Phương diện lí luận: Nghiên cứu về tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc góp phần bổ sung vào lí luận về ngôn ngữ nói chung
Trang 1Bước đầu tìm hiểu về tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc theo chiều dài lịch sử (Môn Phương pháp nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ học)
MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài:
Phương diện lí luận: Nghiên cứu về tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắcgóp phần bổ sung vào lí luận về ngôn ngữ nói chung Đồng thời nghiên cứu vềtiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc cũng góp phần và phát hiện ra những yếu
tố, những khía cạnh nhằm thúc đẩy và phát triển những mặt tích cực và hạn chếnhững tiêu cực
Phương diện thực tiễn: Trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và phát triểnThủ đô, tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc đóng một vai trò quan trọng Tiếng
Hà Nội trong phương ngữ Bắc- từ sâu xa trong dân gian đã trở thành mộtphương ngữ, một tiếng của người" kẻ chợ"
Do vậy, việc nghiên cứu tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc là một trongnhững vấn đề cấp thiết của cuộc sống, đòi hỏi phải được giải quyết vì hơn nữa ởnước ta có một sự đóng góp rất đa dạng và phong phú của cá tiếng, các phươngngữ ở các vùng, các miền khác nhau
Lịch sử nghiên cứu đề tài: Đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu,nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về vấn đề này Họ chủ yếu nghiên cứu và bàn luận
về việc" tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc có phải là tiếng chuẩn của cả nướckhông?"
Cũng có những đề tài nghiên cứu và tìm hiểu tiếng Hà Nội trong phươngngữ Bắc thông qua mặt phát âm những âm như" tr/ ch"," s/ x"," gi/ d/ r" ở đây,nghiên cứu về tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc từ lúc bắt đầu xuất hiện, tồntại và phát triển theo chiều dài lịch sử
Ý nghĩa đề tài: Giải quyết được những vấn đề nảy sinh ra khi nghiên cứu
tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc đồng thời góp một phần ý kiến chủ quan vềviệc đánh giá tiếng Hà Nội trong phương ngữ Bắc
Phương pháp nghiên cứu: Tìm hiểu qua các tài liệu tham khảo, đời sống
Trang 2xã hội cụ thể Nghe và miêu tả, nhận xét.
Nội dung: Tiếng Hà Nội thì phải của người Hà Nội rồi Nhưng người Hà
Nội gốc như nhà văn Hoàng Anh Thái viết trong bài" Hà Nội- con thuyền phùsa" ( in trong Tạp chí Ngày nay số tháng 12- 2004) thì" Khi ấy vẫn phải làmnghề chài lưới Bà buôn vẫn phải lăn xả xuống bến lội bùn lấy hàng lên ông đồ,ông kí sao cũng có lúc phải lội nước lên thuyền hoặc lội qua bãi sông ngập nước
mà về nhà Hà Nội gốc mà móng chân vẫn giắt bùn là như vậy"
Như vậy thì tiếng Hà Nội cũng thế, không có xuất xứ gì cao siêu, thầnthánh, không phải sinh ra đã" tròn, sáng, trong, vang, sang, nhẹ" Nhưng, vấn đề
là ở chữ" nhưng" Đó là thứ tiếng được chắt lọc kết tinh ở một vùng đất nổi tiếnghào hoa, thanh lịch
"Tinh hoa gốc rễ hun đúc ở đây Tinh hoa từ mọi miền mang tới, giao kếthợp chủng mà tạo nên người Hà Nội Lâu dần cứ cái gì thanh lịch, hào hoa, caonhã, tinh tế… thì mặc nhiên đều được coi là của người Hà Nội"
Cái thứ tiếng không thần thánh, không tầm thường, nhưng được lắng đọngtrăm năm, nghìn năm như phù sa màu mỡ, chở hồn người và hồn đất kinh kì ấy
là tiếng Hà Nội Trong những buổi phát thanh tiếng Việt của Đài tiếng nói ViệtNam, các bản tin được truyền đi bằng hai phương ngữ là phương ngữ Bắc Bộ vàphương ngữ Nam Bộ (lấy chuẩn là phương ngữ Hà Nội và phương ngữ thànhphố Hồ Chí Minh)
Phương ngữ Bắc dùng trong giao tiếp ở Bắc Bộ Phương ngữ này là cơ sởhình thành nên ngôn ngữ văn học Khi ta để ý cách phát âm của các phát thanhviên, thì trong cách phát âm của họ có sự tự điều chỉnh, trong giới hạn cho phép,theo chuẩn chính tả, để cho tiếng nói của mình có tính khu biệt thật cao làm chothông báo dễ tiếp nhận nhất
Trong tình hình hiện nay, mặc dù nói có đôi điểm khác nhau, nhưngngười Bắc và người ở toàn quốc hiểu phương ngữ thành phố Hồ Chí Minh cũngngang với phương ngữ Hà Nội, và ngược lại cũng thế, cả toàn quốc hiểu phươngngữ Hà Nội dễ dàng
Đài phát thanh nói bằng hai phương ngữ như vậy chỉ là để cho việc phát
Trang 3thanh đa dạng và tươi mới, chứ không hề vì lí do có hiện tượng phương ngữ HàNội hay phương ngữ thành phố Hồ Chí Minh cản trở sự giao tiếp, khó hiểu đốivới người nghe.
Khi ta nghe các ca sĩ miền Nam hát ta phải thừa nhận cách phát âm của họkhi hát giọng Nam Bộ còn chuẩn hơn tiếng Nam Bộ đã đành, mà khi hát giọngBắc lại còn chuẩn hơn cả tiếng Hà Nội
Cải lương ngày xưa là thể loại ca kịch nói bằng phương ngữ Nam Bộ,nhưng hiện nay Đoàn cải lương miền Bắc vẫn nói phương ngữ miền Bắc màcông chúng vẫn thích
Trang 4CHƯƠNG I Tiếng Hà Nội trong mối quan hệ giữa các phương ngữ Bắc – Trung - Nam
Cũng giống như mọi sinh ngữ khác, tiếng Hà Nội không ngừng phát triển.Dân một số vùng ở Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên về Hà Nội cứ hồn nhiênkiểu:" Cái nọ nục bình nó năn nông nốc"
Trên diễn đàn những người nói tiếng Hà Nội chuẩn cứ phải ngồi nghediễn giả hùng hồn" nực nượng thanh niên" Thật khó vào Thật khó thông cảm.Chưa kể trước đông đảo khán, thính giả, người ta không nói" em" mà cứ" i…em"
Nhà văn Hoàng Anh Thái trong bài viết" Hà Nội- con thuyền phù sa"( introng tạp chí Ngày nay số ra tháng 12- 2004) với rất nhiều vấn đề" hồn cốt" của
Hà Nội- nào là người Hà Nội gốc, ẩm thực kiểu Hà Nội… nhất là tiếng nói HàNội- có lí khi nói" Giá mà điều chỉnh từ cái nho nhỏ như phát âm cho dân dễnghe hơn? Một chính khách đứng nghĩa còn là một diễn viên, một nhà hùngbiện Nhập gia tuỳ tục thì đâu có sợ tự làm mất gốc"
Theo cách phân chia truyền thống về địa lý, tiếng Việt được chia thành bavùng phương ngữ: miền Bắc (khẩu ngữ là tiếng Bắc); miền Trung( khẩu ngữ làtiếng Trung); miền Nam (khẩu ngữ là tiếng Nam)
Trong cảm thức ngôn ngữ thường mang nặng dấu ấn thói quen dân giancủa người Việt nên người ở mỗi vùng chỉ có khả năng phân biệt tiếng Bắc vớitiếng Nam và tiếng Trung (mà ít phân biệt các tiểu phương ngữ trong mỗi vùng).Nhiều người đó quen gọi ngắn gọn tất cả những gỡ thuộc về“ tiếng Bắc” là tiếng
Hà Nội (trừ tiếng vựng Nghệ An- Hà Tĩnh) được gọi là“ tiếng Nghệ”, gọi tất cảnhững gỡ thuộc về“ tiếng Nam” là“ tiếng Sài Gòn”, những gỡ thuộc về“ tiếngmiền Trung” là“ tiếng Huế”
Điều này có nghĩa rằng, sự khác biệt giữa tiếng Bắc với tiếng Nam, vớitiếng Trung (và với tiếng Nghệ) là khá điển hình: ở giọng, ở ngôn từ và phầnnào cú thể nhận ra ở cả phong cách diễn đạt
Hệ thống thanh điệu của phương ngữ Bắc có sáu thanh:( như trong chính
Trang 5tả), đối lập từng đôi về âm vực và âm điệu Hệ thống phụ âm đầu có hai mươi
âm vị, không có những phụ âm ghi trong chính tả là“ s, r, gi, tr“ tức là khôngphân biệt s/ x, r/ d/ gi, tr/ ch
Hệ thống âm cuối có đủ các âm cuối ghi trong chính tả Có ba cặp âmcuối ở thế phân bố bổ túc Phương ngữ Bắc có thể chia làm ba vùng nhỏ hơn:
a) Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta Phần lớn ngườiViệt ở đây mới đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao như Thái Bình, HàNam Ninh Do quá trình cộng cư xảy ra trong thời gian gần đây, nên phươngngữ phát triển theo hướng thống nhất với ngôn ngữ văn học, mang những nétkhái quát chung của phương ngữ Bắc, và không chia manh mún thành nhiều thổngữ làng xã như phương ngữ Bắc ở các vùng đồng bằng, cái nôi của người Việtcổ
b) Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh( Hà Bắc, Vĩnh Phú,
Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Hải Phòng) mang những nét đặc trưng tiêu biểu củaphương ngữ Bắc
c) Phương ngữ miền hạ lưu sông Hồng và ven biển( Thái Bình, Hà NamNinh, Quảng Ninh) còn giữ lại cách phát âm khu biệt“ d“ với“ gi, r“,” s“ với“x“,” tr“ vơí“ ch“ mà ở các phương ngữ Bắc khác không còn phân biệt nữa
ở Bắc bộ thực tế có những chữ cái đã mất cách phát âm phân biệt, cho nênngười ta đặt cho nó những cái tên gọi khác nhau như ” s” là” xờ nặng”,” x ”là ”
xờ nhẹ ”,” d ” là” dê trên ”,” gi” là” dê dưới ”,” tr ” là” chờ nặng ”,” ch” là” chờnhẹ ”,” l” là” nờ( hay lờ) cao ”;” n ” là” nờ( hay lờ) thấp ”…
Trang 6đâu, nào mô đâu, nào
sao, thế nào răng sao
Hệ thống đại từ xưng hô:
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam
Tôi tui tui
Tao tau tao, qua
Chúng tôi bầy tui tụi tui
…
ở phương ngữ Bắc chỉ duy nhất từ “ nhiều“ là có từ phát sinh: bao nhiêu,bấy nhiêu ở phương ngữ Bắc chỉ nói“ từ rày“ với nghĩa“ từ nay trở đi“, ởphương ngữ Nam còn nói“ hổm rày“ có nghĩa là“ từ hôm ấy đến nay“
ở Bắc bộ và Trung bộ nói một câu đơn giản là:” Hôm nay tôi ăn cơm rấtno“, thì người Nam bộ thường nói là: Hôm nay tôi ăn cơm no quá chừng quáđỗi, hoặc no quá trời quá đất …
Trong phương ngữ Nam có nhiều từ gần đây vay mượn từ tiếng Chàm,tiếng Khơ me, trong phương ngữ Bắc lại có nhiều từ vay mượn từ tiếng Thái; cónhững từ Hán Việt này đi vào phương ngữ Bắc, nhưng không dùng trongphương ngữ Nam, trái lại ở trường hợp khác thì phương ngữ Bắc giữ nguyên từthuần Việt, còn phương ngữ Nam lại vay mượn từ Hán Việt v v…
Biến thể cổ b, đ ở phương ngữ Trung tương ứng với v, z ở phương ngữBắc:
- bui/ vui, bá/ vá…
- đa/ da, đưới/ dưới…
Biến thể cổ ở phương ngữ Trung tương ứng với biến thể mới ở phươngngữ Bắc:
Trang 7- chi/ gì, chừ/ giờ…
Những từ có phụ âm đầu khác với ngôn ngữ văn học có thể tìm thấy trongphương ngữ Bắc nhưng không nhiều hiện tượng như ở phương ngữ Trung: dăndeo/ nhăn nheo, duộm/ nhuộm…
Ngoài ra còn có sự đối ứng giữa nguyên âm khép hơn ở phương ngữTrung, phương ngữ Nam với nguyên âm mở hơn ở phương ngữ Bắc: u/ ô, ư/ â
- chủi/ chổi, túi/ tối…
- chưn/ chân, nhứt/ nhất…
Có thể nhận ra sự khác nhau về tiếng giữa ba miền ở giọng Thí dụ, người
Hà Nội nghe người Sài Gũn núi cú cảm giỏc họ khụng cú sự phõn biệt giữa -acvới ỏt( mỏt- mỏc; mắc- mắt); giữa -ai với ay( tai- tay; hai– hay); phỏt õm vthành dz( tức là khụng phõn biệt v với d: vụ– dụ)
Người Hà Nội nghe người Huế nói cũng có cảm giác họ không có sự phânbiệt giữa thanh hỏi( ?) với thanh ngó( ~): mũ- mủ; cũ- củ Trong khi đó, ngườiHuế nghe người Hà Nội nói lại có cảm giác người Hà Nội không có sự phân biêtgiữa s và x: xôi trong xa xôi với sôi trong nước sôi v v
Một sự so sánh từ vựng Việt Nam với từ vựng các ngôn ngữ khác ở ĐôngNam á cho thấy những sự thay thế nhau của các từ trong các phương ngữ khôngphải ngẫu nhiên.“ Hoa“ và“ đầu“ là những từ gốc Hán đã được thay thế những
từ Nam á, Nam Đảo như“ trốc“( Mường),” bông“( Mã Lai: bonga) ở phươngngữ Bắc trong khi hai từ này vẫn tồn tại ở các phương ngữ phía Nam,” quả“thay“ trái“ cũng theo qui luật ấy
Đồng thời trong vốn từ miền Bắc có nhiều từ Thái hơn, trái lại trong vốn
từ phái Nam có nhiều yếu tố Chàm, Khơme hơn Trong ba phương ngữ chính,phương ngữ Bắc tiếp thu nhiều từ Hán Việt hay nhiều từ gốc Hán hơn cả
Phương ngữ Bắc vì trải qua sự xây dựng của ngôn ngữ văn học trong đócác nhà nho biết chữ Hán đóng một vai trò không nhỏ cho nên dĩ nhiên nó tiếpthu nhiều từ Hán Việt và gốc Hán hơn
Những yếu tố gốc Hán vào tạo nên những sự xê dịch về mặt nghĩa có thể
đi xa đến nỗi ta có những từ đồng âm khác nghĩa ở trong hai phương ngữ Bắc và
Trang 8Trung- Nam Về mặt từ vựng cũng vậy, có những từ chỉ đặc trưng cho vùngphương ngữ này mà không đặc trưng cho vùng phương ngữ kia.
Thí dụ, các từ“ má, ổng, cổ, ảnh, chỉ, ngoải“ v v là đặc trưng cho tiếngSài Gũn;“ miềng, o, rày, rứa“ v v là đặc trưng cho tiếng Huế Người Hà Nộibấy lâu nay cũng có thể nói“ mắc“( giá mắc),“ nhí“( bồ nhí) v v nhưng dườngnhư chúng vẫn chưa ăn nhập lắm với giọng Hà Nội( nếu so sánh các phát ngôn
có những từ này bằng giọng Sài Gũn)
So sỏnh tiếp hai cõu sau cú thể thấy rừ điều này:( 1)“ Anh nhớ viết thưcho em nghen!- Dạ” và( 2)“Anh nhớ viết thư cho em nhé– vâng” Tuy giá trịthông tin như nhau nhưng thử hỏi nếu đổi câu( 1) là giọng Hà Nội và( 2) làgiọng Sài Gũn thỡ chắc chắn là một sự gượng gạo khó mà chấp nhận
ở đa số các phương ngữ Bắc hiện nay, mà tiêu biểu là phương ngữ Hà Nội
đã mất đi dãy phụ âm tiền ngạc c, z, s và phụ âm rung r Ngoài ra phụ âm ngạc,
nổ, vô thanh ch được phát âm như một phụ âm tắc– xát đầu lưỡi– răng ở các thế
hệ trung và thanh niên Hà Nội
Nếu ta sắp xếp những sự biến đổi ngữ âm ở các vùng phương ngữ nói trênvào chung một quá trình chuyển hoá ngữ âm thì sẽ thấy được lịch sử phát triểntiếng Việt là tiến từ phương ngữ Trung sang phương ngữ Bắ rồi tiếp tục vớiphương ngữ Nam
Nêú so sánh tiếng Việt của Hà Nội với tiếng Việt từ Nghệ Tĩnh trở vào thìngười ta thấy ngay hai thanh( ?) và( ~) ở Bắc lại có sự chuyển mã, khi đối chiếuvới tiếng Nghệ Tĩnh, hay tiếng Bình Trị Thiên
Một người Huế nghe người Bắc nói thì chỉ cần chuyển mã thanh( ~) củaBắc thành thanh( ?) của Huế, ngược lại người Bắc nghe( ?) của Huế thì phảigiải thích thanh này có thể vừa là( ~) vừa là( ?) và căn cứ vào đó mà xét nộidung của câu nói
Dĩ nhiên khi một người miền Trung nghe một người Hà Nội nói thì vềmặt thanh điệu sự chuyển mã khá dễ dàng: anh ta chỉ cần gộp lại làm một haithanh khu biệt ở Hà Nội là( ?) và( ~) hay gộp( ~) và( ) làm một
Trái lại sự phân biệt về phụ âm đầu thì khó hơn bởi vì anh ta phải tách
Trang 9cùng một âm đầu của Hà Nội như “ ch“ ra thành“ tr“ và“ ch“ và chọn trong haibiểu hiện cái nào phù hợp nhất với thông báo.
Trường hợp người Hà Nội giao tiếp với người Huế hay người Nghệ Tĩnhcũng thế Trong hệ thống thanh điệu truyền thống, thanh( ?) ở âm vực cao,thanh( ~) ở âm vực thấp, nhưng trong phương ngữ Hà Nội hiện nay thì ngượclại, thanh( ?) cao và thanh( ~) thấp
Hệ thống thanh điệu ở Hà Nội :
Thanh không có âm điệu bằng phẳng, cường độ không thay đổi, ở âm vựctrung bình của lời nói, không có hiện tượng thanh quản hoá hay tắc thanh hầu,tương đối thống nhất trong tất cả các phương ngữ
Thanh huyền có âm điệu hơi đi xuống, có âm vực thấp, cường độ khôngđổi, không có hiện tượng thanh quản hoá hay tắc thanh hầu Chỉ khu biệt vớithanh không về âm vực: thấp hơn thanh không từ quãng ba đến quãng năm
Thanh ngã có âm điệu biến thiên theo hai chiều: đi xuống với đi lên nhưhình chữ V với nhánh đi lên cao gấp đôi Cường độ thay đổi: thanh yếu đi ởkhoảng giữa âm tiết và có khi tắt hẳn rồi lại xuất hiện
Chính ở điểm này có hiện tượng tắc thanh hầu Về âm vực, thanh ngã bắtđầu ở mức thanh huyền Khoảng cách về âm vực giữa mức bắt đầu và mức kếtthúc trung bình bằng một quãng sáu, giữa hai mức thấp nhất và cao nhất có thểđến hai quãng tám
ở lứa tuổi thiếu niên– nhi đồng, thanh ngã được phát âm gần như thanhsắc, nghĩa là sau giai đoạn bắt đầu hơi bằng phẳng, thanh điệu vút lên ngay,không có đoạn trũng xuống
Thanh hỏi có âm điệu biến thiên hai chiều xuống- lên, nhưng không chiahai giai đoạn rõ rệt như ở thanh ngã
Thanh sắc bắt đầu ở độ cao hơi thấp hơn thanh không, đi ngang hay là hơichúi xuống ở đoạn đầu, sau đó vút cao lên thông thường vào khoảng một quãngnăm, có khi đến một quãng tám ở giọng nữ
Trong những âm tiết khép( có –p, -t, -ch, -k đứng cuối), thanh sắc nhậpthanh thiếu hẳn phần đi ngang lúc bắt đầu, âm điệu cao vút lên, nhất là ở những
Trang 10âm tiết ngắn( có nguyên âm ngắn) thanh sắc có trường độ rất ngắn và chỉ cóđoạn cao vút ở phần cuối.
Hiện tượng thanh quản hoá mạnh, làm cho phụ âm cuối vô thanh đôi khitrở thành hữu thanh ở giai đoạn đầu
Thanh nặng bắt đầu ở độ cao khởi điểm của thanh huyền, có âm điệu đingang hay hạ dần như thanh huyền, đến 1/ 3 thanh điệu thì đi xuống với độ dốclớn hơn, và kết thúc bằng cái tắc thanh hầu
Cường độ của thanh điệu tăng dần và hiện tượng thanh quản hoá mạnhdần khi âm điệu tụt xuống Thanh nặng có trường độ ngắn nhất trong hệ thống ở
âm tiết khép thanh nặng nhập thanh có âm điệu đi xuống theo một độ dốc lớn,không có đoạn đi ngang lúc bắt đầu, kết thúc đột ngột bằng cái tắc thanh hầu
Hệ thanh điệu Hà Nội tuy có biến đổi so với hệ thanh điệu truyền thống,nhưng vẫn duy trì được các cặp đối lập về âm vực và tương liên về âm điệu vôcùng cân đối: không/ huyền, sắc/ nặng, ngã/ hỏi, cũng vậy, ở các hệ thanh điệu
Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh cũng giữ được các cặp đối lập về âm vực
và tương liên về âm tiết: không/ huyền, sắc/ nặng
Người Bắc có thể nhận ra những khác biệt nổi trội làm nên đặc thù chomột số tiểu phương ngữ, rừ nhất là ở giọng Thớ dụ, người Bắc nếu để ý mộtchút, sẽ phân biệt được tiếng của một số vùng: tiếng Sơn Tây với thanh huyềnphát âm cao hơn một bậc và sự xích lại của thanh nặng với thanh huyền; tiếngvùng Hải Phũng, Hải Dương với sự lẫn lộn trong cách phát âm n/ l và cách phát
âm e như ie; tiếng Thái Bỡnh với cỏch phỏt õm với õm r rung mạnh, tr đượcphát âm uốn lưỡi nhưng hầu như mất r v v
Theo cỏch nhỡn nhận kiểu“ loại trừ” này thỡ mặc nhiờn trước hết, nhữngtiếng nào có những đặc điểm trên sẽ không phải là tiếng Hà Nội Cũn tiếng HàNội cú đặc trưng gỡ để“ hễ nghe đến là biết ngay” vẫn là một câu hỏi
Đứng về góc độ uy tín trong toàn quốc mà nói thì không một phương ngữnào sánh nổi với phương ngữ Hà Nội Hà Nội là nơi hội tụ của văn hoá đất nước
từ thế kỉ mười cho đến nay( trừ thời gian kinh đô chuá Nguyễn chuyển về Huế)
Phương ngữ ấy hơn hẳn về mặt số lượng từ, các sắc thái ngữ nghĩa Trong
Trang 11thế kỉ này, phong trào tiểu thuyết mới, thơ mới, văn học chủ yếu là phát triểntrên cơ sở phương ngữ Hà Nội.
Suốt thời gian sau Cách mạng tháng Tám cũng trên cơ sở này mà ngônngữ có những đóng góp to lớn với trên một triệu thuật ngữ khoa học Hiện nay,ngôn ngữ toàn dân là dựa trên phương ngữ Hà Nội
Chỗ mạnh nhất của phương ngữ này là hệ thống thanh điệu sẽ làm thành
sự đóng góp chính của nó vaò ngôn ngữ toàn dân Một người Nghệ Tĩnh sống ở
Hà Nội tất yếu thấy mình cần phải thay đổi đôi chút trong cách phát âm, cụ thể
về thanh điệu chẳng hạn, để cho người Hà Nội nghe dễ hơn, tức là trong cáchphát âm của anh ta đã pha và không dùng các từ ngữ địa phương nữa
Một em bé Nam Bộ sống ở Bắc thường nói một thứ tiếng dễ hiểu đối với
cả miền Nam lẫn miền Bắc, bởi vì ở nhà em nói phương ngữ Nam Bộ với cha
mẹ, ra đường em nói một phương ngữ gần với phương ngữ Hà Nội