1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập ngữ văn lớp 9 luyện thi vào lớp 10 trung học phổ thông

119 2,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 2: Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí” - Bài thơ về tình đồng chí đã cho ta thấy vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cáchmạng, cụ thể ở đây là anh bộ đội hồi

Trang 1

Ôn tập ngữ văn lớp 9 luyện thi vào lớp 10 trung học phổ thông

Bài 1: “ĐỒNG CHÍ ” - CHÍNH HỮU.

A Kiến thức cần nhớ.

1.Tác giả

- Chính Hữu tên là Trần Đình Đắc, sinh năm 1926, quê ở Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

- Ông tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ Từ người lính Trung đoàn Thủ

đô trở thành nhà thơ quân đội - Chính Hữu làm thơ không nhiều, thơ ông thường viết vềngười lính và chiến tranh, đặc biệt là những tình cảm cao đẹp của người lính, như tìnhđồng chí, đồng đội, tình quê hương đất nước, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương

- Thơ ông có những bài đặc sắc, giàu hình ảnh, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ cô đọng,hàm súc

- Chính Hữu được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuậtnăm 2000

2 Tác phẩm

- Bài “Đồng chí” sáng tác đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiếnđấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông năm 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớncủa giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc

- Bài thơ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng củavăn học thời kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954)

- Bài thơ đi theo khuynh hướng : Cảm hứng thơ hướng về chất thực của đời sống khángchiến, khai thác cái đẹp, chất thơ trong cái bình dị, bình thường, không nhấn mạnh cáiphi thường

- Mạch cảm xúc (bố cục)

Phần 1: 6 câu thơ đầu: Lý giải về cơ sở của tình đồng chí Câu 7 có cấu trúc đặc biệt(chỉ với một từ với dấu chấm than) như một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinhtình cảm giữa những người lính

Phần 2: 10 câu thơ tiếp theo 9từ câu 8 -> 17) : Những biểu hiện cụ thể và sức mạnh củatình đồng chí, đồng đội của người lính

+ Đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng của nhau (Ruộng nương anh gửi bạn thân cày…… nhớ người ra lính)

+ Đó là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính (Áo anh rách vai… Chân không giầy)

+ Sự lạc quan và tình đồng chí đồng đội đã giúp người lính vượt qua được những giankhổ, thiếu thốn ấy

-Phần 3: 3 câu cuối: Chất thơ trong cuộc sống chiến đấu của người lính

+ Hai câu thơ với cách nói hoán dụ đã giới thiệu thật giản dị xuất thân của người lính:

họ là những người nông dân nghèo

+ Không hẹn đợi, chẳng thân quen, thậm chí xa cách quá chừng mà bỗng nhiên trở nênthân quen, gần gũi

- Tình đồng chí được hình thành từ sự cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lí tưởng, sát

cánh bên nhau trong hàng ngũ chiến đấu:

Trang 2

Súng bên súng đầu sát bên đầu

+ Tác giả đã tả thực những giây phút bên nhau cùng chiến đấu Tình cảm ấy thật ngọt

ngào, thân thương “Súng bên súng” là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu “Đầu sát bên đầu” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm

giao Phép điệp từ “súng, đầu, bên” tạo nên âm điệu khoẻ, chắc, nhấn mạnh sự gắn kết,

cùng chung lí tưởng, cùng chung nhiệm vụ

- Tình đồng chí nảy nở và trở thành bền chặt trong sư chan hoà và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui:

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

+ Câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm của một thời gian khổ Cái khó khăn thiếu

thốn hiện lên: đêm rét, chăn không đủ dắp nên phải “chung chăn” Nhưng chính sự

“chia ngọt sẻ bùi ấy” ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tình cảm của người đồng đội đẻ

họ gắn bó với nhau “Đôi tri kỉ” là đôi bạn rất thân, biết bạn như biết mình.Bạn chiến

đấu thành “tri kỉ”, về sau trở thành “đồng chí”

- Đến đây, câu thơ 7,8 được nhà thơ đột ngột rút ngắn và hạ xuống một dòng thơ thật đặc

biệt với hai tiếng: “Đồng chí”! Câu thơ ngắn, cùng với hình thức cảm thán mang âm

điệu vui tươi, vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định Hai tiếng “đồng chí”mới mẻ biết chừng nào, nửa quen, nửa lạ đã nói lên một tình cảm lớn lao, mới mẻ củathời đại “Đồng chí” theo nghĩa gốc là những người cùng chí hướng trong việc mưu đồmột sự nghiệp chung ở trong một tổ chức Nhưng đến bài thơ này thì tình đồng chí vừa

là tình chiến đấu vừa là tình thân Đó là một tiếng gọi sâu thẳm và thiêng liêng Tình

đồng chí, đồng đội của những người lính bắt đầu ngân vang từ hai chữ “đồng chí”.Dòngthơ chỉ có một dòng mà có tác dụng khép mở tài tình, khép lại đoạn một - một đoạn

đường từ “xa lạ” đến “quen nhau” và mở ra đoạn hai – những biểu hiện cao đẹp của tình

đồng chí

=> Tóm lại, đoạn thơ không nhiều lời mà kết tinh được chân lí lớn lao, đúng là một

phong cách thơ riêng của Chính Hữu: “Trong thơ, tôi cố gắng để nói cái cần nói, không nói dài, nói thừa Tôi mong có được sự hàm súc của lời thơ”.

b Những biểu hiện cảm động của tình đồng chí:

- là sự cảm thông sâu sắc tâm tư nỗi niềm của nhau Những người lính gắn bó với

nhau, họ hiểu đến những nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng đội mình:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Người lính đi chiến đấu để lại sau lưng mình những gì thân thương nhất của quê hương:

ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa… Từ “mặc kệ” cho thấy tư thế ra đi dứt

khoát của người lính Nhưng sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương, hình dung

những người ở nhà đang thương nhớ họ, dõi theo tin tức của họ HÌnh ảnh “giếng nước gốc đa” là hình ảnh thân thương của làng quê được nói nhiều trong ca dao xưa, được

Chính Hữu vận dụng, đưa vào thơ thật thật đâm đà, kín đáo mà ý nhị biết bao! Gian nhà,giếng nước, gốc đa được nhân hoá, đang đêm ngày dõi theo bóng hình anh trai cày ratrận? Hay “người ra lính” vẫn đêm ngày ôm ấp bóng hình quê hương? Biết bao nhớnhung! Những người lính không nói mình nhớ, lại chỉ nói người khác nhớ

- Tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người

lính:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Trang 3

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

+ Những gian lao, thiếu thốn trong cuộc sống của người lính những năm đầu kháng

chiến chống Pháp hiện lên thật cụ thể, chân thực: áo rách, quần vá, chân không giày….

Những ngày đầu kháng chiến, quan và dân ta trải qua muôn vàn khó khăn: thiếu vũ khí,

thiếu quân trang, thiếu lương thực, thuốc men,… Người lính ra trận “áo vải chân không

đi lùng giặc đánh”, quần áo rách tả tơi, ốm đâu bệnh tật, sốt rét rừng…

+ Chữ “biết” nghĩa là nếm trải, cùng chung chịu gian nan thử thách Các chữ “Anh với tôi”, “áo anh, quần tôi” xuất hiện trong đoạn thơ như một sự kết dính, gắn bó keo sơn

tình đồng chí thắm thiết cao đẹp

+ “Miệng cười buốt giá” thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan của người lính Trong gian

lao, nụ cười tuy thấm thía gian khổ, thiếu thốn mà vẫn hồn nhiên bởi họ có hơi ấm vàniềm vui của tình đồng chí

+ Hình ảnh thơ “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” thật xúc động và thấm thía: anh nắm

lấy tay tôi, tôi nắm lấy bàn tay anh, để động viên nhau truyền cho nhau tình thương Tình cảm chân thành và tha thiết ấy không diễn tả thành lời mà thể hiện bằng hành độnggiản dị, mộc mạc, không ồn ã nhưng thấm thía Hơi ấm ở bàn tay, ở tấm lòng đã chiến

thắng cái lạnh ở “chân không giày”, chiến thắng cái thời tiết “buốt giá” của những đêm

“sương muối giữa rừng”, chống chọi với những cơn “sốt run người”để “đi tới và làm nên thắng trận”

- Trong đoạn thơ, “anh” và “tôi” luôn đi đôi với nhau, có khi đứng chung trong một câuthơ, có khi đi sóng đôi trong từng cặp câu liền nhau Cấu trúc ấy đã diễn tả sự gắn bó,chia sẻ của những người đồng đội Vượt qua những cơn lạnh thấu xương chỉ có thể bằngnghị lực, bản thân, bằng sự nâng đỡ của tình người, tình đồng chí

c Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính.

- Ba câu cuối cùng kết thúc bài thơ bằng những hình ảnh thơ thật đẹp:

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

- Nổi lên trên nền cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo - hiện thực khắc nghiệt củanhững đêm rừng Việt Bắc là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” Đó

là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu Họ đã “đứng cạnh bên nhau” giữa cái nơi giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây

phút “chờ giặc tới” Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả… Tầm

vóc của người lính bỗng chốc trở nên lớn lao, anh hùng

- Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc: “Đầu súng trăng treo”- một hình ảnh cô đọng giàu

cảm xúc Đó là một hình ảnh thật mà bản thân CHữu đã nhận ra trong những đêm phục

kích giữa rừng khuya: “… suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn; rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật….”

- Nhưng Chính Hữu đã dùng hình ảnh vầng trăng treo trên đầu súng tạo ra những liên tưởng phong phú và giàu chất lãng mạn “Súng” biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện

thực khốc liệt “Trăng” biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, mơ mộng và lãng mạn Hai hìnhảnh “súng và “trăng” kết hợp với nhau tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người

Trang 4

lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng Phải nói đây là những phút kì diệu, sựthăng hoa cao độ của tâm hồn tình cảm, Chính Hữu mới có được những hình ảnh thơ đẹpnhất của chiến trường Hình ảnh ấy mang cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến - một nền

thơ giàu chất hiện thực và dạt dào cảm hứng lãng mạn (Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”) Vì vậy mà câu thơ này đã được Chính Hữu lấy làm nhan đề cho cả một tập thơ -

tập “Đầu súng trăng treo”

4 Tổng kết:

Tình đồng chí của người lính dựa trên những cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng.

Bài thơ thể hiện hình tượng người lính cách mạng và tình đồng chí của họ qua những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm.

5.Liên hệ, mở rộng.

Nhớ (Hồng Nguyên)

Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ

Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ

Quan nhau từ buổi “một hai”

Súng bắn chưa quen,

Quân sự mươi bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến

Lột sắt đường tàu,

Rèn thêm dao kiếm

Áo vải chân không,

Đi lùng giặc đánh

Ba năm rồi gửi lại quê hương

Mái lều gianh

Tiếng mõ đêm trường

Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng

Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa

- Ba thằng quặp chặt gió lùa vào đâu?

Nửa đêm sương gội mái đầu,Chòi cao phần phật mấy tàu lá khô (Lê Kim)

- Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế,Gió qua rừng, Đèo Khế gió sang (Tố Hữu)

- Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

- Người ra đi đầu không ngoảnh lạiSau lưng thềm nắng lá rơi đầy

(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)

Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông)

Bấm tay tính buổi anh đi

Mẹ thường vẫn nhắc: Biết khi nào về?Lúa xanh xanh ngắt chân đê

Anh đi là để giữ quê quán mìnhCây đa bến nước sân đìnhLời thề nhớ buổi mít tinh lên đườngHoa cau thơm ngát đầu nươngAnh đi chín đợi mười chờTin thường thắng trận, bao giờ về anh?”

- Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa

Cả Đô Thành nghi ngút cháy sau lưngNhững chàng trai chưa trắng nợ anh hùng….”

(Ngày về - Chính Hữu)

“ Ôi núi thẳm rừng sâu

Trung đội cũ về đâuBiết chăng chiều mưa mauNơi đây chăn giá ngắtNhớ cái rét ban đầu

Trang 5

Thấm mối tình Việt Bắc…”

(Chiều mưa đường số 5 – Thâm Tâm)

B Một số câu hỏi luyện tập

Câu 1: Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn cuối bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

Sử dụng hình ảnh tương phản đối lập : “ Rừng hoang sương muối” với những đêmdài lạnh giá đôis lập với những người lính đứng cạnh bên nhau trong cái nơi sự sống vàcái chết chỉ trong gang tấc Chính Hữu càng làm nổi bật sức mạng của tình đồng chí

Từ “ chờ” cũng đã nói rõ cái tư thế , cái tinh thần chủ động đánh giặc của họ Rõ ràngkhi những người lính đứng cạnh bên nhau vững chãi thì cái gian khổ , ác liệt của cuộcchiến bị mờ đi Tầm vóc những người lính bỗng trở nên lớn lao anh hùng

- Những câu thơ tự do đang trải dài thì câu kết lại thu vào trong bốn chữ “Đầu súngtrăng treo “làm nhịp thơ đột ngột thay đổi , dồn nén, trắc gọn, gây sự chú ý cho ngườidọc Trong đêm phục kích giặc, ngươi chiến sĩ bỗng phát hiện mũi súng như treo mộtvầng trăng Từ “ treo” đã tạo nên một mối quan hệ bất ngờ, độc đáo, nối liền mặt đất vớibầu trời, gợi những liên tưởng lí thú vừa hiện thực lại vừa lãng mạn

+ Hiện thực vì đêm khuya trăng trên vòm trời cao đã sà xuống thấp dần, ở một vị trí

và tầm nhìn nào đó, vầng trăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phụckích chờ giặc

+ Lãng mạn vì trong hoàn cảnh hết sức gian khổ khốc liệt : đêm đông giá lạnh , rừnghoang sương muối, cái chết cận kề, tâm hồn nhạy cảm của người chiến sĩ vẫn tìm thấychất thơ bay bổng trong vẻ đẹp bất ngờ của trăng “Súng” là biểu tượng của chiến đấu ,

“trăng” là biểu tượng của cái đẹp , cho niềm vui lạc quan , cho sự bình yên của cuộcsống Súng và trăng là hư và thực , là chiến sĩ và thi sĩ , là “một cặp đồng chí “tô đậm vẻđệp của những cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau Chính tình đồng chí đã làm chochiến cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp , vẫn thơ mộng , tạo cho họ sức mạnh và chiến thắng

=> Hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa dẹp vừa mang đầy ý nghĩa như “Đầu súngtrăng treo” Đây là một sáng tạo đầy bất ngờ Hình tượng này góp phần nâng cao giá trịbài thơ , tạo nên được dư vang trong lỏng người đọc

=> Như vậy tình cảm đồng chí trong bài thơ là tình cảm sâu lắng chân thành củanhững con người gắn bó keo sơn trong cuộcchiến đấu vĩ đại vì một lí tưởng chung

.

Câu hỏi tương tự : Sửa lỗi câu văn sau : Với hình ảnh « đầu súng trăng treo » đã diễn tảđầy sức gợi cảm mối tình tình đồng chí keo sơn trong bài bài thơ « đồng chí » được sángtác năm 1954 sau chiến thắng Việt Bắc

Triển khai đoạn văn có câu chủ đề trên

Câu 2: Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí”

- Bài thơ về tình đồng chí đã cho ta thấy vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cáchmạng, cụ thể ở đây là anh bộ đội hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp

+ Hoàn cảnh xuất thân: họ là những người nông dân nghèo ra đi từ hai miền đất xa nhau:

“ nước mặn đồng chua”, “ đất cầy lên sỏi đá.”

Trang 6

+ Họ ra đi vì nghĩa lớn (hai chữ “mặc kệ” nói được cái dứt khoát, mạnh mẽ mặc dù vẫnluôn lưu luyến với quê hương “giếng nước gốc đa ”

+ Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sốt rét run người, trangphục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá => Những gian khổ càng làm nổi bật vẻ đẹpcủa anh bộ đội: sáng lên nụ cười của người lính (miệng cười buốt giá)

+ Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí đồng đội sâu sắc, thắm thiết

+ Kết tinh hình ảnh người lính và tình đồng chí của họ là bức tranh đặc sắc trong đoạncuối của bài thơ

Câu 3.Theo em, vì sao tác giả đặt tên cho bài thơ về tình đồng đội của những người lính là “Đồng chí”?

Đó là tên một tình cảm mới, đặc biệt xuất hiện và phổ biến trong những năm cách mạng

và kháng chiến Đó là cách xưng hô phổ biến của những người lính, công nhân, cán bộ

từ sau Cách mạng Đó là biểu tượng của tình cảm cách mạng, của con người cách mạngtrong thời đại mới

Câu 4 : Phân tích giá trị nghệ thuật của hình ảnh hoán dụ mang tính nhân hoá trong câu thơ: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” (Tham khảo bài tập làm văn)

Hình ảnh “ giếng nước gốc đa” đã tô đậm sự gắn bó yêu thương của người lính vớiquê hương Hình ảnh ấy vừa được sử dụng như một phép hoán dụ ( Giếng nước gốc đabiểu hiện cho làng quê Việt Nam – quê hương người lính ) , vừa được sử dụng như mộtphép nhân hoá ( giếng nước gốc đa biết nhớ nhung người lính ) Nó giúp người línhdiễn tả một cách hồn nhiên và tinh tế tâm hồn mình Giếng nước gốc da kia nhớ người ralính hay chính tấm lòng người ra đi không nguôi nhớ về quê hương và đã tạo cho giếngnước gốc đa một tâm hồn ? Quả thực giữa người chiến sĩ và quê hương đã có một mốigiao cảm vô cùng ssâu sắc đậm đà Tác giả như đang gợi lên hai tâm tình đang soi vàonhau đến tận cùng

Câu 5 Phân tích bài thơ để thấy rõ chủ đề đồng chí hiện lên trong thơ Chính Hữu với rất nhiều dáng vẻ:

Chủ đề đồng chí hiện lên trong thơ Chính Hữu mang rất nhiều dáng vẻ “ Anh vớitôi” khi thì riêng rẽ trong từng dòng thơ để nói về cảnh ngộ của nhau : “ Quê hương anhnước mặn đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” ; khi lại chen lên đứng vàocùng một dòng: “ Anh với tôi đôi người xa lạ / Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Từ riên g lẻ đã nhập thành đôi , thành chung khăng khít khó tách rời : “ Súng bên súngđầu sát bên đầu / Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” Đây là những hình ảnh đầy ắp kỉniệm và ấm áp tình đồng chí Câu thơ đang từ trải dài, bỗng cô đọng thành hai tiếng

“Đồng chí” vang lên tha thiết ấm áp , xúc động như tiếng gọi của đồng đội và nó khắcghi trong lòng người về hai tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó Tình đồng chí là cùng giaicấp , cùng nhau từ những chi tiết nhỏ nhất của đời sống “Áo anh rách vai - Quần tôi cóvài mảnh vá- Miệng cười buốt giá- Chân không giầy” Trong buốt giá gian lao, các anhtruyền cho nhau hơi ấm tình đồng đội : “ Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” Những bàntay không lời mà nói được tất cả, các anh sát cánh bên nhau để cùng đi tới một chiềucao : “Đêm nay rừng hoang sương muối - Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới - Đầu súngtrăng treo” cùng chung chiến hào , cùng chung sống chết , đó chính là biểu hiện cao đẹpnhất của tình đồng chí Chính tình đồng chí đã khiến các anh ngay giữa nnguy hiểmgian lao vẫn thấy tâm hôn thanh thản và lãng mạn Và đó cũng chính là tình cảm xã hộithiêng liêng nhất , là cội nguồn của tình yêu nước , của sức mạnh con ngươờiViệt Nam

Câu 6

Trang 7

Có người chưa hiểu được hết câu thơ được coi là hay nhất trong bài thơ « Đồng chí » : « Đầu súng trăng treo »

- Vì sao trăng vốn vời vợi trên cao nhưng lại có thể treo trên đầu súng nơi mặt đất ?

- Với việc đặt trăng trên đầu súng , câu thơ đã gợi ra những vẻ đẹp gì về tâm hồn người chiến sĩ ?

- Xét quan hệ với hai câu thơ trên , hình ảnh này giúp người đọc cảm nhận được những điều gì về đời sống và tình người lính giữa những người chiến sĩ ?

Trong bài thơ « Đồng chí » của Chính Hữu , hình ảnh người lính luôn tự tin , đoànkết sát cánh bên nhau trong hoàn cảnh chién đấu gian khổ :

« Đầu súng trăng treo »

Hình ảnh thơ hết sức độc đáo và lí thú , vừa hiện thực vừa lãng mạn bay bổng Đêm

đã khuya , vầng trăng hạ thấp ngang trời Vì vậy mà trong tầm ngắm, người lính pháthiện ra một điều lí thú : Vầng trăng vốn cao vời vợi nhưng lại có thể treo trên đàu súngnơi mặt đất Quả là một tâm hồn lãng mạn bay bổng Giữa giây phút hiểm nguy , ngườilính vẫn say sưa với nét đẹp trong dời, một vầng trăng sáng Súng và trăng cách xa nhau

trong không gian , thế nhưng lại được xếp cạnh nhau Súng là biểu tượng cuộc chiến đấu

đầy gian khổ, trăng là biểu tượgn cho cuộc sống thanh bình Phải chăng hai hình ảnh đốilập được đặt cạnh nhau và nói lên bao điều thú vị về lí tưởng chiến đấu của các anh Họmang bên mình vẻ đẹp của người lính, vẻ đẹp mơ mộng lãng mạn, biết rung động trước

vẻ đẹp của thiên nhiên

Hình ảnh đó vừa có caí lạnh của rừng hoang sương muối, vừa có cái trắng trẻo tuyệtvời của lí tưởng chiến đấu, vừa có cái ấm áp , nồng hậu của tình người, tình đồng chí.Quả thật , ngọn lửa ấm áp của trái tim những người lính đã xua tan cái lạnh khắc nghiệtcủa thiên nhiên cái gian khổ hiểm nguy của cuộc chiế và đưa những người đồng đội xíchlại gần nhau hơn Rõ ràng tình đồng chí đã làm đời người lính đẹp đẽ thơ mộng giữathực taị khắc nghiệt

Tham khảo một số mở bài và kết bài sau:

Mở bài 1: ( đề 2: Hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí”)

Người lính nông dân đã đi vào thơ ca bằng những hình ảnh chân thạt như vẻ đẹp trong

“Nhớ” của Hồng Nguyên, “Cá nước” của Tố Hữu nhưng tiêu biểu hơn là bài “Đồng chí” của Chính Hữu được sáng tác vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (1948).

Kết bài 1: Bài thơ thiên về khai thác đời sống nội tâm, tình cảm người lính Vẻ đẹp của

“Đồng chí” là vẻ đẹp của đời sống tâm hồn người lính mà nơi phát ra vầng sáng lung linh nhất là mối tình đồng đội, đồng chí quyện hoà với tình giai cấp HÌnh ảnh “đầu súng trăng treo” xuất hiện ở cuối bài thơ nâng vẻ đẹp người lính lên đến đỉnh cao khái quát, trong đó có sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn đồng thời mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc.

Mở bài 2: (đề 3: cảm nhận về bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu)

Anh vẫn hành quân Trên đường ra chiến dịch.

Đã từ lâu, hình tượng người chiến sĩ quân đội đã đi vào lòng dân và văn chương với những tư thế, tình cảm, phẩm chất đẹp đẽ Danh từ “bộ đội cụ Hồ” đã trở thành cái tên thân thương nhất của nhân dân dành cho người chiến sĩ Viết về đề tài quân đội có khá nhiều tác giả, nhưng để thành công thì không dễ mấy ai Riêng nhà thơ - người chiến sĩ Chính Hữu bằng cảm xúc của người trong cuộc dã thành công xuất sắc với bài thơ

Trang 8

“Đồng chí” Tác phẩm đã diễn tả thật cảm động mối tình đồng chí thiêng liêng và xứng đáng là một bài thơ trữ tình hay trong nền văn học VN.

Kết bài 2: “Đồng chí”là một bài thơ hay vì bằng một ngôn ngữ nghệ thuật hàm súc,

chắt lọc, với những chi tiết thơ đầy gợi cảm, tác giả đã khắc hoạ được gương mặt những chiến sĩ vệ quốc một thời, và quan trọng hơn đó là gương mặt tinh thần, tình cảm đồng chí mới mẻ, thiêng liêng, là sức mạnh để những con người áo rách, chân không giày chiến thắng giặc Pháp.

Mở bài 3: ( Đề 4: Vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu)

Đồng đội ta

Chia tay nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia tay nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.

Vâng! Đó là tình cảm đồng đội keo sơn gắn bó từ trong tâm hồn thơ Chính Hữu mà để sau này ông viết lên bài thơ “Đồng chí” như kết tinh tình cảm thiêng liêng chân thành

ấy khiến rung động bao trái tim bạn đọc.

Kết bài 3: Đồng chí! Hai tiếng thân thương lắng đọng trong lòng người đọc hơn nửa

thế kỉ nay Tình cảm đồng chí, đồng đội là một nét đẹp truyền thống của người lính và được nhân lên trong đời sống, trở thành một nét đẹp riêng tư tình đời, tình người của nhân dân Việt Nam.

Kết bài 4: Bài thơ với một bút pháp đặc trưng, điển hình, đó là hiện thực nhưng không

bị khô cứng cũng không bị sa vào ước lệ hào hoa với tất cả những cảm xúc của người trong cuộc, Chính Hữu đã tái hiện được những hình ảnh thơ chân tình, giản dị, hàm súc lắng đọng nhưng vẫn kiêu sa “Đồng chí” mãi mãi là sự kết tinh và thăng hoa cao độ cho những người cầm bút, khởi nguồn cảm xúc cho thơ ca.

Mở bài 4: “Đồng ch”í là bài thơ hay nhất của Chính Hữu viết về người nông dân mặc

áo lính trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Bài thơ được viết vào đầu xuân năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, nó đã

đi qua một hành trình hơn nửa thế kỉ, làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu.

Kết bài 5 : « Đồng chí » là bài thơ độc đáo viết về anh bộ đội cụ Hồ - người nông dân

mặc áo lính, những anh hùng áo vải trong thời đại Hồ Chí Minh Bài thơ là một tượng đài chiến sĩ tráng lệ, cao cả và thiêng liêng.

Đề bài PTTP : Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu để thấy bài thơ đã diễn

tả sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến.

I Mở bài

II Thân bài

1 Cơ sở của tình đồng chí (7câu đầu)

- Trước hết bài thơ được bắt đầu bằng giọng điệu thủ thỉ, tâm tình của hai ngườiđồng đội nhớ laị kỉ niệm ngày đầu nhập ngũ Nhịp điệu thơ tính chất kể chuyện , tâm sựnhư khơi dậy hoài niệm của người lính về tháng ngày đầu tiên gặp gỡ Họ là nhữngngười xa lạ, từ những miền quê nghèo khác nhau gặp nhau trở thành tri kỉ bởi họ cóchung một con đường đến với cuộc kháng chiến, đó chính là cơ sở của tình đồng chí :

« Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày len sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhauSúng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Trang 9

Đồng chí ! »

- Mặc dù họ ở những vùng miền khác nhau, vùng « đồi núi trung du » hay miền

« đồng chua nước mặn » nhưng đó đều là quê hương của đói nghèo lam lũ vất vả Họphần lớn đêu là những người nông dân mặc áo lính, từ những miền quê nghèo đến vớiquân ngũ

- Hai câu thơ đầu theo cấu trúc sóng đôi , đối ứng ; « Quê anh , làng tôi » đã diễn

tả sự tương đồng về cảnh ngộ Và chính sự tương đồng về cảnh ngộ ấy đã trở thànhniềm đồng cảm giai cấp, là cơ sở của tình đồng chí, đồng đội của người lính Từ nhữngmiền quê nghèo, những người dân chất phát , mộc mạc đó đã gặp nhau trong cuộc khángchi ến vĩ đại của dân tộc

- Họ cùng chung nhiệm vụ trong chiến đấu : « Súng bên súng đầu sát bên đầu » « Súng » và « đầu » là hình ảnh đẹp mang ý nghĩa tượng trưng « Súng » nói lên nhiệm vụchién đấu, « Đầu » là ý thức là lí tưởng , tình cảm Hai hình ảnh đó hoà nhập vào nhaudiẽn tả người chiến sĩ chung nhiệm vụ , chung chí hướng và lí tưởng cao đẹp Điệp từ

« súng » và « đầu » được nhắc lại hi lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấucủa người đồng chí

- Họ cùng trải qua những khó khăn gian khổ trong buổi đầu của cuộc kháng chiếngian nan : « Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ » « Tri kỉ » là người bạn thân thiếthiểu rất rõ về ta Vất vả nguy nan đã gắn kết những người đồng chí khiến họ trở thànhnhững người bạn tâm giao gắn bó Hình ảnh thật giản dị nhưng xúc động

- Với caí chung và cái riêng ấy , họ đã trở thành « đồng chí » Từ « Đồng chí »được đặt thành cả một dòng thơ tạo hơi thở trầm lắng thiêng liêng Nó như một nốt nhấnmạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình cảm mới mẻ này Nó đã lí giải ví so những ngườilính từ bốn phươn g trời lại tụ họp về đây thân thiết gắn bó như máu thịt Khi họ gọinhau bằng tiếng đồng chí họ không chỉ còn là người nông dân nghèo đói lam lũ , mà họtrở thành anh em trong cả một cộng đồng với một lí tưởng cao cả vì đất nước quên thân

để tạo nên sự hồi sinh cho quê hương cho dân tộc

=> Đoạn thơ gây ấn tượng với một tình cảm giai cấp mà lên , từ lí tưởng mà có

2 Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí

Nếu ở khổ thơ thứ nhất tác giả lí giải cơ sở của tình đồng chí thì ở khổ thơ thứ hai ,tác giả đã nêu lên những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí

- Họ gắn bó với nhau trong những đêm rét chung chăn, trong những lúc hành quân

và họ hiểu những nỗi lòng sâu kín của nhau :

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính

+ Họ xuất thân là những người nông dân nghèo bởi vậy họ gắn bó với ruộng đồng

chòm xóm Ra đi vơi họ là bao khó khăn day dứt nhưng tiếng gọi của tổ quốc lớn laohơn đã cho họ quyết tâm Hai chữ « mặc kệ » đã nói lên được cái kiên quyết dứt khoátmạnh mẽ ấy và trách nhiệm vì cuộc sống bình yên nơi quê hương mà họ ra đi Songchính thái độ gồng mình lên ấy cho ta hiểu rằng thực sự những người lính đã bỏ lại đằngsau bỏ thương mến nhớ nhung và tình cảm ấy càng cố kìm nén bao nhiêu thì càng trởnên bỏng cháy bấy nhiêu Cho nên mới có câu thơ « Giếng nước gốc đa nhớ người ralính » Hình ảnh giếng nước gốc đa nhớ người ra lính càng tô đậm sự gắn bó yêu thươngcủa người lính với quê hương Hình ảnh “ giếng nước gốc đa” đã tô đậm sự gắn bóyêu thương của người lính với quê hương Hình ảnh ấy vừa được sử dụng như mộtphép hoán dụ ( Giếng nước gốc đa biểu hiện cho làng quê Việt Nam – quê hương người

Trang 10

lính ) , vừa được sử dụng như một phép nhân hoá ( giếng nước gốc đa biết nhớ nhungngười lính ) Nó giúp người lính diễn tả một cách hồn nhiên và tinh tế tâm hồn mình.Giếng nước gốc đa kia nhớ người ra lính hay chính tấm lòng người ra đi không nguôinhớ về quê hương và đã tạo cho giếng nước gốc đa một tâm hồn ? Quả thực giữa ngườichiến sĩ và quê hương đã có một mối giao cảm vô cùng sâu sắc đậm đà Tác giả nhưđang gợi lên hai tâm tình đang soi vào nhau đến tận cùng

- Trong s ự đông cảm đó , họ đã chia sẻ nh ững gian lao thiếu th ốn c ủa cu ộc đ ời

ng ư ời lính:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

S ốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá

Đó là những cơn sốt rét rừng đến run người đang tàn phá cơ thể người lính , l à những trang phục mong manh giữa mùa đông lạnh gi á

Họ không chỉ chia sẻ mọi gian lao mà họ còn cho nhau hơi ấm , cho nhau nụ cười

ấm áp của tình dồng chí Chi tiết “ miệng cười buốt giá” đã ấm lên sáng lên tình đồngđội và tinh thần lạc quan của người chiến sĩ Rồi đến cái cử chỉ “ thương nhau tay nắmlấy bàn tay” đã thể hiện tình thương đồng đội sâu sắc Cách biểu hiện yêu thương không

ồn ào mà thấm thía Trong buốt giá gian lao , các anh truyền cho nhau nièm tin , truyên

ho nhau sức mạnh để vượt lên tất cả đảy lùi gian lao Câu thơ ấm áp trong ngọn lửa thânthương !

3 Bài thơ kết thúc với những hình ảnh thật đẹp , thật có ý

nghĩa Nó là biểu tượng thiêng liêng của tình đồng chí chung chiến hào

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

Sử dụng hình ảnh tương phản đối lập : “ Rừng hoang sương muối” với những đêmdài lạnh giá đối lập với những người lính đứng cạnh bên nhau trong cái nơi sự sống vàcái chết chỉ trong gang tấc Chính Hữu càng làm nổi bật sức mạng của tình đồng chí

Từ “ chờ” cũng đã nói rõ cái tư thế , cái tinh thần chủ động đánh giặc của họ Rõ ràngkhi những người lính đứng cạnh bên nhau vững chãi thì cái gian khổ , ác liệt của cuộcchiến bị mờ đi Tầm vóc những người lính bỗng trở nên lớn lao anh hùng

- Những câu thơ tự do đang trải dài thì câu kết lại thu vào trong bốn chữ “Đầu súngtrăng treo “làm nhịp thơ đột ngột thay đổi , dồn nén, trắc gọn, gây sự chú ý cho ngườidọc Trong đêm phục kích giặc, ngươi chiến sĩ b ỗng phát hiện mũi súng như treo mộtvầng trăng Từ “ treo” đã tạo nên một mối quan hệ bất ngờ, độc đáo, nối liền mặt đất vớibầu trời, gợi những liên tưởng lí thú vừa hiện thực lại vừa lãng mạn

+ Hiện thực vì đêm khuya trăng trên vòm trời cao đã sà xuống thấp dần, ở một vị trí

và tầm nhìn nào đó, vầng trăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phụckích chờ giặc

+ Lãng mạn vì trong hoàn cảnh hết sức gian khổ khốc liệt : đêm đông giá lạnh , rừnghoang sương muối, cái chết cận kề, tâm hồn nhạy cảm của người chiến sĩ vẫn tìm thấychất thơ bay bổng trong vẻ đẹp bất ngờ của trăng “Súng” là biểu tượng của chiến đấu ,

“trăng” là biểu tượng của cái đẹp , cho niềm vui lạc quan , cho sự bình yên của cuộcsống Súng và trăng là hư và thực , là chiến sĩ và thi sĩ , là “một cặp đồng chí “tô đậm vẻ

Trang 11

đệp của những cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau Chính tình đồng chí đã làm chochiến cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp , vẫn thơ mộng , tạo cho họ sức mạnh và chiến thắng.

=> Hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa dẹp vừa mang đầy ý nghĩa như “Đầu súngtrăng treo” Đây là một sáng tạo đầy bất ngờ Hình tượng này góp phần nâng cao giá trịbài thơ , tạo nên được dư vang trong lỏng người đọc

=> Như vậy tình cảm đồng chí trong bài thơ là tình cảm sâu lắng chân thành củanhững con người gắn bó keo sơn trong cuộcchiến đấu vĩ đại vì một lí tưởng chung

**********************************

BÀI 2: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH - PHẠM TIẾN DUẬT.

A Kiến thức cần nhớ.

1 Tác giả

- Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê ở tỉnh Phú Thọ Sau khi tốt nghiệp đại học, năm

1964 vào bộ đội, hoạt động ở tuyến đường Trường Sơn và trở thành một trong nhữngnhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ trẻ những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ

- Thơ ông giàu chất liệu hiện thực, chiến trường, thể hiện sinh động, có giọng điệu ngangtàng, tinh nghịch, sôi nổi, tươi trẻ, đã làm sống lại hình ảnh thế hệ trẻ ở Trường Sơn vànhững khó khăn của thời đánh Mỹ gian khổ

- Phạm Tiến Duật thể hiện hình ảnh thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh chống đếquốc Mỹ qua những hình tượng cô gái thanh niên xung phong và anh bộ đội trên tuyếnđường Trường Sơn

- Tác phẩm chính: Vầng trăng -Quầng lửa(1970), Thơ một chặng đường ( 1971), Ở hai

đầu núi (1981) Nhiều bài thơ đã đi vào trí nhớ của công chúng như các bài: Trường Sơn Đông, Trường Sơn tây, Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong….

2 Tác phẩm:

- Bài thơ về tiểu đội xe không kính rút từ tập thơ Vầng trăng -Quầng lửa của tác giả Là

tác phẩm đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ trong báo Văn nghệ (1969 - 1970)

- Bài thơ được ra đời trong thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mĩ diiễn ra rất ác liệt Mĩ trúthàng ngàn, hàng vạn tấn bom trên con đường chiến lược Trường Sơn Trong khi đónhững đoàn xe vận tải vẫn băng ra chiến trường vì Miền Nam phía trước

3 Gợi ý phân tích: Đây là một bài thơ khá độc đáo.

a Cái độc đáo đã bộc lộ ngay từ nhan đề bài thơ, một cái nhan đề có vẻ như dài và

thừa Có lẽ chỉ cần viết “Tiểu đội xe không kính” là đủ, là nói rõ được hiện thực phảnánh Nhưng nhà thơ lại viết “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Hai chữ “Bài thơ” nóilên cách khai thác hiện thực: không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính, chỉ viết

về hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mà chủ yếu là khai thác chất thơ vút lên từ hiệnthực ấy, chất thơ của tuổi trẻ VN vượt lên những khắc nghiệt của chiến tranh

b Sáng tạo độc đáo nhất là hình ảnh những chiếc xe không kính vẫn băng ra chiến trường.

- Bài thơ mở đầu bằng một câu thơ rất lạ, giản dị như một lời nói thường:

Không có kính không phải vì xe không có kính.

-Câu thơ như một câu văn xuôi, chẳng có gì là thơ cả Hình ảnh thơ lại càng lạ và có sứchấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyềnnếu đưa vào thơ thì thường được “mĩ lệ hoá”, “lãng mạn hoá” và thường mang ý nghĩatượng trưng hơn là tả thực Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính là một

Trang 12

hình ảnh thực, thực đến trần trụi, đó là những chiếc xe “không kính” rồi “không đèn”,

“không mui” ấy vẫn chạy băng ra tiền tuyến

- Cái nguyên nhân của nó cũng rất thực: Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi”.Hình ảnh

“bom giật, bom rung” vừa giúp ta hình dung được một vùng đất từng được mệnh danh là

“túi bom” của dịch vừa giúp ta thấy được sự khốc liệt của chiến tranh

- Những chiếc xe như vậy vốn không hiếm trong chiến tranh chống Mĩ trên đườngTrường Sơn lửa đạn nhưng phải có một hồn thơ nhạy cảm với nét ngang tàng, tinhnghịch thích cái lạ như Phạm Tiến Duật mới nhận ra đụơc và đưa nó vào thơ thành hìnhtượng thơ độc đáo của thời chiến tranh chống Mĩ Không tô vẽ, không cường điệu mà tảthực nhưng chính cái thực đã làm người đọc suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt củachiến tranh, bom đạn giặc Mĩ Hơn nữa, viết về những người lái xe thì không gì gắn họvới hình ảnh chiếc xe, qua xe mà làm nổi bật hình ảnh ngưới lái xe

- Bởi thế, hai câu thơ mở đầu bài đã thu hút sự chú ý của người đọc, người đọc bỗngnhận ra chất thơ rất đẹp từ hình ảnh ấy: Bom đạn khốc liệt của chiến tranh cũng chỉ đủ

để làm cho những chiếc xe mất kính, thậm chí “không có kính, rồi xe không có đèn – Không có mui xe thùng xe có xước” Và những chiếc xe như vậy vẫn ngang tàng băng ra

chiến trường Chính chất thơ ấy đâ làm cho những chiếc xe không kính trở thành hìnhảnh thơ độc đáo

b Hình ảnh những chiếc xe không kính đó làm nổi bật hình ảnh những chiến sĩ lái

- Thật bất ngờ, với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trên đường thànhniềm vui thích, một sự hưởng thụ, một cách tiếp xúc trực tiếp, mạnh mẽ với không gianbên ngoài

+ Những cảm giác của người chiến sĩ trong chiếc xe không kính được miêu tả thật chânthực, chính xác đến từng chi tiết qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái.

+ Những chữ “nhìn” lặp đi lặp lại như một niềm sảng khoái bất tận Không có kính, càng

dễ “nhìn đất, nhìn trời” với tư thế “nhìn thẳng” thật hiên ngang Hay nhất là hai chữ

“nhìn thẳng” – nhìn thẳng vào gian khổ, nhìn thẳng vào hi sinh, không run sợ, không nétránh

+ Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với

bao khó khăn nguy hiểm: nào là “:gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va

đập, quăng ném vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình Đó là những ấn tượng thực

Trang 13

nhưng qua cách cảm nhận của tác giả, đã trở thành những hình ảnh lãng mạn Lời thơnhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút chạy trên đường

* Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ , tinh thần lạc quan của người lính trẻ

Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

- Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những người lính đã nếm trải đủ mùi

gian khổ Những câu thơ giản dị như lời nói cửa miệng của người lính: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo”, “chưa cần rửa”, “chưa cần thay”…Điệp khúc ấy tạo nên giọng

điệu ngang tàng, bất chấp Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng màcác anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn, chấp nhận thử thách như một tất yếu Đầu tóc mặt

mũi bụi bám trắng không cần rửa, áo ướt không cần thay, và vẫn có thể “phì phèo châm điếu thuốc – Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” Sự bình thản đã đạt đến mức vô tư lự một

cách thật trẻ trung, cái thái độ “phót tỉnh” cũng rất trẻ trung Niềm vui và tiếng cười củanhững người lính trẻ sôi nổi, tinh nghịch cứ vút lên giữa gian khổ khắc nghiệt, giữa cả

nguy hiểm chết người của chiến tranh với những “bom giật, bom rung” Câu thơ cuối 7 tiếng cuối đoạn có đến 6 thanh bằng “mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” gợi cảm giác

nhẹ nhõm, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản Ý thơ rộn rã, sôi động như sự sôi độnghối hả của đoàn xe trên đường đi tới

* Tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, thắm thiết - một nét đẹp phẩm chất của người lính.

- Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ sôi nổi, yêu

đời từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lí tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Cái bắt tay độc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộcmạc nhưng thấm thía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho lời nói như một

sự bù đắp tinh thần cho sự thiếu thốn về vật chất Chỉ có những người lính, những chiếc

xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu

ấn của cả một thời đại hào hùng

- Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhườngnhịn nhau như anh em ruột thịt.: chung bát,chung đũa, mắc võng chông chênh chỉ

Trang 14

trong một thoáng chốc Tình cảm gia đình người lính thật bình dị, ấm áp thân thương tạo

nên sức mạnh, nâng bước chân người lính để rồi các anh lại tiếp tục hành quân: “Lại đi lại đi trời xanh thêm”, vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi

và đang đến “Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng Nhịp điệu câu thơ vừa sôi nổi, vừa nhịp nhàng cùng với điệp từ “lại đi” được lặp

lại hai lần gợi tả nhịp sống chiến đấu và hành quân của tiểu đội xe không kính mà khôngmột sức mạnh đạn bom nào có thể ngăn cản nổi Sự sống không chỉ tồn tại mà còn tồntại trong một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang – tư thế của người chiến thắng

* Điều làm nên sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn, gian khổ chính là tình

yêu nước, là ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Không có

kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim.

- Khổ thơ cuối vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng

và suy tưởng vừa bay bổng, vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời củanhững chiến sĩ vận tải Trường Sơn Trong bốn câu thơ có sự tương phản rõ rệt giữa vậtchất và tinh thần, giữa bên ngoài và bên trong, giữa cái không và cái có Bom đạn kẻ thù

đã tước đi của chiếc xe rất nhiều, biến chiếc xe trở thành trơ trụi đến kì lạ: “ không kính, không mui, không đèn, thùng xe có xước ” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh.

Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt Hai dòngthơ ngắt làm bốn khúc “không có kính / rồi xe không có đèn/ Không có mui xe/ thùng xe

có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai, bom đạn

- Ấy vậy mà hai câu cuối, âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét Những chiếc

xe mang trên mình đầy thương tích đó lại như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trênbom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến Phía trước ấy là miền Nam thân yêu Sức mạnh đểchiếc xe băng mình ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính, một trái tim nồngnàn tình yêu nước và sôi trào ý chí chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc

- Điệp ngữ “không có”, các từ ngữ tương ứng “vẫn … chỉ cần có” đã làm cho giọngthơ, ý thơ trở nên mạnh mẽ, hào hùng Vẫn là cách nói thản nhiên ngang tàng của línhnhưng câu thơ lại lắng sâu một tinh thần trách nhiệm và có ý nghĩa như một lời thềthiêng liêng Quyết tâm chiến đấu và chí khí anh hùng của người lính không có đạn bomnào của kẻ thù có thể làm lay chuyển được

Bài ca lái xe đêm (Tố Hữu)

Ơi chiếc xe vận tải

Ta cầm lái đi đây

Nặng biết bao ơn ngãi

Xe ơi cùng ta bay

Ta đi xe trong đêm Trường Sơn.

Nhạc và lời của Tân Huyền

Những đêm Trường Sơn

Ta đã đi qua bao chặng đường vất vảĐạn réo, bom rơi, mưa rừng xối xả

Trang 15

Dù mưa bom bão đạn

Ta lấy đêm làm ngày

Ta cùng cây làm bạn

Xe đi trong đêm tối

Dù đường lạ đường quen

Xe đi không lạc lối

Có mắt ta làm đèn

Ta qua sông qua suối

Ta qua núi qua đèo

Lòng ta vui như hội

Như cờ bay gió reo

Ơi này anh xung kích

Ơi này o du kích

Có nghe thấy gì không?

Chuyện chi mà rúc rích!

Nhớ (Phạm Tiến Duật)

Cái vết thương xoàng mà đi viện

Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung

Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng

Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo

(Tố Hữu)

- Kính chào anh con người đẹp nhất

Cả nước hôn anh chàng trai chân đất

Sống hiên ngang bất khuất trên đời

Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi

Một dây ná, một cây chông cũng tiến

công giặc Mỹ

- Vẫn đôi dép lội chiến trường

Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy

(Tiếng hát sang xuân - Tố Hữu)

- Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai (Tố

Hữu)

Những đêm Trường SơnĐường tiền tuyến uốn quanh co,Mây trời đẹp quá,

Vỡ kính rồi, trăng tràn cả vào xe!

Tay lái thân yêu đã cùng taBao chuyến đi về vượt từng hố bomTừng ngọn cây vách đá

Tay lái thân yêu vẫn cùng taĐinh ninh trong dạ

Chi viện tiền phương xe lăn hối hảMang lửa nhiệt tình, đi giải phóng quêhương

TRường Sơn Đông, Trường Sơn Tây

Phạm Tiến Duật Phổ nhạc: Hoàng Hiệp

- Cùng mắc võng trên rừng Trường SơnHai đứa ở hai đầu xa thẳm

Đường ra trận mùa này đẹp lắmTrường Sơn đông nhớ Trường Sơn tâyTrường Sơn tây anh đi

Thương em bên ấy mưa nhiều Con đường mà gánh gạo

Muỗi bay rừng già cho dài tay áoHết rau rồi, em có lấy măng không?

Anh lên xe trời đổ cơn mưaCái gạt nước xua đi nỗi nhớ

Em xuống núi nắng về rực rỡ,Cái nhành cây gạt mối riêng tư…

Từ nơi em đưa sang bên nơi anhNhững binh đoàn nôi nhau ra tiền tuyến,Như tình yêu nối dài vô tận

Đông TRường Sơn nhớ tây Trường Sơn

- Tây Tiến đoàn quân không mọc tócQuân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

(Tây Tiến – Quang Dũng)

B Câu hỏi luyện tập.

Câu 1 : “ Không có kính rồi xe không có đèn”

a Chép tiếp câu thơ trên để hoàn chỉnh đoạn thơ gồm 4 dòng

b Cho biết, đoạn thơ vừa chép trong bài thơ nào? Của ai? Nêu hoàn cảnh sáng tácbài thơ

c Từ “trái tim” trong câu thơ cuối cùng của đoạn vừa chép được dùng với nghĩanhư thế nào?

Trang 16

d Viết một đoạn văn diễn dịch từ 6 đến 8 câu phân tích hình ảnh người lính lái xetrong đoạn thơ.

Gợi ý:

a Chép tiếp: Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim

b (tham khảo phần kiến thức cần nhớ)

c Từ “Trái tim” trong câu thơ cuối cùng có thể hiểu theo nghĩa chuyển:

- Chỉ người lính lái xe

- Chỉ sự nhiệt tình cứu nước, lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

d Đoạn văn phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung và hình thức (tham khảo câu 3,4)

- Cuộc chiến đấu ngày càng gian khổ, ác liệt (qua hình ảnh những chiếc xe ngày càngméo mó, biến dạng)

- Bất chấp gian khổ, hi sinh, những chiếc xe vẫn thẳng đường ra tiền tuyến

- Những người lính lái xe quả cảm vững tay lái vì học có một trái tim tràn đầy nhiệt tìnhcách mạng, tình yêu tổ quốc nồng nàn, ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam sắt đá

Câu 2 : Triển khai câu chủ đề sau : Cả bài thơ là dòng cảm xúc của người lính lái xe trên con đường xe ra tiền tuyến.

Thật vậy , dòng cảm xúc ấy tuôn chảy dào dạt trong suốt bài thơ Đi vào cuộc chiếnđấu với tất cả tính chất chủ động , tự tin của người có lí tưởng co đẹp , có sức mạnh vàtiềm lực nên tâm hồn người lính cũng có nét thanh thản, vui tươi Điều khiến nhữngchiếc xe không kính với tốc độ phi thường như lướt nhanh trong bom đạn họ có cmr giácthích thú, như cảm nhận cả con đường “ chạy thẳng vào tim” Qua khung cửa xe khôngkính các anh cảm nhận được vẻ đẹp của những cánh chim và cả những ánh ứao đêm lấplánh trên bầu trời Gió cũng được nhan hoá và chuyển đổi cảm giác thật ấn tượng : “ gióvào xoa mắt đắng”, mắt đắng , mắt cay là con mắt của những người đói ngủ vì phải thứcthâu đêm Trong gian khổ ấy họ vẫn cất lên nụ cười lạc quan , yêu đời từ những khuônmặt lám lem khi đồng đội gặp nhau Những câu thơ lạc quan yêu đời như thách thức vớimọi khó khăn : “ Không có kính ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưacần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” Cái bắt tay củanhững người lính cũng thật hồn nhiên , mộc mạc mà cũng thấm thía tình đồng chí đồngđội : “ Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” “ Từ trong bom rơi” mầ vẫn có cái bắt tay như thếthì thật mừng vui và tự hào biết mấy Đời người lính là đi , nhất là lính lái xe , nhưngtrong những phút dừng chân ngắn ngủi, ta càng thấy rõ sự gắn bó tự nhiên mà cao đẹpcủa tình đồng đội Chỉ là “ bếp Hoàng Cầm”và võng “ mắc chông chênh” rồi cả nhữngbữa cơm hội ngộ thân mật, tình đồng chí cũng tình anh em ruột thịt : “ chung bát đũanghĩa là gia đình đấy” đến cả giấc ngủ ngắn ngủi cũng rất đặc biệt thú vị: “ võng mắcchông chênh trên đường xe chạy Lại đi lại đi trời xanh thêm” Trong tâm hồn họ, trờixanh như chan chứa hi vọng Không dễ gì có được thái độ lạc quan đến như thế nếukhông mang trong mình một trái tim yêu nước của tuổi trẻ VN thời chống Mĩ Phải nóirằng hình ảnh ngươờichiến sĩ lái xe trong thơ Phạm Tiến Duật thật tươi tắn và yêu đời.Chúng ta mãi mái yêu quí và tự hào về họ

Câu 3 : Triển khai câu chủ đề:

Bài thơ gây được ấn tượng mạnh về các anh, những chiến sĩ lái xe rất dũng cảm, rất đáng yêu bởi những nét nghịch ngợm, ngang tàng

Trang 17

Thật vậy, người lính trong thơ PTD đi vào cuộc chiến đấu với tất cả tính chủ động,

tự tin của những người có lí tưởng cao đẹp, có sức mạnh và tiềm lực nên họ dũng cảm và

mang những nét thanh thản, vui tươi Lái xe trên con đường Trường Sơn khói lửa, con

đường ấy trong bom đạn, mưa tuôn phải trả giá bằng bao mồ hôi, xương máu nhưngvẫn tràn đây nghị lực, bất chấp gian khổ hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ Xe khôngkính không mui , không đèn” mà tâm thế vẫn ung dung thanh thản, khó khăn nhiều màmắt vẫn “ nhìn trời , đất , gió chim” , vẫn hiên ngang “nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng”.Những câu thơ dí dỏm tinh nghịch, ngang tàng đầy sức trẻ cảu những chàng trai nhưthách thức với mọi khó khăn :

- Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

- Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa mau khô thôi

Chuyện vặt ấy mà, có hề gì ! Nhịp điệu câu thơ, đặc biệt là các từ “ừ thì” đã nói lênrất rõ điều đó Đọc những câu thơ trên , ta tưởng như nhìn thấy mái đầu bạc trắng , bộmặt lấm lem và nghe rõ tiếng cười ha ha , sảng khoái của người lính Nhưng đằng saunhững chữ bông đùa đáng yêu này là một bản lĩnh chiến đấu vững vàng thì không thểđùa vui như vậy giữa cái tuyến đường TS ác liệt này Và điều đó đã ngân lên câu hátnâng bước chân người lính đi tiếp những chặng đường mới: “ Lại đi lại đi trời xanhthêm” Không dễ gì có được thí độ dũng cảm đến ngang tàng và lạc quan đến như thế

nếu không mang trong mình một trái tim yêu nước can trường

Câu 4: Cảm nhận của em về hình ảnh người lính lái xe trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.

Câu 5:

a Phân tích giá trị biểu cảm của từ “Chông chênh” trong câu thơ: “Võng mắc chông

chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm”

b Chỉ với hai câu thơ trên, Phạm Tiến Duật đã cho ta hiểu vẻ đẹp người lái xe TrườngSơn thời chống Mĩ Hãy viết tiếp từ 7 đến 12 câu tạo đoạn văn diễn dịch hoàn chỉnh(trong đó có sử dụng phép nối và câu đơn mở rộng thành phần chủ ngữ)

Câu 6: Khi phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, trong phần giải quyết vấn đề, bạn em đã nêu được một nhận xét:

“Bài thơ không chỉ phản ánh được cái khốc liệt, sự gian khổ của chiến tranh qua hình ảnh những chiếc xe không kính mà từ trong những gian khổ, sự khốc liệt ấy bài thơ còn

là lời khẳng định ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mĩ”

a Câu văn trên chứa đựng đề tài gì?

b Triển khai 1 ý trong đề tài trên thành một đoạn văn hoàn chỉnh

Gợi ý:

a.Đề tài:

- Bài thơ phản ánh được cái khốc liệt, gian khổ của chiến tranh qua hình ảnh những

ch iếc xe không kính

- Bài thơ là khúc hát ngợi ca vẻ đẹp của những người chiến sĩ lái xe Trường Sơn

a Triển khai đề tài 2: Vẻ đẹp của những người chiến sĩ lái xe (theo các ý sau)

Trang 18

- Tư thế hiên ngang, bình tĩnh (khi xe mất đi những hệ số an toàn)

- Thái độ bất chấp gian khổ, hiểm nguy, đón nhận gian khổ khó khăn rất đànghoàng, chủ động

- Lạc quan, vui vẻ, trẻ trung

- Tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vượt lên mọi thiếu thốn, gian khổ, hiểm nguy,tất cả vì Miền Nam phía trước

- Viết đoạn văn phân tích hai câu cuối của bài thơ “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

- Gợi ý: Hai câu cuối của “ bài thơ về tiểu đội xe khiông kính” đã khắc đậm hình

ảnh đẹp đẽ của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường TS:

- Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước

- Chỉ cần trong xe có một trái tim

- Những chiếc xe ấy đã bị bom đạn chiến tranh phá huỷ nặng nề, mát đi cả những hệ

số an toàn, tưởng như không thể lăn bánh Vậy mà những người chiến sĩ lái xe đâu

có chịu dừng Những chiếc xe của họ chở lương thực, thuốc men , đạn dược vẫnchạy trong bom rơi đạn lửa bởi phía trước là MN đang vẫy gọi Công cuộc giànhđộc lập tự do cua rnửa nước vẫn phải tiếp tục Dùng hình ảnh tương phản đối lập,câu thơ không chỉ nêu bật đực sự ngoan cường, dũng cảm, vượt lên trên gian khổ,

ác liệt mà còn nêu bât được ý chí chiến đấu giải phóng MN , thống nhất đất nước.Hơn thế hình ảnh hoán dụ “ một trái tim” hình ảnh đẹp nhất của bài thơ cùng kếtcấu câu “ vẫn - chỉ cần” đã lí giả về sức mạnh vượt khó, khẳng định hơn tinh thầnhiên ngang bất khuất sự lạc quan tự tin trong cuộc chiến của người lính lái xe.Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng để chúng ta mãiyêu quý và cảm phục

Đề 4 : Cảm nhận của em về hình ảnh người lính cách mạng qua hai bài thơ « Đồng chí » và « Bài thơ về tiểu đội xe không kính »

Đề 5 : Đồng chí (Chính Hữu) và « Bài thơ về tiểu đội xe không kính » (Phạm Tiến Duật) là hai bài thơ tiêu biểu viết về đề tài người lính cách mạng trong hai thời kì chống Pháp và chống Mỹ - so sánh hình ảnh người lính cách mạng ở hai bài thơ này.

Gợi ý : Tham khảo hệ thống luận điểm phần thân bài của đề 4,5

1 Luận điểm 1 : Đánh giá chung vấn đề.

- Về đề tài : Dân tộc ta đứng lên tiến hành hai cuộc chiến tranh cách mạng oanh liệt

chống Pháp và chống Mỹ Lẽ tất nhiên, ở đất nước ta hơn ba mươi năm chưa rời taysúng, hình ảnh anh « Bộ đội cụ Hồ » là hình ảnh « con người đẹp nhất » đáng yêu nhấttrong văn thơ và là niềm tự hào lớn của dân tộc

- Về hai tác phẩm : Cùng với nhiều bài thơ khác, hai bài thơ « Đồng chí » sáng tác năm

1948 khi tác giả Chính Hữu chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc và « Bài thơ về tiểu đội

xe không kính » sáng tác năm 1969 khi tác giả Phạm Tiến Duật tham gia hoạt động ởtuyến đường Trường Sơn đã khắc hoạ thành công về đề tài người lính

- Về vấn đề : Hình tượng « anh bộ đội cụ Hồ » được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ

trong văn chương Việt Nam hai gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong hai thời

kì lịch sử

2 Luận điểm 2 : Phân tích

a Những điểm chung :

* Yêu nước, yêu quê hương, có tình đồng chí gắn bó, keo sơn.

Trang 19

- Có thể phân tích tình yêu quê hương da diết, cháy bỏng của người lính trong bài thơ

« Đồng chí » qua nỗi nhớ quê được thể hiện trong hình ảnh thơ « giếng nước gốc đa nhớ người ra trận » ; và những trái tim yêu nước luôn hướng về miền Nam thân yêu với khát vọng cháy bỏng là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước « xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim ».

- Có thể phân tích cử chỉ nắm tay chất chứa bao tình cảm không lời trong cả hai bài thơ

thể hiện sự gắn bó đồng chí (Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Hoặc : « Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi )

- Có thể phân tích câu thơ: « Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ/ Đồng chí !

* Vượt qua mọi khó khăn gian khổ để quyết tâm tiêu diệt giặc, hoàn thành nhiệm vụ.

- Tất cả mọi khó khăn gian khổ, thử thách được tái hiện bằng những chi tiết hết sức thật,

không né tránh, không tô vẽ trong cả hai bài thơ (Cảnh rừng hoang sương muối, cảnh những người lính sốt run người, áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giầy những gian khổ và ác liệt hiện hình trong những chiếc xe không kính, không mui, không đèn do bom giật, bom rung , hình ảnh gió vào xoa mắt đắng, bụi phun tóc trắng như người già, mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời )

- Gian khổ tưởng chừng như không thể vượt qua được, cái chết kề bên, vậy mà, các

chiến sĩ đều có một tư thế hiên ngang, dũng cảm : «Chờ giặc tới », « ung dung buồng lái

ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng ».

*Tinh thần lạc quan và khí phách anh hùng.

- Đời lính gian khổ nhưng luôn giữ mãi nụ cười dẫu cho có cận kề cái chết : « nụ cười buốt giá » (Đồng chí) cho đến nụ cười rất ngang tàng, rất nghịch ngợm của của những anh lính lái xe phớt đời « ha ha », cử chỉ «phì phèo châm điếu thuốc » như một lời

đi, dấn thân vào cuộc đời người chiên sĩ

+ Người lính nông dân thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp giản dị, mộcmạc mà sâu sắc Tình tri kỉ thiêng liêng hoà quyện với tình đồng chí, tình cảm giai cấp

khi lí tưởng chiến đấu đã rực sáng trong tâm hồn : « Súng bên súng, đầu sát bên đầu.Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí ! »

- Bài thơ về tiểu đội xe không kính :

+ Người lính lái xe trong thơ Phạm Tiến Duật là những chàng trai còn rất trẻ, có tri thức,

có học vấn, sẵn sàng gác lại những ước vọng tương lai của mình để cống hiến tuổi thanh

xuân theo tiếng gọi thiêng liêng của miền Nam yêu dấu : « Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh

Mĩ Mà lòng phơi phới dậy tương lai ».

+ Người lính thời kì chống Mĩ hiện lên với vẻ đẹp trẻ trung, ngang tàng, tâm hồn nhậycảm, tính cách riêng mang chất «lính » đáng yêu Họ chiến đấu vì miền Nam ruột thịt

với trái tim yêu nước cháy bỏng (xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe

có một trái tim)

3 Luận điểm 3 : Đánh giá chung.

Trang 20

- Hình tượng người lính dù ở thời kì kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến chống Mỹđều mang phẩm chất cao đẹp của « anh bộ đội cụ Hồ » - thời đại đã cung cấp cho cácnhà thơ những nguyên mẫu đẹp đẽ để họ tạo nên những hình tượng làm xúc động lòngngười.

- Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những người đồng đội củamình Vì thế, hình tượng người lính chân thật và sinh động

- Thơ Huy cận sau cách mạng tràn đầy niềm vui, niềm tin yêu cuộc sống mới Thiênnhiên, vũ trụ là nguồn cảm hứng dồi dào trong thơ Huy Cận và nó mang những nét đẹpriêng Hàng loạt tập thơ nối tiếp ra đời: “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958), “Đất nở hoa”(1960), “bài thơ cuộc đời” (1963), “hai bàn tay em” (1967)…

- Huy Cận mất năm 2005, tại Hà Nội

2 Tác phẩm.

a Hoàn cảnh sáng tác:

- Bài thơ được viết vào ngày 1.10, năm 1958, tại vùng biển Hồng Gai, Quảng Ninh, introng tập thơ : “Trời mỗi ngày lại sáng””

b Bố cục: Bài thơ gồm 7 khổ, mỗi khổ gồm bốn câu thơ 7 chữ, được bố cục theo hành

trình của một chuyến ra khơi đánh cá

+ Đoạn 1: Hai khổ thơ đầu: Cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn và tâm trạng náonức của người đi biển

+ Đoạn2 : 4 khổ tiếp: Cảnh lao động của đoàn thuyền đánh bắt cá giữa không gian biểntrời ban đêm

+ Đoạn 3: khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về trong cảnh bình minh lên

- Trong bài thơ có hai nguồn cảm hứng bao trùm và hài hoà với nhau: cảm hứng về lao động và cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ, vốn là một nét nổi bật của hồn thơ Huy Cận Sự thống nhất của hai nguồn cảm hứng ấy thể hiện qua kết cấu và hệ thống

hình ảnh của bài thơ

+ Về kết cấu: Thời gian của bài thơ là nhịp tuần hoàn của vũ trụ từ lúc hoàng hôn chođến bình minh, và cũng là thời gian hoạt động của đoàn thuyền đánh cá ra khơi rồi trở

về Không gian của bài thơ là không gian rộng lớn bao la với mặt trời, biển, sóng, mâ,gió, trăng, sao…., cũn là không gian của cảnh lao động

+ Về hệ thống hình ảnh: Nhiều hình ảnh thơ đã gắn liền với công việc lao động của conngười với nhịp sống của thiên nhiên đất trời: “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”,

“thuyền ta lái gió với buồm trăng - Lướt giữa mây cao với biển bằng”, “gõ thuyền đã có

Trang 21

nhịp trăng cao”, “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”….Hình ảnh đoàn thuyền đánh cáqua cái nhìn của nhà thơ trở nên lớn lao, kì vĩ, bay bổng.

3 Phân tích bài thơ

a Hai khổ thơ đầu: Tả cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn và tâm trạng náo nức của người đi biển.

*Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và đầy ấn tượng:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”

- Ở nước ta, thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển Như vậy, “mặt trời xuốngbiển” là một cảnh tượng lạ, chỉ có thể nhìn thấy từ một hòn đảo nào đó ngoài khơi, hoặc

từ một con thuyền đang ra biển Ngoài khơi xa, bốn bề là nước, nhìn về phía tây có cảmgiác mặt trời như một hòn than cháy hồng đang lặn xuống biển Sau lúc hoàng hôn là

màn đêm buông xuống Trong câu thơ: “Sóng đã cài then đêm sập cửa”, Huy Cận đã có

một liên tưởng thật bất ngờ: vũ trụ như một ngôi nhà lớn với màn đêm buông xuống làtấm cửa khổng lồ với những lượn sóng hiền hoà gối đầu nhau chạy ngang trên biển nhưnhững chiếc then cài cửa

- Với sự liên tưởng so sánh thú vị, với hình ảnh nhân hoá đặc sắc, Huy Cận đã miêu tảrất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển vào đêm thật kì vĩ,tráng lệ như thần thoại Phác hoạ được một bức tranh phong cảnh kì diệu như thế hẳnnhà thơ phải có cặp mắt thần và trái tim nhậy cảm

*.Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi trong thời điểm ấy.

- Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày Giữa lúc vũ trụ, đất trời như

chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hoạt động: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm trong gió khơi -> Sự đối lập này làm nổi

bật tư thế lao động của con người trước biển cả

+ Nhịp thơ nhanh mạnh như một quyết định dứt khoát Đoàn ngư dân ào xuống đẩythuyền ra khơi và cất cao tiếng hát khởi hành Từ “lại” vừa biểu thị sự lặp lại tuần tự,thường nhật, liên tục mỗi ngày của công việc lao động vừa biểu thị ý so sánh ngượcchiều với câu trên: đất trời vào đêm nghỉ ngơi mà con người bắt đầu lao động, một côngviệc lao động không ít vất vả

+ Hình ảnh “câu hát căng buồm” - cánh buồm căng gió ra khơi- là ẩn dụ cho tiếng hátcủa con người có sức mạnh làm căng cánh buồm Câu hát là niềm vui, niềm say sưahứng khởi của những người lao động lạc quan yêu nghề, yêu biển và say mê với côngviệc chinh phục biển khơi làm giầu cho Tổ quốc

*Câu hát của người lao động còn mang theo một niềm mong mỏi tha thiết, vừa hiện thực vừa lãng mạn:

Hát rằng cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi.

- Họ hát khúc hát ca ngợi sự giầu có của biển cả Họ hát bài ca gọi cá vào lưới, mongmuốn công việc đánh cá thu được kết quả tốt đẹp

- Từ dáng cá hình thoi, nhà thơ chợt liên tưởng đến biển như một tấm lụa lớn mà đàn cá

là “đoàn thoi” đang vun vút qua lại Liên tưởng này lại kéo theo một liên tưởng khác:

“Đoàn thoi”cá dệt nên tấm lưới của người dân chài

b.Bốn khổ thơ giữa miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển bao la, hùng vĩ:

Trang 22

Mỗi khổ thơ là một nét vẽ về biển trời, sóng nước, trăng sao có nhiều yếu tố lãng mạn,tràn đầy tưởng tượng dựa trên những yếu tố hiện thực của đời sống trong đó con ngườihiện lên trong dáng vẻ trẻ trung, khỏe mạnh và yêu đời.

*.Biển rộng lớn mênh mông và khoáng đạt trong đêm trăng sáng

- Trên mặt biển đó, có một con thuyền đang băng băng lướt đi trên sóng Con thuyềnđánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la giờ đây qua cái nhìn của nhà thơ chợt trở nênlớn lao, kì vĩ

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng

- Một con thuyền đặc biệt có gió là người cầm lái, còn trăng là cánh buồm Con thuyềnbăng băng lướt sóng ra khơi để “dò bụng biển” Công việc đánh cá được dàn đan nhưmột thế trận hào hùng Tư thế và khí thế của những ngư dân thật mạnh mẽ, đầy quyếttâm giữa không gian bao la của biển trời

- Như vậy, tầm vóc của con người và đoàn thuyền đã được nâng lên hòa nhập vào kíchthước của thiên nhiên vũ trụ Không còn cái cảm giác nhỏ bé lẻ loi khi con người đốidiện với trời rộng sông dài như trong thơ Huy Cận trước cách mạng Hình ảnh thơ thậtlãng mạn bay bổng và con người có tâm hồn cũng thật vui vẻ, phơi phới Công việc laođộng nặng nhọc của người đánh cá đã trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùngthiên nhiên

*Biển giầu đẹp nên thơ và có thật nhiều tài nguyên:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Đêm thở sao lùa nước Hạ Long

- Huy Cận đã ngợi ca sự giàu có của biển cả bằng cách liệt kê tên các loài cá và tậptrung miêu tả màu sắc của chúng trong đêm trăng Những con cá song giống như ngọnđuốc đen hồng đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn

dụ độc đáo Tuy nhiên “cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” lại là hình ảnh đẹp nhất Ánhtrăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quẫy ánh trăng tan ra vàng chóe.Phải thật tinh tế mới có được những phát hiện tuyệt vời ấy Cảnh biển về đêm mới đẹp

đẽ và thi vị làm sao!

- “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình ảnh nhân hóa đẹp Đêm được miêu tả nhưmột sinh vật đại dương: nó thở Tiếng thở của biển đêm chính là ánh sao lùa sóng nước,hoà với tiếng gõ thuyền trong nhịp điệu hối thúc của đêm tàn… Nhưng tưởng tượngcủa nhà thơ lại được cắt nghĩa bằng một hình ảnh bất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làmnên tiếng thở của đêm Đây là một hình ảnh đảo ngược, sóng biển đu đưa lùa bóng saotrời nơi đáy nước chứ không phải bóng sao lùa sóng nước Đây là một hình ảnh lạ - mộtsáng tạo nghệ thuật của Huy Cận khiến cho cảnh thiên nhiên thêm sinh động Tất cả làmnên một cuộc hoà nhịp diệu kì giữa con người lao động và thiên nhiên vũ trụ

*.Biển không những giầu đẹp mà còn rất ân nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ.Biển cho con người cá, nuôi lớn con người Những người dân chài đã hát bài ca gọi cávào với họ:

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Trang 23

Không phải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là “trăng cao gõ” Trong đêmtrăng sáng, vầng trăng in xuống mặt nước, sóng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạnthuyền thành hình ảnh “nhịp trăng cao gõ” Có thể nói đây là hình ảnh lãng mạn đầy chấtthơ làm đẹp thêm công việc lao động đánh cá trên biển Thiên nhiên đã cùng với conngười hòa đồng trong lao động

- Câu thơ “biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào” là một lời hát ântình sâu sắc trong bài ca lao động say sưa thơ mộng, hùng vĩ và đầy lòng biết ơn

*.Một đêm trôi đi thật nhanh trong nhịp điệu lao động hào hứng hăng say:

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng

Những đôi bàn tay kéo lưới nhanh thoăn thoắt gợi lên vẻ đẹp rắn rỏi, khỏe mạnh vớinhững bắp tay cuồn cuộn của người dân chài khi kéo mẻ lưới đầy cá nặng Từ phía chântrời bắt đầu bừng sáng Khi mẻ lưới được kéo lên, những con cá quẫy dưới sánh sáng củarạng đông và lóe lên màu hồng gợi khung cảnh thật rạng rỡ huy hoàng, tươi đẹp Câu thơ

“lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” tạo một sự nhịp nhàng giữa sự lao động của conngười với sự vận hành của vũ trụ Con người muốn chia sẻ niềm vui với ánh bình minh

c Và đây là hình ảnh đoàn thuyền đánh cá trên đường trở về:

Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

- Đoàn thuyền đánh cá đã ra đi vào lúc hoàng hôn trong tiếng hát và trở về vào lúcbình minh cũng trong tiếng hát Những câu thơ được lặp lại như một điệp khúc của mộtbài ca lao động Chữ “hát” xuất hiện bốn lần trong bài thơ, đem lại âm điệu tươi vui khoẻkhoắn của một khúc ca lao động đầy hào hứng, say mê Nếu như tiếng hát lúc trước thểhiện niềm vui khi lao động thì tiếng hát sau lại thể hiện sự phấn khởi vì kết quả lao độngsau một đêm làm việc hăng say Họ trở về trong tư thế mới “chạy đua cùng mặt trời” Từ

“chạy đua” thể hiện khí thế lao động mạnh mẽ, sức lực vẫn dồi dào của người lao động.Đoàn thuyền được nhân hóa, cả mặt trời cũng tham gia vào cuộc chạy đua này và kết quảcon người đã chiến thắng

- Hai câu kết khép lại bài thơ nhưng lại mở ra một cảnh tượng thật kì vĩ và chói lọi.Phải nói rằng Huy Cận đã rất tinh tế khi miêu tả sự vận hành của vũ trụ Mặt trời từ từnhô lên trên sóng nước xanh lam , chiếu tỏa ánh sáng rực rỡ, cảnh biển bừng sáng và cònđẹp hơn với kết quả lao động Con thuyền chở về khoang nào cũng đầy ắp cá Mắt cáphản chiếu ánh mặt trời giống như muôn vàn mặt trời nhỏ li ti Đó thật sự là một cảnhtượng đẹp, huy hoàng giữa bầu trời và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động

d Tổng kết.

Theo hành trình chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, bài thơ đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ về thiên nhiên vũ trụ và người lao động, thể hiện sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống.

Bài thơ có nhiều sáng tạo trong xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong

phú độc đáo; có âm hưởng khoẻ khoắn, hào hùng lạc quan

4 Liên hệ mở rộng.

Trang 24

Bài ca mùa xuân 1961 (Tố Hữu)

Tôi viết bài thơ xuân

Nghìn chín trăm sáu mốt

Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt

Nắng soi sương giọt long lanh….

Nào đi tới! Bác Hồ ta nói

Phút giao thừa, tiếng hát đêm xuân

Kế hoạch năm năm Mời những đoàn quân

Mời những bàn chân, tiến lên phía trước

Tất cả dưới cờ, hát lên và bước!

Đi ta đi ! Khai phá rừng hoang Hỏi núi non cao, đâu sắt đâu vàng? Hỏi biển khơi xa, đâu luồng cá chạy? Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy

Hỏi đâu thác nhảy, cho điện quay chiều?

Hỡi những người trai, những cô gái yêu

Trên những đèo mây, những tầng núi đá

Hai bàn tay ta hãy làm nên tất cả! Xuân đã đến rồi.Hối hả tương lai Khói những nhà máy mới ban mai…

B Câu hỏi luyện tập.

Câu 1: Viết một đoạn văn phân tích khổ đầu hoặc khổ thơ cuối bài thơ “Đoàn thuyền

đánh cá” của Huy Cận (Tham khảo bài tập làm văn trên)

Câu 2: Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp, tráng lệ, thể hiện sự hài hoà giữa thiên nhiên

và con người lao động Em hãy chọn và phân tích một số hình ảnh đặc sắc trong các khổ thơ 1,3,4, 7 Bút pháp xây dựng hình ảnh của tác giả trong bài thơ có đặc điểm gì nổi bật?

Câu 3: Viết đoạn văn: Khổ 2,3,4 của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” đã miêu tả cảnh biển đẹp, biển giàu (tương tự câu trên)

Câu 4: Viết đoạn văn ngắn khoảng 10 câu nêu cảm nghĩ của em về vẻ đẹp của thiên

nhiên và con người trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”.

Câu 5 Trong câu thơ “vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông”, từ “đông” có nghĩa là gì?

Hãy tìm ít nhất 2 nghĩa của từ “đông” và cho ví dụ Câu thơ đã sử dụng biện pháp tu từgì? Phân tích? Tìm hai ví dụ cũng sử dụng biện pháp tu từ đó mà em đã được học

Câu 6: Cho câu chủ đề sau:

Đoàn thuyền đánh cá không chỉ là một bức tranh sơn mài lộng lẫy về vẻ đẹp củathiên nhiên mà còn là một bài ca ngợi ca vẻ đẹp của con người lao động

a Đề tài của đoạn văn chứa câu mở đoạn là gì? Đề tài của đoạn văn trên đoạnvăn chứa câu mở đoạn là gì?

b Hãy viết tiếp từ 9 đến 15 câu để tạo thành đoạn văn tổng phân hợp hoànchỉnh Trong đó có sử dụng phép thế đồng nghĩa

Câu 7: Hãy chỉ ra và phân tích giá trị nghệ thuật trong câu thơ sau:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Hãy tìm một ví dụ cũng có sử dụng biện pháp tu từ nghệ thuật giống như câu thơtrên (trong chương trình đã học)

Câu 8: Phân tích giá trị các biện pháp tu từ trong câu thơ sau:

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”

Hãy viết 1 đoạn văn phân tích hai câu thơ trên

Câu 9: (Đề thi vào THPT năm học 2005 – 2006)

Trang 25

1) Bài “cành phong lan bể” có câu: “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về” Bài “Đoànthuyền đánh cá” cũng có câu thơ giàu hình ảnh tương tự Hãy chép chính xác khổ thơ

có câu thơ đó và nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ?

2) Con cá song và ngọn đuốc là hai sự vật khác nhau trong tưởng tượng nhưng HuyCận lại có sự liên tưởng hợp lí Tại sao vậy? Câu thơ của ông giúp người đọc hiểuthêm gì về thiên nhiên và tài quan sát của ông?

3) Dưới đây là câu chủ đề cho một đoạn văn trình bầy cảm nhận về khổ thơ yêu cầu

chép ở câu 1: “Chỉ với bốn câu thơ, Huy Cận đã cho chúng ta thấy một bức tranh

kì thú về sự đẹp đẽ của biển cả quê hương”.

Em hãy viết tiếp khoảng 8 đến 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn trên theo phép lậpluận diễn dịch (trong đó có một câu ghép và một câu có thành phần tình thái)

Câu 10: Viết đoạn văn tổng phân hợp khoảng 15 câu:

Cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ kết hợp hài hoà với cảm hứng lao động đã tạo nênnhững hình ảnh rực rỡ, bay bổng, lãng mạn trong khổ thơ thứ hai và thứ ba của bài thơ :

“Đoàn thuyền đánh cá” (Đoạn văn có sử dụng câu bị động và câu có thành phần phụchú)

Câu 11:Trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, tác giả có viết :

“đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

a) Hãy phân tích cái hay của phụ từ “lại”

b) “ Câu hát căng buồm” là cách viết rất đặc sắc, mới đọc tưởng như pji lí nhưng lạirất hay.Hãy phân tích điều đó?

Trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” , tác giả có viết:

“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm với gió khơi”

Câu thơ thứ nhất có sử dụng phụ từ “lại”, thật là cách viết giàu ý nghĩa Nó vừa biểu thị

sự lặp lại tuần tự, là một hoạt động thường nhật, diễn tả nhịp điệu lao động khẩn trương,liên tục Công việc ấy diễn ra ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, có khigắn bó với cả cuộc đời dân chài lưới , bởi họ say mê lao động quên cả thời gian Khôngnhững thế nó còn biểu thị sự tương phản với câu thơ trên:

“ Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Trong cảnh màn đêm buông xuống, mọi sự vật đã chìm đi trong cái tĩnh lặng êm đềm ,

ki bícủa cảnh trời đêm thì đoàn thuyền lại ra khơi , bắt đầu một hành trình mới, với khíthế băng lướt sóng đày quyết tâm Quả thật cách viết đó đã khién ta cảm nhận được sựhăng say lao động thật đáng ngợi ca của những người dân chài lưới

Bên cạnh đó càn một cách viết khác cũng không kém phần đặc sắc của tác giả, đó là “Câu hát căng buồm” Đây là hình ảnh vừa mang ý tả thực, diễn tả hình ảnh cánh buồmtrước sóng gió biển khơi, căng tràn no gió; vừa là hình ảnh ẩn dụ cho sức mạnh tiếng hátcủa người dan chài Tiếng hát ấy vang lên, hoà quyện với khung cảnh nên thơ huyềndiệu của bầu trời đêm, đem sức mạnh làm căng tràn cánh buồm Hình ảnh thơ hùng vímang tính tưởng tượng lãng mạn đã diễn tả nièm say sưa hứng khởi của người lao độngyêu nghề, yêu biển Đó là niềm lạc quan, biết yêu biển cả, yêu cuộc sống Bởi nếu khôngyêu biẻn cả, yêu đời sao họ có thể cất lên những câu hát đẹp đẽ trong sáng và giàu sứcmạnh đến thế

C Phần tập làm văn:

Trang 26

Đề 1: Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận.

Cách 1: Phân tích bài thơ theo bố cục.

- Thời điểm: lúc ngày tàn, đêm đến

- Không gian: Biển cả lúc đêm xuống

- Hoạt động: Đoàn ngư dân ra khơi sôi nổi, khí thế, mong đánh bắt nhiều cá

- Nghệ thuật: Các hình ảnh so sánh, nhân hoá, sự đối lập thanh bằng- thanh trắc, chi tiếttưởng tượng… gợi liên tưởng phong phú, sâu sắc

2 Cảnh đánh cá trên biển đêm (khổ 3- 6)

- Vẻ đẹp kì vĩ của trời biển Đông, của thiên nhiên, đất nước

- Biển Đông là kho cá vô tận với nhiều loại cá quý

- Đoàn ngư dân sôi nổi hăng say lao động trên biển đêm: thả lưới, kéo lưới đạt những

- Thành quả lao động to lớn, đánh bắt được nhiều cá

- Nghệ thuật: Các hình ảnh khoa trương, nhân hoá, ẩn dụ, phóng đại đặc sắc

C Kết bài 1

- Bài thơ có sự kết hợp bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn

- Cảm hứng lãng mạn cách mạng hoà nhập với cảm hứng vũ trụ, thiên nhiên

- Nhịp điệu khoẻ khoắn, giọng điệu vui tươi, không gian trong sáng khác không gianbuồn thảm trong thơ Huy Cận trước năm 1945

Cách 2 : Phân tích bài thơ theo đặc điểm nổi bật của bài :

a Cảnh biển vào đêm vừa rộng lớn vừa gần gũi với con người do một liên tưởng sosánh thú vị của nhà thơ

b Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển

c Đẹp lộng lẫy và rực rỡ đến huyền ảo là những hình ảnh các loài cá trên biển, giữa ánh trăng sao và ánh nắng lúc rạng đông

********************************************

Bài 4: BẾP LỬA

A Ki ến thức cần nhớ.

1 Tác giả

Trang 27

- Bằng Việt là bút danh của Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941 tại Huế, nhưng quê gốc ởhuyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 1960 và thuộc thế

hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ

Thơ Bằng Việt, cảm xúc tinh tế, có giọng điệu tâm tình, mượt mà, trong trẻo, tràn đầycảm xúc Đề tài thơ thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức và ước mơ tuổitrẻ, thơ Bằng Việt rất dễ đem lại cảm xúc cho người đọc, nhất là các bạn đọc trẻ tuổi

- Tác phẩm chính: Hương cây - Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ – 1968),Những gương mặt, những khoảng trời (1973), đất sau mưa (thơ – 1977), Khoảng cáchgiữa lời (thơ – 1983) Cát sáng (thơ 1986), Bếp lửa - Khoảng trời (thơ tuyển 1988)

2 Tác phẩm

- “Bếp lửa” là một trong những sáng tác đầu tay của BV, được sáng tác năm 1963, khi

BV đang là sinh viên khoa pháp lí trường Đại học tổng hợp Ki – ép (Liên xô cũ)

- “Bếp lửa” được đánh giá là một bài thơ hay viết về tình bà cháu

- Bố cục : 3 phần:

+ Phần 1: 3 dòng đầu: hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng về bà + Phần 2: Từ “lên bốn tuổi” đến “niềm tin dai dẳng”: những kỉ niệm tuổi thơ và hình ảnh

người bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa trong hồi tưởng của cháu

+ Phần 3: Từ “lận đận đời bà đến “thiêng liêng bếp lửa”: suy ngẫm về bà và cuộc đời

+ Phần 4: (4 dòng cuối): Hình ảnh bà và bếp lửa sống mãi trong tâm hồn cháu

- Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suyngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làmhiện lên hình ảnh bà với bao vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu; từ kỉniệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sốnggiản dị mà cao quý của bà; cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về bà

3 Chú ý: Cần cảm nhận và thuộc một số câu thơ nói về:

- Hình tượng bếp lửa, ngọn lửa

- Hình tượng con chim tu hú

- Hình ảnh người bà nhóm lửa và đứa cháu bé thơ

- Những câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ làm cho giọng thơ tha thiết bồi hồi.:

VD: ….Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

… Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Hoặc: “Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa!”

“Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

4 Phân tích nội dung bài thơ.

a Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu

* Khổ 1 nói về bếp lửa và lòng cháu thương bà Khi nhớ về quê hương, người ta

thường nhớ về những kỉ niệm gắn liền trong quá khứ như dòng sông, bến đò, cây đa… Đối với Bằng Việt, sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

- Ba tiếng “một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điêụ sâu lắng, hình ảnh quen thuộc trong mọi gia đình Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh của

Trang 28

“chờn vờn sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm” Các từ

“ấp iu”, “nồng đượm”, “chờn vờn”… được dùng rất hình tượng

- Hình ảnh bếp lửa, rất tự nhiên đánh thức dòng cảm xúc hồi tưởng của cháu về bà:

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” Nghĩ về bếp lửa, nhớ về bếp lửa mà trong lòng

đứa cháu đi xa trào dâng một cảm xúc thương bà mãnh liệt

* Từ đó, bài thơ gợi lại cả một thời thơ ấu bên người bà ( Khổ 2,3,4)

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu.

-Bốn câu thơ gợi lại cả một tuổi thơ nhọc nhằn, gian khổ Kí ức đưa nhân vật trở về

những năm “đói mòn đói mỏi” của nạn đói năm 1945 Giọng thơ trĩu xuống, nao naolòng người đọc

- Tuổi thơ ấy còn có cái gian khổ chung của thời kì kháng chiến chống Pháp: giặc giã tàn phá xóm làng:

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi.

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi”

- Mẹ cùng cha công tác bận không về”

Cháu sống trong sự nuôi nấng, dậy dỗ của bà : “Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe - Bà

dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

- Kỉ niệm về những năm tháng tuổi thơ gắn liền với bếp lửa, với khói bếp bởi “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”, tức là sớm phải lo toan Và sau đó “tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa”, cho nên nhớ về tuổi thơ, nhân vật trữ tình “chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu – Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” Cái cảm giác cay nơi sống mũi khi nhớ

về tuổi thơ ấy đâu chỉ là vì khói, mà chủ yếu là vì cồn cào một nỗi nhớ thương bà Cảmgiác ấy thật chân thực và xúc động trong hai câu thơ có giá trị biểu cảm cao

- Nhớ nhất vẫn là hình ảnh người bà bên bếp lửa: “rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà

nhen” Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang

đùm bọc đầy chi chút của người bà Bên bếp lửa, bà “hay kể chuyện những ngày ở Huế”, rồi “bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”, “bà dặn cháu đinh ninh:

“Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.

=> Tình bà ấm áp lại càng ấm áp hơn bên bếp lửa Hình ảnh người bà bỗng nhiên trở nêncao lớn, vĩ đại Bà là hiện thân cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà – bà nội, bà ngoại – đã thay thế vai trò của người mẹ hiền Sống trong những năm dài chiến

tranh, thế nhưng bà vẫn vững lòng trước mọi tai hoạ, thử thách Các từ ngữ như “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ Chữ”bà” và chữ “cháu” được điệp lại 4

lần gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương Được sống trong tình thương là hạnh phúc.Người cháu trong bài thơ “bếp lửa” tuy phải sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiều thiếu thốn khó khăn, nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà Vì thế cháu mới cảm thấy một cách thiết tha nồng hậu: “nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

Trang 29

- Bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu lại đánh thức thêm một kỉ niệm tuổi thơ:

tiếng chim tu hú trong suốt tám năm ròng của tuổi thơ - những kỉ niệm đầy ắp âm thanh,

ánh sáng và những tình cảm sâu sắc xung quanh cái bếp lửa quê hương :

“ Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

+Tiếng chim tu hú là tiếng chim quen thuộc của đồng quê mỗi độ vào hè Tiếng chim

quen thuộc ấy bỗng trở thành một phần thân thương, không thể thiếu của kỉ niệm Cháu

tha thiết nhớ tiếng chim tu hú “kêu trên những cánh đồng xa” Tiếng chim râm ran trong

vườn lá, trên cánh đồng cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong hiện thực đã tha thiết,tiếng chim trong nỗi nhớ như giục giã, khắc khoải một điều gì da diết lắm, khiến lòng

người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong: “tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!” Nhà thơ đang kể chuyện về bà mà như tách hẳn ra để trò chuyện trực tiếp với bà: “bà còn nhớ không bà…?”… Tâm hồn trẻ thơ của cháu chợt dấy lên một mong mỏi da diết:

“Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

+ Âm điệu tha thiết của câu thơ còn gợi ra tình cảnh vắng vẻ, côi cút, vời vợi nhớ thươngcủa hai bà cháu

Câu thơ mới thấm thía làm sao, xót xa làm sao! Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc chocháu lớn lên, nuôi dưỡng cả tâm hồn lẫn thể chất cho cháu, vậy mà bây giờ cháu cũng đi

xa, để bà một mình khó nhọc.Tiếng chim tu hú giờ đây trở thành một mảnh tâm hồn tuổithơ để gợi nhớ gợi thương Cháu thương bà vất vả, lo toan, biết ngỏ cùng ai, chỉ có thểtâm tình với chim tu hú mà thôi Như vậy, bếp lửa đánh thức kỉ niệm tuổi thơ, ở đó lunglinh hình ảnh người bà và có cả hình ảnh quê hương

=> Tóm lại, làm nên thành công của đoạn thơ nhớ về bà, qua dòng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan cài nhuần nhuyễn với nhau giữa các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự Đây cũng là nét bút pháp quen thuộc của nhà thơ Chính sự kết hợp nhuần nhị độc đáo đó khiến cho hình ảnh của bà thật gần gũi, những mảng kí ức tuổi thơ lại hiện về sống động và chân thành, giản dị.

b Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa (Khổ 5,6)

- Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu trở về hiện tại đ ể suy ngẫm

về cuộc đời và lẽ sống của bà và cũng là để thương bà nhiều hơn, nhớ bà nhiều hơn.

Hình ảnh bà luôn gắn liền vời hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa Có thể nói bà là “người nhómlửa”, lại cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và toả sáng trong mỗi gia đình

+ Sự tần tảo, đức hi sinh chăm lo cho mọi người của bà được tác giả thể hiện trng một

chi tiết rất tiêu biểu:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ.

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

+Cuộc đời của bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả Bà cần mẫn lo

toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong

gia đình Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cuộc đời bà, đã trải qua nắng mưa “mấy chục năm rồi” Bà không chỉ nhóm bếp lửa bằng đôi bàn tay già nua, gầy guộc, mà là bằng tất

cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nồng đượm” của bà đối với con cháu

Trang 30

+ Điệp từ “nhóm” được nhắc đi nhắc lại 4 lần trong 4 câu thơ đan kết với những chi tiết

rất thực… có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp, nhóm lửa của bà nhưnglại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm để sưởi ấmcho bà cháu qua cái lạnh buốt của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếpluộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cáingọt bùi của sắn khoai, của tình yêu thương vô hạn của bà Đến câu tiếp theo thì lòng bàcòn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới mùa gặt là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn

bó, chia ngọt, sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy

cả tâm tình tuổi nhỏ Tình cảm của bà bao la giản dị như khoai sắn và cũng đậm đà nhưkhoai sắn

+ Các từ ngữ “ấp iu nồng đượm”, “yêu thương”, “ngọt bùi”, “chung vui” thể hiện sự

tinh luyện của một ngòi bút nghệ thuật, đã diễn tả thật hay tình thương, niềm vui, sự no

ấm, hạnh phúc mà bà đã mang lại cho con cháu Bà đã “nhóm dậy cả những tâm tình tuổinhỏ”, nuôi dưỡng và làm bừng sáng những ước mơ, những khát vọng của đàn cháu nhỏ.Bếp lửa bà nhen đã nhóm lên ngọn lửa của tình thương ấm áp Chính vì thế mà nhà thơ

đã cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng liêng:

“ÔI! Kì lạ và thiêng liêng - Bếp lửa” Như vậy, từ ngọn lửa của bà, cháu nhận ra cả một

“niềm tin dai dẳng” về ngày mai, cháu hiểu được linh hồn của một dân tộc vất vả, gian

lao mà tình nghĩa Từ bếp lửa bình dị, quen thuộc, người cháu nhận ra bao điều “kì diệu

và thiêng liêng” Ngọn lửa từ bàn tay bà với bao nhiêu yêu thương trìu mến đã nuôi lớn

tuổi thơ cháu

- Nhưng nhà thơ còn nhận ra một điều sâu xa nữa: Cái bếp lửa mà bà nhen sớm sớm

chiều chiều” không phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài mà đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình yêu thương “luôn ủ sẵn” trong lòng bà, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt Bởi vậy, từ “bếp lửa” bài thơ đã gợi đến

“ngọn lửa”, với ý ngihã trừu tượng khái quát:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”

- Ngọn lửa là những kỉ niệm lòng, niêm tìn thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốtchặng đường dài Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền chocháu Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian: “rồi sớm rồi chiều”, cácđộng từ “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là củangười phụ nữ Việt Nam giữa thời chiến Điệp ngữ “một ngọn lửa” cùng kết cấu songhành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào Tình thương, đức hisinh, tính kiên trì nhẫn nại của bà là nguồn nhiên liệu vô tận làm bừng sáng lên ngọn lửavĩnh cửu truyền cảm ấy Như thế, hình ảnh bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa màcòn là người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp

c Niềm thương nhớ của cháu:

- Đứa cháu năm xưa giờ đã trưởng thành

“ Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu.

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

… Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa”

- Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với những điều mới mẻ Cháu đã được sốngvới những niềm vui rộng mở, nhưng giữa “ngọn khói trăm tàu, ngọn lửa trăm nhà, cháuvẫn không thể quên bếp lửa của bà, vẫn không nguôi nhớ thương bà… Mỗi ngày đều tựhỏi: “sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?, mỗi ngày đều nhớ về bà và bếp lửa của bà

Trang 31

Hình ảnh ấy đã trở thành kỉ niệm thiêng liêng làm ấm lòng, nâng đỡ cháu trên nhữngbước đường đời

- Ngôn ngữ thơ dào dạt, lan toả như lửa ấm hay đây chính là cảm xúc dâng trào của nhânvật người cháu, của nhà thơ? Mỗi chữ cứ như hồng lên, nồng ấm biết bao tình cảm nhớthương, ơn nghĩa Đó là đạo lí cội nguồn của dân tộc Việt Nam chúng ta trong quan hệgia đình – con cháu đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “ra sôngnhớ suối, có ngày nhớ đêm”

d Bài thơ chứa đựng một ý nghĩa triết lí thầm kín: những gì là thân thiết nhất của tuổi

thơ mỗi người đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình đài rộng của cuộcđời Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêuthương, sự gắn bó với gia đình, quê hương, và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu conngười, tình yêu đất nước

Bằng Việt đã sáng tạo hình tượng bếp lửa vừa thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng kếthợp miêu tả, biểu cảm, tự sự và bình luận; giọng điệu và thể thơ tám chữ phù hợp vớicảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm Bài thơ như ngọn lửa ấm áp toả sáng và cháy mãi trongtình cảm của người đọc

5 Tổng kết:

Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà Tình cảm ấy là biểu hiện cụ thể và đẹp đẽ của tình cảm gắn

bó với gia đình, với quê hương, đất nước.

Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu.

B Câu hỏi luyện tập

Câu 1: Hãy nêu nhận xét về hình ảnh tượng trưng của hình tượng “bếp lửa”

Câu 2: Hình ảnh bếp lửa gợi lại những kỉ niệm nào của bà và cháu? Vì sao người cháu

có “ngọn khói trăm tàu, có lửa trăm nhà, có niềm vui trăm ngả” mà vẫn không quên nhắc

về bếp lửa?

Câu 3: Phân tích giá trị nghệ thuật của điệp từ “nhóm” trong khổ thơ sau

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

- Điệp từ “nhóm” được nhắc lại 4 lần làm toả sáng hơn nét “kì lạ” và thiêng liêng

bếp lửa Bếp lửa của tình bà đã nhóm lên trong lòng cháu bao điều thiêng liêng, kì lạ

Từ “nhóm” đứng đầu mỗi dòng thơ mang nhiều ý nghĩa: Từ bếp lửa của bà những gì được nhóm lên, khơi lên?

+ Khơi dậy tình cảm nồng ấm

+ Khơi dậy tình yêu thương, tình làng nghĩa xóm, quê hương

+ Khơi dậy những kỉ niệm tuổi thơ, bà là cội nguồn của niềm vui, của ngọt bùi nồngđượm, là khởi nguồn của những tâm tình tuổi nhỏ

=> Đó là bếp lửa của lòng nhân ái, chia sẻ niềm vui chung

Câu 4: Cho câu thơ:

“lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”

a Hãy chép chính xác 7 câu thơ tiếp theo

b Đoạn thơ vừa chép nằm trong bài thơ nào? của ai?

Trang 32

c Từ “nhóm” trong đoạn thơ vừa chép có những nghĩa nào?

d Hình ảnh bếp lửa và ngọn lửa được nhắc đến trong bài thơ có ý nghĩ gì?

Câu 5:Viết đoạn văn ngắn nêu cảm nghĩ về hình ảnh người bà trong bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt.

Câu 6: Cho câu chủ đề sau:

Bên cạnh đó tác giả còn khắc hoạ rất đậm nét nhân vật trữ tình người cháu với những cảm nhận sâu sắc về bà và bếp lửa

Hãy hoàn thành đoạn văn trên bằng đoạn văn tổng phân hợp có độ dài khoảng 12 ->

15 câu Trong đoạn văn có sử dụng một phép liên kết, 1 thành phần biệt lập, gạchchân chỉ rõ

Câu 7: So sánh hai bài thơ “bếp lửa”của Bằng Việt và “Tiếng gà trưa” của Xuân

Quỳnh (ngữ văn 7, tập một) để chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau về đề tài, nộidung cảm xúc và kỉ niệm, cách biểu đạt và suy nghĩ

Câu 8: Trong bài thơ, hai lần tác giả dùng cụm từ “biết mấy nắng mưa” để nói về

cuộc đời bà Chép hai câu thơ có cụm từ ấy trong bài thơ và nêu ý nghĩa của cụm từnày, liên hệ với môộ số ví dụ trong thơ ca có sử dụng từ “nắng, mưa” để minh hoạ

Câu 9: Tìm những hình ảnh trong văn học có ý nghĩa biểu tượng như hình ảnh bếp

lửa trong bài thơ

Câu 10: Cho câu chủ đề sau: Từ những hoài niệm về tuổi thơ và bà, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà và về lẽ sống của bà.

Hãy hoàn thành tiếp đoạn văn theo cách diễn dịch, trong đoạn có sử dụng một câu bịđộng, một thành phần biệt lập

- tình yêu quê hương nói chung trong các bài thơ đã học, đã đọc

- tình yêu quê hương với nét riêng trong bài thơ “bếp lửa” của Bằng Việt

- Bài thơ viết năm 1963 – khi tác giả đang là sinh viên du học tại Liên Xô Trong hoàn cảnh sống xa quê hương, xa người thân, những kỉ niệm về tuổi thơ, về quê hương có điều kiện được ươm mầm, nảy nở Qua dòng thơ hồi tưởng kết hợp miêu tả, tự sự, bình luận, nhà thơ giúp ta cảm nhận được những tình cảm, cảm xúc chân thành của nhân vật trữ tình - người cháu – và hình ảnh người bà giàu tình thương, giàu đức hi sinh

Trang 33

Cách 2: Trong cuộc đời mỗi con người, kỉ niệm tuổi thơ bao giờ cũng đẹp đẽ, thân

thương và chứa chan tình nghĩa Bởi vì những kỉ niệm ấy thường gắn bó với những người ruột thịt, gần gũi: mẹ ta, cha ta, anh chị em, ông bà, bè bạn Với Bằng Việt, kỉ niệm về tình bà cháu chắc là sâu nặng lắm, thân thiết lắm mới khơi nguồn cho dòng cảm xúc, ấm lòng, để sáng tạo một bài thơ đặc sắc: Bếp lửa Có thể đấy là những kỉ niệm riêng của nhà thơ, song đọc bài thơ, chúng ta vẫn được sưởi chung với ông hơi lửa của tình người giàu ân nghĩa, một bếp lửa kì diệu và thiêng liêng!

B Thân bài:

1 Giới thiệu chung.

Bài thơ được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh người bà với sự chăm sóc, lo toan, vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà Cuối cùng người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về với bà Mạch cảm xúc của bài thơ là

đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm Bài thơ là lời của người cháu ở nơi xa nhớ về bà và những kỉ niệm với bà, nói lên lòng kính yêu và những suy ngẫm về

1 Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu

* Sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa thời thơ ấu :

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

+ Giọng điêụ sâu lắng, ba tiếng “một bếp lửa” đã trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ Hình ảnh bếp lửa “chờn vờn sương sớm” là hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong mỗi gia đình từ bao đời Chờn vớn: từ láy tượng hình vừa giúp ta hình dung làn sương sớm đang bay nhè nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ nhoà của hình ảnh kí ức theo thời gian Ấp iu:

là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ trẻ Đó là sự kết hợp và biến thế của hai từ “ấp ủ” và

“nâng niu” “Ấp iu” gợi ra bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp lửa lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể

- Hình ảnh bếp lửa, rất tự nhiên đánh thức dòng cảm xúc hồi tưởng của cháu về bà, người nhóm lửa, người nhóm bếp lặng lẽ, âm thầm mỗi sớm mai: ”Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” Đọng lại trong mấy dòng thơ ấy là chữ “thương”, trong lòng đứa cháu trào dâng cảm xúc thương bà bởi bếp lửa của bà, bếp lửa của một cuộc đời đã trải qua

“biết mấy nắng mưa” – nghèo khổ, vất vả Chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, làm cho cảm xúc lan toả, thấm sâu vào hồn người

* Từ đó, bài thơ gợi lại cả một thời thơ ấu bên người bà :

- Cả một thời thơ ấu nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn bỗng sống lại:

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945: “cả dân tộc đói nghèo trong rơmrạ” (Chế Lan Viên) Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” – cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệtsức, con ngựa gầy rạc cùng với người bố đánh xe chắc cũng gầy khô… có mối lo giặctàn phá xóm làng, có những hoàn cảnh chung của nhiều gia đình Việt Nam trong cuộckháng chiến chống Pháp: mẹ và cha công tác bận không về, cháu sống trong sự cưu

Trang 34

mang, dạy dỗ của bà, sớm có ý thức tự lập, sớm phải lo toan Giọng thơ trĩu xuống, naolòng người đọc.

- Ấn tượng nhất là mùi khói bếp: “Khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi

còn cay” “Mùi khói” rồi lại “khói hun”… Nhà thơ đã chọn được một chi tiết thật sát hợpvừa miêu tả chân thực cuộc sống tuổi thơ- khói nhiều cay, khét vì củi ướt vì sươngnhiều và lạnh - và vừa biểu hiện thấm thía tình cảm, sự xúc động khi tỏ, khi mờ, khi dadiết bâng khuâng, lúc xót xa thương mến Nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ màcồn cào một nỗi nhớ thương bà Hai câu thơ có giá trị biểu cảm cao! Chắc hẳn cảm xúcquá khứ phải phải sâu sắc lắm mới có thể trỗi dậy mạnh mẽ thế Cho dù năm tháng trôiqua nhưng kí ức ấy trở thành một vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai Thơ Bằng Việt cósức truyền cảm mạnh mẽ nhờ ở những chi tiết, ngôn từ chân thực và giản dị như thế Cái

“bếp lửa” kỉ niệm của ông chỉ mới khơi lên, thoang thoảng mùi khói, mờ mờ sắc khói

mà đã đầy ắp những hình ảnh hiện thực và thấm đẫm biết bao nghĩa tình sâu nặng

- Bếp lửa lại thổi hồng lên kỉ niệm của tuổi thiếu niên được khi quê hương, đất nước

có chiến tranh Ngôn ngữ, hình ảnh thơ rõ dần Giọng thơ thủ thỉ như giọng kể trong

một câu chuyện cổ tích, có thời gian, không gian, có sự việc và nhân vật cụ thể

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa.

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa….

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.

+ Tám năm ròng, con số không lớn, nhưng ngày tháng cứ kéo dài, ròng rã, nặng nề Bởi

vì “những ngày ở Huế ấy, cuộc sống gia đình thật hoang vắng, quạnh hiu Bố mẹ đi côngtác xa, bận không về Chỉ còn hai bà cháu cặm cụi bên nhau, “nhóm lửa” mỗi sớm, mỗichiều trong tiếng tu hú kêu

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen” Bên bếp lửa: “bà hay kể chuyện những ngày ởHuế”, “bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”, bà dặn cháu đinh ninh:

“Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

+ Nếu trong kỉ niệm hồi bốn tuổi, ấn tượng đậm nét nhất của đứa cháu là “mùi khói” thìđến đây, ấn tượng đấy là “tiếng tu hú kêu” Trong mười một câu thơ mà có tới 5 lầntiéng tu hú Lúc mơ hồ văng vẳng từ “những cánh đồng xa” lúc gần gũi “nghe sao mà thathiết”, tiếng tu hú như san thở, sẻ chia Có lúc nó gióng giả, dồn dập, “kêu hoài”.Tiếngchim tu hú là tiếng chim quen thuộc của đồng quê mỗi độ vào hè Tiếng chim râm rantrong vườn lá, trên cánh đồng cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong hiện thực đã thathiết, tiếng chim trong nỗi nhớ như giục giã, khắc khoải một điều gì da diết lắm, khiếnlòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong

=> Đưa tiếng chim tu hú - một âm thanh rất đồng nội ấy vào thơ, thi sĩ Bằng Việt quả làmột tâm hồn thơ gắn bó sâu nặng với quê hương, tổ quốc Việt Nam

- Trong các cung bậc khác nhau của tiếng chim tu hú, tâm trạng của người cháu mỗi lúc

một thiết tha, mạnh mẽ, hình ảnh người bà hiện rõ dần Bên bếp lửa hồng, bà kể

chuyện, chuyện đời thực ngày nay, chuyện cổ tích ngày xưa Rồi “bà bảo cháu nghe, bàdạy cháu làm, bà chăm cháu học”… Bà đã thay thế vai trò của người mẹ hiền luôn bêncháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên.Từng việc, từng việc, nhỏ nhẹ, âm thầm, hai bàcháu từng ngày, từng tháng và “tám năm ròng” cùng nhau “nhóm bếp lửa” để nuôidưỡng thể chất và tâm hồn, trí tuệ cho cháu Chữ “bà” và “cháu” được điệp lại bốn lầngợi tả tình bà và cháu quấn quýt yêu thương Được sống trong tình thương là hạnh phúc,người cháu tuy sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiều thiếu thốn khó khăn, nhưng em thật hạnh

Trang 35

phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà Vì thế cháu mới cảm thấy mộtcách thiết tha nồng hậu: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”.

- Đứa cháu lớn dần, cuộc sống khó khăn hơn Song nghị lực của bà vẫn bền vững, tấmlòng của người bà vẫn mênh mông Bà là hiện thân cụ thể, sinh động nhất cho hậuphương lớn Sống trong những năm dài của chiến tranh thế nhưng bà vẫn vững lòngtrước mọi tai hoạ, thử thách:

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi.

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi.

Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.

Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:

Bố ở chiến khu bố còn việc bố.

Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Hình ảnh người bà bỗng trở nên cao lớn vĩ đại hơn trong những vần thơ hết sức chânthực Chúng ta vô cùng thấm thía vẻ đẹp tinh thần của cả một thế hệ người VN trongcuộc kháng chiến chống ngoại xâm vừa qua Đó là tình đoàn kết xóm làng, là ý chí nghịlực của những người mẹ, người bà ở hậu phương hướng ra tiền tuyến và đẹp hơn hết là

vẻ lung linh, bất diệt của tình bà cháu hoà trong tình yêu quê hương, Tổ quốc

* Do đó, không phải ngẫu nhiên, từ hình ảnh “bếp lửa”, đến đây lời thơ bừng sáng thành “ngọn lửa”.

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen.

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn.

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.

+ Nếu “bếp lửa” trong những câu thơ trên chủ yếu biểu hiện cuộc sống âm thầm, lặng lẽtrong căn nhà nhỏ hẹp của hai bà cháu thì “Ngọn lửa” mà “bà nhen mỗi sớm mỗi chiều”

từ dòng thơ này mang ý nghĩa khái quát, rộng lớn hơn Đó là sức sống, là tình thương, làniềm tin của bà trong cuộc sống hai bà cháu, cuộc sống gia đình và rộng ra là đối vớitoàn dân tộc, với công cuộc chiến đấu lúc bấy giờ Điệp từ “một ngọn lửa” cùng kết cấusong hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào Tình thương,đức hi sinh, tính kiên trì, nhẫn nại của bà là nguồn nhiên liệu vô tận làm bừng sáng lênngọn lửa vĩnh cửu, truyền cảm ấy Hình ảnh “ngọn lửa” toả sáng câu thơ, lung linh chândung của bà, làm ấm lòng trái tim mỗi bạn đọc chúng ta “Ngọn lửa” biểu tượng của sựsống muôn đời bất diệt, không chỉ là của riêng bà trong kỉ niệm của cháu ở bài thơ này,

mà còn là biểu tượng chung cho toàn dân tộc, đất nước ta trước kia, thắp sáng đến tậnngày nay

2 Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa.

- Ở đoạn thơ cuối, kỉ niệm tuổi thơ lắng dần, từ cảm xúc nhớ thương của đứa cháu nhỏđối với bà, thơ chuyển sang những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời, về ân sâu nghĩa nặngcủa người thanh niên trưởng thành ngày nay đối với bà của mình và thế hệ ông bà, cha

Trang 36

- Từ đầu bài thơ, hình ảnh bà luôn song hành cùng hình ảnh bếp lửa Đến đoạn cuối này,người bà và bếp lửa như đã hoà làm một Chính vì thế mà nhà thơ đã cảm nhận đượctrong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng liêng: “Ôi kì lạ và thiêngliêng - Bếp lửa!”

+ Điệp từ “Nhóm” được nhắc lại bốn lần mang bốn nghĩa khác nhau, bồi đắp cao dần,toả sáng dần dần Tác giả - người cháu trong bài thơ như đã nhận ra một điều sâu xarằng: Bếp lửa được bà nhen lên mỗi sớm mỗi chiều ấy không phải chỉ bằng nhiên liệu từbên ngoài mà còn chính là được nhóm lên từ ngọn lửa trong lòng bà - ngọn lửa của sựsống, lòng yêu thương và niềm tin Vì thế, khi bà “nhóm bếp lửa” cũng là lúc nhómniềm yêu thương, bà truyền cho cháu tình ruột thịt nồng ấm, “nhóm nồi xôi gạo mới sẻchung vui”, bà mở rộng tấm lòng đoàn kết, gắn bó với làng xóm, quê hương Và cuốicùng, người bà kì diệu ấy “Nhóm dậy”, “khơi dậy”, giáo dục, thức tỉnh tâm hồn và sứcsống thanh xuân thơ ấu để đứa cháu được đi xa, được thấy “ngọn trăm tàu”, để có “lửatrăm nhà, niềm vui trăm ngả” Như thế, hình ảnh bà không những biểu tượng cho người

“nhóm lửa”, “giữ lửa” mà còn biểu tượng cho những người, lớp cha ông, truyền lửa truyền ngọn lửa của sự sống, lòng yêu đời, niềm tin… cho các thế hệ nối tiếp

Trong bài thơ, có tới mười lần tác giả nhắc tới bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa làhình ảnh người bà, người phụ nữ Việt Nam muôn thưở với vẻ đẹp tảo tần, nhẫn nại vàđầy yêu thương Bếp lửa là tình bà ấm nóng, bếp lửa là tay bài chăm chút Bếp lửa gắnvới những khó khăn, gian khổ đời bà Ngày ngày, bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm lênniềm vui, sự sống, niềm yêu thương chi chút dành cho con cháu và mọi người

3 Niềm thương nhớ của cháu:

- Đứa cháu năm xưa giờ đã trưởng thành

“ Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu.

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

… Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa”

- Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với những điều mới mẻ Cháu đã được sốngvới những niềm vui rộng mở, nhưng giữa “ngọn khói trăm tàu, ngọn lửa trăm nhà, cháuvẫn không thể quên bếp lửa của bà, vẫn không nguôi nhớ thương bà… Mỗi ngày đều tựhỏi: “sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?, mỗi ngày đều nhớ về bà và bếp lửa của bà.Hình ảnh ấy đã trở thành kỉ niệm thiêng liêng làm ấm lòng, nâng đỡ cháu trên nhữngbước đường đời

=>Ngôn ngữ thơ dào dạt, lan toả như lửa ấm hay đây chính là cảm xúc dâng trào củanhân vật người cháu, của nhà thơ? Mỗi chứ cứ như hồng lên, nồng ấm biết bao tình cảmnhớ thương, ơn nghĩa Đó là đạo lí cội nguồn của dân tộc Việt Nam chúng ta trong quan

hệ gia đình – con cháu đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “rasông nhớ suối, có ngày nhớ đêm”

C Kết luận:

- Tóm lại, qua sự hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếplửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòngkính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quêhương, đất nước

- Bài thơ chứa đựng ý nghĩa triết lí thầm kín: những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ

mỗi người đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sựgắn bó với gia đình, quê hương, và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu con người, tìnhyêu đất nước

Trang 37

- Bài thơ sáng tạo hình tượng bếp lửa vừa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng; kết hợpmiêu tả, biểu cảm, tự sự và bình luận; giọng điệu và thể thơ tám chữ phù hợp với cảmxúc hồi tưởng, suy ngẫm

- Bài thơ như đánh thức những kỉ niệm tuổi ấu thơ về ông bà trong mỗi người

Bài 5: KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ

A Kiến thức cần nhớ.

1 Tác giả: Nguyễn KHoa Điềm sinh năm 1943, quê ở Thừa Thiên - Huế trong một gia

đình trí thức cách mạng Sau khi tốt nghiệp trường dDHSP năm 1964, NKĐ về lại quêhương tham gia cuộc chiến đấu chống Mĩ Ông bắt đầu làm thơ từ năm 1968, và là mộtnhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm kháng chiến chóng Mĩ Thơ NKĐgiàu chất suy tư, dồn nén xúc cảm thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia vào cuộcchiến đấu của nhân dân Tác phẩm chính: tập thơ : Đất ngoại ô (1972); Trường ca Mặtđường khát vọng (được hoàn thành ở Bình Trị Thiên 1971, in lần đầu 1974)

- Tác phẩm thể hiện tình yêu con và ước vọng của người mẹ dân tộc qua đó bày tỏ lòngyêu quê hương đất nước và khát vọng tự do của nhân dân ta trong cuộc kháng chiếnchống Mĩ

- Nhà thơ đã thể hiện cảm nghĩ về người mẹ Tà Ôi trong ba khúc hát, tương đương với

ba đoạn, ba khúc hát ru:

+ Khúc thứ nhất: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương bộ đội

+ Khúc thứ hai: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương dân làng

+Khúc thứ ba: khúc hát ru của người mẹ thương con, thương đất nước.

- Bài thơ có cấu trúc trùng điệp: lặp lại lời và lặp câu Từng khúc đều mở đầu bằng hai

câu thơ: “Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ ( ) và kết thúc bằng lời ru trực tiếp của người mẹ: Ngủ ngoan A-kay ơi, ngủ ngoan A-kay hỡi.

Lặp nhịp:Ở từng lời ru trực tiếp này, nhịp thơ lại được ngắt đều đặn ở giữa dòng 4/4.Cách lặp đi lặp lại, cách ngắt nhịp như thế đã tạo nên âm điệu dìu dặt, vấn vương của lời

Trang 38

ru gần với loại hình âm nhạc Giọng điệu trữ tình đã thể hiện một cách đặc sắc tình cảmthiết tha, trìu mến của người mẹ

3/ Phân tích bài thơ.

a HÌnh ảnh người mẹ Tà – ôi

Trong bài thơ, hình ảnh người mẹ được miêu tả gắn với từng hoàn cảnh công việc cụ thể:

- Đoạn 1: Người mẹ với công việc giã gạo nuôi bộ đội kháng chiến.

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng.

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi.

Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời.

Diễn tả công việc vất vả này của người mẹ, Nguyễn Khoa Điềm viết nên những câu thơ

giàu sức gợi cảm: nhịp chày, vai mẹ, lưng mẹ đưa giấc ngủ của em theo nhịp chày nghiêng giã gạo.Hình ảnh: “Giọt mồ hôi và “vai mẹ gầy” làm nổi bật sự vất vả trong

công việc của người mẹ

- Đoạn 2: Người mẹ với công việc lao động sản xuất trên chiến khu:

Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ

Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka lưi, nghĩa là đang làm công việc lao động sản xuất củangười dân ở chiến khu để phục vụ kháng chiến Sự chịu đựng gian khổ của người mẹ

giữa rừng núi mênh mông, heo bút được nhà thơ thể hiện một phần qua hình ảnh: “Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ” Sự so sánh tương phản giữa “lưng núi” và “lưng mẹ” gợi ra

rất rõ sự vất vả của người mẹ lao động giữa núi rừng mênh mông vừa ngợi ca đức tínhcần cù, tần tảo, đảm đang của người mẹ nghèo, người dân tộc

Đặc biệt trong đoạn này có hai câu thơ rất gợi cảm:

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.

“Mặt trời của mẹ” là một ẩn dụ độc đáo, có ý nghĩa sâu sắc Con là “mặt trời” của mẹ.

Con là nguồn hạnh phúc ấm áp, vừa gần gũi vừa thiêng liêng của đời mẹ Chính con đãgóp phần sưởi ấm lòng mẹ, đã nuôi giữ lòng tin yêu và ý chí của mẹ trong cuộc sống

+ Đoạn 3: Người mẹ với công việc tham gia chiến đấu:

Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông

Mẹ địu em đi để giành trận cuối

Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường

Từ trong đói khổ, em vào Trường Sơn.

Giặc Mĩ càn đến, mẹ phải “đạp rừng”, “chuyển lán” để di chuyển lực lượng; mẹ phảicùng với các anh trai, chị gái tham gia chiến đấu bảo vệ căn cứ “Mẹ địu em đi để giànhtrận cuối”, mẹ xông pha chiến trường, mẹ vào tận Trường Sơn Hai chữ “trận cuối”mang theo cả một niềm tin vào thắng lợi cuối cùng

=> Qua ba đoạn thơ, qua những hoàn cảnh và công việc cụ thể, người đọc nhận ra tấmlòng người mẹ trên chiến khu Người mẹ ấy lặng lẽ, bền bỉ, quyết tâm trong công việckháng chiến, từ công việc lao động sản xuất đến công việc chiến đấu Người mẹ ấy thắmthiết yêu con, gắn bó với buôn làng quê hương, cách mạng, khát khao đất nước được độclập tự do

Trang 39

b Mối liên hệ giữa công việc người mẹ đang làm với tình cảm, ước mong của mẹ qua các khúc ru.

* Cuối mỗi đoạn thơ đều kết thúc bằng lời ru trực tiếp của người mẹ Mỗi khúc ru có bốncâu, nội dung liên hệ chặt chẽ và tự nhiên với công việc người mẹ đang làm được nóiđến trong đoạn

- Đoạn 1: Mẹ đang giã gạo nuôi bộ đội nên mẹ ru:

Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi.

Mẹ thương a ka, mẹ thương bộ đội Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần Mai sau con lớn vung chày lún sân.

- Đoạn 2: Mẹ đang tỉa bắp trên nương nên mẹ ru:

Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi.

Mẹ thương a kay, mẹ thương đất nước Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ Mai sau con lớn làm người Tự do….

- Đoạn 3: Mẹ “đị con đi” để “giành trận cuối” nên mẹ ước:

Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ Mai sau con lớn làm người tự do”

(Lúc ấy, mơ được thấy Bác Hồ nghĩa là mơ nước nhà thống nhất, Bắc Nam sum họp)

* Ba khúc ru có cấu trúc lặp đi lặp lại vừa tạo giọng điệu trữ tình tha thiết, vừa mở rộng

và xoáy sâu vào thể hiện tấm lòng của người mẹ

- Những điệp khúc “ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi”, “mẹ thương a kay”, “con

mơ cho mẹ”, “mai sau con lớn” nhấn mạnh tấm lòng của người mẹ tha thiết yêu thương

con Mẹ mong cho con ngủ ngoan và có được những giấc mơ đệp, mẹ mong con maulớn

- Bên cạnh tình thương con, còn thấy “mẹ thương bộ đội”, “mẹ thương làng đói”, “mẹ thương đất nước” Với những tình cảm ấy, tấm lòng người mẹ càng trở nên lớn lao, cao

cả

- Với cụm từ “con mơ cho mẹ…”, tác giả đã diễn tả thật tự nhiên và sâu sắc ước mong

của người mẹ Mẹ không trực tiếp bộc lộ mà gửi trọn niềm ước mong của mình vào giấc

mơ của đưa con Mẹ “mong hạt gạo trắng ngần” để nuôi bộ đội Mẹ mong “hạt bắp lên đều” để làng khỏi đói Mẹ mong “được thấy Bác Hồ”, mong đến ngày được thấy nước

nhà tự do độc lập

=> Qua ba khúc ca, có thể thấy tình cảm, khát vọng của người mẹ càng lúc càng lớn rộng, càng hoà vào với công cuộc kháng chiến gian khổ, anh hùng của quê hương, đất nước.

c Phân tích sự phát triển của tình cảm, ước vọng ở người mẹ qua ba khúc hát ru,

từ đó thấy được ước mong, ý chí của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

- Ở đoạn 1, đoạn 2, tình thương con của người mẹ gắn với tình thương bộ đội, tìnhthương buôn làng, quê hương gian khổ Bởi vây, mẹ ước mong có nhiều hạt gạo trắngngần, hạt bắp lên đều, ước mong con mau chóng lớn khôn để trở thành chàng trai cườngtráng, mạnh mẽ trong lao động sản xuất Ở đoạn 3, tình thương con của người mẹ lại gắnvới tình yêu đất nước đang anh dũng kháng chiến Bởi vậy, mẹ mong ước con trở thànhngười lính chiến đấu vì nền độc lập tự do thiêng liêng, mong ước con được làm ngườidân của một đất nước hòa bình Như thế, qua ba khúc hát ru, tình cảm, khát vọng củangười mẹ ngày càng lớn rộng, ngày càng hoà cùng công cuộc kháng chiến gian khổ, anhdũng của quê hương, đất nước

Trang 40

- Từ hình ảnh, tấm lòng của người mẹ Tà ôi, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện tình yêuquê hương, đất nước thiết tha, ý chí chiến đấu cho độc lập tự do và khát vọng thống nhấtnước nhà của nhân dân ta trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

d Tổng kết: Trong gian nan, vất vả của cuộc sóng kháng chiến, người mẹ ở chiến khu

càng dành cho con tình yêu thương thắm thiết, càng ước mong con mau lớn khôn, khoẻ mạnh, trở thành công dân của một đất nước tự do Nguyễn Khoa Điẻm đã thể hiện tình yêu thương con gắn với lòng yêu quê hương đất nước, với tình thần chiến đấu của người

mẹ miền tây Thừa Thiên bằng những khúc ru nhịp nhàng, mang giọng điệu ngọt ngào, trìu mến Từ hình ảnh và tấm lòng của người mẹ Tà – ôi, nhà thơ đã thể hiện tình yêu quê hương đất nước thiết tha, ý chí chiến đấu cho độc lập tự do và khát vọng thống nhất

nước nhà của nhân dân ta trong thời kì kháng chiến chống Mĩ

B Câu hỏi luyện tập.

Câu 1: Tại sao chỉ có một em cu Tai mà tác giả lại viết là “những em bé lớn trên lưngmẹ? Nhan đề bài thơ có ý nghĩa như thế nào?

Câu 2: Có bao nhiêu người ru trong bài thơ “Khúc hát ru….”? Khúc hát này có điều gìđặc biệt về nhịp điệu, nội dung tình cảm?

Câu 3: Phân tích hai câu thơ: “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.”

- Câu dẫn dắt mở đầu (giới thiệu tác giả, tác phẩm)

- Hai câu thơ có lẽ là những câu thơ đặc sắc nhất trong bài thơ

(Mẹ gửi gắm mọi niềm hi vọng vào em Cu Tai)

=> Dù ở miền núi hay miền đông bằng, tình mẫu tử thiêng liêng bao giờ cũng sâunặng

- Cách thể hiện thơ và ngôn từ rất gần gũi với đời sống của người dân tộc Cách thểhiện tình cảm chất phác mà sâu sắc

Câu 4: Đọc kĩ hai câu thơ sau:

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, con nằm trên lưng”

(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ- Nguyễn Khoa Điềm)

Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo biện pháp tu từ từ vựng nào?

Có thể coi đây là hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiều nghĩa đượckhông? Vì sao?

Gợi ý:

Từ “mặt trời” trong câu thơ được sử dụng theo biện pháp tu từ ẩn dụ

- Không thể coi đây là hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiềunghĩa

Vì: Nhà thơ gọi em bé (đứa con của người mẹ Tà ôi là “mặt trời” dựa theo mối quan

hệ tương đồng giữa hai đối tượng được cảm nhận theo chủ quan của nhà thơ Sự chuyểnnghĩa của “mặt trời” trong câu thơ chỉ có tính chất lâm thời, nó không làm cho từ cóthêm nghĩa mới và không thể đưa vào để giải thích trong từ điển

Ngày đăng: 08/05/2015, 20:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w