương – chẩm (nếu là vùng phía sau) (Xem A.R Luria: Cơ sở tâm lý học thần kinh và các sơ ñồ não của Brôtman) Vùng não cấp III là vùng vỏ phát triển cuối cùng trong tiến trình phát triển
- Tổn thương vùng phía trước, trên dưới vỏ não và hai bán cầu: tổn thương này gây ra cho trẻ có biểu hiện chung về kết quả học tập là kém môn toán trong ñó khó khăn nhất là giải các bài tập trí tuệ Thao tác cụ thể biểu hiện rối loạn theo hội chứng vùng trán
Trang 19Xét về mặt chức năng, chậm phát triển vùng trán não bộ sẽ làm cấu trúc hoạt ñộng trong ñó có hoạt ñộng trí tuệ mất tính hệ thống, các hành ñộng trí tuệ bị sắp xếp lộn xộn Trong cấu trúc hoạt ñộng, khâu yếu nhất là cơ sở hướng hành ñộng có biểu hiện rối loạn và theo cơ chế khác nhau:
a Kém bền vững, mất tập trung sao lãng chú ý
b Khả năng luân chuyển thao tác hành ñộng kém
c Quá trình xây dựng kế hoạch hành ñộng trên cơ sở hoạt ñộng ñịnh hướng bị rối loạn, mất khả năng kiểm tra và kiểm soát hành ñộng diễn ra
Các cơ chế trên bị rối loạn tuỳ thuộc vào các diện và các thuỳ chậm phát triển khác nhau:
+ Nếu vùng chậm phát triển là vùng trán vỏ phía trước thì học toán kém thường do nguyên nhân c chính gây nên Việc luân chuyển chậm các thao tác… ở vùng này xuất hiện và có nét ñặc thù riêng khác với chậm luân chuyển các thao tác do phát triển các vùng trán ñỉnh
+ Nếu vùng phát triển thuộc vùng nền não, trán giữa thì kết quả học kém thường do nguyên nhân a là chính gây nên
Song một cách chắc chắn có thể khẳng ñịnh là chậm phát triển vùng trán thì dù vùng nào, thuỳ nào thì triệu chứng của hội vùng trán cũng sẽ bộc lộ chỉ có nhiều hay ít, mức cao hay mức thấp mà thôi
- Chậm phát triển vùng phía sau bán cầu tổn thương vùng ñỉnh – chẩm Đặc ñiểm nổi bật bị mất trường thị giác ñược thể hiện không chỉ qua kết quả hình vẽ, của quá trình ñọc dẫn ñến trẻ khó học ñọc do không tri giác ñược từ, câu trong khi ñọc
- Chậm phát triển vùng thái dương bán cầu trái Đặc ñiểm nổi bật của trẻ này là ñiếc từ: khả năng nghe (thính lực) không giảm vì thế các âm thanh không phải ngôn ngữ tiếp nhận bình thường với ngưỡng tri giác âm thanh không thua kém các bạn cùng tuổi Khả năng nghe và phân biệt âm thanh –
Trang 20ngôn ngữ kém Nói cách khác có biểu hiện rối loạn khả năng tiếp thu âm thanh – ngôn ngữ do không nắm bắt ñược các thành phần âm của từ nghe nói
Hệ thống âm thanh cấu tạo từ trở nên không ổn ñịnh, từ và âm tiếp thu rời rạc không có mối quan hệ thống nhất, nhân quả Do vậy, trẻ hiểu nghĩa âm thanh ngôn ngữ rất khó khăn Học sinh nghe giảng hoặc nghe người khác nói thường không hiểu ñược vì lời giảng hoặc người nói ñối với học sinh là tập hợp các âm thanh pha trộn, quấy ñảo, ñặc quánh như cháo
Điều cần chú ý là chậm phát triển vùng này trên não không thể không ảnh hưởng các chức năng khác của ngôn ngữ như viết, ngôn ngữ truyền ñạt và
ở mức ñộ ít hơn là chức năng ñọc
Nhiều nhà nghiên cứu ñã cố gắng tìm hiểu các chức năng cụ thể của từng phần trong não bộ như thể là chức năng này hoạt ñộng ñộc với nhau Tuy nhiên khi tiếp cận, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các phần riêng biệt trong bộ não không hoạt ñộng tách biệt nhau mà thực tế chúng hoạt ñộng tương tác với nhau, phức tạp thông qua xung ñộng thần kinh Do vậy hiện tại các nhà nghiên cứu chưa thể phát hiện ra các rối loạn cụ thể thông qua việc chụp các lớp não Các bác sỹ phải sử dụng các bài kiểm tra tâm lý học thần kinh ñể xác ñịnh chức năng của não bộ hoặc ñể xác ñịnh xem liệu các chức năng ñó có bị thiếu hụt hay không
Tổn thương não bộ do nhiều nguyên nhân như do di truyền, nhiễm trùng trong thời gian mang thai và thời kì trẻ sơ sinh, hoặc do não bị tổn thương và nhiễm ñộc chì và các chất lạm dụng
1.3.2.2 Một số trở ngại tâm lý theo lứa tuổi
- Trẻ chưa sẵn sàng tâm lý cho việc học tập ở trường:
Sự thống nhất của các ñặc ñiểm tâm lý của chủ thể ñảm bảm sự khởi ñầu học tập có kết quả trong nhà trường Những trẻ chưa sẵn sàng tâm lý gây
Trang 21ra những khó khăn Trong ñó có hai dạng chuẩn bị tâm lý cho việc học tập trong nhà trường: riêng biệt và chung
Trong trường hợp thứ nhất các chỉ số cá nhân ñược xem xét chủ yếu thiên về sự phát triển trí tuệ và vận ñộng ñược so sánh với những chuẩn lứa tuổi ñã ñược ñưa ra trong các ño ñạc ñại trà Nếu chỉ số cá nhân không thấp hơn giới hạn cuối cùng thì ñứa trẻ sẵn sàng ñối với việc học tập tại trường Với tư cách là một chỉ số của sự sẵn sàng riêng biệt có thể sử dụng các chỉ số thành tích theo chương trình mẫu giáo: tính toán trong phạm vi cộng trừ 10, tốc ñộ ñọc…
Độ tin cậy mang tính dự báo không ñầy ñủ của các ño ñạc sự sẵn sàng riêng biệt buộc phải chú ý tới sự sẵn sàng về mặt nhân cách nói chung, ñược hiểu là một trình ñộ cần thiết của sự phát triển tâm lý chung, ñược quy ñịnh bởi sự phát triển ñầy ñủ ở trẻ trước tuổi ñi học Thuộc các chỉ số của sự sẵn sàng chung có ñặc ñiểm của tính chủ ñịnh của hoạt ñộng, sự hình thành giao tiếp với người lớn và bạn cùng tuổi, sự phát triển hành vi có tính nguyên tắc, tính sẵn sàng hợp tác với giáo viên trong công việc, thái ñộ tích cực ñối với trường học và với việc học tập…Nguyên tắc ñánh giá sự sẵn sàng cũng là việc
so sánh các chỉ số cá nhân với chuẩn lứa tuổi Ví dụ trắc nghiệm “Sự chín muồi học ñường” là trắc nghiệm của Kern – Ierasek có 3 tiểu trắc nghiệm: vẽ người (thể hiện trình ñộ phát triển tâm lý chung); vẽ phỏng theo một sơ ñồ mẫu về sự phân bố các dấu chấm (kỹ năng hành ñộng theo nguyên tắc hình thức); chép lại (“vẽ lại”) câu (biểu tượng về sự phân chia ngôn ngữ thành từ
và các chữ cái riêng biệt) Các chỉ số của từng tiểu trắc nghiệm ñược cộng lại, ñiểm tổng sẽ cho biết trình ñộ sẵn sàng và không sẵn sàng
- Một số trở ngại tâm lý khi trẻ chuyển từ mầm non sang bậc tiểu học Đây là bước ngoặt trong cuộc ñời của trẻ vì từ ñây trẻ sẽ sống một cuộc sống khác với lứa tuổi nhà trẻ - mẫu giáo Trẻ phải thay ñổi toàn bộ phương thức hoạt ñộng vận hành hành vi phù hợp với cuộc sống nhà trường Trẻ khó
Trang 22thích nghi với môi trường mới Môi trường mới với những yêu cầu mới ép trẻ phải thực hiện theo nghĩa vụ của học sinh: ñi học ñúng giờ, không ñược nghỉ
tự do, hoàn thành bài tập khi tới lớp, trong giờ học không ñược quay ngang quay dọc trêu bạn Điều ấy làm cho trẻ ức chế khi các thói quen kìm hãm, ñôi khi có hành vi bột phá, và bị cô giáo la mắng, quở trách dẫn ñến tình trạng chán học, hoặc không chú ý trong giờ học dẫn ñến kết quả học tập kém
Trẻ gặp khó khăn khi thiết lập các mối quan hệ với giáo viên, các bạn mới, với gia ñình Trẻ lúc ñầu với tâm lý háo hức khi ñến trường có nhiều bạn mới, tự hào khi ñược cô giáo khen Nhưng khi sau vài tuần việc học tập không còn quyến rũ trẻ nữa mà trẻ thường lơ ñễnh làm việc riêng, hứng thú của trẻ ñối với việc học giảm sút
Theo nhiều nghiên cứu, thông thường trẻ em sau 6 tuổi mới ñủ ñiều kiện sinh lý và tâm lý ñể học ñọc:
- Tri giác mắt thấy tai nghe, ñủ sức ñịnh hướng không gian, ñặc biệt phân biệt rõ phải trái, mới có thể nhận ra các chữ cái, các âm giống nhau, nhận ra nhịp ñiệu ñơn giản ví dụ phân biệt b và q, c và o…
- Có vốn từ vựng khá ñể hiểu nội dung những câu, những từ khi ñọc Nếu trẻ chưa ñủ các ñiều kiện trên thì dạy ñọc gặp rất nhiều khó khăn tốn công vô ích
Để ñọc cho ñúng một ñứa trẻ phát triển cần hai quá trình nguyên vẹn.:
Trang 23- Trẻ cần học phát âm những từ chưa biết bằng cách tách ra thành các chữ cái riêng lẻ sau ñó ghép chúng thành một từ như trước Việc này xem như tập phát âm hoặc kỹ năng về ngữ âm
- Trẻ cần phát triển kỹ năng nhìn những phần khác nhau của chữ hoặc toàn bộ một từ do những chữ ñó ghép lại Khi nghe một chữ, trẻ phải vận dụng hình ảnh thấy ñược của chữ ñó trong óc Với cách này trẻ phát triển hợp nhất các chữ cái ñược nghe với cái ñược thấy ñể tiềm thức của trẻ thêm vào vốn từ Một từ ñược học ñi học lại cuối cùng cũng ñược gửi vào vốn từ nhìn thấy của trẻ và sẽ ñược ñọc liền ngay khi trẻ nhận ra nó Tất nhiên ñây là ñòi hỏi cần thiết trước khi trẻ có kỹ năng ñánh vần với tầm quan trọng của nó
Trẻ khó học ñọc là khó khăn trong xử lý ngữ âm, gọi tên, tốc ñộ ñọc Trẻ khó học ñọc do rối loạn ngôn ngữ trí nhớ - thị giác xuất hiện khi tổn thương các vùng sau – dưới của vỏ thái dương: diện 21, 37 và một phần của diện 20 Triệu chứng cơ bản của trẻ khó học ñọc là sự suy giảm nhận biết các hình ảnh, khái niệm thị giác của từ Trong lâm sàng tâm lý học thần kinh, hình thức này gọi là mất trí nhớ ngôn ngữ gọi tên, ñược thể hiện ở các trẻ mất khả năng gọi tên các ñồ vật dù ñó là ñồ vật quen thuộc với trẻ Cơ chế gây rối loạn này là sự suy yếu mắt xích trí nhớ - thị giác trong hệ thống ngôn ngữ, làm gián ñoạn mối quan hệ giữa hình ảnh thị giác của từ dẫn ñến mất khả năng gọi tên
Trẻ khó học ñọc là do không nhận ra các chữ cái (hoặc các từ) hoặc chỉ ñọc ½ phần bên phải của bài khoá mà không nhận ra khuyết tật của mình
Trẻ khó học ñọc có thể ảnh hưởng tới bất kỳ phần nào của quá trình ñọc bao gồm khó khăn trong nhận biết chính xác và hoặc lưu loát của từ, giải
nghĩa từ, tốc ñộ ñọc, ñọc hiểu Trẻ khó ñọc biết ñến như là “mù từ”
Trẻ khó học ñọc bao gồm khó khăn nhận thức về cấu tạo âm, khả năng tách từ trong yếu tố âm thanh và khó khăn trong việc kết nối các chữ cái với
âm thanh của nó Dưới ñây là một số dấu hiệu nhận biết trẻ khó ñọc:
Trang 24- Trẻ khó ñọc khi bắt ñầu vào lớp 1:
+ Khi quan sát tranh thì trẻ thường ít chú ý tới nội dung
+ Khi ñược nghe kể chuyện trẻ gặp khó khăn trong việc nhớ nội dung, diễn biến và các chi tiết của câu chuyện
+ Trẻ thường có vấn ñề giao tiếp như: nói không rõ, bỏ phụ âm cuối, phát âm sai, ngắt nghỉ không ñúng chỗ, ngữ ñiệu không phù hợp; không gọi ñúng tên của những vật thông dụng, chậm nhớ thông tin
+ Trẻ tiếp thu chậm các biểu tượng và chữ cái
- Trẻ khó ñọc ở các lớp trên dựa vào ba tiêu chí quan trọng nhất ñánh giá kỹ năng ñọc bao gồm: Tốc ñộ ñọc thành tiếng; số lỗi ñọc sai; khả năng hiểu văn bản hay (ñọc hiểu) Thông thường nhận biết trẻ khó ñọc người ta căn
cứ vào 3 tiêu chí trên: tốc ñộ ñọc thành tiếng thấp hơn so với chuẩn tối thiểu( lớp trẻ ñang theo học); số lỗi ñọc sai nhiều; khả năng hiểu văn bản còn hạn chế Trong ñó chuẩn tốc ñộ ñọc thành tiếng: Lớp 1- 30 tiếng/phút; lớp 2 - 50 tiếng/phút; lớp 3 -70 tiếng/phút; lớp 4 - 90 tiếng/phút; lớp 5 - 100 tiếng/phút Dưới ñây là một số dấu hiệu ñể nhận biết trẻ khó học ñọc ở các lớp trên :
c Hiểu rất ít hoặc không hiểu nội dung bài ñọc
1.3.3.2 Trẻ khó học viết
Trang 25Trẻ khó học gặp khó khăn trong kỹ năng viết thường gọi là trẻ khó viết
Để viết ñòi hỏi sự kiểm soát tốt trong phối hợp ñộng tác chính xác tay và mắt
cũng như sự tiếp thu tiến trình từ trái sang phải trên trang giấy Trẻ khó học viết thường có kiểu cầm bút như ta thấy khỉ cầm cành cây, tức ngón cái nằm ngoài ngón trỏ theo góc vuông Trong nhiều trường hợp, tay trẻ bị run nhẹ khiến cho việc giữ bút ở mức ñộ nào ñó gặp khó khăn Toàn bộ khó khăn trên ñưa ñến việc trẻ phải nắm bút cho thật chặt nhằm ñạt ñược sự kiểm soát nào
ñó và cũng ñể giữ ñược bút trên trang giấy ñể chấn chỉnh sự kiểm soát ấy Do
ñó, thao tác trôi chảy của bút trên giấy bị hạn chế và chữ viết trở nên không tự nhiên và không ñều Nét chữ của trẻ không ñều nhau về kích thước từ lúc ñầu
và trẻ gặp khó khăn trong cách quãng chữ này với chữ khác Để cách quãng rất có thể do trẻ gặp khó khăn trong phối hợp tay với mắt và khả năng nhìn Nhiều trẻ cảm thấy khó viết từ trái qua phải nên càng hướng từ cách viết từ
phải qua trái Khả năng viết chữ rời như chữ in và chữ nối nhau dường như
chiếm tỉ lệ ngang nhau ở những trẻ khó viết Gần một nửa số trẻ này cảm thấy viết chữ rời dễ hơn vì dường như trẻ có sự dốc sức từng ñợt nhiều hơn trong
sự kiểm soát Số trẻ khác viết chữ nối dễ hơn vì bắt ñầu một chữ có dòng liên tục không bị gián ñoạn giúp việc viết nhẹ nhàng hơn
Trẻ khó học viết do tổn thương vùng não cấp II vỏ thái dương bán cầu não trái gây ra các rối loạn ngôn ngữ cảm giác Nên trẻ không có khả năng tách biệt ra một cách rõ ràng các âm tiết của tiếng mẹ ñẻ Trẻ không hiểu ngôn ngữ của người khác do mất khả năng tách âm tiết trong lời nói của người khác Đặc biệt những âm tiết giống nhau về mặt tri giác âm thanh gây khó khăn cho trẻ trong việc tiếp thu ngôn ngữ khi giáo viên ñọc ñể học sinh chép Thí dụ trẻ hay lẫn lộn khi tri giác các âm tiết r – d – l – x vv…, do vậy các từ như cái rét- cái dép, cái lét v.v… họ ñều cho là một từ Do vậy, trẻ khó học viết thường ñược thấy trẻ mất ngôn ngữ cảm giác bởi lẽ trẻ không rõ hình ảnh của từ cần viết, và việc nhắc lại của từ cũng rất khó khăn
Trang 26Dưới ñây là những dấu hiệu nhận biết trẻ khó viết:
+ Không viết ñược
+ Viết ñược nhưng kém hơn hẳn so với các bạn cùng lớp về: tốc ñộ viết, cách trình bày bài viết, số lỗi chính tả, lỗi sử dụng các dấu chấm câu và sử
dụng không ñúng ngữ pháp
+ Hạn chế trong việc hình thành các bài tập làm văn: sử dụng rất ít từ ngữ;
từ ngữ không linh hoạt; không biết vận dụng các biện pháp ñể hoàn thành bài
tập làm văn hiệu quả
1.3.3.3 Trẻ khó học toán
Trẻ học tính, học làm toán ñòi hỏi học sinh này phải biết sử dụng một
hệ thống kí hiệu và logic; con số, kí hiệu, biết ñếm, trên cơ sở ñó ñã biết suy luận, có ý niệm về ñại lượng (ít hoặc nhiều), về con số, bước ñầu về tập hợp
Tư duy mới có khả năng ñảo ngược mới có khả năng tính toán
Ở mẫu giáo chỉ có thể nhận ra từng nhóm, hiểu ñược tính bằng nhau trên cơ sở trực quan, sử dụng các ñồ vật hay hình ảnh; bước ñầu tập phân tích hoạt ñộng sau mới kết hợp với kí hiệu, cho tiếp xúc cần thiết với các kí hiệu trong quá trình hoạt ñộng hay ñể diễn ñạt ý ñồ của trẻ Cảm nhận ñược ý niệm trẻ khi học kĩ năng xuất phát từ tình huống thật Khi có khả năng tư duy logic, biết suy luận mới học ñược ñại số lúc ấy mới thoát khỏi hoạt ñộng hiện thực hay hoạt ñộng tưởng tượng tiến lên tư duy giả ñịnh và suy diễn Đi từ hiểu thế nào là con số ñến thao tác về con số và những thao tác ấy trở thành tự ñộng, hiểu ñược sự ño lường cuối cùng biết suy luận toán học, những bước ñi ấy bắt ñầu từ tuổi mẫu giáo với những trò chơi bước ñầu vận dụng lý thuyết tập hợp
Những trẻ khó học toán là những trẻ không có nền tảng về cảm xúc về
con số Trẻ này ñược biết ñến như là “mù con số” Chính xác hơn ñể nói về
trẻ khó học toán là những trẻ không có tri giác biểu tượng về con số Điều này
có nghĩa là chúng không có biểu tượng về số, chúng có thể ñếm 1, 2, 3, 4…
Trang 27nhưng chúng thật sự không có cảm giác số 5 là số 5 Chúng nhìn thấy số 4 như là số ñến sau số 3, chúng không nhìn thấy tương tác tạo nên các số Đối với những trẻ tổn thương vùng trán việc thực hiện các phép tính không phải là quá khó khăn
Tuy nhiên, dạng bài tập như lấy như 100 - 3 = 97 – 3 = 86 – 7 = liên tiếp cho ñến không thể trừ ñược nữa) luôn luôn ñòi hỏi sự luân chuyển thì lại
là vấn ñề ñối với họ Khi thực thi các bài tập, các thao tác tính toán thường bị thay thế bằng các suy luận như 93 – 7 = 84 vì 7 = 3 + 4; 93 – 3 = 90 và vì pháp tính có nhớ một chục nên kết quả là 80 + 4 = 84, trong nhiều trường hợp
do ảnh hưởng của ñịnh hình lặp lại, nên việc thực hiện phép trừ liên tục dược chuyển thành sự nhắc lại con số cuối cùng như (100 – 3 = 93….83…73 63…vv)
Với những bài toán có lời văn, việc giải quyết các bài tập này ñòi hỏi
có ñịnh hướng sơ bộ với những dữ kiện ñã cho trong ñầu bài, lên kế hoạch (hình thành chiến lược) giải bài tập, thực hiện các thao tác ñể giải quyết từng bước theo kế hoạch ñã ñề ra, so sánh ñối chiếu kết quả thu ñược với dữ liệu
ñã cho Nói cách khác giải bài toán có lời văn chính là thực thi một chương trình hoạt ñộng và chính chương trình này gây ra rối loạn ở người bệnh vùng trán
Các nhà nghiên cứu trên lâm sàng cho thấy, việc giải các bài toán chỉ cần một phép tính mà dẫn ñến ñáp số thì trẻ khó học toán hầu như không gặp khó khăn gì Nhưng khi nội dung bài phức tạp lên thì các khuyết tật bộ lộ rõ hơn (theo số liệu của A.R Luria và L.X Xvetcova) Thí dụ, khi ñọc các ñiều kiện ñầu bài, trẻ thường không nhắc lại ñúng và ñầy ñủ dữ kiện, thường bỏ qua một phần rất quan trọng là câu hỏi hoặc thay thế phần câu hỏi là tái hiện lại yếu tố nào ñó trong ñiều kiện ñã cho Trong trường hợp, thậm chí ñầu bài ñược nhắc lại ñúng và ñầy ñủ, cũng chưa ñủ ñể trẻ khó học toán giải quyết nhiệm vụ ñặt ra, bởi lẽ trẻ không thể tự ñặt ra ñược cho mình kế hoạch (chiến
Trang 28lược) giải quyết nhiệm vụ thường thay thế các thao tác tương ứng cần thiết bằng các thao tác khơng phù hợp với nhiệm vụ chung A R Luria đưa ra ví dụ
về bài tốn sau: “Trên 2 giá sách cĩ 18 quyển sách Số sách trên giá thứ nhất nhiều hơn số sách trên giá thứ 2 gấp 2 lần Hỏi số sách trên mỗi giá?” Trẻ khĩ học tốn để thực thi nhiệm vụ trên như sau: “rõ ràng rồi cĩ…18 quyển sách… trên một giá nhiều gấp đơi… nghĩa là 36… 36 và 18 = 54! ) Người làm thực nghiệm đã cố gắng yêu cầu trẻ xem lại cách giải bài tập của họ đã hợp lý chưa nhưng đều khơng thu được kết quả khác so với hiện trạng trên
Cĩ thể nĩi rằng việc quan sát quá trình giải bài tập phức tạp là phương tiện nhạy cảm trong chẩn đốn trẻ khĩ học tốn
Trẻ khĩ học tốn bị rối loạn các thao tác tính nhất là các thao tác cộng, trừ, nhân cĩ nhớ chẳng hạn khi thực hiện phép tính 30 – 7 = 3 nhưng tiếp sau
đĩ nhớ 1 vào đâu (bên phải hay bên trái) để tiếp tục phép tính thì khơng thực hiện được Kết quả là trẻ các thao tác tính bị rối loạn
Ảnh hưởng của trẻ khĩ tính tốn cĩ ảnh hưởng khơng thực hiện được các phép tính như vậy là trẻ khĩ học tốn thì yếu tố thực thi chủ yếu tới trẻ được thể hiện qua lo lắng thơng qua hành động gây rối mục đích chính là gây rối tạo nên sự chú ý về sự tồn tại của mình trong lớp và luơn tránh đối mặt với mơn tốn
Dưới đây là một số dấu hiệu trẻ khĩ học tốn:
+ Khĩ khăn trong việc đếm đọc, viết và so sánh các chữ số; mắc nhiều lỗi khi thực hiện các phép tính cơ bản nhất là số cĩ nhiều chữ số, số thập phân và
phân số
+ Khĩ khăn trong việc nhận biết và chuyển đổi các đơn vị đo (độ dài, khối
lượng, thời gian)
+ Khĩ khăn trong việc phân biệt các yếu tố hình học và áp dụng cơng thức
tính chu vi, diện tích và các hình cơ bản
Trang 29+ Khĩ hình dung và tạo mối liên hệ giữa yêu cầu của bài tốn với việc giải
bài nên hạn chế trong việc giải tốn cĩ lời văn 1.4 Chẩn đốn trẻ khĩ học
1.4.1 Nguyên tắc chẩn đốn trẻ khĩ học
1.4.1.1 Nguyên tắc tiếp cận đồng bộ
Đây là nguyên tắc cơ bản của chẩn đốn của sự phát triển bất bình
thường Nghĩa là tồn diện để địi hỏi khảo sát đánh giá tồn diện của trẻ bao
gồm khơng chỉ trí tuệ, nhận thức mà cịn hành vi, tình trạng thị giác, thính
giác, vận động, trương lực thần kinh, tính hệ thống của hoạt động thần kinh
mà cịn cả tâm lý của trẻ do ảnh hưởng của mơi trường sống của trẻ
1.4.1.2 Nguyên tắc nghiên cứu trẻ cĩ hệ thống và trọn vẹn
Nguyên tắc này thể hiện người nghiên cứu khơng chỉ nắm bắt các biểu
hiện riêng lẻ của những tổn thương và rối loạn trong phát triển của trẻ khĩ học
mà cả các rối loạn phát triển mà cả mối quan hệ giữa chúng, sắp xếp chúng
theo thứ bậc tổn thương và rối loạn đĩ trong sự phát triển Để chẩn đốn trẻ
khĩ học cần phải đặt nhiệm vụ và cĩ một hệ thống phương pháp chẩn đốn
thích hợp với các nhiệm vụ đặt ra
1.4.1.3 Nguyên tắc nghiên cứu sống động quá trình phát triển tâm lý trẻ
Các quy luật phát triển tâm lý cơ bản của trẻ bình thường vẫn duy trì ở
trẻ khuyết tật Đồng thời trẻ khĩ học cĩ quy luật phát triển tâm lý riêng vì vậy
cần nắm bắt cả quy luật chung và riêng để chẩn đốn chính xác trẻ khĩ học
Và khơng chỉ như vậy chúng ta cịn cĩ thể định hướng được những khả năng
tiềm ẩn “vùng phát triển gần nhất ”
1.4.1.4 Nguyên tắc chẩn đốn liên ngành
Để tìm hiểu rõ cũng như chẩn đốn trẻ khĩ học cần kết hợp giữa các
chuyên gia ở các lĩnh vực chuyên mơn khác nhau như y học, tâm lý, giáo dục
Trang 30Thơng qua các chuyên mơn của các chuyên gia giúp chúng ta cĩ hệ thống được các thơng tin riêng lẻ về trẻ đảm bảo tính khách quan và trọn vẹn
1.4.1.5 Nguyên tắc chuyên mơn hố khuyết tật
Sự tổn thương các vùng khác nhau của não cĩ thể dẫn tới những rối loạn của một chức năng tâm lý, nhưng cơ chế rối loạn mỗi lần lại khác nhau
và phụ thuộc vào định khu tổn thương của não Điều này cho thấy chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân vấn đề dẫn đến những khĩ khăn của trẻ khĩ học là
do đâu và vạch ra cơ chế của nĩ để tìm hiểu khuyết tật nguyên phát, cơ sở rối loạn
1.4.2 Chẩn đốn trẻ khĩ học
1.4.2.Tầm sốt trẻ khĩ học
Cơng cụ tầm sốt bao gồm phiếu tầm sốt trẻ khĩ học do giáo viên đánh dấu để tìm ra những trẻ cĩ biểu hiện của trẻ khĩ học trong số những trẻ bình thường Sau khi đã khảo sát được số trẻ cĩ những dấu hiệu khác thường,
cĩ biểu hiện giống với trẻ khĩ học sẽ dùng bộ cơng cụ thăm khám để xác định chính xác đĩ cĩ phải là trẻ khĩ học hay khơng
1.4.3 Chẩn đốn trẻ khĩ học
1.4.3.1 Phương pháp chẩn đốn trẻ khĩ học
Với mục đích nghiên cứu để mơ tả rõ ràng về trẻ khĩ học cĩ thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau Qua thực tiễn nghiên cứu, chúng tơi sử dụng một số phương pháp để chẩn đốn trẻ khĩ học
Phương pháp WISC (Weschler Intelligen Scala for Children)
Phương pháp này giúp tách biệt được nhĩm học sinh khĩ học với những học sinh chậm phát triển trí tuệ Ngồi ra chúng ta cĩ thể đạt được mục đích nêu trên với bất kì phương pháp test định lượng nào cĩ chỉ định tìm hiểu thương trí tuệ để đo đạc nghiên cứu Trong đĩ cĩ phương pháp cân bằng trí tuệ cũng thuộc nhĩm phương pháp nêu trên
Trang 31Phương pháp Luria – 90
Phương pháp Luria – 90 do tiến sĩ tâm lý học (chuyên nghành tâm lý học thần kinh ở trẻ em) E.GXimernhixkaia biên soạn dựa trên cơ sở bộ test chẩn đốn định khu chức năng tâm lý cấp cao trên vở não người của A.R Luria va cĩ chỉnh lý kết hợp với những kết quả nghiên cứu hiện đại Phương pháp này cho phép hiểu cơ chế gây khĩ khăn trong học tập, từ đĩ đặt ra những định hướng khách quan cách khắc phục và hiểu rõ vấn đề trẻ đang gặp khĩ khăn
1.4.3.2 Thành phần tham gia chẩn đốn
- Bác sĩ nhi khoa: loại trừ vấn đề thể chất như bệnh mãn tính, khiếm khuyết các giác quan, kết hợp với các xét nghiệm y khoa, sinh học thần kinh, tâm thần kinh liên quan với tình trạng khiếm khuyết học tập và chậm phát triển tâm thần và rối loạn cảm xúc
- Chuyên viên tâm lý lâm sàng giúp nhận ra các yếu tố nguy cơ về xã hội và cảm xúc ảnh hưởng đến kết quả học tập ở trường
- Nhĩm cán bộ chuyên ngành: tâm lý gia, giáo dục viên đặc biệt, chuyên gia về khiếm khuyết học tập, âm ngữ trị liệu và cán sự xã hội
- Đánh giá sự phát triển thần kinh: khảo sát nhiều lãnh vực như vận động thơ, tinh, ngơn ngữ, trí nhớ để tìm điểm yếu gây thất bại học tập
Trang 32- Xét nghiệm cận lâm sàng: Khơng cĩ xét nghiệm thường quy nào xác định thất bại học tập trừ test về chất độc Hơn nữa, cần cĩ chỉ định ở từng trường hợp cụ thể
- Khảo sát sâu và kết hợp chuyên ngành khác
- Đánh giá của nhà tâm lý - giáo dục rất quan trọng để: tìm điểm mạnh, điểm yếu của trẻ trong học tập, xác định trí thơng minh, khả năng giao tiếp, khả năng thích nghi về cảm xúc và xã hội
1.4.4 Quy trình chẩn đốn trẻ khĩ học
1.4.4.1 Cơ sở khoa học của quy trình chẩn đốn
Theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì trẻ khĩ học (Learning disabilities) được xếp vào loại chậm phát triển tâm lý ranh giới giữa chậm phát triển tâm lý ranh giới là trạng thái cĩ cơ sở nhi tính hố các đặc điểm tâm sinh lý: đây là hình thức đặc biệt của sự phát triển bệnh ý với những biểu hiện đặc trưng nhưng khơng phải là chậm phát triển vì vậy phải tách trẻ khĩ học khỏi trẻ chậm phát triển tâm thần
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học, tật học, giáo dục học (Vưgơtxki, Glezerman, Luria…) trẻ khĩ học đang theo học chương trình phổ thơng vì vậy việc tầm sốt, phát hiện để chẩn đốn đúng, sớm cĩ thể giúp đỡ
về mặt sư phạm
Cĩ rất nhiều nguyên nhân gây ra những khĩ khăn cho việc học như:
- Tăng động kém tập trung (Attention deficit Hyperactivity disorder):
Cĩ thể tồn tại cả Khĩ khăn học tập và tăng động kém tập trung Phân biệt tăng động kém tập trung nguyên phát và thứ phát sau rối loạn ngơn ngữ, trầm cảm
… là khĩ khăn
- Chậm phát triển tâm thần (Mental retardation): chậm phát triển tâm
thần mức độ nhẹ thường chỉ phát hiện vào lúc trẻ học lớp sáu
Trang 33- Khiếm khuyết giác quan (Sensory impairment): khiếm thị tiên lượng
tốt hơn khiếm thính vì khơng ảnh hưởng đến khả năng nghe, khả năng ngơn ngữ
- Vấn đề cảm xúc (Emotional illness): 30-80% học sinh bị rối loạn cảm
xúc cĩ vấn đề học tập và hành vi ở trường Lịng tự trọng và hình ảnh bản thân thấp làm nặng lên nguyên nhân khác như khiếm khuyết học tập hay ADHD
- Bệnh mãn tính (Chronic diseases): 50-65% trẻ cĩ bệnh mãn tinh gặp
khĩ khăn học tập Bệnh mãn tính ảnh hưởng đến kết quả học tập như do đau, tác dụng phụ của thuốc, điều chỉnh cảm xúc khĩ khăn
- Rối loạn tính khí (Temperamental dysfunction): trẻ dễ giận dỗi và ấm
ức, cĩ khuynh hướng thu rút về lãnh vực xã hội
- Rối loạn cấu trúc gia đình và vấn đề xã hội (Family dysfunction and
social problems): cha mẹ chia tay, ly dị ,quá bảo bọc hay bỏ bê, người thân bệnh hay chết,tâm bệnh học của cha mẹ, lạm dụng thuốc và nghèo khĩ
- Điều kiện học tập ở trường kém hiệu quả (Ineffective schooling):
trường cơng hay tư, lớp lớn hay nhỏ, trường mới hay cũ, tỷ lệ học sinh giáo viên/học sinh, khen ngợi, khích lệ động viên
Để loại trừ những nguyên nhân trên chúng ta cần dùng những thang đo tâm lý do chuyên viên tâm lý chẩn đốn và sự thăm khám của bác sĩ chuyên nghành để loại trừ những nguyên nhân trên
1.4.4.2 Quy trình chẩn đốn
- Tầm sốt chọn lọc trẻ khĩ học trong số trẻ bình thường đang học ở tiểu học
- Sử dụng các tổ hợp các phương pháp để tách trẻ khĩ học do những nguyên nhân khác nhau khỏi trẻ chậm phát triển trí tuệ
Trang 34- Phân tích các kết quả xét nghiệm y học, tiểu sử bệnh cũng như quá
trình phát triển chung về thể lực và thần kinh của trẻ Phần này cĩ nhiều phần
tế nhị, bản thân gia đình bệnh nhi cũng muốn dấu, do vậy người hỏi phải nắm
bắt ý nghĩa của câu trả lời của người bệnh nhân
- Nghiên cứu tỉ mỉ những kết quả học tập, khối lượng các tri thức kỹ
năng, tìm ra được những khĩ khăn chính của trẻ, phân loại trẻ khĩ khăn học
đọc, viết hay tính tốn
- Ngồi ra trong quá trình chẩn đốn, quyết định về nguyên nhân chậm
phát triển tâm lý dẫn đến khĩ học cần chú ý khơng chỉ nghiên cứu nhận thức
đơn thuần về trẻ mà cả mối quan hệ với thầy cơ, cha mẹ trẻ, bạn bè trong
lớp…Trong trường hợp cần thiết chẩn đốn nguyên nhân gây cản trở học tập
của trẻ
- Kiểm tra các nguyên nhân tâm lý gây ra vấn đề về việc học của trẻ
như rối loạn cảm xúc, tự đánh giá bản thân thấp,…
1.5 Vai trị của cha mẹ và giáo viên đối với trẻ khĩ học ở tiểu học
1.5.1 Vai trị của cha mẹ đối với trẻ khĩ học ở tiểu học
Gia đình là người gần gũi nhất với trẻ, nên hiểu được quá trình phát
triển, nhu cầu năng lực của trẻ Chính vì vậy gia đình giữ một vai trị đặc biệt
quan trong trong việc giúp trẻ đối mặt với những khĩ khăn do rối loạn này
mang lại Gia đình cần phát hiện sớm và tiến hành giáo dục sớm Nội dung
giáo dục sớm thường gồm các vấn đề sau:
+ Luyện nghe cho trẻ, nĩi đúng, sửa tật phát âm
+ Dạy trẻ tìm hiểu mơi trường xung quanh
+ Dạy trẻ một số kỹ năng tự phục vụ
+ Dạy trẻ tham gia trị chơi hay bảo vệ trị chơi
+ Dạy trẻ cách cư xử và giao tiếp với người xung quanh
+ Dạy trẻ tập làm quen với đồ dùng học tập và bộ chữ cái